How We Learn

Định hướng chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015 – Đỗ Ngọc Thống

(Trích tham luận của PGS TS Đỗ Ngọc Thống, Phó Vụ trưởng Vụ GD Trung học, Bộ GD&ĐT tại hội thảo khoa học quốc gia môn Ngữ Văn được tổ chức tại Huế tháng 1/2013. Chúng tôi chọn đoạn trích nói về định hướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông nói chung sau 2015). 

 

Xây dựng và phát triển CT môn Ngữ văn, không thể không dựa vào những định hướng lớn của chương trình GDPT nói chung. Dự thảo Đề án Phát triển chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015, bước đầu đã nêu lên 07 định hướng sau:

 

1. Phát triển năng lực người học

a) Chương trình được xây dựng hướng tới phát triển những năng lực chung mà mọi học sinh đều cần để có thể tham gia hiệu quả nhiều loại hoạt động trong đời sống xã hội và cho học suốt đời (ví dụ năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực tự học v.v…). Đồng thời hướng tới phát triển những năng lực chuyên biệt, liên quan đến một môn học hoặc một lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với khuynh hướng nghề nghiệp tương lai mỗi cá nhân (ví dụ năng lực cảm thụ văn học, năng lực diễn kịch v.v…). Chú trọng xây dựng các mức độ khác nhau của cả năng lực chung, năng lực chuyên biệt ở từng cấp học, môn học.

b) Khi xây dựng chương trình (xác định phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, phương pháp đánh giá kết quả giáo dục) và biên soạn sách giáo khoa đều phải xuất phát, đều phải hướng tới phát triển các năng lực chung và năng lực cá nhân cho học sinh.

 

2. Điều chỉnh cân đối “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp

Chương trình, SGK phải tạo điều kiện cho học sinh được phát triển cả thể chất và tinh thần, được phát triển toàn diện các mặt giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và lao động, hướng nghiệp, từ đó dần hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy cần thực hiện cân đối dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp để “nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội[1].

 

3. Nội dung giáo dục được xây dựng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

a) Lựa chọn nội dung giáo dục là những tri thức cơ bản của nhân loại, những thành tựu khoa học công nghệ và những giá trị lịch sử, tinh hoa văn hóa dân tộc phải đảm bảo vừa hội nhập quốc tế, vừa gắn kết với thực tiễn nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nội dung được thiết kế theo hướng giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành và ứng dụng vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn để tạo điều kiện phát triển các năng lực chung, năng lực riêng biệt cho HS; dung lượng học tập phải phù hợp với thời lượng học tập.

b) Chú trọng giáo dục những giá trị nhân bản, phổ quát của dân tộc và nhân loại cho học sinh thông qua việc tăng cường các hoạt động giáo dục và hoạt động xã hội. Cải tiến nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục công dân, giáo dục thể chất và giáo dục thẩm mĩ theo hướng coi trọng tính trung thực, tự chủ, ý thức trách nhiệm và phát huy nội lực cá nhân học sinh.

 

4. Chương trình, sách giáo khoa được cấu trúc như một chỉnh thể, linh hoạt và thống nhất trong đa dạng

a) Chương trình giáo dục phổ thông đảm bảo vừa tiếp nối từ chương trình giáo dục mầm non, vừa tạo nền tảng cho sự phát triển chương trình giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Đồng thời đảm bảo liên thông giữa các cấp học, lớp học, giữa các môn học và trong mỗi môn học, mỗi hoạt động giáo dục.

b) Chương trình, SGK được xây dựng là một chỉnh thể nhất quán từ lớp 1 đến lớp 12, từ cấp học đến các môn học nhằm đảm bảo tính thống nhất và hệ thống. Chương trình được thiết kế theo hai giai đoạn, giáo dục cơ bản (tiểu học, THCS) mang tính phổ cập và sau giáo dục cơ bản (THPT) mang tính định hướng nghề nghiệp.

c) Chương trình, SGK được xây dựng theo hướng tích hợp cao ở các lớp dưới, phân hóa rõ dần từ tiểu học đến THCS và sâu hơn ở THPT. Giảm số lượng môn học bắt buộc trong mỗi cấp học, lớp học và tăng các môn học, các chủ đề tự chọn đáp ứng nhu cầu, năng khiếu và định hướng nghề nghiệp của học sinh.

d) Kế hoạch giáo dục và cấu trúc nội dung được thiết kế với thời lượng: Cấp tiểu học là 2 buổi ngày và hướng dẫn vận dụng cho những cơ sở giáo dục chỉ có điều kiện dạy 1 buổi ngày; Cấp THCS, THPT là 1 buổi ngày và hướng dẫn vận dụng cho những cơ sở giáo dục có điều kiện dạy 2 buổi ngày.

e) Trên cơ sở chương trình chung quốc gia, địa phương được quyền điều chỉnh và bổ sung một phần nội dung, lập kế hoạch dạy học chi tiết và vận dụng những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với nhu cầu, điều kiện cụ thể của mình.

 

5. Đẩy mạnh đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục nhằm phát triển năng lực cho học sinh

a) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ các phương pháp giáo dục phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh như giải quyết vấn đề, dạy học kiến tạo, dạy học khám phá, dạy học theo dự án,…; chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, chiến lược học tập, khả năng hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,… nhằm hình thành và phát triển các năng lực chung, năng lực chuyên biệt cho học sinh.

b) Đa dạng hóa các hình thức tổ chức giáo dục trong và ngoài lớp học, trong và ngoài nhà trường; cân đối giữa dạy học và hoạt động giáo dục, giữa hoạt động tập thể, nhóm nhỏ và cá nhân, giữa dạy học bắt buộc và dạy học tự chọn,… để đảm bảo vừa phát triển các năng lực cá nhân, vừa nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi học sinh.

Chú trọng các hình thức tổ chức giáo dục như tập dượt nghiên cứu khoa học,  giao lưu và trao đổi học thuật, sinh hoạt câu lạc bộ “thắp sáng tài năng”,… cho đối tượng học sinh năng khiếu để phát triển những năng khiếu đặc biệt đó và góp phần phát hiện, bồi dưỡng tài năng tương lai. Ở những nơi có điều kiện, tổ chức dạy học và hoạt động GD theo lớp học hoà nhập cho đối tượng HS thiệt thòi để đảm bảo quyền được đi học và học tập có chất lượng cho mọi trẻ em.

c) Tăng cường, nâng cao hiệu quả của các phương tiện dạy học, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận các nguồn học liệu mở, khai thác thông tin trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông phong phú, đa dạng để xây dựng các chủ đề học tập theo sở thích, phát triển năng lực tự học theo tốc độ, cách học cá nhân.

 

6. Đổi mới đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực

a) Đánh giá kết quả giáo dục nhằm: cung cấp thông tin chính xác, khách quan để điều chỉnh hoạt động dạy và học nâng cao dần năng lực cho học sinh; xác định năng lực của HS dựa theo chuẩn cấp học, chuẩn môn học thống nhất trên toàn quốc.

b) Để đánh giá đúng năng lực HS ở mỗi lớp học và sau cấp học cần phải:

- Thực hiện đa dạng các phương pháp như quan sát, vấn đáp, kiểm tra trên giấy, trình diễn, dự án học tập, hồ sơ HS,…; phối hợp chặt chẽ nhiều hình thức như đánh giá chẩn đoán, quá trình và tổng kết, đánh giá của GV và tự đánh giá của HS, đánh giá của nhà trường, gia đình, cộng đồng và xã hội.

- Sử dụng đa dạng công cụ đánh giá như câu hỏi phát vấn, đề kiểm tra, bài luận, bài tập lớn, báo cáo thực hành, dự án học tập, mẫu biểu quan sát, tự đánh giá,… đảm bảo đo lường phổ năng lực từ thấp đến cao trong tình huống thực tiễn. Chú trọng phát triển các kỹ thuật đánh giá như thiết kế đề kiểm tra theo chuẩn năng lực, nhận xét định tính, xử lý định lượng, phản hồi điểm mạnh, điểm yếu,…

- Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp cấp THPT theo hướng kết hợp cả kết quả đánh giá môn học với kết quả thi, kết quả đánh giá quá trình với đánh giá tổng kết.

c) Thực hiện định kỳ đánh giá quốc gia để đánh giá chất lượng giáo dục mỗi cơ sở giáo dục, từng địa phương và cả nước. Tham gia một số đánh giá quốc tế nhằm xác định mặt bằng chất lượng giáo dục quốc gia so với khu vực và trên thế giới, làm căn cứ đề xuất chính sách nâng cao chất lượng giáo dục quốc gia.

d) Đảm bảo kết quả đánh giá ở nhà trường phổ thông toàn diện, tin cậy nhằm tạo cơ sở đổi mới kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học.

 

 

7. Xây dựng một chương trình, biên soạn một số bộ sách giáo khoa và các tài liệu hỗ trợ dạy học

a) Bộ GD&ĐT tổ chức xây dựng, thẩm định và ban hành một chương trình quốc gia được sử dụng thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông. Các tổ chức, cá nhân có thể tổ chức biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa hoặc một số quyển sách giáo khoa theo chương trình quốc gia. Bộ GD&ĐT sẽ xem xét, phê duyệt cho phép thử nghiệm và thẩm định, phê duyệt cho phép phát hành để sử dụng trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông.

b) Phát triển nhiều loại tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình, hỗ trợ dạy và học để đáp ứng sự đa dạng vùng miền, nhu cầu các đối tượng học sinh. Đặc biệt chú trọng các tài liệu hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số, học sinh sống ở các vùng khó khăn.

c) Địa phương được quyền xây dựng các tài liệu hỗ trợ dạy và học phù hợp với đặc điểm người học và đặc thù riêng địa phương. Các tài liệu này cần được thẩm định bởi Hội đồng thẩm định cấp địa phương và được Bộ GD&ĐT phê duyệt.


[1] Đảng cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr. 216.

Tagged as:

11 phản hồi »

  1. Xin có ý kiến trao đổi với ông Thống “về vấn đề biên soạn SGK” như sau:
    Ở mục 7 điểm (a) ông Thống viết:
    “Bộ GD&ĐT tổ chức xây dựng, thẩm định và ban hành một chương trình quốc gia được sử dụng thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông. Các tổ chức, cá nhân có thể tổ chức biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa hoặc một số quyển sách giáo khoa theo chương trình quốc gia. Bộ GD&ĐT sẽ xem xét, phê duyệt cho phép thử nghiệm và thẩm định, phê duyệt cho phép phát hành để sử dụng trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông.”

    – Xin thưa với ông là nếu Bộ đã đồng ý cho phép các tổ chức, cá nhân tự do biên soạn SGK theo định hướng chương trình khung của Bộ rồi nhưng cuối cùng “Bộ GD&ĐT sẽ xem xét, phê duyệt cho phép thử nghiệm và thẩm định, phê duyệt cho phép phát hành để sử dụng trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông.” thì phải chăng đây cũng chỉ là một kế “nghi binh” khá… hiểm của Bộ mà thôi?

    Thử hỏi các tổ chức cá nhân đầu tư trí tuệ, tiền bạc, thời gian, công sức để biên soạn ra 1 bộ sgk nhưng cuối cùng tất cả đều phải chuyển hết lên cho ông Bộ, ông đồng ý thì mới được xuất bản, lưu hành thế thì có khác gì việc ông Bộ đang “độc quyền” bs SGK như hiện nay? Thế thì vấn đề “xã hội hóa gd” còn ý nghĩa gì nữa? Hay vai trò tự chủ của các Hội đồng chuyên môn ở địa phương, các Sở gd lập ra chỉ để làm kiểng, cho có thôi à? Tại sao phải là ông Bộ nhúng tay ở khâu cuối này nữa? Liệu ông Bộ có kham hết không? Liệu đây có phải là 1 kẽ hở để tiêu cực phát sinh không? Vì ví dụ cá nhân ông với 1 cá nhân khác cùng viết SGK nhưng cá nhân kia nhờ có “quan hệ tốt” với Bộ nên đã “lách” qua khâu cuối cùng còn ông thì ngược lại, bị ách tắc thì ông nghĩ sao? Không phải là tôi đa nghi và bi quan về lòng tốt của con người mà nói điều này. Tuy nhiên, tôi nghĩ những chuyện đại loại như thế này (ở xã hội ta hiện nay) thì với tư cách là “người trong cuộc”, ông Thống chắc cũng không lạ gì? Đôi khi lãnh đạo đã ký rồi nhưng anh thư ký giữ mộc đỏ cảm thấy chưa thỏa mãn nên không chịu đóng dấu cho thì cũng khổ?

    Cho nên về vấn đề này tôi nghĩ, Bộ chỉ cần thẩm định và ban hành chương trình khung thôi còn việc biên soạn, thẩm định và chọn bộ sách gk nào để dạy hãy để cho hội đồng chuyên môn ở mỗi địa phương đó tự quyết trên nguyên tắc:
    1. Đảm bảo chương trình khung do Bộ ban hành
    2. Đảm bảo và đáp ứng mục tiêu gd đã được thống nhất
    3. Không vi phạm pháp luật Nhà nước về tất cả các mặt
    Làm được thế này, không những Bộ sẽ không mang tiếng là ôm đồm nhiều việc mà khi đó Bộ sẽ có nhiều thời gian cho việc hậu kiểm thông qua việc khảo sát, so sánh, đánh giá năng lực học sinh ở những địa phương có sự chọn lựa những bộ SGK khác nhau. Khi đó Bộ sẽ biết được địa phương nào làm tốt, địa phương nào làm chưa tốt… Trên cơ sở đó Bộ sẽ có những định hướng, tư vấn, chấn chỉnh, điều chỉnh kịp thời. Như thế không phải Bộ sẽ có cái nhìn trung thực hơn về năng lực điều hành quản lý của những người đứng đầu các Sở gd địa phương sao?

    HTN: HTN rất vui khi có những comment mạch lạc và chắc chắn như thế này.

    • Trời ơi! Giáo Dục bền bỉ cả sáu chục năm mà giờ vẫn bị người ta bóc mẽ. Thế này phải tiếp tục “bền bỉ, bền bỉ, thật bền bỉ” đổi đi đổi lại cái Giáo Dục.

    • Đúng là thế thật, việc thẩm định chất lượng sách thế nào thì hãy để người sử dụng quyết định. Để tránh cái tình trạng gọi là “móc ngoặc” vì công việc. Chỉ cần ban hành chương trình khung, còn việc viết sách hãy để những người chuyên ngành viết. Như thế sẽ tạo ra sự đa dạng trong việc học. Tùy người tùy nhu cầu sẽ cần những cuốn sách khác nhau. Chứ bộ ôm ngay khâu kiểm duyệt thì chả khác gì gọi bộ soạn lại sách giáo khoa cho nó tiện. Cần làm gì rườm rà. Ôi, giáo dục!

  2. Những định hướng giáo dục chương trình phổ thông VN sau 2015 được đưa ra đây một mặt nghe thì thấy quá sức tưởng tượng, nhưng suy cho cùng em thấy vẫn thiếu thiếu ạ. Phần quan trọng nhất là định hướng vốn đầu tư cho ngành giáo dục thì em không thấy, hay là phần đó nằm ở phần khác của báo cáo mà không được đưa ra cho độc giả tham khảo ạ.

    Em nghĩ các nước tiên tiến nhất cũng chưa bao giờ có được định hướng siêu toàn diện như vậy, vì họ biết vấn đề nào là quan trọng và cần phải giải quyết như thế nào nên họ chỉ đưa ra các mục tiêu cụ thể, chứ không chung chung. Trước tiên để chứng tỏ giáo dục và nghiên cứu là quan trọng thì họ đưa ra chỉ tiêu cho vốn đầu tư, như bên Đức là 10% tổng sản lượng quốc nội(so sánh với 9,5% của năm 2010, trong đó 7% dành riêng cho giáo dục với chi phí là 172 tỉ Euro).

    Còn để phát triển, xây dựng năng lực chung và riêng, cân đối “dạy chữ, dạy người và dạy nghề”, hiện đại hóa, quốc tế hóa vv…vv… và riêng thì không chỉ đưa ra các quy định dạy và học như thế nào cho giáo viên và học sinh, mà còn phải có vốn đầu tư, nâng cấp các cơ sở hạ tầng trường lớp, các phòng thí nghiệm, thư viện khoa học; vốn cho các khóa học nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên, trình độ nghiệp vụ hành chính cho các bộ quản lý; vốn đầu tư cho các hội học sinh và sinh viên tổ chức các hoạt động ngoại khóa mang tính mở rộng tầm nhìn, trao đổi kiến thức khoa học, văn hóa, xã hội, thể thao.

    • Giáo dục Vấn đề – Suy ngẫm RSS
      Cập nhật lúc 03/05/2013, 16:35 (GMT+7)
      Nguồn lực cho giáo dục: Đầu tư chưa tương xứng quy mô

      (GD&TĐ) – Sau 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư cho ngành GD&ĐT đạt từ 27,4% giảm dần và chỉ còn 6,3% – Công bố mới đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thật sự là một tín hiệu đáng chú ý. Thêm nữa, GD&ĐT là một trong số ít ngành có vốn đầu tư tăng thấp hơn so với trước khi Việt Nam gia nhập WTO, do các hạn chế từ phía Việt Nam; tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội cho ngành so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội khi Việt Nam gia nhập WTO cũng giảm hơn so với trước.

      http://gdtd.vn/channel/3006/201305/Nguon-luc-cho-giao-duc-Dau-tu-chua-tuong-xung-quy-mo-1968857/

      • Giáo dục RSS
        Cập nhật lúc 20/08/2013, 17:33 (GMT+7)
        Giáo dục cần điều kiện tối thiểu để đảm bảo chất lượng

        (GD&TĐ) – Tại cuộc họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về bảo đảm chất lượng Chương trình – SGK phổ thông, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã phát biểu nhấn mạnh vào 2 nội dung: Đầu tư cho GD phổ thông và tình hình triển khai thí điểm một loạt các mô hình, thử nghiệm mới của Bộ GD&ĐT. Tuy nhiên, một số báo đã đăng sai tinh thần phát biểu của Bộ trưởng Phạm Vũ Luận. Báo Giáo dục và Thời đại trân trọng đăng lại nội dung phát biểu của Bộ trưởng Phạm Vũ Luận. Đầu đề và các tiểu mục do tòa soạn đặt.

        “Cho đến thời điểm này, mặc dù các điều kiện đảm bảo chất lượng cho giáo dục phổ thông đã được cải thiện nhiều so với trước – nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn – nhưng trên tổng thể, vẫn chưa đảm bảo đủ điều kiện tối thiểu để các hoạt động giáo dục và đào tạo đảm bảo chất lượng.”

        Bộ trưởng Phạm Vũ Luận

        http://gdtd.vn/channel/2741/201308/giao-duc-can-dieu-kien-toi-thieu-de-dam-bao-chat-luong-1971944/

      • Những con số đầu tư cho giáo dục sao nó….(không viết được). Tiền chi cho GD trên giấy tờ thật khác hẳn những dòng tiền sạch tiền bẩn phải tiêu vào nơi không sạch.

  3. Bài này của tác giả Minh Tư trên Giáo Dục Thời Đại rất hay!

    http://gdtd.vn/channel/3006/201308/tu-duy-moi-de-nang-tam-giao-duc-1971495/

  4. Giáo Dục bất cứ ở đâu, bất cứ thời kỳ nào, thì người đuọc tôn làm thầy bao giờ cũng là người….rất tử tế trong con mắt người đời. Người thầy không bao giờ chịu làm điều trái lương tâm. Người thầy không bao giờ đứng chung với những người không tử tế và chẳng bao giờ chịu làm công cho người không tử tế. Có những người thầy chấp nhận bỏ trường, bỏ hưu về nhà dạy thêm chứ không chịu nhục. Để bảo vệ danh dự người thầy, có thày chỉ một mực nói “tôi là giáo viên” vì trong hàng ngũ của họ có người không xứng đáng là thầy.
    Giáo dục chưa bao giò thiếu những người thày như hiện nay và hiện nay chưa bao giờ người thày phải chịu thiếu trường thiếu lớp như làm vậy. Lời các thày “bọn em mất dạy rồi” nghe thật xót xa.

  5. Mời quý vị xem bài này để biết thêm khái niệm “Tiếp cận năng lực” được tác giả của tham luận và rất nhiều bài viết tiếp thu từ đâu và như thế nào ở đây:”http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=13215

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 7 540 other followers

%d bloggers like this: