Giáo dục Việt Nam, con tàu không người lái? – Nguyễn Tùng Lâm

090906080443_pix2

Từ năm 1975 đến nay, giáo dục Việt Nam bao lần cải tiến, đổi mới “càng cải càng lùi”, “không có tiến” , “đổi” nhưng không “mới” mà vẫn lạc hậu. Tôi không nói giáo dục những năm vừa qua không có thành tựu. Tôi chỉ đặt vấn đề, vì sao giáo dục của chúng ta hiện nay vẫn lạc hậu?
Trên các chỉ thị, nghị quyết thì giáo dục là một trong những ngành được nhiều mỹ từ đẹp đẽ, có sức hấp dẫn như “quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, nhưng trên thực tế ngành giáo dục đã bị đẩy xuống thứ bao nhiêu không biết nữa! Vấn đề là không phải đã cho giáo dục bao nhiêu % của GDP! Vấn đề là người lãnh đạo phải biết sốt ruột, phải biết đau xót làm sao cho một dân tộc thông minh mà lại để cho giáo dục lạc hậu đến thế! Khi người quản lý cấp cao không biết “bực mình”, “không thấy sốt ruột” thì chắc chắn công việc đó không hề có trong “tầm ngắm” và “tầm với” của họ.
Các lãnh đạo cao cấp của ngành giáo dục lâu nay cũng đều là những người tâm huyết, học cao hiểu rộng, đều trưởng thành từ các cơ sở giáo dục tiên tiến, do đó không thể nói các đồng chí không hiểu gì về giáo dục. Vậy tại sao tình trạng lạc hậu của giáo dục vẫn kéo dài? Do bản lĩnh, do trách nhiệm hay còn có những lý do nào nữa? Chúng ta có thể chia sẻ với các lãnh đạo cấp cao ngành giáo dục, khi đã ngồi vào “ghế” là phải chịu chung sự điều khiển của cả hệ thống. Vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cá nhân của những người đứng đầu ngành giáo dục đã không thể hiện rõ. Trăm dâu chúng ta lại đổ đầu tằm “cơ chế” thế là không truy trách nhiệm cho ai và “mắt toét là tại hướng đình!” Cơ chế đặc thù cho giáo dục không có, không có ai được đóng vai trò nhạc trưởng, tuyền trưởng.
Như thế có thể giải thích giáo dục Việt Nam lạc hậu vì không có người lái, hay đúng hơn không có người lái được toàn quyền lái đoàn tầu. Từ trung ương đến cơ sở những người lãnh đạo giáo dục không được toàn quyền như giám đốc các cơ sở kinh tế. Vì thế những mặt lạc hậu của giáo dục mới bị kéo dài.
Mất dân chủ
Giáo dục Việt Nam lạc hậu còn bởi nó không được vận hành theo quy luật kinh tế thị trường. Chúng ta chỉ la ó “giáo dục bị thương mại hóa” khi thấy nó bị những mặt trái kinh tế thị trường tác động. Tại sao lại có chuyện “mua bằng bán điểm”? Tại sao lại có tình trạng học thêm tràn lan từ mầm non, tiểu học? Tại sao bằng cấp từ các cuộc thi là “bằng thật” nhưng lại đẻ ra những sản phẩm người học “lại giả”, không chịu học hành rèn luyện, cứ hết năm lên lớp, cuối cấp nhận bằng? Nhưng chúng ta đã không điều khiển ngành giáo dục bằng chính quy luật tích cực của kinh tế thị trường. Có lúc chúng ta đã nhầm lẫn giữa việc chống “thương mại hóa giáo dục” với việc vận dụng các quy luật tích cực của kinh tế thị trường như “cạnh tranh”, “cung phải đáp ứng cầu” quy luật “giá trị”?
Quy luật cao nhất của kinh tế thị trường là tất cả đều phải làm ra giá trị của ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua. Khách hàng bao giờ cũng là “thượng đế”. Nhưng giáo dục Việt Nam cho đến nay không làm nổi kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục. Luật giáo dục không có điều nào bảo vệ người học. Học sinh, cha mẹ học sinh – những người đánh giá đúng nhất và khách quan nhất về những gì giáo dục mang lại cho con em họ lại không được đề cao. Với cách quản lý không dân chủ, không có kỷ cương của giáo dục Việt Nam, làm sao họ có tiếng nói được? Thầy có quyền của thầy, trường có quyền của trường làm sao học sinh và cha mẹ học sinh làm “thượng đế” được? Mất dân chủ trong các trường học là điều lạc hậu tệ hại của giáo dục Việt Nam. Bao giờ mỗi nhà trường phải là “một thương hiệu” được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội về kết quả đào tạo toàn diện của mình, lúc đó chúng ta mới có chất lượng thật của ngành giáo dục.
Khoa học sư phạm lạc hậu
Chúng ta không phát triển ngành giáo dục dựa trên tiến bộ của khoa học kĩ thuật, nhất là những tiến bộ của khoa học tâm lý, khoa học giáo dục để xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa và đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp giáo dục, đổi mới các hình thức thi cử, đánh giá. Mục tiêu của giáo dục phải là giúp người học tự hoàn thiện nhân cách, biết cách học, cách sống, chủ động sáng tạo khẳng định mình và cống hiến cho xã hội, cộng đồng, đất nước. Nhưng cách đào tạo của ta chỉ khuyến khích người học học vẹt, chỉ biết làm theo không dám sáng tạo, không có khát vọng cống hiến.
Chương trình nhồi nhét, thừa quá nhiều kiến thức đã lỗi thời. Ngày nay với công nghệ thông tin người ta không còn phải ghi nhớ máy móc nhiều, thế mà học trò ta vẫn phải học vẹt để nhớ những kiến thức không bao giờ dùng đến. Tư duy phi tuyến tính chúng ta không cho học sinh tiếp cận, các em chỉ được dạy tư duy tuyến tính – vốn chỉ phù hợp với mức độ phát triển của khoa học thế kỷ 18, 19. Ngày nay các bộ môn khoa học phát triển theo hướng tích hợp các bộ môn để cùng giải quyết những vấn đề cuộc sống thì ta cứ xây dựng chương trình chia nhỏ các bộ môn.
Ngày nay năng lực tư duy logic không còn là chuẩn mực để đánh giá trí thông minh của mọi người. Theo hướng này khoa học đã phát hiện con người có tới 7 loại trí thông minh. Mỗi người phải tự khai phá năng lực thông minh riêng để tìm cách học riêng cho phù hợp và phát triển nghề nghiệp riêng của mỗi người, thế mà chúng ta cứ giữ mãi cách dạy nhồi nhét, cách dạy đồng loạt bắt ai cũng như ai thì sao chương trình và phương pháp giảng dạy của chúng ta không lạc hậu được.
Khâu quan trọng là đào tạo và sử dụng giáo viên của ta cũng hết sức lạc hậu. Đào tạo giáo viên trong các trường sư phạm, mấy chục năm nay cũng không đổi mới được nhiều. Sinh viên ra trường không đáp ứng nổi những yêu cầu đổi mới ở phổ thông. Cách đào tạo chúng ta nặng về khoa học cơ bản, không tập trung bồi dưỡng năng lực sư phạm, sinh viên ra trường thực sự chưa có tay nghề, cách đào tạo của giáo viên theo phân môn hẹp, lại không tuyển chọn sinh viên có đủ năng lực tự học để học tập suốt đời trở thành nhà giáo đích thực với khái niệm này.
Trên cơ sở có được những sinh viên có đủ năng lực tự học, đào tạo giáo viên liên môn mới dạy được chương trình tích hợp sau này thì chúng ta lại chưa tạo điều kiện cho các trường sư phạm phải đi trước một bước, sư phạm lại đi sau phổ thông là cách đào tạo ngược… Trường sư phạm phải có thời gian và cách đào tạo như trường y, đào tạo 5 năm trong đó có 2 năm chuyên đào tạo tay nghề. Vừa học lý thuyết ở trường sư phạm vừa dạy và nâng cao tay nghề ở trường phổ thông dài ngày.
Đội ngũ giáo viên từ phổ thông đến ĐH đều chậm đổi mới do cách đào tạo chưa đúng với cách đào tạo nghề. Giáo viên ra trường không biết cách tự học, không có khát vọng học suốt đời, thiếu chuyên nghiệp.
            Giải pháp nào?
Làm thế nào để giải quyết vấn đề lạc hậu của giáo dục Việt Nam và để giáo dục Việt Nam có thể đổi mới toàn diện và căn bản?
Trước hết Đảng và Nhà nước phải có chính sách, cơ chế đặc thù cho ngành giáo dục. Giáo dục cả nước cũng như các địa phương phải do chính người đứng đầu chỉ đạo và chịu trách nhiệm. Muốn đất nước mình, địa phương mình phát triển đến đâu thì phải tìm cách để giáo dục đáp ứng yêu cầu nhân lực đến đó. Người đứng đầu phải được toàn quyền và hoàn toàn chịu trách nhiệm về các chỉ tiêu phát triển giáo dục cho từng giai đoạn không ai chịu trách nhiệm thay những người đứng đầu nhà nước, đứng đầu địa phương về giáo dục. Họ để giáo dục ở địa phương cũng như cả nước chậm phát triển thì họ phải nhường quyền cho người khác thay thế. Những người đứng đầu Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, các trường đại học, phổ thông chỉ là những người tham mưu nhưng họ cũng phải được giao quyền hạn và trách nhiệm. Những người đứng đầu chỉ đạo giáo dục phải chịu trách nhiệm sau thời hạn nhất định không làm thay đổi tình trạng giáo dục những cơ sở mình quản lý phải cử người khách thay thế. Có đầu tầu mạnh, rõ quyền hạn trách nhiệm chắc căn bệnh lạc hậu sẽ được giải quyết.
Thứ nữa, phải kiên quyết đặt ngành giáo dục phát triển đúng theo quy luật tích cực của kinh tế thị trường, của những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, cũng như khoa học tâm lý, giáo dục.
Thứ ba là phát triển giáo dục trên cơ sở “dân chủ hóa, xã hội hóa” nêu cao vai trò giám sát của cộng đồng. Tất cả các cơ sở giáo dục đào tạo từ mầm non đến đại học phải có hệ thống kiểm định độc lập ở mỗi địa phương, để mỗi cơ sở giáo dục là một thương hiệu, mỗi trường học phải chịu trách nhiệm trước xã hội về kết quả đào tạo toàn diện. Bỏ bớt những nội dung thi đua và cách xét tặng danh hiệu thi đua không thực chất trong ngành giáo dục mới giải quyết tận gốc “bệnh thành tích” nguy hại của ngành giáo dục.
Cuối cùng là ngành giáo dục phải tập trung bồi dưỡng lại, tuyển chọn lại đội ngũ nhà giáo ở các ngành học, cấp học. Giải quyết chế độ tiền lương thỏa đáng để người giáo viên sống thật bằng nghề và nhà giáo yên tâm làm việc một cách chuyên nghiệp về nghề dạy học. Nếu ai còn để tình trạng đội ngũ giáo viên như hiện nay thì người lao động ở đó phải chịu trách nhiệm vì không thế không có cách nào thực hiện được những đổi mới toàn diện triệt để được. Trong đó phải chú ý tạo điều kiện cho các trường sư phạm trong cả nước phải thực sự có điều kiện đi trước một bước.
Quả thật bàn chuyện đổi mới giáo dục cũng khó, nhưng làm thế nào để đổi mới giáo dục lại càng khó khăn hơn nhiều. Nhất là những nhà quản lý của Việt Nam hiện nay lại dị ứng với tiến bộ của khoa học kĩ thuật, chỉ thích mọi người đồng tình với cách làm, cách chỉ đạo của mình. Tôi chắc các hội thảo bàn về vấn đề này chỉ như “tiếng trống qua cửa nhà sấm”, các nhà khoa học nói, các nhà khoa học nghe theo kiểu “miệng nói tai nghe”. Dù sao có trống thì phải đánh thôi! Còn hi vọng mãi là hi vọng!
—–
TS Nguyễn Tùng Lâm, chủ tịch Hội Tâm lý Giáo dục Hà Nội và là Hiệu trưởng Trường THPT Đinh Tiên Hoàng – Ba Đình, một trường dân lập chuyên giáo dục học sinh cá biệt ở Hà Nội. 

>