How We Learn

Vài suy nghĩ về việc dạy và học Lịch sử – Nguyễn Thị Hậu

bao cap edit

Một tiết học lịch sử ở trường THPT Phan Huy Chú – Đống Đa, Hà Nội (Ảnh: Ngô Thị Thành)

Xin bắt đầu bằng sự việc mới xảy ra vài ngày qua: Khi Bộ Giáo dục thông báo năm nay sẽ không thi tốt nghiệp THPT môn Lịch sử, hàng trăm học sinh tập trung ra hành lang, hò hét và đồng loạt xé đề cương môn Sử thả xuống rơi trắng cả sân trường. Video này quay tại trường THPT Nguyễn Hiền, quận 11, TP HCM ngày 30/3 đã gây ra những phản ứng trái chiều không chỉ về việc “xé đề cương” mà rộng hơn, cả về việc dạy và học Lịch sử.

Có thể nhận thấy 2 luồng ý kiến chính qua sự việc trên:

– Đây là hành động thể hiện sự chán ghét môn Lịch sử, do cách giảng dạy nhàm chán, sách giáo khoa khô cứng giáo điều, cách học thuộc lòng những sự kiện ngày tháng và nội dung mà khi thi xong thì chẳng còn được học sinh nhớ tới… Những ý kiến này lên án mạnh mẽ cách dạy Sử, những bộ sách giáo khoa Lịch sử và có khi còn đi xa hơn, chê bai những giáo viên dạy Lịch sử. Từ đó nhiều người còn ủng hộ và cổ vũ hành vi trên của các em học sinh!

– Coi đây là hành động bột phát của các em học sinh vì vui mừng không phải thi một môn học thuộc lòng; đồng thời trách cứ các em vô tâm, không nghĩ đến công lao các thầy cô dạy Sử đã biên soạn đề cương, dù khô cứng khó học nhưng nhằm mục đích cho các em thi đạt kết quả tốt. Thậm chí có ý kiến cho rằng việc “xé đề cương môn Sử” là hành vi coi thường thầy cô, vô văn hóa vì đề cương cũng là một dạng sách vở, chưa kể việc xả rác ra trường học để người khác phải quét dọn. Những ý kiến này cho rằng cần phân biệt đây là hành vi bột phát nhằm giải tỏa tâm lý căng thẳng của các em để không cổ súy các em có những hành động tương tự.

Tuy nhiên, cả 2 luồng ý kiến này đều đồng nhất ở một điểm: Suy cho cùng nguyên nhân chính là từ nền giáo dục có quá nhiều khiếm khuyết về nội dung, cấu trúc chương trình, mục đích, phương pháp trong việc truyền đạt kiến thức và giáo dục nhân cách! Và đau xót thay, từ nhiều năm nay kết quả những kỳ thi tốt nghiệp phổ thông hay thi tuyển Đại học của môn Lịch sử là hậu quả điển hình, hành xử của các em học sinh trong Video nói trên chính là “giọt nước tràn ly” của khiếm khuyết trầm trọng này!

Trong giáo dục phổ thông có một nguyên lý luôn được coi là cơ bản nhất, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa Nhà trường, Gia đình và Xã hội để thực hiện những phương thức giáo dục, nhằm đạt được mục tiêu của việc truyền đạt kiến thức và giáo dục nhân cách. Những ý kiến sau đây thử phân tích những nguyên nhân từ  ba môi trường này để có thể khắc phục phần nào những hạn chế, sai lầm trong việc dạy và học lịch sử.

I. Nhà trường:

Nhiều hội thảo khoa học và những ý kiến từ xã hội đều cho rằng sách giáo khoa và chương trình giảng dạy ở trường phổ thông hiện nay tuy nặng nề nhưng lại  không theo kịp sự phát triển của kiến thức, sự thay đổi của xã hội. SGK lịch sử khô khan và đòi hỏi học sinh phải học thuộc lòng các sự kiện lịch sử.  Có lẽ vì phải bám sát biên niên sử – nhất là chính sử thời hiện đại nên nói chung, ngôn ngữ thể hiện, ý nghĩa của các sự kiện, nhân vật lịch sử không nằm ngoài ngôn ngữ, ý nghĩa “chính trị”. Đối với nội dung lịch sử thời cổ – trung đại thì giáo viên còn có thể tham khảo các bộ cổ sử và nhiều tác phẩm văn học hoặc giai thoại, văn hóa dân gian để làm cho bài giảng sinh động, dễ hiểu hơn vì các bộ sử này ghi chép khá cụ thể, sinh động về sự kiện, nhân vật lịch sử. Còn các bộ chính sử ngày nay, nhất là giai đoạn lịch sử cận hiện đại thì quá nhiều từ ngữ chung chung, một chiều đơn giản (bước ngoặt, thắng lợi, tiêu diệt, vĩ đại…), trong khi nguồn/ luồng thông tin ngày nay vô cùng phong phú và dễ dàng truy tìm. Giáo viên phải bám sát chương trình và nội dung của sách giáo khoa nên thật khó để có thể giảng hay và  thuyết phục – vậy làm sao học sinh thấy hay để mà hiểu và nhớ được? Bên cạnh đó chương trình môn lịch sử tuy bao quát toàn bộ lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới nhưng nhiều sự kiện lịch sử hiện đại không được nhắc đến hoặc chỉ điểm qua sơ sài – trong đó có những sự kiện có ảnh hưởng và tác động lớn đối với đất nước ta. Trong cấu trúc chương trình môn Sử lại bị coi là “môn phụ”, có năm thi tốt nghiệp năm không thi. Vì vậy ít được sự đầu tư vào bài giảng, tài liệu khoa học phù trợ, không thay đổi phương pháp và phương tiện dạy và học, tâm lý của người dạy và người học không coi trọng môn học này.

Để có thể cải thiện tình trạng trên cần:

1) Giảm bớt nội dung liệt kê các sự kiện lịch sử và thay đổi phương pháp viết/ trình bày SGK theo kiểu “nội dung mở” để giáo viên và học sinh có thể tự mình “viết phần mềm” cho bài giảng/ bài học của mình: từ những sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử quan trọng nhất, giáo viên hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu những kết quả, tác động, ảnh hưởng của sự kiện ấy, vai trò các nhân vật lịch sử đối với bối cảnh xã hội và thời đại lịch sử…

2) Giáo viên sử dụng phương tiện hiện đại để lên lớp: có nội dung thay thế bằng hình ảnh, phim, đường link nguồn tài liệu từ internet… có nội dung sử dụng phương pháp truyền thống là giảng giải, minh chứng… Sách giáo khoa đóng vai trò “xương sống” để giáo viên tìm những cách thể hiện và tài liệu minh họa phù hợp, như những “xương sườn” dựng lại “bộ khung” lịch sử.

3) Bên cạnh ý nghĩa “lịch sử – chính trị” của các sự kiện, nhân vật lịch sử cần chú ý đến ý nghĩa văn hóa – hay là cần nhìn nhận dưới/ từ góc độ văn hóa, vì lịch sử là một phần quan trọng của văn hóa, giá trị của những sự kiện, những nhân vật lịch sử chính là giá trị văn hóa của đất nước. Mà “văn hóa là những gì còn lại khi tất cả đã trôi qua” (thể chế chính trị, chiến tranh, xung đột…). Tiếp cận lịch sử bằng một “con đường” khác cũng là cho các em một cách, một phương pháp nhận biết và đánh giá lịch sử. Thay đổi những câu hỏi cuối bài làm sao để học sinh bày tỏ được ý kiến cá nhân một cách logic, bởi mướn làm được điều đó học sinh phải nắm vững vấn đề.

4) Để làm được điều đó quan trọng là giáo viên dạy sử cần có tình yêu sâu sắc nghề nghiệp và sự hiểu biết thấu đáo “Lịch sử như là một khoa học”, cần tận dụng tất cả những kiến thức lịch sử từ những ngành hỗ trợ như bảo tàng, di tích, du lịch, văn học nghệ thuật, sách báo chuyên ngành… Thầy cô thể hiện tình yêu, lòng trân trọng đối với lịch sử – điều đó mang lại sức thuyết phục rất lớn đối với học sinh, sẽ truyền đạt được tình yêu đó đến với học sinh. Mang lại cho các em tình yêu – các em sẽ có cách để đến với điều các em yêu thích!

II. Gia đình:

Có thể nói đây là môi trường đầu tiên giúp/ tạo điều kiện cho học sinh phổ thông ý thức học tập đối với môn Lịch sử. Phải thừa nhận là hiện nay không có nhiều gia đình, các bậc cha mẹ khuyến khích con em yêu thích lịch sử và tạo điều kiện cho con em học tốt, học giỏi môn này, vì một tâm lý “thực dụng”: học lịch sử / làm ngành sử để làm gì?! Tìm hiểu từ một số học sinh học khá giỏi và yêu thích môn Lịch sử, được biết gia đình đều hiểu và tôn trọng sở thích của các em, không ngăn cản mà còn tạo điều kiện giúp các em tìm hiểu thêm từ sách báo, nguồn tư liệu hay đưa các em đến bảo tàng, di tích… mua cho các em những cuốn truyện, bộ phim (nhất là phim tài liệu khoa học nước ngoài mà Đài truyền hình phát và làm băng Video/ VCD/DVD phát hành rộng rãi). Có bậc phụ huynh còn cùng các em truy cập những website về lịch sử, bảo tàng, di tích… trên thế giới. Nhiều gia đình có điều kiện trong những chuyến du lịch trong và ngoài nước còn chú trọng những điểm du lịch lịch sử – văn hóa. Quý vị phụ huynh này đều cho rằng, có thể sau khi tốt nghiệp phổ thông các em không theo học ngành Lịch sử ở đại học, nhưng tình yêu và kiến thức lịch sử giúp các em có thái độ đúng đắn trong việc nhìn nhận/ đánh giá xã hội hiện nay.

Tuy nhiên những gia đình như vậy không nhiều, một phần do nhận thức của phụ huynh, phần khác do tác động từ xã hội. Một thực tế là ngay trong những gia đình có cha mẹ dạy/ nghiên cứu lịch sử thì con em cũng ít theo theo ngành này. Hoàn toàn không phải vì cha mẹ không tạo điều kiện, không khuyến khích con em mà bản thân các em cũng bị những tác động từ bạn bè, từ xã hội.

III. Xã hội:

Ngày nay các phương tiện truyền thông đại chúng rất phổ biến và có ảnh hưởng lớn đến sự hiểu biết và sự lựa chọn lĩnh vực yêu thích của các cá nhân. Bối cảnh xã hội “kinh tế thị trường” là cơ sở, tiền đề cho các ngành nghề thuộc lĩnh vực kinh tế  và khoa học ứng dụng phát triển và thu hút các em theo học. Ở tầm vĩ mô của việc tuyên truyền giáo dục lịch sử, không thể không nói đến vai trò của các thiết chế văn hóa trong việc hỗ trợ, phối hợp với ngành giáo dục đưa kiến thức lịch sử đến với công chúng, bằng nhiều hình thức, nhiều phương thức, lâu dài hay trong những thời gian thích hợp: bảo tàng, phim ảnh, sân khấu, truyền hình, Internet, báo chí, văn học… của chúng ta còn quá thiếu những tác phẩm nội dung về lịch sử có tính hấp dẫn thu hút người xem, người đọc…

Tình trạng này có lẽ do cùng nguyên nhân: đó là quan niệm tác phẩm văn học nghệ thuật về lịch sử thì phải “đúng lịch sử” – cái lịch sử theo quan niệm “chính trị” của ngày nay! Nhưng lịch sử – sự thật – là đời sống, các sự kiện và nhân vật lịch sử không hề giản đơn, một chiều, không chỉ thể hiện “ý chí chính trị” mà còn phản ánh bối cảnh và các mối quan hệ, liên hệ trong xã hội, tư chất, cá tính, hoàn cảnh cá nhân… Đó chính là mảnh đất màu mỡ “để dành” cho văn học nghệ thuật khai thác.

Ngoài ra, trong xu thế hội nhập ngày nay, việc hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực “nhập khẩu” tri thức lịch sử mới, gồm kiến thức tư liệu mới, phát hiện mới, phương pháp nghiên cứu tiếp cận mới… (nhất là những vấn đề thuộc thời hiện đại) sẽ giúp chúng ta không bị lạc hậu với thế giới, và có thể, không lạc hậu với ngay thế hệ trẻ Việt Nam. Để phát triển và bảo đảm phát triển bền vững, kinh nghiệm và bài học của nhiều quốc gia đã cho thấy, việc gìn giữ và bảo vệ những truyền thống lịch sử – văn hóa dân tộc là một trong những cơ sở, nền tảng quan trọng nhất. Nhận thức điều này không khó, nhưng để biến những nhận thức này thành hiện thực thì không phải quốc gia nào cũng thành công.

Trước thực trạng xã hội hiện nay có một bộ phận nhân dân và giới trẻ ít quan tâm và thiếu sự hiểu biết về lịch sử dân tộc, những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử đều nhận thấy trách nhiệm của mình, tuy nhiên, để lịch sử dân tộc trở thành một hành trang không thể thiếu được cho mỗi người Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước và hội nhập với thế giới không thể không nói đến vai trò quyết định của nền giáo dục Việt Nam.

TS. Nguyễn Thị Hậu – Phó Tổng Thư ký Hội Khoa học lịch sử VN

Advertisements

Tagged as:

2 phản hồi »

  1. Bất cứ môn học nào cũng chở nên khó học khi không đáp ứng được hai yếu tố cơ bản. Thứ nhất phải đúng thứ đến là, người học muốn học. Lịch sử trong sách GK của Việt nam hiện nay chưa đáp ứng được hai yếu tố tố cơ bản này. Lịch Sử đất nước nhưng lại bị thêm bớt chỉnh sửa khiến người thích học cũng…chán. Học là để hiểu biết, nên người hiểu biết ham học sẽ dần dần nhận thấy những điều vô lý được dạy cho họ học. Thà dạy ít mà đúng còn hơn sáng tác lịch sử để dạy.

    Số lượt thích

    • Bất cứ môn học nào cũng trở nên khó học khi không đáp ứng được hai yếu tố cơ bản. Thứ nhất phải đúng, thứ đến là người học muốn học. Lịch sử trong sách GK của Việt nam hiện nay chưa đáp ứng được hai yếu tố tố cơ bản này. Lịch Sử đất nước nhưng lại bị thêm bớt chỉnh sửa, khiến người thích học cũng…chán. Học là để hiểu biết, nên người hiểu biết ham học sẽ dần dần nhận thấy những điều vô lý được dạy cho họ học. Thà dạy ít mà đúng còn hơn sáng tác lịch sử để dạy.

      Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: