How We Learn

Đề cương cải cách giáo dục – Hoàng Tuỵ

hoangtuy
Từ lâu giáo dục đã trở thành chỗ nghẽn lớn nhất trong sự phát triển của đất nước. Vì vậy cải cách giáo dục toàn diện và triệt để theo tinh thần các nghị quyết của TƯ là đòi hỏi bức thiết của cuộc sống.

Sau đây là bản kiến nghị đề cương cải cách giáo dục phục vụ yêu cầu phát triển của đất nước trong vài mươi năm tới. Bản đề cương gồm ba phần chính:
I. Quan điểm tổng quát, cũng tức là triết lý cơ bản của giáo dục mới.
II. Những vấn đề chính và cấp bách cần giải quyết.
III. Lộ trình và tổ chức thực hiện.

I. Quan điểm tổng quát

Đây có thể coi là vấn đề của mọi vấn đề, nó là cái gốc chi phối từ sứ mạng, phương châm cho đến nội dung, phương pháp, tổ chức giáo dục.

Trong thế giới hiện đại, yêu cầu hội nhập quốc tế đặt ra ngày càng gay gắt cho mọi dân tộc, nếu ta chỉ muốn xây dựng giáo dục theo con đường riêng của mình, thì dù với những lý tưởng đẹp đẽ và dân khí rất cao như trong thời hoàng kim của cách mạng, sớm muộn chúng ta cũng không tránh khỏi bị đào thải trong cuộc cạnh tranh quốc tế quyết liệt. Huống hồ sau 1975 đất nước đã bước sang một giai đoạn lịch sử mới, có biết bao vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội phức tạp trước đây chưa bao giờ gặp. Hơn nữa sau khi giành được độc lập, thống nhất, ta xây dựng lại đất nước trong bối cảnh cả nhân loại chuyển lên nền văn minh trí tuệ. Nhiều cơ hội mới mở ra từ đây cho những dân tộc giàu tiềm năng như chúng ta, đồng thời đất nước cũng đối mặt với những thách thức to lớn không dễ gì vượt qua nếu không đủ dũng khí chia tay với những tập quán, cách suy nghĩ, làm ăn, ứng xử, từng là nếp sống quen thuộc một thời.

Cho nên ngày nay hơn bao giờ hết, không gì cản trở sự tiến bộ của xã hội hơn thái độ đóng kín, thiếu cởi mở với cái mới, e ngại thay đổi, chủ quan tự mãn, không muốn, không dám nhìn thẳng vào những yếu kém của mình mà chỉ say sưa tự ru ngủ với quá khứ vẻ vang và tự dối mình bằng những thành tích tưởng tượng hoặc giả tạo.

Có thể nói đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục của ta vẫn còn giữ khá nhiều quan niệm cổ hủ thời phong kiến nho giáo, thậm chí thời trung cổ Châu Âu. Nặng tính giáo điều kinh kệ, nhằm biến con người thành một phương tiện – dù là phương tiện để thực hiện những lý tưởng cao quý – hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Đã đến lúc cần nhìn thẳng vào thực tế để nhận rõ những hệ luỵ tiêu cực của tình hình đó đối với tương lai dất nước. Thật sai lầm nếu nghĩ rằng cứ áp đặt một ý thức hệ định sẵn vào nội dung và phương pháp giáo dục thì sẽ đào tạo được những con người khuôn theo ý thức hệ đó. Kinh nghiệm thực tế khắp nơi trên thế giới đều cho thấy ngược lại: sự mâu thuẫn xung khắc giữa giáo lý trong nhà trường với thực tế phũ phàng ngoài xã hội thường là nguyên nhân phát sinh và nuôi dưỡng gian dối, đạo đức giả và bạo lực, cuối cùng đưa đến bất ổn trầm trọng trong xã hội.

Lịch sử các nước Phương Tây cho thấy chỉ sau khi thế tục hoá nhà trường, tách nhà trường ra khỏi Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo thì khoa học, kỹ thuật hiện đại mới có điều kiện phát triển mạnh mẽ, đồng thời Nhà Thờ không vì thế mà mất vị trí tinh thần của nó trong xã hội. Đối với chúng ta, mà mục tiêu tối thượng của dân tộc là dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tưởng cũng cần một giải pháp tương tự cho giáo dục mới có thể mở đường chấn hưng đất nước. Cuộc sống từ lâu đã đòi hỏi nhà trường phải thoát khỏi chế độ bao cấp tư tưởng với những ràng buộc giáo lý cứng nhắc đang có tác dụng kìm hãm thay vì khai sáng trí tuệ 1. Thay vào đó, cần đề cao tính nhân văn: rèn luyện nhân cách, phẩm chất trí tuệ, năng lực cảm thụ, ý thức cộng đồng, như trong mọi nhà trường tiên tiến trên thế giới. Đó mới chính là dạy người theo nghĩa cao quý nhất. Một khi sản phẩm của nhà trường là những con người tự do, với nhân cách và phẩm chất hướng theo hệ thống giá trị phổ quát của nhân loại thì cái mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới có cơ may hiện thực. Bằng không, nếu chỉ chăm chăm đào tạo con người theo khuôn mẫu đúc sẵn thì cái mục tiêu ấy mãi mãi xa vời. Bởi lẽ trong một thế giới, một thời đại, đầy biến chuyển khó lường mà thế hệ chúng ta đang trải qua, mọi khuôn mẫu đúc sẵn đều không thể thích nghi được.

Giáo dục hiện đang đứng ở ngã ba đường, giống như kinh tế những năm giữa thập kỷ 80. Nếu lúc bấy giờ ta cứ kiên trì đường lối kinh tế tập trung bao cấp và tiếp tục dị ứng với cơ chế thị trường như hồi 1968, khi đó VN đã cùng với cả phe xã hội chủ nghĩa lên án mạnh mẽ chủ nghĩa xã hội thị trường Tiệp Khắc 2 , thì không biết điều gì đã xảy ra. May thay, nhờ nhìn thẳng vào thực tế cuộc sống với tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân, chúng ta đã kịp thời nhận ra nguồn gốc bế tắc của xã hội và đã có can đảm thay đổi tư duy, chấp nhận chính cái cơ chế thị trường ngày nào đã bị chúng ta bác bỏ. Đường lối đổi mới nhờ thế đã ra đời, cứu đất nước khỏi sự sụp đổ nhãn tiền. Đó là bài học sâu sắc.

Ngày nay, sau mấy chục năm giáo dục chìm đắm trong khủng hoảng triền miên bởi các ràng buộc ý thức hệ cứng nhắc, đã đến lúc chúng ta phải có sự lựa chọn: hoặc là tiếp tục con đường cũ, tiếp tục giam hãm đất nước trong nền giáo dục lạc hướng, ngày càng tụt hậu so với thế giới, hoặc là cương quyết thay đổi tư duy, thực hiện bước ngoặc cơ bản, mở đường cho một giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển.

Đương nhiên đây là công việc không hề dễ dàng vì phải đoạn tuyệt với nhiều quan niệm, cách sống và nếp nghĩ đã ăn sâu trong tâm khảm nhiều thế hệ từ thời chiến đấu giành độc lập thống nhất. Nhưng là giải pháp trước sau gì cũng phải làm, mà càng để chậm trễ thì đất nước càng hụt hơi, càng bị cô lập và khó thích ứng kịp với những biến chuyển bất ngờ trong thế giới văn minh ngày nay.

II. Những vấn đề chính cần giải quyết trong cuộc cải cách giáo dục

Sau khi đã xác định quan điểm tổng quát về sứ mạng cơ bản của giáo dục, mọi vấn đề cụ thể về tổ chức giáo dục, nội dung chương trình học các cấp, phương pháp giáo dục, v.v . đều phải xem xét giải quyết trên cơ sở quan điểm đó. Bản đề cương này không đi sâu vào các vấn đề cụ thể có tính chất kỹ thuật là phần việc của các chuyên gia sau này mà chỉ tập trung nêu lên những định hướng lớn làm nền tảng và khuôn khổ giải quyết các vấn đề cụ thể ấy.

Có 4 vấn đề lớn sau đây cần cấp bách giải quyết theo định hướng hội nhập tích cực vào trào lưu chung của thế giới văn minh.

1. Cải thiện cơ bản chính sách đối với người thầy, giải tỏa nghịch lý lương, để nhà giáo ở mọi cấp an tâm làm việc, toàn tâm toàn ý với trách nhiệm cao cả của mình.

Có thể nói chính sách đối với người thầy là một trong những điểm khác biệt cơ bản của giáo dục VN so với thế giới và là nguyên nhân trực tiếp quan trọng nhất làm tha hóa giáo dục.
Có một nhà khoa học lớn nước ngoài tâm huyết với VN khi được hỏi về điều gì cần thay đổi cấp bách nhất để chấn hưng giáo dục, đặc biệt là đại học, đã không chút ngần ngại nói ngay đó là chế độ lương kỳ quặc không thấy đâu trong thế giới văn minh nhưng đã tồn tại dai dẳng ở VN từ hàng chục năm nay. Một chế độ lương biểu thị không gì khác hơn là sự khinh miệt đối với lao động giáo dục và khoa học, trái hẳn với chủ trương tôn vinh nhà giáo đã được lãnh đạo khẳng định lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần suốt thời gian qua.

Với đồng lương thấp đến mức khó tưởng tượng, đương nhiên nhà giáo và các quan chức giáo dục đều phải xoay xở để kiếm thêm thu nhập. Chính đó là cái lỗ hổng quản lý gây nên hoặc làm trầm trọng thêm hầu hết các căn bệnh trầm kha đã ra sức tàn phá giáo dục 3. Chúng ta nói nhiều đến bệnh giả dối, gian trá, thành tích ảo, v.v. nhưng làm sao chống được các bệnh ấy để có một nền giáo dục trung thực, lành mạnh, nói chi đến hiện đại, nếu cái nguyên nhân gây ra các bệnh ấy nằm ngay trong cơ chế, nói cách khác nằm ngay trong khuyết tật hệ thống của giáo dục?

Sự thật, nhờ xoay xở đủ mọi cách hợp pháp hay không hợp pháp, hợp lý hay trái với lương tâm, phần lớn nhà giáo, nhất là quan chức giáo dục, nay đã có mức sống không đến nỗi quá tệ, thậm chí một bộ phận nhỏ còn có thu nhập khá. Song cái giá phải trả thật quá đắt. Những giải pháp chữa cháy gần đây theo kiểu “kế hoạch 3” hồi những năm 80 thế kỷ trước, hay cho phép nhiều cơ sở giáo dục vượt rào để xử lý từng trường hợp riêng lẻ về lâu dài rất nguy hiểm, chỉ gây thêm rối loạn, dẫn đến bất công và tiêu cực ngày càng tệ hại hơn.

Điều không may là giải quyết vấn đề cốt tử này cực kỳ khó vì căn bệnh từ lâu đã thành một thứ ung thư của cả xã hội, chứ không riêng gì của giáo dục, lại gắn liền chặt chẽ với quốc nạn tham nhũng đang ngày càng gia tăng chóng mặt. Trước mắt chưa thể hy vọng có thể chữa trị nhanh chóng cái ung thư này, cho nên giáo dục phải tìm mọi cách tự cứu lấy mình trong phạm vi có thể, may ra còn nêu gương cho các ngành khác để tiến dần đến một giải pháp chung. Theo tính toán của nhiều chuyên gia, hoàn toàn có cơ sở để tin rằng dù trong phạm vi cả nước còn khó khăn thì ngay trong nội bộ ngành giáo dục, vẫn có thể rà soát lại cơ chế tài chính, kiên quyết bỏ hay giảm bớt mọi khoản chi tiêu không hiệu quả, trên cơ sở đó tăng lương, bảo đảm lương đủ sống và dần dần trở thành thu nhập chính của mỗi người, từ đó lập lại kỷ cương, đạo đức trong giáo dục.

Trong một xã hội mà đời sống kinh tế bị thao túng nặng nề bởi các “nhóm lợi ích”, ai cũng thấy đây là việc vô cùng khó, tuy khả thi về điều kiện vật chất khách quan nhưng chắc chắn sẽ vấp trở ngại cực kỳ lớn. Biết thế, song giáo dục là lĩnh vực cần bảo vệ trong sạch nhất, nếu không cương quyết làm bây giờ mà cứ trì hoãn mãi thì sẽ ngày càng khó hơn và sẽ chẳng bao giờ có hy vọng trả lại lòng tự trọng cho giáo dục, chẳng bao giờ xây dựng được một nền giáo dục lành mạnh, trung thực, hiện đại.

2. Cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục phổ thông và dạy nghề

Hệ thống giáo dục THPT hiện tại có hai lãng phí lớn.

Lãng phí thứ nhất là hàng năm có một số lớn thanh niên tốt nghiệp THPT không qua lọt cánh cửa ĐH, CĐ, phải bước vào thị trường lao động, chịu bằng lòng với một việc làm đơn giản (không cần tay nghề), dù đã tốn 12 năm đèn sách, hoặc phải chấp nhận vào học nghề ở một trường trung cấp kỹ thuật vốn chỉ đòi hỏi trình độ THCS. Trong khi đó vì thiếu công nhân lành ghề và kỹ thuật viên thông thạo nên công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, sau mấy thập kỷ xây dựng công nghiệp mà cuối cùng chỉ có lắp ráp, xuất khẩu tài nguyên thô, thì làm sao giàu được. Tình trạng lãng phí đó vừa thiệt hại cho xã hội vừa tạo mầm mống bất ổn trong thanh niên.

Lãng phí lớn thứ hai, khó thấy hơn, nhưng nghiêm trọng hơn, là cách học và thi quá lạc hậu ở THPT gắn liền với thói hư học cổ lỗ, hoàn toàn không chú ý các đặc điểm và đòi hỏi của lứa tuổi, làm phí sức học sinh một cách vô ích, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đến tương lai nghề nghiệp của một số khá đông, lại rất tốn kém cho gia đình và xã hội. Trẻ em ta học hết 12 năm THPT thì mệt nhoài, lên đại học và trên nữa thường mau đuối sức khi đua tranh với bạn bè các nước mà ở đó tuổi thiếu niên vừa được học vừa được chơi, chơi mà học, để dành sức sau này có thể tiến lên xa vào những giai đoạn quyết định của cuộc đời.

Để khắc phục những bất hợp lý trên cần cải tổ hệ thống giáo dục để sau THCS có hai nhánh rẽ: một số lớn học sinh (khoảng 2/3) sẽ vào trung học hướng nghiệp, chỉ 1/3 vào trung học phổ thông. Học xong trung học hướng nghiệp có thể đi ngay vào thị trường lao động tìm một việc làm có nghề nhưng nếu muốn cũng có thể học lên cao hơn (cao đẳng hay đại học) vì chương trình học, ngoài phần hướng nghiệp, vẫn bảo đảm phần văn hoá cơ bản cần thiết. Còn trung học phổ thông có nhiệm vụ chủ yếu chuẩn bị đầu vào cho đại học. Theo hướng đó cần phát triển mạnh trung học hướng nghiệp, đồng thời cấu trúc lại chương trình và cách học ở trung học phổ thông cho phù hợp với nhiệm vụ của cấp học này. Cụ thể là bãi bỏ cách phân ban bất cập hiện nay để tổ chức lại việc học như ở nhiều nước tiên tiến, về mỗi môn học đều có một chương trình bình thường và một hoặc nhiều chương trình nâng cao, theo nhiều mức độ nâng cao khác nhau, cho phép học sinh được tự do lựa chọn chương trình nào hợp sức và hợp sở thích, đồng thời dễ dàng điều chỉnh sự lựa chọn khi thấy cần thiết. Với cách học đó học sinh cả trung học hướng nghiệp và trung học phổ thông đều không bị quá tải, vì được học sâu những môn ưa thích và không phải học quá kỹ nhiều thứ mà sau này sẽ chẳng bao giờ cần đến. Đó mới là cách thực tế và hiệu quả giảm tải ở cấp học phổ thông, chứ không phải như hiện nay, chương trình bị kẹt giữa hai yêu cầu mâu thuẫn: vừa giảm tải vừa không hạ thấp chất lượng. Hơn nữa về những môn hợp với xu hướng sở thích thì học sinh có cơ hội được học đủ sâu để đến khi tốt nghiệp có đủ hiểu biết tìm được việc làm có nghề, và nếu xuất sắc thì khi học tiếp lên ĐH hay CĐ có thể học vượt lớp, tiết kiệm thời gian. Như thế tránh được nhiều sự lãng phí cho cả xã hội lẫn cho từng cá nhân học sinh. Tuổi 15-18 là tuổi vàng, nhiệm vụ của nhà trường là tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển đến mức tối đa của mình, chứ không phải chỉ nhằm bảo đảm cho mọi cá nhân môt mức tối thiểu đồng loạt như cách dạy hiên nay ở THPT 4.

3. Thay đổi căn bản cung cách học và thi, xoá bỏ thi cử nặng nề, tốn kém mà kém hiệu quả

Đồng thời với cải tổ hệ thống giáo dục, thì cách học, cách thi cử và đánh giá cũng phải thay đổi tận gốc. Đặc biệt cần đổi mới căn bản tư duy thi tốt nghiệp và tuyển sinh. Trong một nhà máy làm ra một sản phẩm gồm nhiều bộ phận riêng rẽ (môđun) ghép lắp lại, người ta phải kiểm tra kỹ chất lượng khi sản xuất từng bộ phận, đến khi lắp ráp chỉ kiểm tra chất lượng lắp ráp. Việc học và thi trong nhà trường cũng vậy: mỗi môn, mỗi học phần như một môđun, học môn nào, học phần nào phải kiểm tra, thi nghiêm túc ngay môn đó, phần đó, đến cuối cấp không thi lại từng môn, từng học phần nữa, mà chỉ phải làm một tiểu luận hoặc qua một kỳ thi nhẹ nhàng, với mục đích chủ yếu kiểm tra trình độ văn hóa phổ quát (giống như kiểm tra chất lượng lắp ráp các môđun trong nhà máy). Hơn nữa, kỳ thi nhẹ nhàng này cũng có thể không bắt buộc cho mọi người mà có thể coi như một kỳ thi sơ tuyển (ST) vào ĐH, CĐ chỉ bắt buộc đối với những ai muốn vào học ĐH, CĐ. Còn việc tuyển sinh vào ĐH, CĐ thì cần trả lại cho từng trường. Mỗi trường tuyển sinh căn cứ vào kết quả thi (ST) và học bạ hoặc qua một kỳ thi tuyển nếu trường nào có yêu cầu đào tạo đặc biệt 4.

Cách học và thi như thế khác hẳn cách học và thi hiện nay là dồn tất cả sự kiểm tra vào cuối cấp trong một kỳ thi tốt nghiệp mà nhiều người cho là thi vờ vì chỉ để loại vài phần trăm thí sinh, là những em quá kém không cần thi cũng có thể loại được theo học bạ. Có ý kiến cho rằng tuy thi vờ nhưng là cần thiết vì tâm lý học sinh là có thi thì mới học tử tế5. Té ra là vậy: đất nước còn rất nghèo mà phải tốn kém hàng chục nghìn tỉ mỗi năm tổ chức thi chỉ để dọa và gây áp lực buộc học sinh phải học. Cùng một luồng ý kiến đó nhiều quan chức giáo dục cho rằng trong điều kiện hiện thời, thầy cô giáo chịu quá nhiều áp lực không lành mạnh từ phía xã hội nên rất khó bảo đảm việc học và thi nghiêm túc từng môn, từng học kỳ, ở từng lớp, từng địa phương được. Cho nên không còn cách nào khác là phải thi tôt nghiệp, dù chỉ là thi vờ. Nói thế khác nào bảo một nền giáo dục trung thưc là ngoài tầm với của xã hội ta hiện nay – thật lạ lùng và xót xa, vì một nền giáo dục trung thực đâu có gì quá khó, nó đã từng có ở cả hai Miền Bắc và Nam suôt từ 1945 đến 1975. Một ý kiến xác đáng hơn là quy một phần nguyên nhân phát triển gian trá trong thi cử là do chương trình quá nặng, mà thi tốt nghiệp lại quá căng thẳng: thi viết gần hết các môn trong thời gian chỉ mấy ngày, tiềm ẩn rủi ro học tài thi phận, khiến một số học sinh dễ nảy ra tư tưởng đối phó bằng thủ đoạn gian dối, cầu cứu đến cả sự giúp sức của phụ huynh và thầy cô giáo. Đúng là chương trình quá tải cũng là một vấn đề, nhưng không thể giảm tải theo kiểu cắt giảm lung tung như chúng ta đã làm lâu nay mà chủ yếu phải cải tổ cả hệ thống giáo dục phổ thông như đã trình bày ở trên, chấm dứt cách giáo dục đồng loạt, quá nặng với số đông lại quá nhẹ với số có khả năng. Đông thời để bảo đảm tính trung thực, trước hết phải thực hiện kiểm tra, thi học kỳ nghiêm túc, nghĩa là trung thực, ngay từ những lớp nhỏ nhất chứ không đợi đến cuối cấp. Khi đó mới có thể thi tốt nghiệp nhẹ nhàng, chỉ cốt để kiểm tra chất lượng tổng hợp, tức là trình độ văn hóa phổ quát, hoặc thậm chí chỉ xét kết quả học tập theo học bạ để cho tốt nghiệp mà không phải thi.

Điều quan trọng ít người chú ý là lối thi tôt nghiệp và tuyển sinh như hiện nay tạo ra áp lực tâm lý và tinh thần rất lớn, đặt thí sinh trước những thử thách vượt quá khả năng chịu đựng của các em. Trong một xã hội mà xung quanh quá nhiều dối trá, rất hiếm trung thực, nếu đặt thiếu niên trước những thử thách trung thực quá sức thì cũng chẳng khác nào đưa trẻ ra phơi nhiễm giữa một vùng đang dịch bệnh, làm sao trẻ tránh không bị nhiễm. Cho nên chẳng lạ gì kỳ thi nào cũng có chuyện quay cóp, gian dối, mà những chuyện đã bị phanh phui chỉ là phần nổi của tảng băng. Cuộc sống đã dạy chúng ta quá đủ rằng cách học và thi như hiện nay chẳng những gây lãng phí lớn về công sức, tiền của, thời gian, mà còn khuyến khích phát triển sự dối trá, thói đạo đức giả, là những thứ hư hỏng cần tránh trước hết trong nhà trường.

4. Chuyển mạnh giáo dục đại học theo hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế về cả nội dung, phương pháp và tổ chức quản lý

Chỉ nhìn qua hệ thống đại học VN hiện nay cũng đã thấy cảnh tượng lộn xộn, rất khác mọi nơi trên thế giới: trường nào, kiểu gì, cũng gọi là đại học, trong một đại học lại có thể có nhiều đại học thành viên, dịch ra tiếng Anh tất cả đều là university, không phân biệt university với school, ai muốn hiểu ra sao thì hiểu 6. Đành rằng đây chỉ là vấn đề tên gọi, nhưng nó cũng phản ảnh một nét riêng “không giống ai” của đại học VN. Đi sâu hơn vào hoạt động cụ thể của đại học càng thấy rõ sự tụt hậu bắt nguồn từ lối suy nghĩ chủ quan tự cho mình có thể tự biên tự diễn, bất chấp thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Cho nên muốn hội nhập quốc tế thành công, tiến lên một nền đại học thật sự hiện đại, trước hết phải từ bỏ lối nghĩ đó, khiêm tốn học hỏi, tuân thủ các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều gì muốn làm khác thì cần suy nghĩ cẩn trọng và có lý do thật xác đáng. Chúng ta đang rớt lại sau đuôi thiên hạ, tại sao cứ muốn làm độc đáo, khác người để mãi mãi thất bại ? Ngay đến một nước có truyền thống khoa học, giáo dục lâu đời như Pháp mà cách đây 30 năm khi đánh giá nền đại học lúc ấy của họ nhà khoa học lỗi lạc Pháp L. Schwartz cũng đã từng lên tiếng: “nếu Pháp là nước duy nhất trên thế giới còn muốn giữ lại mãi một số quan niệm cũ về giáo dục đại học thì hoặc chúng ta đúng và nền đại học của ta phải là tiên tiến và được ngưỡng mộ nhất thế giới – điều rõ ràng không phải vậy – hoặc chúng ta sai và cần phải thay đổi.” Cho hay yêu cầu cùng đi con đường chung với cả thế giới không phải chỉ đặt ra cho các nước kém phát triển.

Cái khó là trước đây hệ thống giáo dục đại học của ta phỏng theo mô hình giáo dục đại học Liên Xô cũ. Đến khi nhận rõ mô hình đó không còn thích hợp mà phải thay đổi theo yêu cẩu mới của công cuộc phát triển đất nước, ta lại không có những nhà quản lý đủ hiểu biết chuyên nghiệp cần thiết và nắm vững tính hệ thống nên cứ thay đổi nham nhở, chắp vá, cuối cùng biến giáo dục đại học thành một hệ thống đầu Ngô mình Sở, chẳng giống ai cả. Đã thế mà từ 2006 lại mạo hiểm lao theo chiến lược tân tự do trong phát triển giáo dục, cổ suý giáo dục là hàng hóa, phát triển mạnh trường tư vị lợi, cổ phần hóa đại học công, v.v. 7 Trong khi đó, mọi vấn đề từ chế độ tiền lương, chính sách sử dụng tài năng, từ việc đào tạo sau cử nhân, phương thức đào tạo liên ngành, cho đến tuyển dụng, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, bảo đảm tự chủ đại học, xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học, tự do học thuật, tất cả đều ở trạng thái cổ hủ, lạc hậu. Chẳng khác nào đường sá thì lầy lội gồ ghề, đầy ổ trâu ổ gà, lại chủ trương nhập xe hơi xịn phóng nhanh cho oai. Chính cái tâm lý chưa biết đi đã đòi chạy, cái lối học kinh nghiệm thế giới theo kiểu thầy bói sờ voi đó là nguồn gốc tất cả những yếu kém, khó khăn của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam dù đã tốn không ít công sức xây dựng qua mấy thập kỷ.

Công bằng mà nói, từ vài năm lại đây, sau nhiều bài học thất bại, nhận thức cũng đã có ít nhiều thay đổi, nhờ đó đã có những cố gắng tich cực hướng tới hội nhập quốc tế. Tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế, do sức ỳ quán tính của bộ máy quản lý còn nặng, do tư duy vẫn luẩn quẩn trong những giáo điều dai dẳng và những ràng buộc thể chế ngặt nghèo. Rõ nhất là về mục tiêu, sứ mạng đại học, về phương thức đào tạo, về quyền tự chủ đại học và tự do học thuật, nghĩa là về các vấn đề then chốt nhất của đại học hiện đại, quan niệm chung của chúng ta còn rất mơ hồ, lệch lạc, có mặt lạc hậu nửa thế kỷ.

Cho nên thách thức lớn nhất của giáo dục hiện nay là hiện đại hóa đại học, đưa đại học hội nhập thật sự vào con đường phát triển chung của thế giới. Hãy dứt khoát rủ bỏ những gì lạc hậu, trì trệ còn níu kéo chúng ta để chuyển mạnh theo mô hình giáo dục đại học Hoa Kỳ là mô hình được thừa nhận tiên tiến và đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. Có thể nói thành bại của cuộc cải cách giáo dục một phần quyết định tùy thuộc tiến trình hiện đại hóa đại học này.

III. Lộ trình và tổ chức thực hiện

Cải cách giáo dục cần phải được thực hiện kiên quyết, khẩn trương, nhưng không vội vã. Sau khi Trung Ương và Quốc Hội thảo luận và thông qua đề cương cải cách nêu lên phương hướng chính cùng với những khâu mấu chốt cần giải quyết trong cải cách, thì cần thành lập Ủy Ban Quốc Gia Chỉ Đạo Cải Cách Giáo Dục, bao gồm những người có năng lực và có tâm huyết, vừa có tầm nhìn vừa thật sự quan tâm, lo lắng cho giáo dục. Ủy ban này sẽ vạch ra lộ trình và kế hoạch thực hiện cụ thể để có thể hoàn tất công cuộc cải cách sau khoảng một thập kỷ. Trước mắt để thực hiện được cải cách ở những khâu cấp bách phải tổ chức nghiên cứu những vấn đề cụ thể như chương trình và sách giáo khoa cho các cấp phổ thông, phương pháp giảng dạy ở các cấp, đổi mới thi cử, v.v. theo quan điểm tư duy mới. Biết rằng trong hiện tình đất nước có vô vàn khó khăn, nhưng đây cũng là thời cơ để giáo dục có thể lột xác, từ một kiểu giáo dục nặng tính giáo điều, lạc hậu và lạc điệu với thời đại và thế giới, tiến lên một nền giáo dục khai sáng, lành mạnh, trung thực, hiện đại, phù hợp xu thế tiến hóa chung của nhân loại và đáp ứng lợi ích tối cao của đất nước.

———-
Chú thích:

1 : Một trong những nguyên lý bất khả tranh luận chỉ đạo nền giáo dục trước đây một thời là giáo dục phải tuyệt đối phục tùng chính trị, trong nhà trường chính trị là thống soái, trong hai vế “hồng” và “chuyên” thì “hồng” là tiên quyết. Mặc dù qua cọ xát thực tế nguyên lý ấy đã buộc phải nới lỏng nhiều, nhưng nó vẫn còn ảnh hưởng đậm nét trong nhiều khâu quan trọng về nội dung, phương pháp giáo dục, về rèn luyện đạo đức, về cách tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, cất nhắc cán bộ.

2 : Do Dubcek, nhà lãnh dạo Tiệp Khắc khi ấy, khởi xướng. Ông này sau đó đã bị lật đổ trong một cuộc can thiệp quân sự mạnh mẽ của Liên Xô mà hồi ấy cả khối xã hội chủ nghĩa đều ủng hộ.

3 : Cái phần thu nhập thêm ngoài lương đó thật ra cũng từ ngân sách hoặc từ đóng góp của người học, nhưng bắt buộc nhà giáo phải mất sức làm thêm nhiêu việc không hợp lý (chủ yếu là dạy thêm, dưới nhiều hình thức). Thành ra thay vì trả lương đủ một cách đương hoàng thì người ta chia lương ra thành hai phần: một phần nhỏ, goi là lương chính thức, quy định chặt chẽ, còn phần kia (cũng từ ngân sách hoặc đóng góp của dân) thì tùy thuộc sự xoay xở của mỗi người – chức càng cao khả năng và phạm vi xoay xở càng lớn.

4 : Gần đây có nhiều ý kiến đề nghị rút thời gian trường phổ thông xuống còn 11 năm. Theo tôi điều này chỉ đặt ra với trường phổ thông được quan niệm như hiện nay là học thẳng một mạch, tôt nghiệp thì ra đời hoặc học lên đại học. Với trường phổ thông quan niệm như vậy sẽ không tránh khỏi hai bất cập lớn của trường phổ thông hiện nay như trên đã phân tích (chỉ có khác là 11 năm thay vì 12 năm). Còn để có học vấn phổ thông phổ cập khi ra đời thì chỉ cần 9 năm THCS như đề nghị của chúng tôi là đủ, sau đó hoặc học trung học hướng nghiệp, hoăc trung học phổ thông để chuẩn bị đầu vào đại học.

5: Để biện minh chủ trương duy trì thi tốt nghiệp THPT một số quan chức giáo dục thường viện lẽ trên thế giới bất cứ nước nào cũng có thi tốt nghiệp. Đây là thông tin sai, nhất là nếu hiểu thi tôt nghiệp là thi theo kiểu ta. Nhân đây tôi nhớ lại khi bàn về phân ban ở THPT trước đây 8 năm một số người muốn bênh vực cách phân ban cứng nhắc của ta thường viện dẫn lý do phần lớn các nước trên thế giới đều làm như vậy, thậm chí còn dẫn ra ở Thụy Điển THPT có đến cả vài chục ban. Hỏi ra mới biết đó là do hiểu sai cách tổ chức học ở THPT Thụy Điển và nhiều nước khác.

6 : Trươc kia ở Miền Bắc, theo mô hình Liên Xô và các nước Đông Âu, chỉ Đại học Tổng hợp mới dịch là University, cho nên Hanoi University là dịch tên Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nay có Đại Học Hà Nội mới mở, cũng gọi là Hanoi University nhưng hoàn toàn không liên quan với Đại học Tổng hợp xưa. Thật là rối.

7: Một nét khác biệt, không giống ai cả, của đại học công lập VN là bên cạnh hệ chính quy, còn có hệ “ngoài ngân sách”, học phí cao của sinh viên hệ này dùng để tăng thu nhập cho thầy dạy, bù vào lương chính thức quá thấp. Đây thực chất không khác gì một loại trường tư trá hình, ghép vào trường công để sử dụng phương tiện của trường công. Nếu kể càc hệ này là ngoài công lập thì thật ra tỉ lệ sinh viên ngoài công lập ở VN phải đến 60-70% chứ không ít hơn, Ở nhiều nơi số sinh viên tuyển vào hệ này xấp xỉ số sinh viên chính quy, tạo ra một nguồn thu nhập khá cho thầy dạy, với cái giá phải trả là tăng gấp đôi hoặc hơn số giờ dạy cho các thầy, vừa hạ thấp chất lượng đào tạo ngay trước mắt, vừa khiến cho thầy dạy không còn thì giờ nghiên cứu khoa học hoặc học thêm nâng cao trình độ. Số này sau một số năm như vậy, nếu có được cử đi du học thì sức bật cũng không còn nhiều, còn nếu cứ tiếp tục ở lại trường thì ngày càng đuối sức so với yêu cầu, không theo kịp được đà tiến nhanh của khoa học, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng về lâu dài.

Nguồn : http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5739
Ảnh: Xuân Trung, giaoduc.net.vn

Advertisements

Tagged as:

32 phản hồi »

  1. Đâu là thời điểm cho một cuộc cải cách giáo dục? Tôi e không phải bây giờ, vì những ai sẽ tiến hành làm nó. Tôi cho rằng cuộc dạo đầu cho cuộc cải cách này chỉ có thể bắt đầu khi mỗi người dân bình thường đều nhận thức được thực trạng giáo dục của nước nhà hiện nay và cần có những chủ soái như bác Hoàng Tụy đây.

    Số lượt thích

  2. Kính thưa các nhà Tiến Sỹ.
    Theo tâm tình chia xẻ của Ngô Bảo Châu tại buổi nói chuyện trường DH Quốc gia:” Tôi cũng bị thi trượt một lần vào trường chuyên…”
    Tuy nhiên sau đó, Ngô Bảo Châu vẫn chạy được vào học trường Sư Phạm Thực Nghiệm.
    Trong những người thầy của Ngô Bảo Châu, Thầy Tiến Sỹ Hoà học bên Đức về là thầy dạy thêm cho Ngô Bảo Châu từ năm học lớp bảy.
    Như vậy, việc học thêm, dạy thêm và chạy trường là nấc thang quan trọng trong sự nghiệp của nhà toán học thế giới Ngô Bảo Châu.
    Học thêm , dạy thêm và chạy trường chính là chìa khoá quan trong của nền giáo dục VN.

    Khi tham gia bình luận trên trang Học Thế Nào, đề nghị quí vị không mạo danh, không đưa ra nhưng thông tin cá nhân không được kiểm chứng, như ở trên. Xin cảm ơn.

    Số lượt thích

    • “chia sẻ” chứ không phải “chia xẻ”

      Số lượt thích

    • Chào bạn,

      Đây là trang mạng của những người có tâm huyết với sự học của người Việt. Vậy nên bạn nên hiểu và có sự tôn trọng họ khi đưa ra những nhận xét, bình luận. Cả thế giới ai nói tới Ngô Bảo Châu đều phải xưng hô từ “giáo sư” phía trước…Và chú ý lỗi chính tả nữa bạn nhé.
      Cảm ơn bạn!

      Số lượt thích

    • kẻ viết còn sai lỗi chính tả này mà mong hạ được uy tín của GS Ngô Bảo Châu

      Số lượt thích

      • Chỉ nên phê phán bạn ấy vì bạn ấy mạo danh tên người khác khi viết bình luận thôi. Còn một lỗi chính tả ấy thì kệ đi mà. Tất nhiên không có lỗi chính tả nào là tốt nhất, nhưng nếu có một đôi lỗi thì cũng không đáng bị công kích như vậy.

        Số lượt thích

  3. Tôi thích bài viết này vì có nhiều điều phản ánh đúng thực trạng gd hiện nay. Tôi cũng rất tán thành những giải pháp giáo sư nêu ra, nó mamg tính cách mạng rất cao. Hy vọng sẽ có một cuộc cm thực sự .

    Số lượt thích

  4. Phen này nhà toán học NBC tiêu rồi !

    Số lượt thích

  5. Cải cách giáo dục khó khăn như việc di chuyển một nghĩa địa. Vì nó động chạm đến văn hóa, tâm linh và cả sự ngại ngùng…

    Số lượt thích

    • Cái chính là ở sự ngại ngùng như bạn nói. Ngại mọi người thấy sự yếu kém của bản thân và cũng ngại đứng ngoài số đông, mặc dù số đông đó không đúng, rồi còn ngại nhiều thứ nữa mà “lệ tục” đặt ra trong những mối quan hệ hiện nay.

      Số lượt thích

      • Cháu thấy thích đoạn này “Trước mắt chưa thể hy vọng có thể chữa trị nhanh chóng cái ung thư này, cho nên giáo dục phải tìm mọi cách tự cứu lấy mình trong phạm vi có thể, may ra còn nêu gương cho các ngành khác để tiến dần đến một giải pháp chung”.
        Nhưng Bác ơi đã là ung thư thì thuốc nào chữa, chỉ có thể cầm cự được có hạn thời gian thôi. Rồi một ngày kia cái cơ thể bệnh tật này sẽ rời xa trần tục đi về cõi vĩnh hằng.
        Mặc dù vậy cháu vẫn nuôi hy vọng có câu chuyện cổ tích “chỉ có ở Việt Nam” để rồi … 😦

        Số lượt thích

  6. Là một giáo viên THPT đã hơn 20 năm đứng trên bục giảng.Tôi hiểu phần nào về giáo dục cũng như cuộc sống của giáo viên ở VN ta,và nhất là ở địa phương tôi(Hà Tĩnh).Sau đây,tôi xin nói thật một số điểm yếu kém-là thực trạng mà chúng ta cần sửa đổi:

    1.Thực trạng:

    +Trong nhà trường,chỉ tiêu số học sinh khá,giỏi bị áp đặt bởi cấp trên.Nên nhiều giáo viên dễ dãi và nương tay trong việc kiểm tra,thi cử.Cho học sinh chép bài nhau,xem tài liệu,nâng điểm,…Kết quả là các em chẳng hiểu biết gì về các môn học đó cả mà vẫn đạt điểm 5 trở lên.
    Cuối năm tổng kết,lớp 46 em,khen 43 em,nào là tiến tiến với xuất sắc,ai cũng vui,ai cũng vỗ tay,nhà trường cũng có thành tích mà báo cáo.

    +Đến gần kỳ thi tốt nghiệp,hầu như các môn không thi bị lờ đi,chỉ quan tâm 6 môn thi năm đó nhưng chỉ với mục tiêu học vẹt,học lấy học để,học nhồi nhét trong vài ba tháng cho học sinh đủ qua tổng 30.Bước vào kỳ thi tốt nghiệp THPT,em nào em nấy túi quần,túi áo nhét đầy tài liệu photo thu nhỏ;tâm lý sẵn sàng đưa ra xem nếu được giám thị,thanh tra bật đèn xanh và nếu bạn bên cạnh làm được bài thì chép luôn của bạn cho tiện.Và chỉ những học sinh “chép yếu” mới trượt.Còn lại đỗ hết.

    +Giáo viên đồng lương ít ỏi,nên ai có năng lực thì dạy thêm ở nhà theo hình thức kêu gọi,gợi ý cho học sinh lớp mình dạy.Chỉ có thầy cô nào xuất sắc thì học sinh khắp nơi mới tự tìm đến.Cái này thì tôi không trách,bởi cả trò lẫn thầy đều có lợi-trò được luyện thêm để thi ĐH,còn thầy có thêm thu nhập.Còn một số thầy còn đánh vào tâm lý thích điểm số cao của học sinh,phụ huynh nên lợi dụng bài học thêm ở nhà để kiểm tra trên lớp;rồi còn trù đập,cho điểm kém những ai không tham gia học thêm lớp thầy.Cái này tôi kịch liệt phản đối.

    2.Giải pháp:

    +Trong kiểm tra,thi học kỳ hay tốt nghiệp,mỗi môn (trắc nghiệm) nên ra khoảng 50 đề thi lấy ra từ 1000 câu hỏi, trong một phòng mỗi người một đề;mỗi môn tự luận ra 8 đề.Để tránh tình trạng xem bài nhau.Thí sinh nào xem tài liệu,hủy bài thi đó luôn,năm sau thi lại.

    +Cấm giáo viên dạy thêm ở nhà đối với học sinh mà họ phụ trách;khuyến khích học sinh,phụ huynh,người dân tố cáo việc này;nếu giáo viên nào bị phát hiện,đình chỉ dạy và phạt tiền thật nặng.Bởi vì,nếu có năng lực thì thiếu gì học sinh xin đến học;chỉ có giáo viên dạy dốt mới nghĩ ra cái chiêu bài mời gọi,dụ dỗ và “dằn mặt” đó.

    Số lượt thích

    • Tôi muốn hỏi thêm một chút về chỗ này: “Trong nhà trường, chỉ tiêu số học sinh khá, giỏi bị áp đặt bởi cấp trên”.

      Các chỉ tiêu này chỉ là nói miệng trong các cuộc họp, áp đặt bởi các sức ép “vô hình” hay có văn bản hẳn hoi? Nếu có văn bản thì thầy/cô có thể cung cấp để mọi người tham khảo được không? Cấp trên tức là hiệu trưởng nhà trường hay là các cấp quản lý (phòng, sở GD-ĐT)?

      Số lượt thích

      • @Nam: Ví dụ như văn bản này nhé: http://thuvienphapluat.vn/archive/Thong-tu-59-2012-TT-BGDDT-cong-nhan-truong-tieu-hoc-dat-chuan-quoc-gia-vb163114.aspx. Theo đó, để được công nhận là trường tiểu học đạt chất lượng tối thiểu, nhà trường phải thỏa mãn được điều kiện này: “4. Kết quả xếp loại giáo dục của học sinh. a) Tỷ lệ học sinh xếp loại trung bình trở lên đạt ít nhất 90%; b) Tỷ lệ học sinh xếp loại khá đạt ít nhất 30%; xếp loại giỏi đạt ít nhất 5%” (khoản 4 điều 11).

        Các chỉ số kiểu này tiếp tục được thể hiện ở các khoản 4 điều 16 (dành cho trường đạt chuẩn quốc gia cấp độ I), khoản 4 điều 21 (dành cho trường đạt chuẩn quốc gia cấp độ II).

        Nam có thể hỏi: trường không chạy theo các thứ công nhận đó được không? Câu trả lời là không. Thứ nhất, đó là nhu cầu từ phía trường, có đặt mục tiêu phấn dấu đạt chuẩn nọ kia thì mới được ưu tiên đầu tư. Thứ hai, từ phía cơ quan cấp trên, họ điểm mặt chỉ tên đích danh trường nào năm nào phải đạt cấp độ nào. Hà Nội hiện nay đang khốn khổ vì mục tiêu đến năm 2015 có 50% số trường (tất cả các cấp học) đạt chuẩn quốc gia.

        Thật ra với nội thành Hà Nội thì 5% số học sinh đạt học sinh giỏi là chỉ tiêu quá thấp, nhưng với nhiều trường nông thôn thì đó là một mục tiêu xa xỉ.

        Số lượt thích

      • Cám ơn chị Hiên. Có chỗ này khá thú vị “có đặt mục tiêu phấn đấu đạt chuẩn nọ kia thì mới được ưu tiên đầu tư”, chắc cũng giống kiểu “thi gì thì học nấy”? 🙂

        Số lượt thích

      • Hỏi câu hỏi buồn cười quá. Đương nhiên các chỉ tiêu nói miệng, và một loạt hành động trù dập GV nếu không đạt chỉ tiêu. Còn tham nhũng ăn bẩn thì trời biết, đất biết, hiệu trưởng biết, thanh tra chính phủ và nhân dân “không biết”

        Số lượt thích

  7. Thưa bác Hoàng Tụy, cháu xin bày tỏ lòng kính trọng bác. Nhưng cháu ngạc nhiên vì bác nói rằng lứa tuổi 15-18 là “tuổi vàng” (cho việc học ạ, cháu đoán thế). Nhưng mà hiện nay nghiên cứu khoa học có nói là từ 8-12 tuổi thì khuynh hướng học của trẻ đã được hình thành, nghĩa là em nào giỏi toán hay giỏi văn, thì lúc ấy đã rõ, và không thay đổi nữa. Rousseau cũng nói rằng 12 tuổi trở đi là “tuổi của trí khôn” (l’âge de la raison). Như vậy thì cháu cho là từ 15 tuổi trở đi, thì em nào ham học hay chán học thì đã khá rõ, chắc không còn là “tuổi vàng” nữa, đầu tư lúc ấy đã là hơi muộn.

    Số lượt thích

    • Hay là bạn Lan Hương viết hoặc dịch một bài nói về vấn đề tuổi nào là tuổi vàng trong giáo dục phổ thông đi! Sẽ đề cập tuổi nào là tuổi thích hợp nhất để dạy ngoại ngữ trong nhà trường? Nhiều phụ huynh quan tâm lắm đấy.

      Số lượt thích

      • Cảm ơn bạn Hien, mình sẽ nghĩ về chủ đề này, nghe rất hay đấy, xin ghi nhận. Nhưng hiện nay mình đã hứa hẹn vài bài rồi, sợ nhận nhiều quá làm không kịp. Để từ từ bao giờ viết đều tay hơn, thì chắc sẽ nhanh hơn. Hoặc tốt hơn là mình sẽ dịch, vì dịch dễ và nhanh hơn là viết.

        Số lượt thích

  8. Xin hoàn toàn đồng ý với GS Hoàng Tụy. Thật sự ngành GD của chúng ta cần phải thay máu hoàn toàn nếu muốn phát triển, nếu không thì sẽ thụt lùi so với các nước.
    HS chỉ nên học 10 năm. sau đó rẽ nhánh: Học nghề và dự bị ĐH 2 năm trước khi vào ĐH.
    2 năm này nếu học nghề thì dạy nghề thành thạo cho HS. nếu dự bị ĐH thì dạy những gì liên quan đến ngành học ĐH mà HS sẽ thi vào , thêm vào đó trang bị đầy đủ KNM, giá trị sống cho HS.
    Chúng ta cần mạnh dạn thay đổi. Cần những người lãnh đạo tài ba để lèo lái. Mạnh dạn xa thải những người không đáp ứng được công việc và những tư duy bảo thủ.
    Làm được thế, nhất định sẽ vực dậy được ngành GD và chúng ta sẽ thành công!!!!!
    KHÔNG CÓ GÌ LÀ KHÔNG THỂ!!!!

    Số lượt thích

  9. cần cải cái cách giáo dục càng sớm càng tốt cho nền giáo dục Việt Nam!

    Số lượt thích

  10. tôi dạy thcs nhưng nhiều lúc thấy bất lực quá, có đến 70% học sinh học đối phó, thật khó để các em cảm thấy mỗi ngày đến trường là một ngày vui, một ngày được khám phá kiến thức mới.

    Số lượt thích

  11. Giáo sư Hoàng Tụy là người có uy tín, có tâm huyết với nền giáo dục nước nhà. Ông đã có đề cương, lộ trình, giải pháp để cải cách giáo dục. Tuy nhiên vấn đề chính là làm thế nào để các cấp lãnh đạo tiếp thu và thực hiện. Bởi lý do muôn thuở, là do vướng cơ chế, chính sách…vv. Ai sẽ là người có thể đứng ra chỉ đạo thực hiện cải cách? Ngoài Thủ tướng thì không ai dám, vì ông bộ trưởng có thể còn lo giữ ghế, giữ bổng lộc…sợ va chạm..
    Tuy nhiên vẫn mong chờ bác Hoàng Tụy sống thọ tới ngày nhìn thấy nền giáo dục được cải cách.
    Chúc bác mạnh khỏe!

    Số lượt thích

  12. Bài viết tuyệt vời của GS Hoàng Tụy, đúng là muốn đất nước Việt Nam phát triển cần phải bắt đầu từ các cách giáo dục và thay đổi tư duy trong mọi vấn đề từ chính trị đến kinh tế ở Việt Nam. Đây là vấn đề rất cấp bách hiện nay.

    Số lượt thích

  13. Tôi và chắc có lẽ nhiều người nữa hoàn toàn đồng ý với tư tưởng giáo dục khai phóng của GS Hoàng Tụy. Nói theo kiểu lập trình nên GD nước ta hiện tại là nên GD hướng thủ tục_dựa trên những công việc cần làm của thế hệ hiện tại mà tập trung rèn luyện kỹ năng cho thế hệ sau, học sinh sau khi tốt nghiệp có được kỹ năng mà thời đại 20 năm trước yêu cầu sau đó cạnh tranh với bạn bè cùng lứa để tìm việc và cũng không biết làm gì khác do chỉ được đào tạo theo khuôn như thế. Đổi mới GD mà vẫn giữ tư duy hướng thủ tục thì chỉ loanh quoanh đổi mới SGK cho phù hợp với thực tế yêu cầu công việc hiện tại đặt ra, tệ hơn là những người soạn sách chỉ hoạt động trong lĩnh vực GD cũng không nắm được thực tế dân đến không có mục tiêu nào đạt được ngoài một bộ sách mới. Thiết nghĩ nên chuyển sang phương pháp GD hướng đối tượng(học sinh, tri thức), tôi xin làm rõ hơn ở đoạn dưới.

    Đọc bài viết tôi cũng thấy không đồng ý với GS Hoàng Tụy ở một số điểm như:

    1.”Kinh nghiệm thực tế khắp nơi trên thế giới đều cho thấy ngược lại: sự mâu thuẫn xung khắc giữa giáo lý trong nhà trường với thực tế phũ phàng ngoài xã hội thường là nguyên nhân phát sinh và nuôi dưỡng gian dối, đạo đức giả và bạo lực, cuối cùng đưa đến bất ổn trầm trọng trong xã hội.”
    Gian dối, đạo đức giả, bạo lực là do bản năng sinh tồn cộng với những thứ cá thể học được từ cộng đồng xung quanh(trường học chỉ là một phần), không phải là do mâu thuẫn giữa kiến thức trong nhà trường vói thực tế xã hội

    2.”Một khi sản phẩm của nhà trường là những con người tự do, với nhân cách và phẩm chất hướng theo hệ thống giá trị phổ quát của nhân loại thì cái mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới có cơ may hiện thực”.
    Không biết tác giả định nghĩa thế nào về con người tự do và những giá trị phổ quát của nhân loại, sao phải ép học sinh đi theo các khuôn mẫu đó. Trên thế giới cũng chưa thấy có nước nào đạt được các mục tiêu xã hội công bằng dân chủ văn minh một cách tuyệt đối, có lẽ cũng không nên đặt mục tiêu như thế.

    Trong phần những vấn đề chính cần giải quyết
    Vấn đề lương bổng của giáo viên trường công phụ thuộc điều kiện tài chính của đất nước, nếu nâng cũng phải nâng tất cả các ngành nghề công khác nên không nâng được nhiều tạo ra sự khác biệt lơn so với hiện tại. Tôi nghĩ để giải quyết vân đề thu nhập cho giáo viên, cần để họ tham gia trực tiếp vào quá trình lao động sản xuất ngoài trường học.
    Điều cốt lõi để cải thiện hệ thống Gd hiện nay là thay đổi cách thi. Tôi nghĩ mỗingành nghề nên soạn ra một bộ tài liệu chuẩn, rồi tổ chức một kỳ thi sát hạch nghiêm túc,uy tín, theo nhiều mức độ khó khác nhau. những ai đậu có thể ngay lập tức tìm được việc, lương, phù hợp với kỳ thi mình vừa đậu. Mỗi người có thể tự học, học nhóm hay đến trường lớp tùy thích. Họ phải phấn đấu với chính bản thân mình, không phải cạnh tranh với bạn bè như kỳ thi đại học hiện nay. Trường dh không phải mang ghánh nặng là nơi cấp bằng làm hồ sơ tìm việc như hiện nay sẽ phát triển thành mô hình nghiên cứu, bớt sách vở và nhiều hơn máy móc mô hình để thực hành. Việc thi đầu vào các cấp và đại học nên tổ chức đơn giản thành một kỳ thi đánh giá khả năng tiếp thu, giống như thi SAT. Thi kiểu này người thi không gian lận được và cũng không cần phải đi học thêm tràn lan như hiện nay. Thi cử nhẹ nhàng giúp hs tập trung vào tri thức và suy tư
    Với cách thi như thế này hs chỉ cẩn đến trường 3 buổi 1 tuần là đủ(đến để trao đổi thảo luận), thầy giáo không cần phải giảng tất cả các bài học, nên phân nhóm hs luân phiên giảng từng bài học cho lớp, giáo viên chỉ cần chỉnh lại những chỗ kiến thức chưa chuẩn, việc này giúp phát hiện những cách nhìn mới của cùng một vấn đề, rèn luyện cho hs kỹ năng trình bày và diễn thuyết. giáo viên có nhiều thời gian đem kiến thức uyên bác của mình tham gia trực tiếp vào quá trình lao động sản xuất, hoặc nghiên cứu phát triển lý thuyết.
    Có hai bộ môn mà tôi nghĩ phải đem vào chương trình học từ sớm là luật và hướng nghiệp. Hướng nghiệp giới thiệu cho hs các ngành nghề trong cuộc sống và các đặc điểm, kỹ năng liên quan giúp hs mường tượng về cuộc sống chọn được đúng lĩnh vực mình yêu thích và theo đuổi từ sớm, thấy được sự liên quan giữa kiến thức mình học và thực tế , giúp tre em tìm được ngành mình yêu thích, và sống được với nghề là một công việc cao cả. Còn học luật pháp giúp hs tìm đươc cách giải quyết mấu thuẫn khác ngoài luật rừng, số vụ phạm pháp cũng sẽ giảm dần.
    SGK nên viết rộng ra,, nhiều loại sách hơn cho hs tha hồ chọn, tìm hiểu. một quyển sách số dung lượng khoảng 5 G chứa đủ sách cho 30 năm học chắc giá thập hơn sô tiền phải bỏ ra mua sgk in như hiên nay. Việc chỉnh sửa bổ sung cũng dễ dàng, chỉ cần update, delete 🙂

    Số lượt thích

  14. Tôi rất cảm động vì các giáo sư dù đã tuổi cao, sức yếu nhưng trong lòng còn nhiều trăn trở về nền giáo dục nước nhà!
    Nhưng không hy vọng gì có sự thay đổi, chỉ như “nước chảy lá môn” thôi.
    Không riêng gì lĩnh vực giáo dục, mà là ở tất cả các lĩnh vực rồi. Như ung thư giai đoạn cuối rồi. Đảo lộn hết tất cả rồi. Tất cả hoạt động đều hướng đến đích cuối cùng là tiền thôi.

    Số lượt thích

  15. Bài viết của ông Hoàng Tụy rất xác đáng. Tôi quan tâm đến những điều này: ông gửi bài viết đi đâu? Ai sẽ thực hiện cải cách giáo dục? Ông Bộ trưởng bộ Giáo dục hay cấp cao hơn? Cải cách không thành công thì ai chịu trách nhiệm?

    Số lượt thích

    • Một giáo sư đáng kính cả về tuổi tác cũng như học vị như Giáo Sư Hoàng Tụy hay một thanh niên trẻ Nguyễn Thế Duy (Châu Chấu) đều đã lên tiếng về vấn đề GD. Chỉ thấy một điều, những người đứng đầu ngành GD làm nhiệm vụ quản lý và là người phải nhận trách nhiệm vẫn chưa lên tiếng. Im lặng trước sự tra khảo của quân thù để giữ bí mật thì còn hiểu được. Im lặng trước thầy và trò biết nghĩ làm sao?

      Số lượt thích

  16. CÁCH MẠNG GIÁO DỤC
    Mọi cải cách, sửa đổi giáo dục trong suốt 20 năm qua xem ra không đáp ứng được thực tiễn và vô tình đã làm chúng ta tụt hậu so với bạn bè ngay trong khu vực. Hầu hết mọi cải cách đều không xác định rõ những ưu khuyết mà chủ yếu quanh quẩn nền tảng giáo dục cũ để an toàn cho người làm cải cách. Hàng năm vấn đề giáo dục cứ nổi sóng để xả tress. Có rất nhiều ý kiến hay xong những người có trách nhiệm không nhận thức được hoặc không muốn làm sợ tiền mất tật mang. Người cải cách phải dũng cảm, suy nghĩ đây là vấn đề sống còn của dân tộc, hôm nay bắt đầu thì cũng 20-30 năm sau mới bắt đầu thu hoạch chút đỉnh.
    Tôi xin đưa vài ý kiến cải cách để bạn đọc cùng suy nghĩ.
    Giáo dục là đào tạo con người, sản phẩm giáo dục là các các công dân tốt. Con người sống chịu 3 yếu tố chính điều khiển hành vi của mình đó là đạo đức, dư luận và luật pháp. Mọi hành vi tốt xấu do nhận thức con người và mức độ tác động của các yếu tố khác. Nhìn vào các yếu tố này ta thấy ngay đạo đức, con người luôn tự biết để làm chủ hành vi, còn dư luận và pháp luật nhiều khi không biết, không thấy hành vi của chúng ta, nên các hành vi xấu dễ có ở người có đạo đức tồi.
    Bác Hồ, một vĩ nhân có 5 điều nói với giáo viên dạy các cháu :

    Yêu tổ quốc, yêu đồng bào
    Học tập tốt, lao động tốt
    Đoàn kết tốt. kỷ luật tốt
    Giữ gìn vệ sinh thật tốt
    Khiêm tốn, thật thà, dung cảm

    Những lời dạy rất dễ hiểu, nhưng chúng ta dừng lại chút xíu, quan sát trật tự câu mà Bác đã chọn. Yêu tổ quốc là hàng đầu, đến yêu đồng bào, đến học tập, đến lao động, đoàn kết, kỷ luật, môi trường và cuối cùng là các đức tính tốt khác. Như vậy Bác mong muốn giáo dục dạy theo trật tự trên, sản phẩm giáo dục phải có đạo đức, biết yêu thương và có trách nhiệm với tổ quốc, với dân tộc trước khi học và làm việc. Đặc biệt hoàn cảnh chúng ta hiện nay đang suy thoái đạo đức nghiêm trọng nên chúng ta coi giáo dục đạo đức lúc này là tham gia cuộc chiến, mà phải chiến thắng.
    Từ trên ta thấy nhiệm vụ giáo dục của các cấp là :
    – Trau dồi đạo đức không ngừng các cấp
    – Giảm áp lực học, học căn bản các môn,chỉ học nâng cao để hướng nghề
    – Phát huy tài năng, để khai thác nhân tài
    – Định hướng nghề nghiệp, học giỏi nghề mình thích
    – Hiểu biết luật thiết yếu, giúp ích cuộc sống hàng ngày
    – Học văn thể mỹ nâng cao chất lượng sống.
    Nhiệm vụ cấp 1:
    Học lễ giáo, yêu quý gia đình, bạn bè, giúp đỡ mọi người…
    Đọc và viết thành thạo, biết làm 4 phép tính.
    Bộc lộ năng khiếu, đặc biệt các năng khiếu văn thể mỹ.

    Nhiệm vụ cấp 2 :
    ​Ý thức và trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội
    ​Tham gia phong trào xã hội, đặc biệt là từ thiện, môi trường
    ​Học các môn văn hóa ở mức căn bản đủ để học nghề (bằng tốt nghiệp cấp 2 được học các trường nghề)
    ​Học luật hôn nhân, bầu cử và quyền con người, các hành vi bị tù tội
    ​Phát huy năng khiếu văn thể mỹ, định hướng nghề nghiệp
    ​Trang bị kỹ năng sống.

    Nhiệm vụ cấp 3:
    ​Ý thức sống nâng cao, trách nhiệm với cộng đồng, với tổ quốc,có đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm với môi trường, tham gia hoạt động xã hội…
    ​Biết hiến pháp,biết tố cáo,hiểu biết cơ cấu bộ máy nhà nước
    ​Ngoài 2 môn bắt buộc trên thì các môn còn lại và văn thể mỹ sẽ học theo nhu cầu tương lai và sở thích. Học sinh không bắt bắt buộc phải học môn không thích. Các môn này sẽ có tín chỉ sau khi hoàn thành, tín chỉ sẽ đánh giá sự hiểu biết về môn đó chứ không đánh giá khả năng học thuộc lòng môn đó. Giáo viên bộ môn sẽ hướng dẫn học sinh cách học và tham khảo tài liệu.

    Nhiệm vụ trường chuyên nghiệp:
    ​Nội dung học tập tôi không dám bàn đến. Nhưng tuyển chọn đầu vào tôi xin được góp ý vì liên quan đến học phổ thông. Các trường nên mở nhiều khối thi theo các lĩnh vực để đáp ứng kiểu học tín chỉ. Tiêu chuẩn dự tuyển vào trường là phải có tín chỉ đã qua các môn theo khối thi. Đề thi phải có phần lý thuyết và bài tập thực tiễn, trong bài tập thể hiện các tính nhân văn, xã hội, kinh tế, môi trường…để thí sinh phải có kiến thức tổng hợp.
    Ngoài ra những thí sinh có giải thưởng văn thể mỹ theo mức độ nên được công thêm điểm, những thí sinh này đều có đức tính kiên trì rèn luyện, ý chí phấn đấu, đặc biệt các ngành công an, quân đội và những nghề đòi hỏi thể lực thì nên cộng điểm cho thí sinh có thành tích thể dục thể thao. Có khuyến khích văn thể mỹ thực dụng như vậy trong thi tuyển thì đất nước mới phát huy được nhiều nhân tài, vì nhiều học sinh sẽ phát huy năng khiếu của mình. Khuyến khích những học sinh tổ chức các hoạt động xã hội khi học phổ thông, những con người này rất cần cho xã hội.

    Nhiệm vụ căn bản học sinh:
    Có đạo đức tốt, yêu bản thân, gia đình, xã hội và tổ quốc.
    Biết kiến thức căn bản
    Hiểu kiến thức môn học theo nghề tương lai
    Có ý thức sống, kỹ năng sống
    Định hướng nghề nghiệp, phát huy năng khiếu.

    Nhiệm vụ giáo viên :
    Hướng dẫn học sinh học và tham khảo tài liệu môn học
    Bồi dưỡng đạo đức, ý thức sống, kỹ năng sống
    Tìm phát hiện và phát triển tài năng
    Định hướng nghề nghiệp
    Nhiệm vụ lãnh đạo ngành :
    Sử dụng nhân sự đúng việc để phát huy khả năng
    Tạo sự công bằng giữa cống hiến và thu nhập
    Thay đổi nội dung đào tạo, phương pháp đạo tạo, chất lượng giáo viên.
    Thay đổi nội dung và phương pháp thi tuyển
    Tạo điều kiện học sinh được học và chơi sao cho phát triển văn thể mỹ và sáng tạo
    Xây dựng quy chế khen thưởng cho học sinh và giáo viên.
    Nhiệm vụ chính phủ :
    Lập ban đổi mới giáo dục, các tiểu ban cải cách. Tiểu ban bồi dưỡng giáo viên, sinh viên sư phạm, tiểu ban cải cách nội dung kiến thức học, tiểu ban thi tuyển, tiểu ban chế độ khen thưởng, tiền lương, tiểu ban…
    Cải cách tiền lương cụ thể ngoài lương ngạch bậc thì giáo viên uy tín lương cao hơn, dạy nhiều giờ lương cao hơn. Uy tín giáo viên tiểu học do phụ huynh chọn, uy tín giáo viên bộ môn do học sinh chọn, giáo viên tiểu học uy tín sẽ bốc thăm lớp nếu nhiều phụ huynh chọn quá. Giáo viên bộ môn uy tín được dạy hết công suất. Thêm lương uy tín lại thêm lương theo giờ chắc chắn sẽ là cuộc đua của các thầy cô.
    Định hướng đổi mới, lộ trình đổi mới, mục tiêu đổi mới
    Định hướng đạo tạo theo ngành nghề Việt nam phù hợp với đất nước, con người hoặc có lợi thế khí hậu địa lý như hàng hải, thủy hải sản, nông nghiệp,lâm nghiệp, du lịch, y tế và đào tạo nhân lực.
    Kiến nghị quốc hội sửa đổi luật giáo dục cho phù hợp cải cách, kiến nghị quốc hội định hướng ngành ưu tiên để phối hợp với đạo tạo và đầu tư chiều sâu.
    Kiến nghị quốc hội tăng đại biểu chuyên trách giáo dục để thực hiện cách mạng.

    Cải cách phương pháp chọn nhân sự ngành như sau:
    – Giáo viên chọn hiệu trưởng, hiệu phó.
    – Hiệu trưởng chọn trưởng phòng giáo dục.
    – Hiệu trưởng cấp 3 và trưởng phòng giáo dục chọn giám đốc sở.
    – Giám đốc sở và hiệu trưởng các trường chuyên nghiệp chọn bộ trưởng.
    – Nhiệm kỳ bầu lại hàng năm theo danh sách ứng cử, đề cử. Nếu không bầu lại hàng năm thì những người lãnh đạo thường xong kỳ 5 năm là nghỉ hưu nên họ không tâm huyết và động não.

    Tôi tin phương pháp giáo dục trên sẽ thỏa mãn các tiêu chí:
    – Không áp lực học, không áp lực thi, cấp 3 học theo nhu cầu.
    – Phát hiện và bồi dưỡng mọi nhân tài.
    – Giáo viên các bộ môn đều được cống hiến hết khả năng
    – Thu nhập bình đẳng, giáo viên giỏi nhiệt huyết sẽ thu nhập xứng đáng mà không cần dạy thêm.
    – Hạn chế dạy thêm vì học theo hướng tự nghiên cứu tài liệu
    – Không phải tổ chức thi tốt nghiệp PTTH
    – Học sinh cấp 3 học theo tín chỉ và chọn thầy cô nên có nhiều thời gian nghiên cứu, lao động giúp gia đình và phát triển văn thể mỹ.
    – Sản phẩm giáo dục sẽ có đạo đức, ý thức hiểu biết pháp luật tốt hơn, hiểu chuyên môn sâu hơn.
    – Giáo viên và lãnh đạo luôn phấn đấu để giữ ghế và thu nhập của mình, rất thực tế.
    Hy vọng sau vài chục năm đất nước sẽ hồi sinh, cơ hội đuổi theo nước láng giềng sẽ sáng dưới bất kỳ nhà nước nào. Giáo dục là nền tảng phát triển xã hội, nó làm ra con người có ích, con người làm ra mọi vấn đề chính trị, kinh tế…

    Số lượt thích

  17. Bạn viết thật công phu. Ý của bạn là phải tôn trọng nguyện vọng quyền lợi của số đông? Tôi ngại dùng hai chữ nhạy cảm có trong tên nước Việt Nam trước Thống Nhất.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: