How We Learn

Giáo dục hội nhập quốc tế – Trần Văn Nhung

 “Kho trời chung, mà vô tận của mình riêng”

Cao Bá Quát (1809-1855)

Ai cũng nhận thấy giáo dục là lĩnh vực quan trọng và lâu nay ngành giáo dục bị phê phán nhiều. Đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, nhiều hội nghị, hội thảo được tổ chức để hiến kế, để tìm biện pháp khắc phục, nhưng giáo dục vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng của toàn xã hội. Lý do và cách khắc phục? Theo chúng tôi, đây là bài toán rất khó, không chỉ đối với Việt Nam mà đối với toàn thế giới, nhất là đối với các nước nghèo, chậm phát triển. Trong bài viết này, bằng những bài học và kinh nghiệm quốc gia và quốc tế, chúng tôi sẽ cố gắng chứng minh rằng hội nhập quốc tế một cách nhanh chóng, thực sự và toàn diện, từ tư duy đến hành động, là giải pháp quan trọng nhất hiện nay để đổi mới căn bản, toàn diện và phát triển nền giáo dục Việt Nam theo hướng hiện đại nhưng vẫn gìn giữ được bản sắc dân tộc.

Bài viết đi vào hai nội dung chính

Qua thực tiễn ở các quốc gia phát triển nhanh chóng và bền vững, nói riêng là ở các nước mới “hóa rồng”, (những) người lãnh đạo đất nước đều có tâm sáng, có tầm nhìn chiến lược và quyết sách đúng, phải thực sự xem khoa học và giáo dục là quốc sách hàng đầu và lấy nguồn nhân lực làm “bệ phóng”. T. Hesburg đã nói: “Điều cốt lõi nhất mà người lãnh đạo phải có chính là tầm nhìn”.

Chúng tôi cho rằng để cải cách và phát triển giáo dục Việt Nam theo định hướng của Đảng và Nhà nước thì cách tốt nhất vẫn là hội nhập với thế giới văn minh, hay nói cho mạnh hơn là phải quốc tế hóa nhanh chóng và triệt để nền giáo dục nước nhà.

Văn kiện Đại hội Đảng CSVN lần thứ XI đã chỉ rõ nhiệm vụ của ngành giáo dục: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”. Trong bài này, chúng tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của việc “hội nhập quốc tế” trong quá trình “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”. Vì khi đã gia nhập WTO rồi thì nguồn nhân lực của chúng ta phải bảo đảm chất lượng và hiệu quả cạnh tranh toàn cầu và hội nhập quốc tế. Do đó cần phải lấy những kinh nghiệm, chuẩn mực và giá trị quốc tế tiên tiến làm cơ sở và đích đến cho nền giáo dục của chúng ta. Nói cho gọn lại là phải quốc tế hóa nhanh chóng và toàn diện nền giáo dục nước nhà để tạo ra những thế hệ người Việt Nam mới, thành thạo các kỹ năng sống, làm việc và cạnh tranh có văn hóa trên phạm vi toàn cầu. Chúng ta có thể yên tâm, không sợ “mất bản sắc dân tộc”. Xin nêu một ví dụ: Trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, chúng ta đã gửi nhiều vạn lưu học sinh Việt Nam đi du học nước ngoài và tuyệt đại đa số thanh niên, sinh viên Việt Nam vẫn gìn giữ, phát huy tình yêu đất nước và cốt cách Việt.

1. Giáo dục là lĩnh vực rất quan trọng nhưng rất khó làm; giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, ngành giáo dục và đào tạo trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm, nhưng vai trò chỉ đạo cao nhất vẫn thuộc về Đảng và Nhà nước

Tại sao có thể nói như vậy? Vì Văn kiện Đại hội Đảng CSVN lần thứ IX đã nhấn mạnh: “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ”. Để thực hiện quốc sách hàng đầu thì sự định hướng và chỉ đạo vĩ mô với trách nhiệm cao nhất của Đảng và Nhà nước đóng vai trò quyết định.  Nếu như Đảng và Nhà nước không “ra tay” đổi mới giáo dục thì chẳng có sự đổi mới nào thành công được.

Giáo dục là bài toán rất quan trọng nhưng khó khăn, là sự nghiệp của toàn xã hội, nhưng vai trò lãnh đạo và trách nhiệm trên hết thuộc về Đảng và Chính phủ, thuộc về (những) người đứng đầu đất nước.

Bức tranh toàn cảnh của xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục. Vì vậy những lĩnh vực rất quan trọng nhưng khó làm, khó thỏa mãn được đòi hỏi của mọi người dân, như giáo dục, y tế, văn hóa…, không thể thoát ly khỏi hoàn cảnh xã hội. Việc quy kết mọi yếu kém của giáo dục trước hết cho ngành giáo dục là đúng, nhưng không nên chỉ quy kết cho cho riêng ngành giáo dục, mà gia đình và xã hội cũng có trách nhiệm phối hợp, chia sẻ.

Suốt mấy chục năm qua chúng ta đã có nhiều cố gắng, nhiều cải cách, thay đổi nhiều đời bộ trưởng giáo dục, nhưng giáo dục vẫn là lĩnh vực chịu nhiều phê phán của xã hội, chưa đáp ứng được nhu cầu của toàn dân, đòi hỏi của sự phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Mới nhìn vào có người dễ tưởng làm giáo dục không khó, nhiều người có thể làm được, “phán” được. Nhưng càng về sau tôi càng thấu hiểu: Nói về một vấn đề cụ thể nào đó của giáo dục thì có vẻ không khó khăn lắm, nhưng làm giáo dục thực sự và nhất là làm bộ trưởng giáo dục thì lại là một công việc rất khó! Đây là chiếc ghế “nóng” không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới.

Khi không còn trực tiếp làm quản lý giáo dục nữa, tôi rất tránh nói và “phán” một cách chủ quan về lĩnh vực khó khăn này, đặc biệt là không bao giờ dám “chê” người này người nọ, người trước người sau, và chỉ xem mình là đúng là chuẩn. Vì ngày trước khi còn đương nhiệm, bên cạnh một số việc làm được, cũng có những việc tôi làm chưa tốt, làm hỏng. Nếu có ý gì hay thì đóng góp một cách thiện chí và xây dựng, nếu không có thì tốt nhất là ngồi im để cho người ta làm, để mình tiếp thu và suy ngẫm thêm. Tôi nhớ một câu nói chí lý của một bậc thầy nào đó ở phương Đông: “Tai hoạ của con người là ở chỗ thích làm thầy người khác” (Nhân chi hoại tại hiếu vi nhân sư).

Để minh hoạ thêm cho tính khó khăn của bài toán giáo dục tôi xin ví với cái khó khăn của giải một bài toán! Phải chăng mỗi khi gặp những bài toán (theo nghĩa đen và nghĩa rộng) vô cùng khó khăn và phức tạp thì chúng ta đều phải nghĩ đến những giải pháp toàn cục, giải pháp ”quốc tế hóa”? Một ví dụ thời sự khác là để giải quyết tình hình lấn chiếm của Trung Quốc ở biển Đông, Việt Nam và các nước ASEAN phải hợp tác với nhau và với các nước lớn trên thế giới bằng những giải pháp quốc tế hóa.

2. Những kinh nghiệm và bài học quốc gia và quốc tế cho thấy chúng ta cần phải có quan điểm quốc tế hóa trong cải cách, xây dựng và phát triển giáo dục nước nhà

▪ Quốc tế hóa giáo dục:

“Quốc tế hóa giáo dục là xu hướng mang tính toàn cầu, nhằm chia sẻ những kinh nghiệm tốt nhất giữa các quốc gia về mọi lĩnh vực trong giáo dục, từ đào tạo tới nghiên cứu, từ phương pháp dạy học tới biên soạn giáo trình, từ việc sử dụng công nghệ trong giáo dục tới các nguồn tài liệu học tập, từ các vấn đề về giáo viên tới các vấn đề quản lý, kiểm định và đánh giá chất lượng. Toàn cầu hóa giáo dục nhằm mục đích cải tổ quá trình học tập cho tất cả mọi người và xây dựng những nguyên tắc, giá trị chung giữa các nền giáo dục trong bối cảnh thế giới đang tiến tới nền kinh tế trí thức toàn cầu.” (Theo GS. Mai Trọng Nhuận).

Theo J. Knight (1993), quốc tế hóa giáo dục đại học là quá trình hội nhập quốc tế về giảng dạy, nghiên cứu và dịch vụ của các đại học trên thế giới. Theo Hans De Wit (2011), quốc tế hóa trong giáo dục đại học tại Châu Âu đã hình thành và phát triển từ 20 năm trước, đầu tiên chỉ là một mối quan tâm thứ yếu nhưng dần dà đã trở thành một nhân tố trung tâm.

Từ năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã chỉ thị phải quốc tế hóa nhanh chóng, toàn diện và triệt để nền giáo dục Trung Quốc. Năm 1994, tại một hội nghị về đổi mới giáo dục Việt Nam, tôi đã mượn ý này và đề nghị cần phải khẩn trương quốc tế hóa nền giáo dục nước nhà. Lúc đó có người can tôi không nên nói “mạnh” như thế, nên sau đó tôi đã đề xuất “nhẹ” hơn rằng Việt Nam cần phải “hội nhập quốc tế” nhanh chóng và triệt để về giáo dục, nhưng vẫn gìn giữ được bản sắc dân tộc.

▪ “Hóa rồng” nhờ giáo dục: Nguyên nhân “hoá rồng” trong vòng 25, 50 hoặc 100 năm qua của một số quốc gia, như Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc,… là khoa học, giáo dục, nguồn nhân lực và nói cho rõ hơn là nhà nước đã thực sự hiểu vai trò quốc sách hàng đầu của khoa học, giáo dục và quan tâm, chỉ đạo, đầu tư quyết liệt cho nó. Nhật Bản có Vua Minh Trị, Singapore có Lý Quang Diệu, Hàn Quốc có Park Chung Hee, Trung Quốc có Đặng Tiểu Bình,… Nhiều nguyên nhân, bài học kinh nghiệm quý báu của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức đã được phân tích và đúc kết rất công phu trong một số đề tài nghiên cứu mấy năm trước đây. Tuy nhiên, trong 5 hay 7 nguyên nhân “hoá rồng” đã được đúc kết của các nước này, tôi vẫn cứ muốn tìm hiểu tận cùng xem đâu là nguyên nhân chính, đâu là nguyên nhân số không (đứng trước tất cả các nguyên nhân 1, 2, 3, 4,… khác), đâu là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Và cuối cùng tôi cho rằng đó là những người lãnh đạo đất nước thực sự coi trọng khoa giáo. Cả dân tộc đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo, trung thực và khiêm tốn, xung quanh (những) người đứng đầu đủ tâm đủ tầm.

▪ Hồ Chí Minh luôn kết hợp hài hòa trong giáo dục giữa quốc gia và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại, giữa đông và tây; người thực sự xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, luôn cổ súy cho sự học và cả cuộc đời là tấm gương tự học, học suốt đời

Hồ Chí Minh và UNESCO đối với giáo dục: Như chúng ta biết, đối với giáo dục ở mỗi nước, những vấn đề sau đây là quan trọng: Triết lý và mục tiêu giáo dục, tư duy và phương pháp luận, sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục, người dạy và người học, chương trình và sách giáo khoa, thi cử và đánh giá, môi trường và phương tiện dạy học, điều hành và quản lý, đầu tư và tài chính,… Nhưng trước tiên và quan trọng nhất là phải xác định cho được triết lý, sứ mệnh và mục tiêu giáo dục phù hợp với đất nước mình. Thực ra những vấn đề quan trọng này Hồ Chủ tịch đã nói rõ ngay từ những ngày đầu tiên mới khai sinh nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Chúng  tôi xin minh họa điều này: Năm 1996, dựa trên Báo cáo của Hội đồng Delors, UNESCO đã khẳng định giáo dục toàn thế giới trong thế kỷ XXI được xây trên bốn trụ cột, đó là “học để có kiến thức, học để làm việc, học để chung sống với nhau và học để làm người”. Cả nhân loại đều thừa nhận chân lý này.Tuy nhiên, nếu để ý chúng ta sẽ thấy về cơ bản tư tưởng và chân lý này đã được Hồ Chí Minh viết ra ngay từ tháng 9 năm 1949 trên trang đầu của cuốn sổ vàng khi Người đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, tiền thân của Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh ngày nay: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.” Tôi xin đề nghị Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam gửi (nếu chưa) nguyên bản bút tích nói trên năm 1949 của Bác kèm theo bản dịch tiếng Anh, tiếng Pháp đến UNESCO tại Paris, để thấy Hồ Chí Minh hơn nửa thế kỷ trước đã góp phần xây dựng nên bốn trụ cột giáo dục của toàn thế giới do UNESCO khuyến nghị năm 1996 như thế nào. Gần đây chúng ta đã tích cực làm các thủ tục để UNESCO công nhận một số kỳ quan thiên nhiên và di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Điều đó rất đáng hoan nghênh. Nhưng thiết nghĩ việc giới thiệu ra quốc tế và giữ bản quyền những di sản tư tưởng, văn hóa của dân tộc, của lãnh tụ, còn cần thiết và quan trọng hơn nữa.

Hồ Chủ tịch gửi lưu học sinh đi du học nước ngoài: Trước đây khoảng gần 10 năm, tại một hội nghị Việt – Mỹ được tổ chức tại Hải Phòng để bàn việc triển khai chương trình học bổng của Quỹ Giáo dục Việt Nam (Vietnam Education Foundation, VEF) dành cho sinh viên Việt Nam, đã có một kỷ niệm đáng nhớ. Tổng số tiền mà Quỹ này có là 145 triệu USD. Đây là số tiền mà Chính phủ ta phải trả nợ thay cho Chính quyền Sài Gòn về các khoản vay phi quân sự mà Chính phủ Hoa Kỳ đã cho Chính quyền Sài Gòn vay trong thời gian chiến tranh. Trước khi hết nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Bill Clinton đã ký sắc lệnh có nội dung thay vì CHXHCN Việt Nam phải trả trực tiếp cho Hoa Kỳ số tiền này thì CHXHCN Việt Nam có thể dùng số tiền này để cử sinh viên đại học và sau đại học sang học tập và nghiên cứu khoa học ở các trường đại học có uy tín cao ở Hoa Kỳ, trong những ngành khoa học, công nghệ tiên tiến, y học,… Khi đọc kết luận tại hội nghị nói trên, Trưởng đoàn đại biểu phía Hoa Kỳ nhấn mạnh: Đây là một cơ hội to lớn và hiếm hoi cho sinh viên Việt Nam có thể sang học tập tại Hoa Kỳ, các ông cần phải nắm lấy. Tôi đã thay mặt đoàn Việt Nam, cảm ơn Chính phủ Hoa Kỳ và phái đoàn và cũng xin nhấn mạnh: Không phải đợi cho đến đầu thế kỷ 21 chúng tôi mới mong muốn được gửi sinh viên đi đào tạo ở Hoa Kỳ mà ngay từ ngày 01 tháng 11 năm 1945, chỉ hai tháng sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi đã gửi thư cho Tổng thống Hoa Kỳ thông qua Ngoại trưởng James F. Byrnes:

“Thưa Ngài!

Nhân danh Hội văn hoá Việt Nam, tôi xin được bày tỏ nguyện vọng của Hội, được gửi một phái đoàn khoảng năm mươi thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hoá thân thiết với thanh niên Mỹ, và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác.

Nguyện vọng mà tôi đang chuyển tới Ngài là nguyện vọng của tất cả các kỹ sư, luật sư, giáo sư Việt Nam, cũng như những đại biểu trí thức khác của chúng tôi mà tôi đã gặp.

Trong suốt nhiều năm nay họ quan tâm sâu sắc đến các vấn đề của nước Mỹ và tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ là những người mà lập trường cao quý đối với những ý tưởng cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế, và những thành tựu kỹ thuật hiện đại của họ đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam.

Tôi thành thực hy vọng kế hoạch này sẽ được thuận lợi nhờ sự chấp thuận và giúp đỡ của Ngài, và nhân dịp này tôi xin gửi tới Ngài những lời chúc tốt đẹp nhất ”.

Tôi đã tìm thấy bức thư này của Bác tại Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội và đã chụp sẵn mang đến hội nghị để đưa cho các đại biểu Hoa Kỳ. Bức thư này cũng có thể tìm thấy trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4 (1945-1946), trang 80-81, và cũng được lưu trữ tại U.S. Government Printing Office, Washington, 1971, p.90, United States – Vietnam Relations 1945-1967. Rất tiếc bức thư đầy thiện chí này của Bác đã không được hồi âm. Như vậy phải hơn nửa thế kỷ sau, mong muốn gửi thanh niên Việt Nam đi du học ở Hoa Kỳ của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới được thực hiện. Cuối cuộc họp nói trên tại Hải Phòng, các đại biểu và giáo sư Hoa Kỳ đã đến gặp tôi và rất xúc động nói cho đến nay mới được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bức thư này cho Hoa Kỳ và rất lấy làm tiếc là đã không có trả lời. Đây là bức thư về giáo dục. Và nếu cùng với bảy bức thư khác Bác gửi cho các Tổng thống Hoa Kỳ về nhiều vấn đề khác nhau mà được trả lời thiện chí thì tình hình quan hệ hai nước và quốc tế có thể đã khác.

Những lần sau, ngay từ đầu những năm năm mươi và sáu mươi của thế kỷ trước, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt, Bác và Nhà nước ta đã rất thành công khi gửi một số lượng lớn lưu học sinh Việt Nam đi du học ở Trung Quốc, Liên Xô (cũ) và các nước XHCN ở Đông Âu, CHDCND Triều Tiên, Cu Ba,… Như vậy, chính vào những thời điểm cam go nhất của vận mệnh dân tộc kể từ năm 1945, Bác luôn luôn chủ trương gửi lưu học sinh Việt Nam đi du học nước ngoài để chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai. Như vậy ngay từ đầu, trong tư duy và hành động, Hồ Chí Minh luôn coi khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo và hội nhập quốc tế là quốc sách hàng đầu.

Bác Hồ là một tấm gương tự học, học suốt đời: Báo cáo của Hội đồng Delors lên UNESCO năm 1996, ngoài việc khuyến nghị  bốn trụ cột giáo dục của toàn thế giới trong thế kỷ XXI, còn đề cập đến khái niệm “Học suốt đời”. Có thể nói cuộc đời và hoạt động của nhà giáo Nguyễn Tất Thành chính là một ví dụ sinh động minh hoạ khái niệm học suốt đời, học mở, một cuốn sách mở, suốt đời ủng hộ và cổ súy cho việc học tập, chính quy và phi chính quy và thực sự luôn xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Cách học là phi chính quy, vì không có điều kiện học chính quy, và không vị bằng cấp, nhưng kiến thức và bài học thực tiễn thu được là rất chính quy và cơ bản. Ngược lại, ngày nay vẫn còn có người chưa thực sự xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, có người được đi học theo hình thức chính quy, nhưng kiến thức thu nhận được lại phi chính quy.

▪ Tham khảo những kinh nghiệm quốc gia và quốc tế để làm giáo dục: Trong thời đại hội nhập quốc tế và thế giới phẳng ngày nay, chúng tôi cho rằng việc tham khảo có chọn lọc những kinh nghiệm giáo dục của các nước và chú ý đến những khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, trước hết là các cơ quan của Liên Hiệp Quốc như UNESCO, UNICEF,…, sẽ giúp chúng ta giảm bớt khó khăn, bớt mày mò và đi đúng hướng văn minh của thời đại. Và cũng chỉ khi đó, nguồn nhân lực do chúng ta tạo ra mới đủ trình độ và sức mạnh để hợp tác và cạnh tranh bình đẳng trên toàn cầu.

Chúng ta đã và đang cố gắng học hỏi được nhiều nhất những cái hay của thiên hạ và quan trọng hơn nữa là học hỏi ngay chính những cái tốt trong lịch sử giáo dục nước nhà, một quốc gia có nền văn hiến mấy nghìn năm, sẽ giúp chúng ta bớt ”loay hoay”. Mà có ai, có nước nào trên thế giới này ngăn cấm chúng ta học hỏi và tham khảo kinh nghiệm tốt của họ đâu. Chúng ta học hỏi và tham khảo có chọn lọc chứ không phải sao chép (copy). Vả lại làm gì có một loại ”thức ăn sẵn” nào trong giáo dục. Nhưng cũng không có nghĩa là ta phải loay hoay từ đầu trong hoàn cảnh của ta, cho riêng ta. Từ tư duy đến hành động, từ triết lý đến triển khai giáo dục, cần thiết và có thể vận dụng triệt để các bài học quốc tế và lịch sử có giá trị và phù hợp với mình. Chỉ như vậy chúng ta mới có thể hy vọng tiến nhanh hơn (so với chính mình ở giai đoạn trước) và giảm bớt dần khoảng cách so với khu vực và thế giới phát triển. Ở đây chúng tôi chưa dám nói là chúng ta sẽ ”đi tắt, đón đầu” các nước có nền giáo dục tiên tiến. Cố bám sát họ nhất có thể được đã là khó khăn, thách thức và vinh dự. Vì khi ta cố ”tiến lên” thì họ đâu có dừng mà còn ”tiến lên” với tốc độ lớn hơn. Nói theo ngôn ngữ vật lý thì không chỉ tốc độ mà gia tốc của các nước tiên tiến đều lớn hơn ta.

Chương trình và sách giáo khoa: Chúng tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm quốc tế trong giáo dục và nói riêng là trong việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa. Điều đáng mừng là ngay từ những ngày đầu tiên của nền giáo dục cách mạng, chúng ta đã chú ý đến điều này. Nhiều kinh nghiệm giáo dục của Liên Xô (cũ), Pháp, Trung Quốc và các nước XHCN khác đã được chúng ta tiếp thu có chọn lọc. Tôi nhớ ngày còn đi học, các cuốn sách giáo khoa phổ thông mỏng dính, kiến thức rất chắt lọc, nhưng về cơ bản vẫn ”đủ chất” cho học sinh, kể cả “chất để làm người”, dù học tiếp lên đại học ở trong hoặc ngoài nước, học cao đẳng hay đi học nghề hoặc đi làm. Được vậy là nhờ chúng ta đã tham khảo cách làm giáo dục, tham khảo các sách giáo khoa chuẩn mực và rất cơ bản của Nga, Pháp, Mỹ và các nước khác. Nói riêng trong môn toán, các cuốn sách giáo khoa cấp II và III ngày ấy do thầy Lê Hải Châu và thầy GS. Hoàng Tụy biên soạn vừa ngắn gọn, súc tích vừa cơ bản.

Hiện nay khi biên soạn lại và hiện đại hoá sách giáo khoa chúng ta đã chú ý hơn nữa đến việc học hỏi những kinh nghiệm quốc tế. Đó là cách làm rất khoa học, tiết kiệm và hội nhập trong thời đại ”thế giới phẳng” ngày nay. Nhưng chúng tôi cho rằng cần phải mạnh dạn hơn nữa trong việc tham khảo có chọn lọc và sử dụng nguồn thông tin, sách giáo khoa trên thế giới, đặc biệt là đối với các môn khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ, không chỉ ở bậc phổ thông mà ngay cả ở bậc đại học và sau đại học. Ngay cả đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn, chất liệu về cơ bản đương nhiên là của chúng ta, nhưng vẫn cần xem họ thiết kế chương trình và dạy ra sao, để học sinh chúng ta luôn tiếp cận được những tư tưởng tiến bộ nhất trong văn hoá, nghệ thuật, hiểu được và hướng tới những giá trị nhân văn cao cả của thời đại ngày nay. Tóm lại là phải thấm nhuần sâu sắc phương châm ”cơ bản, hiện đại, Việt Nam” của Đảng ta trong giáo dục phổ thông và cả đại học. ”Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu”, ngẫm lại cả chiều dài lịch sử và hướng tới tương lai (cho đủ cả bốn chiều!) để học hỏi, để xây dựng con người Việt Nam mới, đậm đà bản sắc dân tộc, nhưng cũng phải đủ bản lĩnh để hội nhập và phát triển trong thế giới phẳng ngày nay, với đầy cam go, thử thách và cạnh tranh khốc liệt xảy ra trong khu vực và trên thế giới, liên quan tới phát triển bền vững, tới an ninh và chủ quyền Tổ quốc.

Bài học từ giáo dục Nhật Bản: Chúng ta đã chứng kiến câu chuyện thần kỳ về việc vua Minh Trị (1852-1912) đã canh tân đưa Nhật Bản phát triển lên thành một quốc gia hiện đại, thoát khỏi nguy cơ trở thành một nước thuộc địa. Nhật Bản cũng tự xác định, nước mình không được ưu ái gì về tài nguyên thiên nhiên, ngược lại còn bị động đất liên miên, nên ngay từ đầu họ đã chú ý xây dựng và khai thác nguồn tài nguyên con người. Tinh thần thời mở cửa của vua Minh Trị được thể hiện cụ thể trong công thức “Tinh thần, đạo đức phương Đông và khoa học phương Tây” (“Eastern ethics and Western science”) do nhà công nghệ nổi tiếng Sakuma Sho-zan (1811-1864) đề xuất. Vua Minh Trị, một mặt mời các nước tư bản phương Tây vào làm ăn buôn bán, mặt khác cử hơn 200 thanh niên, sinh viên, chuyên gia trên một chuyến tàu đi tham quan học tập một năm rưỡi vòng quanh thế giới, qua Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nga,… Đến nước nào Đoàn cũng để lại người tiếp tục học tập và nghiên cứu, quá nửa là ở Mỹ. Ngay từ ngày ấy nước Nhật đã có sự lựa chọn rất chiến lược và cụ thể cần học cái gì, ở đâu. Sau Minh Trị duy tân, Nhật Bản đã học hỏi khoa học y tế và quân sự từ nước Đức, hải quân thì phần lớn học từ nước Anh và mỹ thuật, luật dân sự từ nước Pháp. Sau chiến tranh Thế giới thứ II, họ tiếp tục học được  nhiều kỹ thuật quan trọng từ công nghiệp sản xuất xe hơi của Mỹ, khoa học hạt nhân của Pháp, công nghiệp sản xuất máy móc và dược phẩm của Đức.

Bài học từ giáo dục Trung Quốc: Theo đánh giá của Trung Quốc và các nước, các tổ chức quốc tế, sở dĩ kinh tế Trung Quốc tăng trưởng liên tục hơn 10% trong suốt 30 năm qua, một nguyên nhân cơ bản là nguồn nhân lực của nước này có chất lượng cao. Để đạt được điều này, Trung Quốc đã hiện đại hoá, quốc tế hoá nền giáo dục nước mình trong việc thiết kế chương trình, sách giáo khoa, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn mực quốc tế, đào tạo giáo viên và xây dựng cơ sở vật chất. Trung Quốc chủ trương dùng tối đa các chương trình, sách giáo khoa hiện đại quốc tế và giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Anh các môn khoa học, công nghệ, tăng cường mời giáo sư, chuyên gia, hiệu trưởng, viện trưởng là Hoa kiều hoặc người nước ngoài.

Từ năm 1978, sau chuyến thăm Mỹ về, Đặng Tiểu Bình đã bắt đầu nhiều cải cách quan trọng trong phát triển kinh tế, trong đối nội đối ngoại, nói riêng là trong khoa học và giáo dục của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình đã chỉ đạo: Muốn Trung Quốc phát triển và hội nhập quốc tế nhanh chóng thì nền giáo dục Trung Quốc phải được quốc tế hóa trước một bước, thanh niên, học sinh, sinh viên phải tăng cường học tiếng Anh, phải lập các trung tâm học và thi TOEFL, IELTS tại các thành phố, phải tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và gửi học sinh, sinh viên đi du học nước ngoài, theo phương châm 12 chữ vàng “chi trì lưu học, cổ lệ hồi quốc, lai khứ tự do” (“khuyến khích du học, động viên về nước, đi về tự do”). Chính vì vậy, đã hơn 30 năm trôi qua kể từ ngày đó, nền giáo dục Trung Quốc đã tạo ra nguồn nhân lực vừa có quy mô lớn vừa có chất lượng cao, đủ sức lan toả và cạnh tranh trên toàn thế giới. Trung Quốc đã cử được gần một triệu lưu học sinh, kể cả tự túc, đi học ở trên 100 nước và vùng lãnh thổ, mà quá nửa là đi Mỹ. Một phần ba trong số này đã trở về nước trực tiếp góp phần xây dựng và phát triển Trung Hoa hiện đại, 2/3 còn lại là cầu nối và cộng tác viên quan trọng giúp Trung Quốc hợp tác, làm ăn với cả thế giới. “Về nước là yêu nước, chưa về ngay hoặc ở lại nước ngoài cũng là yêu nước”. Đó là quan điểm và chiến lược toàn cầu của Trung Quốc. Nước này phấn đấu đến năm 2049 (100 năm nước CHND Trung Hoa) sẽ có người Trung Quốc ở trong nước được nhận giải Nobel, mặc dù cho đến nay đã có không ít Hoa kiều được nhận giải Nobel, Fields và các giải thưởng cao quý khác.

Bài học từ giáo dục nước Anh: Chúng tôi suy nghĩ và bước đầu thấy rằng nền giáo dục Anh quốc có những nét đặc trưng khác các nền giáo dục khác và khi nói chuyện, người Anh rất tự hào về điều này. Đó là: Giáo viên và sách giáo khoa nước Anh trước hết chú ý rèn cho học sinh, sinh viên của họ học để sáng tạo chứ không học để thuộc lòng, học chỉ để có kiến thức. Có lẽ họ là những điển hình trung thành với nguyên tắc: “Trí tưởng tượng quan trọng hơn cả kiến thức” (“Imagination is more important than knowledge”) của nhà bác học vĩ đại nhất mọi thời đại Albert Einstein, hoặc quan điểm của William A. Warrd: “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng.” Các nhà giáo dục Anh quốc thường ”chê” nhà trường ở một số nước khác, vì dạy học sinh học thuộc lòng quá nhiều, vì ”cứng nhắc” và ”bảo thủ”. Sau khi tìm hiểu thêm tôi thấy sự tự tin đáng yêu đó của các học giả người Anh cũng có những cơ sở nhất định. Theo kết quả của một cuộc thăm dò ý kiến đáng tin cậy trên toàn thế giới, trong số 10 phát minh khoa học vĩ đại nhất của loài người từ xưa đến nay thì 4 do người Anh nắm giữ. Trong số 10 đại học đứng hàng đầu thế giới thì thường Mỹ chiếm 7, Anh 2 và Pháp 1 (École Polytechnique, thành lập năm 1794) và bốn đại học hàng đầu thế giới là Harvard (Mỹ, thành lập năm 1636), MIT (Mỹ, 1861), Oxford (Anh, 1096) và Cambridge (Anh, 1209). Nhưng sẽ rất thú vị khi phân tích kĩ lịch sử hình thành của chúng: Harvard là “con đẻ” của Oxford và Cambridge! Nói rộng ra, nền giáo dục và đại học nước Anh đã góp phần tạo ra và tiếp tục có ảnh hưởng to lớn trong vòng hai thế kỷ vừa qua đến các nước ở Bắc Mỹ, Úc, Nam Á, nam ASEAN, Hongkong và các nước khác thuộc khối Liên hiệp Vương Quốc Anh. Có thể chăng, đây cũng là một trong các lý do làm cho tiếng Anh ngày càng trở nên phổ dụng trên toàn thế giới? Theo thống kê mấy năm trước đây của Hội đồng Anh (BC): Có 370 triệu người bản ngữ nói tiếng Anh và 375 triệu người sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ. Như vậy có 745 triệu người nói tiếng Anh. Con số này chắc tăng nhanh lên hàng ngày. Đó là chưa kể đến hàng tỷ máy tính trên khắp thế giới này lại chỉ được con người ”dạy” để ”nói” tiếng Anh. Vì thế người ta nói: Tiếng Anh có nhiều nước nói nhất, còn tiếng Trung Quốc có nhiều người nói nhất.

Bài học từ giáo dục Singapore và Malaysia: Chúng tôi xin nêu vài ví dụ để so sánh. Năm 1965, Singapore tách ra thành một đảo quốc độc lập từ Malaysia và Ông Lý Quang Diệu (NS: 1923), cựu sinh viên luật của ĐH Cambridge, nước Anh, là Thủ tướng trong suốt 31 năm, từ 1959 cho đến 1990. Với diện tích 697,25 km2, chỉ xấp xỉ bằng huyện Cần Giờ, TP. HCM, và dân số 5,1 triệu người (năm 2010), Singapore xuất phát từ một làng chài nghèo, đến nước uống cũng không có, phải mua của Malaysia. Vì thế Thủ tướng Lý Quang Diệu ngay từ đầu đã xác định rằng nước mình không có một nguồn tài nguyên nào hết, tất cả phải nhờ cái đầu, đi lên bằng cái đầu, bằng nguồn nhân lực và tài năng. Singapore có ba nhóm người chính là Hoa, Ấn Độ và Mã Lai. Cả ba vẫn duy trì tiếng nói, văn hoá và bản sắc của mình, nhưng ngôn ngữ chính thức được sử dụng chung trong hành chính và giáo dục là tiếng Anh. Hiện nay 20% số sinh viên trên đất Singapore là người nước ngoài, có thể bằng học bổng của Singapore, nhưng sau khi tốt nghiệp đại học, có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ thì ở lại làm việc tại Singapore để trả nợ. Một số trường phổ thông chất lượng cao và đại học có uy tín quốc tế của Singapore đã trực tiếp sang Việt Nam hoặc qua internet, tổ chức hội thảo du học, trại hè,… để tìm học sinh, sinh viên và NCS tài năng thu hút về học tập và nghiên cứu ở nước họ. Như vậy, họ không chỉ biết khai thác trí tuệ của 4-5 triệu người của mình mà cả hàng triệu người nước ngoài, nhất là người có tài. Sự khôn ngoan của họ lại làm tôi nhớ đến câu thơ rất hay của Cao Bá Quát “kho trời chung, mà vô tận của mình riêng”. Trong một số lần sang thăm và trả lời phỏng vấn tại Việt Nam, Ông Lý Quang Diệu cho rằng đó là lợi thế của nước mình trong hội nhập quốc tế và còn khuyên thế hệ trẻ nước ta ngày nay phải nhanh chóng thành thạo tiếng Anh thì mới làm ăn và cạnh tranh được trên thế giới.

Trong suốt 20 năm đầu khi mới thành lập nhà nước Singapore, Ông Lý Quang Diệu chỉ đạo Bộ Giáo dục nước này dùng luôn sách giáo khoa phổ thông của nước Anh cho trường học của mình, nhất là đối với các môn khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ. Đây có lẽ là một trong số các cách nhanh nhất, khoa học nhất, tiết kiệm nhất để cập nhật, hiện đại hoá nền giáo dục và nói riêng là biên soạn sách giáo khoa, bảo đảm các nguyên tắc của khoa học sư phạm hiện đại, vì các nước phát triển lâu đời như nước Anh đã có truyền thống với nhiều chuyên gia khoa học và giáo dục rất giỏi. Đương nhiên khi viết sách giáo khoa, các tác giả người Anh đã kết hợp tài tình những kinh nghiệm truyền thống của họ được cả thế giới khâm phục với những bài học quốc tế đắt giá.

Trong khi đó Malaysia, nước láng giềng bên cạnh, thì lại chủ trương dùng tiếng Malay là chủ yếu. Kết quả là rất nhiều học sinh, sinh viên nước này bỏ ra học nước ngoài, trong đó có nhiều thanh thiếu niên, con nhà giàu, khiến mỗi năm bị chảy máu ngoại tệ nhiều tỷ Đô la Mỹ và chất lượng đại học đi xuống. Cách đây ít năm, sau 22 năm làm Thủ tướng, ông Mahathir Mohamad đã rút ra bài học kinh nghiệm đắt giá về giáo dục và yêu cầu mọi người Mã Lai hãy trở lại với tiếng Anh và cá nhân Ông gương mẫu học trước. Nói vậy thôi, nhưng có lần vào khoảng đầu những năm 2000, khi tham dự Hội nghị thường niên của các Bộ trưởng Giáo dục ASEAN (SEAMEC) được tổ chức tại Kinabalu (Malaysia), tôi nghe Ông phát biểu trơn tru bằng tiếng Anh thứ thiệt trong suốt một giờ đồng hồ mà không cần cầm giấy tờ, trợ lý, phiên dịch gì cả.

 

Tài liệu tham khảo

Khi chuẩn bị tham luận này chúng tôi đã tham khảo Nghị quyết Đại hội Đảng CSVN lần thứ IX, XI và các bài viết của các tác giả Nguyễn Thị Bình, Hoàng Tụy, Trần Hồng Quân, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thiện Nhân, Phạm Vũ Luận, Nguyễn Trần Bạt, Văn Như Cương, Nguyễn Minh Thuyết, Mai Trọng Nhuận, J. Knight, Hans De Wit, Zha Qiang…

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2013

GS. TSKH Trần Văn Nhung

Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước

Nguyên Thứ trưởng Bộ GD-ĐT.

(Bài viết của GS Trần Văn Nhung đã được HTN rút gọn cho phù hợp khuôn khổ nội dung của trang)
Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Hướng cải cách

31 phản hồi »

  1. “Giáo dục là lĩnh vực rất quan trọng nhưng rất khó làm; giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, ngành giáo dục và đào tạo trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm, nhưng vai trò chỉ đạo cao nhất vẫn thuộc về Đảng và Nhà nước” Xin phép mạo muội đưa ý kiến! Để đáp ứng nhu cầu xã hội theo tôi nơi nào cần “nguyên vật liệu nào” thì tự khai thác thứ vật liệu đó. Xã hội có nhu cầu lương thực ắt sẽ cần người nông dân có kinh nghiêm trồng lúa có hạt thóc mẩy nhất. Nếu quân đội cần người lính ắt sẽ cần người dũng cảm lại có nhiều kỹ năng được rèn luyện nhất là thể lực và trí tuệ. Những ai cần cho Đảng thì cái đích nhất định là trường Đảng. Đào tạo con người mà bỏ phí không dùng cũng là phá hoại.

    Like

  2. tấm lòng hội nhập của một người mang căn bảo thủ mới hài hước làm sao

    Like

  3. Sau gần 25 năm kết thúc chiến tranh lạnh, tư tưởng hội nhập Quốc tề về giáo dục mới được cựu thứ trưởng của Bộ GD-ĐT đưa ra có lẽ hơi muộn. Nhưng cháu vẫn mừng vì dù sao muộn cũng còn hơn không ạ!

    Việc hội nhập Quốc tế trong thời đại toàn cầu hoá Globalization là khó tránh khỏi. Ngay cả Trung Quốc một quốc gia với nước tư tưởng nước lớn Super Power cũng không thể đi ngược dòng chảy, để không bị đẩy lại sau và cô lập như Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên sự hội nhập Quốc tế đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ của nhiều chính sách đổi mới. Mở cửa kinh tế với nước ngoài thì không thể giữ lại một nền kinh tế quan liêu, bao cấp, chỉ đạo từ trên xuống dưới. Hội nhập Văn hoá toàn cầu thì không thể song song với việc kiểm duyệt các tác phẩm Văn học, với việc không chấp hành nghiêm túc luật bản quyền quốc tế. Hội nhập Quốc tế về giáo dục thì không thể là việc gửi sinh viên, lưu học sinh đi học tại các nước Phương Tây phát triển với hệ thống Đa Đảng trên nền tự do dân chủ, để rồi khi quay trở về các bạn trẻ lại bỡ ngỡ về chế độ một nền “dân chủ một Đảng” tại quê hương. Nếu như Trung Quốc chiếm được vị trí chiến lược trên nền kinh tế toàn cầu thì Họ cũng phải dùng đến những thủ thuật không được coi là fair play trong thương mại, Họ vẫn thực thi các chính sách di dân cưỡng bức để mở rộng các khu công nghiệp, Họ vẫn chưa áp dụng luật lao động như việc thành lập và tổ chức công đoàn ở các nhà máy xí nghiệp sản xuất đồ xuât khẩu. Trung Quốc đã được coi là xưởng sản xuất hàng rẻ cho thế giới với giá dumping price, nhưng hình ảnh Image về một nước Trung Quốc phồn vinh, văn minh dưới con mắt của các nước Phương Tây vẫn còn rất mờ nhạt. Những vụ bê bối về chất độc trong ngành lương thực thực phẩm, những vụ vi phạm nghiêm trọng luật bản quyền Quốc tế, những vụ bắt bớ các trí thức, nhà văn tiến bộ trong nước, những vụ dàn trận trên biển Đông để biểu dương sức mạnh nước lớn lấn án các nước Láng giềng …. là thực tế không thể nào chối cãi cho một tư tưởng hội nhập mang tính hình thức, không tuân thủ luật chơi Quốc tế. Trong mỗi cuộc gặp gỡ cấp cao giữa các nước phương Tây và Trung Quốc, các nguyên thủ Quốc gia của Đức hay Mỹ đều không ngần ngại chỉ trích Trung Quốc trước các phóng viên về tình trạng vi phạm nhân quyền tại đó. Phương Tây luôn hoài nghi về những lời Hứa của chính quyền Trung Quốc, cũng như người dân Tây Âu mất hết cả niềm tin vào chất lượng của hàng hoá made in China.

    Bài học từ Trung Quốc làm chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc để tìm đường đi đúng hướng cho VN trong thời kỳ Quốc tế hoá. Hội nhập Quốc tế là quá trình sàng lọc những tinh hoa của các nước khác để học tập, tránh những lỗi lầm mà các nước khác đã mắc phải. Hội nhập Quốc tế về giáo dục là vấn đề rộng lớn, không chỉ thể gói gọn trong việc sử dụng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, hay tăng cường các chương trình giao lưu học sinh và sinh viên quốc tế, mà còn là việc cải cách nền giáo dục VN sao cho phù hợp với dòng chảy Văn minh của thế giới, mở mang đầu óc sáng tạo của thầy và trò, tạo một môi trường nghiên cứu khoa học lành mạnh (độc lập với chính kiến) thì mới thật sự thành công ạ.

    Like

    • bác nói rất đúng
      không hiểu vì sao hocthenao lại đăng một bài viết có chi tiết đề cao sử dụng tiếng Anh trong giáo dục là hành vi đúng đắn, là ‘hội nhập’.

      Ý ‘hội nhập nhưng phải tuân thủ luật chơi quốc tế’ của bác Thanh Hải là rất toàn diện, thu nhập những cái mới mà căn bản hệ thống quốc gia mình còn tệ hại thì đó không phải là hội nhập đầy đủ, chẳng khác nào mua ô tô về trong khi chưa biết lái xe, thì chỉ có gây hại mà thôi.

      Sở dĩ mình nói tác giả muốn hội nhập mà mang căn bảo thủ là vì tác giả muốn thu nhận cái hay cái tốt của người ta mà không muốn học cái hệ thống của người ta, ông không muốn thay đổi cái hệ thống của mình cho bằng họ thì đâu gọi là hội nhập.

      Mà tra google ra cái chuyện tác giả thích bắt tay với Bill Gate, Putin, Bush… thì cũng muốn nói là ngài Nhung ạ, cái sự tôn trọng của cháu-một đứa con nít dành cho ngài nó giảm dần đi ^^

      Like

      • Bạn cadet93 ơi, mình nghĩ câu cuối không ăn nhập với tính chất và Nội dung của diễn đàn lắm đâu. Mình cũng như bạn cùng là người đọc thì có thể đóng góp ý kiến mang tính khách quan đối với đề tài bài viết nêu ra, còn không nên bày tỏ cảm xúc mang tính cá nhân vào, bạn ạ.
        Hồi mới qua đây học chính trị ĐNA, mình chỉ viết cụm từ quen thuộc là tụi Mỹ xâm lược “American aggressors” trong một bài viết đầu, mà bị thầy phê là “không khách quan” đấy. Rồi sau mình học được về cách viết và lập luận khoa học thì thấy thầy phê đúng. Mọi ý kiến cá nhân mang bản chất cảm tính không được phép đưa vào tranh luận. Mình có thể viết “American aggressors” khi trích dẫn về quan điểm của Cộng sản VN của nhũng người cách mạng VN đối với Mỹ, nhưng nếu mình muống dùng cụm từ đó cho quan điểm của mình thì mình phải chứng minh rằng Mỹ đã xâm lược nước ta thật, chứ không phải là vào cứu trợ cho chế độ Miền Nam VN (cũng như TQ và LX giúp miền Bắc VN vậy). Điều này thật là khó vì đọc nhiều Tài liệu nghiên cứu của nước ngoài thì có nhiều điều mình chưa từng biết tới khi còn ở VN. Để cho khách quan, mình chỉ dùng những cụm từ như “đổ bộ”, “đóng quân” vv…Còn việc sát hại dân lành thì đúng là tội ác, cũng như tác hại còn đọng lại đến bây giờ của chất độc màu da cam thì không thể phủ nhận được, đấy là FACTS, là sự thật rồi. Mình cũng phải luôn lưu ý điều này, để không đi lạc đề và giữ tính khách quan của việc Thảo luận.

        Like

      • ok. đây ko phải là tranh luận về đạo đức hay tư cách con người nên mình nhận cái sai, chỉ trích người khác không bao giờ là hay ho cả

        Like

      • bạn này đầu óc làm sao à? việc học tiếng anh như một ngoại ngữ thứ 2 là rất cần thiết. chính bạn mới là người bảo thủ khi nói ” đề cao sử dụng TA là không đúng đắn” TA là cửa ngõ thông vào trí tuệ thế giới. ta không tạo ra đc nền tảng kiến thức từ đầu mà người Anh, Mỹ, Pháp tạo ra thì phải tiếp thu và biến nó thành của ta từ bây giờ. bạn kô nghĩ vây sao?
        còn việc bạn tra Google rồi nói linh tinh ấy mà.. chứng tỏ bạn là thằng không não

        Like

      • bạn Trang Nguyen có lẽ cũng chưa hiểu hết ý của bạn cadet93 rồi cũng cho một câu kết luận hơi xúc phạm cá nhân rồi đấy. Bạn cadet93 đã sửa sai rồi, giờ đến lượt bạn Trang Nguyen lại lặp lại lỗi đó.
        Nếu các bạn ở đây đều đưa ra những ý kiến xây dựng nghiêm túc, lập luận khách quan, có cơ sở khoa học, không nhỏ nhen moi móc những cái không liên quan thì forum này mới thực sự góp phần vào công cuộc đổi mới. Ôi, lại thấy buồn vì những lời comments kiểu này!

        Like

    • tôi nói ” đề cao sử dụng tiến anh TRONG GIÁO DỤC là ko đúng đắn” chứ không phải ” đề cao tiếng anh là không đúng đắn”-như bạn dẫn nhé.

      việc học ngoại ngữ thứ hai và việc xác định tiếng Anh là ngôn ngữ cần thiết dạy thành môn học trong nhà trường tưởng như chẳng cần bàn đến.

      Chính quyền miền nam trước 1975 đã xác định nó là ngoại ngữ cần thiết, tôi đọc cuốn ”chính đề Việt Nam” của ông Ngô Đình Nhu nên biết như vậy. Thời đó nước mình nhiều người biết tiếng Pháp, nhưng ông Nhu đề ra chính sách giáo dục dạy môn tiếng Anh-dịch thuật bằng tiếng Anh với một số lý do:
      +tiếng Anh đang trở lên thông dụng toàn cầu
      +muốn làm cách mạng khoa học kỹ thuật thì học ngay những nước cha đẻ của kỹ thuật, chứ không học của người học lại, Pháp và Anh đều mạnh khoa-kỹ nhưng ông viện dẫn lý do Pháp trải qua chiến tranh đã từng bị hủy nhiều sách vở trong khi kho sách nước Anh rất đồ sộ và được bảo lưu tốt

      và chắc bạn cũng biết miền Bắc VN và sau này thống nhất vẫn dạy tiếng Nga vì mối quan hệ đồng minh và muốn học Nga về khoa-kỹ. Nay đã thay đổi.

      Nhưng trong các bài học mà tác giả TVN viết có chi tiết nói về dùng tiếng Anh trong giáo dục của Singapore có câu ”Cả ba vẫn duy trì tiếng nói, văn hoá và bản sắc của mình, nhưng ngôn ngữ chính thức được sử dụng chung trong hành chính và giáo dục là tiếng Anh”. Sau đó tác giả so sánh với Malaysia vẫn sử dụng tiếng Malay nên không thành công. Tôi hỏi bạn đó là bài học kiểu gì, học người ta để rồi sử dụng tiếng Anh trong giáo dục và hành chính? Thay tiếng Việt bằng tiếng Anh thì sẽ thành công? Nguyễn Du đi sang Tàu nhiều nhưng phải làm thơ bằng chữ Nôm mới ra kiệt tác bạn ạ.

      Nói thật bài viết này nếu mà viết vào những năm 60 thế kỷ trước đã là cổ lỗ rồi.

      Like

  4. p.s: mình viết sót aggressors (những kẻ hiếu chiến) và invaders (những kẻ xâm lược)

    Like

    • Thật thương cho những người nông dân miền Bắc bị tác hại của thuốc trừ sâu DDT, Vô-pha-tốc v.v. mất mạng do không ai hướng dẫn sử dụng, bảo quản những chất này. Không có một con số thống kê nào được công khai chính sác về việc nhập khẩu, sử dụng, tác động lên môi trường. Rất trân trọng những ý kiến của TH đã đưa lên, nó thể hiện sự cố gắng khách quan. Kiến thức và thông tin thật mênh mông, biết mà không chia sẻ cũng là mắc lỗi.

      Like

  5. Tôi lấy làm buồn vô hạn sau khi đã căng mắt ra đọc hết bài viết này của một người mang học hàm GS, lại từng một thời nắm quyền lãnh đạo nền GD nước nhà. Bài viết này một lần nữa giúp tôi hiểu rõ hơn nữa vì sao nền GD nước nhà thời gian qua cứ ngày một trở nên lạc hậu, yếu kém. Nhân đây, xin có đôi lời với GS Trần Văn Nhung trên tinh thần phản biện khoa học là:

    Một, bài tham luận này thể hiện cái nhìn, cách tư duy quá cũ rồi. Là một người từng lãnh đạo nền Gd tôi nghĩ ông không lạ gì chuyện các quan chức trong ngành giáo dục hàng năm được cử đi “tham quan học tập” mô hình giáo dục của các nước trên thế giới tiêu tốn không biết bao nhiều tiền bạc của Nhà nước và nhân dân. Đó là chưa kể những chương trình hợp tác giáo dục được ký kết, được tài trợ rất nhiều… Tất cả đều thể hiện cho sự “hội nhập quốc tế” trong suốt mấy mươi năm của nền Gd nước nhà đó chứ. Thế nhưng kết quả thu về là như thế nào? Điều này tôi cũng nghĩ ông là người hiểu rõ nhất. Cho nên, theo tôi đừng vin vào chuyện “hợp tác quốc tế” để bàn về vấn đề “đổi mới toàn diện nền giáo dục hiện nay. Nghe thật không ổn chút nào.

    Hai, bài tham luận này (nhất là các ý trong tiểu mục số 1) cho thấy tác giả bài viết rất sợ trách nhiệm. Điều này thể hiện rõ qua kiểu tư duy nước đôi, sợ “đụng chạm” – điều tối kỵ trong nghiên cứu khoa học. Vì thế, tôi cho rằng bàn về một vấn đề lớn như giáo dục – vấn đề có tính quyết định sự phát triển bền vững của một dân tộc, một đất nước nhưng vẫn mang tâm lý sợ trách nhiệm, sợ “đụng chạm”, không cho thấy tư duy phản biện tới cùng nhằm tìm ra những giải pháp khả thi nhất thì e là rất khó thuyết phục người khác.

    Ba, ông liệt kê rất nhiều nền Gd trên thế giới để rút ra những “bài học giáo dục” để mọi người cùng tham khảo để làm gì trong khi hiện tại chẳng thấy ai trong hàng ngũ lãnh đạo nền giáo dục (kể cả ông) một lần trung thực và nghiêm túc nhất đánh giá tất cả những mặt yếu kém của nền GD thời gian qua để từ đó rút ra bài học của riêng mình. Thử hỏi bản thân mình còn không hiểu mình như thế nào thì dù có tham khảo tất cả các nền gd khác trên thế giới cũng chẳng giải quyết được gì đâu.

    Bốn, tôi dám khẳng định vấn đề đổi mới giáo dục hay nói chính xác hơn việc làm cho Gd nước nhà ngày một tốt hơn lên là vấn đề KHÔNG KHÓ như ông nói. Nó chỉ KHÓ với những người, một là sợ trách nhiệm (sợ quy trách nhiệm nên không dám làm), hai là vô lương tâm (với thế hệ trẻ hay rộng hơn là với dân tộc bỏ nên nhằm mắt làm ngơ không thèm làm), ba là bất tài (không nhìn ra chuyện để làm), bốn là tham lam (sợ mất “ghế”, mất quyền lợi, tiền bạc nên ngăn cản người khác không được làm)… mà thôi.

    Cuối cùng, xin mạo muội đề xuất một lời khuyên với cá nhân ông Nhung và những lãnh đạo đang quản lý và điều hành trực nền GD hiện nay nếu muốn công cuộc đổi mới Gd nước nhà thành công hãy tiến hành theo các bước sau: Thứ nhất: Trung thực nhìn thẳng vào những yếu kém của nền GD hiện nay. Thứ hai: Lập một kênh để thu nhận thông tin phản biện, góp ý của toàn thể nhân dân đặc biệt là những nhân sĩ trí thức, những chuyên gia giáo dục có tâm huyết và trách nhiệm đặc biệt là có cách nghĩ, cách tư duy mới về giáo dục… một cách cầu thị và chân thành nhất. Thứ ba, chiêu dụ nhân tài vào làm việc trong ngành giáo dục bằng những chính sách đãi ngộ tốt nhất đồng thời mạnh dạng loại bỏ những cá nhân không có năng lực ra khỏi bộ máy quản lý điều hành nền Gd (bao gồm cả từ chức lần biếm chức).

    Like

  6. Nếu xem xét bài viết của Gs Nhung theo đánh giá khoa học thi nó hoàn toàn “non-novelty” vì có hàng tá bài trước đó phân tích kỹ hơn, chi tiết hơn –> rejected! Còn xét theo thực tiễn thì bài viết chả có giải pháp gì để giải quyết ngoài việc kêu khó. Xét theo quan điểm tiền thuế dân thì phí, vì bao nhiêu tiền cho các bác đi tham quan học tập mà về chỉ để nói lại như con vẹt những điều nhiều người khác nói tốt hơn

    Like

  7. Copy phần bình luận trên FB của Anh Xu Beo:

    Kinh Thư: Những đề nghị trên chỉ là phần ngọn. Trong đất nước mà đảng lãnh đạo toàn diện hay nói khác đi là hệ thống chính trị dắt tay chỉ việc, thì chuyện đổi mới giáo dục hay bất kỳ lãnh vực nào cũng chỉ là những lý thyết nói cho sang mà thôi.

    Anh Xu Beo: Sớm muộn nó cũng phải đổi thôi, nó không đổi thì nó chết trước.

    Mei Shi: Những đề xuất đổi mới giáo dục làm từ bây giờ em cho là phù hợp, dù có thể trong thời gian vài năm tới người ta chưa thực hiện được nhưng là bước chuẩn bị cần thiết cho một cuộc cải cách

    Kinh Thư: chuyện trung thực ở các nghành, bộ phận và chuyện lắng nghe phản biện thời nay ở VN nghe. Xin lỗi Anh Xu Beo trước, nghe hơi sang. Anh cứ thử xem lại cái vụ sửa đổi hiến pháp up to now có ai nghe ai chăng, có đổi được cái gì chăng?

    Hưng Linh: Vấn đề là lúc nó đang hấp hối. Chúng ta đã và sẽ mất đi hàng chục thế hệ người Việt đáng nhẽ được dạy cách tư duy đúng. Ảnh hưởng lâu dài, nặng nề…

    Hiền Nguyễn Hải: Nnếu tranh thủ được MOOC thì nền giáo dục nước nhà … đi trước Lào và Cam thêm vài năm.

    Anh Xu Beo: Các bác cứ mong ngủ dậy là mọi việc sẽ khác à. Hiến pháp hay Giáo dục cũng phải từ từ. Mà nếu các bác thấy “không ai nghe, có đổi được gì đâu” để rồi nhân dân cả nước cùng thờ ơ, thì chắc chắn là tất cả xuống hố. Đàm Thanh Sơn bảo “Nếu nhân dân thờ ơ thì đảng nào cũng thế thôi” là có lý đấy.

    Anh Xu Beo: Học Thế Nào sẽ có bài về MOOC. Hiền Nguyễn Hải viết được về MOOC thì gửi cho Học Thế Nào nhé: nbt@hocthenao.vn.

    Kinh Thư: Không phải là không công nhận những ý tốt, cũng như cũng không thể đòi chuyện ngủ dậy là thấy đổi thay. Nhưng thực tế là: Chuyện trưóc phải đi trước, chuyện ưu tiên phải làm trước. có cái này mới có cái kia. muôn có trứng ăn phải nuôi gà. Nếu không thế, chỉ là công dã tràng. Tuy nói thế, nhưng cá nhân tôi luôn ghi nhận những lòng thành và vẫn hy vọng, đóng góp dù răng thất vọng sẽ là điêu chắc chắn. Cám ơn Anh Xu Beo.

    Anh Xu Beo: Vâng, nước mình có gần trăm triệu dân, công vài triệu kiều bào. Ai đi mảng nào thì tốt mảng ấy bác ơi. Sao cứ phải có cái đi trước, cái ưu tiên, nuôi gà ấp trứng làm gì. Ai thích ưu tiên lật đổ chế độ thì cứ đi, ai ưu tiên cải cách giáo dục thì cứ cải cách. Rủ nhau đi hết vào cả một chỗ làm gì cho nó tắc đường ra.

    Bia Bơ: Em thích ưu tiên cải cách giáo dục. Thất bại hay thất vọng cũng chả sao.

    Kinh Thư: Xin phép anh cho tôi không đồng ý chổ này: Cũng tùy theo việc. sức lực đôi khi cần quy tụ ở một điểm mới phát huy được hiệu quả, sự tản mạn lang mang đôi lúc chỉ là lãng phí vô ích. Tôi chả hô hào lật đổ gì gì cả. Tôi chỉ nói đổi mới ỏ mặt nào là quan trọng cần tập trung sự trung thực và phản biên mà thôi.

    Anh Xu Beo: Một trăm triệu người là nhiều lắm, bác không cần lo tản mạn lãng phí đâu. Với lại chả có ai hô được cả trăm triệu người đi theo một hướng để phát huy hiệu quả đâu. Hô cho cả trăm triệu người theo thì mồm phải to lắm mới hô được.

    Ngô Đức Thế Ryan: Nếu xem xét bài viết của Gs Nhung theo đánh giá khoa học thi nó hoàn toàn “non-novelty” vì có hàng tá bài trước đó phân tích kỹ hơn, chi tiết hơn –> rejected! Còn xét theo thực tiễn thì bài viết chả có giải pháp gì để giải quyết ngoài việc kêu khó. Xét theo quan điểm tiền thuế dân thì phí, vì bao nhiêu tiền cho các bác đi tham quan học tập mà về chỉ để nói lại như con vẹt những điều nhiều người khác nói tốt hơn.

    Kinh Thư: Xin góp ở đây như thế này: Học thế nào? Theo cách dạy trẻ ở phương Tây, điều mà một cô giáo ngay từ lúc trẻ buớc vào mẫu giáo người ta đã dạy cho trẻ 2 yếu tố rât căn bản mà anh nêu ở trên: sự trung thực và tính phản biện. Không phải chỉ ở phương Tây người ta mới biết giá trị này mà hầu như ai cũng biết. Tuy nhiên nền giáo dục và xã hội VN thiếu vắng điều này. Vậy câu hỏi đạt ra là: Làm thế nào để dạy lòng trung thực và tính phản biên? Phưong pháp nào? Làm cách nào để đem điều này vào trong các trường học và phổ biến ra xã hội? Trả lời cho câu hỏi trên là bên Tây người ta đã có rất nhiều phương pháp mà các quan ta đi tham quan học hỏi thừa mứa ra rồi nhưng chỉ có điều lãnh đạo không cho phép dùng đấy thôi. Và trở lại như còm của tôi ban đầu. Rất tiếc!

    Like

    • Mình xin lỗi chen ngang vào cuộc họp thượng đỉnh của các bạn để muốn nói đôi lời. Mình nghĩ như thế này, có thể các bạn có nhiều suy nghĩ cao siêu và cũng rất tâm huyết, nhưng để có thể đưa ra những ý kiến thuyết phục đối với các bạn đọc trẻ đang còn ngồi trên ghế nhà trường, thì có lẽ vừa nói vừa dẫn chứng sẽ giúp các bạn trẻ nhanh hiểu và nhớ lâu vấn đề hơn. Nói càng đơn giản, càng dễ hiểu, càng có hiệu quả ạ! Thí dụ, mình thấy từ “phản biện” được dùng nhiều mà không rõ người đọc có hiểu hết ý nghĩa của khái niệm đó không. Một góp ý nhỏ, mong các bạn tham khảo ạ.

      Like

      • Xin lỗi Thanh Hải trước vì cứ túm lấy bạn để…phản biện. Theo tôi nền GD miền Bắc trước thống nhất và Việt nam hiện nay đã được chứng minh đã hơn nửa thế kỷ. Có những thứ đã rõ tới mức mà không phản biện được nữa. Một nền GD đã ngầm phủ nhận tất cả các nền GD khác và có lúc dạy ” tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Tôi xin phép được phản biện với bạn ý này ý khác. Đối với nền GD Việt nam không thấy không cần thiết nữa.

        Like

      • Nếu như lần này em hiểu trúng ý Bác thì có nghĩa là Bác thấy việc phản biện Liên quan đến nền giáo dục ở VN ta là …không Cần thiết, vì VN đã rơi vào tình trạng vô phương cứu chữa rồi, phải không ạ. Vâng, đúng là có lúc em cũng nghĩ như vậy, vì nhìn đâu cũng thấy bệnh, mà chưa chữa được bệnh này lại phát hiện ra bệnh khác, chán nản ghê. Rồi ai cũng hội ý bàn tròn, nói hùng hồn như sắp làm cách mạng đến nơi, nhưng mà không biết bắt đầu từ đâu, hic.
        Bây giờ em nghĩ, theo phưong châm “mưa dầm thấm lâu”, những thiếu sót chưa cuối cùng sẽ được nhận ra. Miễn là mình nói làm sao các bạn trẻ ở VN nghe và đọc thấy thấu tình hợp lý, để còn tham khảo. Họ mới là những người hành động để tự quyết định về vận mệnh của mình.

        Like

      • Hỏi bạn một câu thật ngắn. Bạn có thấy người hiểu biết thì hay tranh luận không? và khi người ta cần người biết nghe lời thì người ta có cần ai phản biện? Khi nghe mệnh lệnh của chỉ huy, chỉ cần một câu “RÕ” thôi.

        Like

  8. Đồng ý với bác Kinh Thư. Nói chung để cải cách 1 lĩnh vực như giáo dục mà không có sự thay đổi từ phía chính trị thì rất khó. Có làm thế nào thì cũng là loay hoay như người ta đã từng loay hoay cải cách giáo dục cả thập niên trở lại đây. Rút cuộc cũng chỉ là học lóm của quốc tế chỗ này rồi áp dụng thí nghiệm thế này trong năm nay, ko thành công lại loay hoay áp dụng cái khác trong năm kế tiếp. Cứ như thế chỉ làm khổ bao thế hệ học sinh, mầm non của đất nước chứ chả thay đổi gì được mấy. Comment của bạn Rất là Buồn ở trên cũng hoàn toàn xác đáng, nhưng cái vế cuối cùng cũng chỉ là thứ biện pháp nhiều người nói tới nói lui từ nhiều năm nay. Kết quả vẫn như cũ và vẫn y nguyên.

    Like

    • Đồng ý với siriusstar. Thật ra, cái vế cuối cùng ý của tôi là trước hết những người có trách nhiệm với nền GD nước nhà phải có những động thái như thế rồi sau đó mới bắt tay vào tiến hành “đổi mới nền Gd” được. Chứ còn như hiện nay cứ hô hào đổi mới mà chẳng bao giờ chịu lắng nghe tiếng nói phản biện của người dân và tự mình đóng cửa làm thì cuối cùng sẽ thất bại thôi. Tôi cũng rất hiểu và chia sẻ một điều với các bạn là sở dĩ sự đổi mới Gd nước nhà của chúng ta không bao giờ thành công được nếu như cái tư duy về “ý thức hệ” ở nước ta không có dấu hiệu cho thấy nó thay đổi theo hướng tốt hơn lên. Nói nôm na (như lời của nhà văn Nguyên Ngọc hay GS Hoàng Tụy – rất xin lỗi tôi không nhớ rõ lắm) thì “giáo dục là cái vòng tròn nhỏ trong cái vòng tròn lớn” vậy. Nếu cái “vòng tròn lớn” mà cứ “vũ như cẩn” hay thậm chí tệ hơn “vũ như cẩn” thì đừng mong gì “cái vòng tròn nhỏ” sáng sủa lên được. Phải chăng vì vậy mà những người có trách nhiệm với nền Gd nước nhà không bao giờ chịu lắng nghe đề xuất về “triết lý giáo dục khai phóng” của nhiều học giả, nhà giáo tâm huyết từng đề xuất. Ngược lại họ chỉ muốn Gd theo kiểu nhồi nhét, mưa dầm thấm lâu nhằm đào tạo ra những thế hệ người – máy biết quy phục, gọi dạ bảo vâng mà thôi; họ rất sợ những cái gọi là phản biện đến cùng trên tinh thần khoa học. Cũng chính vì vậy mà họ ngồi đó than KHÓ và tôi cho rằng đây là những việc làm vô lương tâm đối với dân tộc với đất nước. Nói như GS Hồ NGọc Đại đó là “tội ác”.

      Like

    • Thật ra thì cho dù bên trong Bộ GD các cán bộ muốn thay đổi cũng chả dễ. Bộ GD chẳng qua cũng chỉ là 1 mô hình thu nhỏ của hệ thống chính quyền. Muốn cải cách GD triệt để thì như bạn nói phải có sự thay đổi từ trên xuống dưới thì mới thay đổi được. Một trong những khía cạnh quan trọng là tính tự lập tự chủ trong giáo dục (đối với người quản lý giáo dục cấp cơ sở). Khi mà việc nhỏ như cái đề thi, việc lớn như thu nhận đội ngũ giáo viên mà còn phải báo cáo Trung ương thì chiêu bài “xã hội hóa” giáo dục của trung ương làm gì thực hiện nổi. Có chăng là giảm tải chi phí của TW cho cơ sở thôi. 😀 Nói chung là khó lắm. Dăm bảy năm nữa cũng tiếp tục loay hoay thôi. Nhiều khi còn tệ hơn vì người có tâm huyết dần dần nhận ra vấn đề chính yếu ở đây là điều gì. 😀

      Like

      • Chính xác đó Siriusstar. Vấn đề KHÓ hay DỄ mình muốn nói là ở chỗ đó chứ không phải ở chỗ như Gs Trần Văn Nhung trình bày qua bài viết này! Những lãnh đạo nào muốn “đổi mới toàn diện nền GD” hãy dũng cảm nhìn thẳng vào vấn đề này. Nếu không thì mấy ngàn tỉ của dân sẽ lại đổ sông đổ biển (hoặc sẽ chảy vào túi riêng của những kẻ cơ hội, biến chất) thôi. hu hu hu!

        Like

      • Rất Là Buồn hãy nín đi, đừng khóc nữa. Có người nói Học-Học nữa-Học mãi nay lại có thanh niên học đến lớp 12 lại thốt ra rằng “càng học càng ngu đi thì học làm gì?”. Còn một chút tỉnh táo do ít học nên Đại Lãn phát hiện ra một điều. Có lẽ người ta cần nhiều người học chăng?

        Like

  9. Chúng ta đang bàn về vấn đề cải cách giáo dục, và bài viết trên là một sản phẩm đặc trưng của nền giáo dục cần phải được thay đổi và cải cách. Vì sao?

    Vì tính hình thức, rườm rà, thiếu thực tế và nặng về lý thuyết dường như đã ngấm vào máu của cả một thế hệ. Cả một bài dài dằng dặc với rất nhiều những thông tin và số liệu được tập hợp phục vụ cho duy nhất một mục đích: Chứng minh tính cần thiết của việc quốc tế hóa giáo dục, trong khi lẽ ra phần này chỉ nên cô đọng ở vài dòng, còn phần chính thì tập trung vào việc đề xuất, kiến nghị việc cải cách học cái gì và học như thế nào.

    Chủ trương “học để có kiến thức, học để làm việc, học để chung sống với nhau và học để làm người” là hoàn toàn đúng đắn, nhưng cái mà cải cách giáo dục cần là những đề xuất, kiến nghị làm thế nào để đạt được những mục tiêu: có kiến thức, có kỹ năng để làm việc và có đủ phẩm cách để làm người ấy thì bài viết lại không đề cập đến.

    Giáo dục tạo nền tảng cho văn hóa, văn hóa tạo nền tảng cho phát triển kinh tế xã hội. Chừng nào sản phẩm giáo dục còn chưa thay đổi thì chừng ấy, kinh tế và xã hội còn yếu kém, trì trệ và loạn lạc.

    Với mục tiêu học để có kiến thức, có kỹ năng thì em nghĩ có thể học tập kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển về nội dung và phương pháp dạy và học.

    Còn học để có đủ phẩm cách làm người thì việc khôi phục lại tinh thần cơ bản “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của cổ học phương đông là cần thiết. Trên cơ sở chắt lọc một cách linh hoạt những giá trị Đông-Tây phù hợp. Việc này nên để cho các nhà nghiên cứu có uy tín, được giới trí thức đánh giá cao về nhân cách làm.

    Và các sản phẩm giáo dục như âm nhạc, mỹ thuật, đức tin tôn giáo nên đưa vào thành những môn học bắt buộc.

    Like

  10. “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.(HCM). Từ câu này có thể hiểu rằng, người ta có thể tự lo việc cơm ăn áo mặc, việc học hành mà không phải phụ thuộc vào người khác. Trong cuộc sinh tồn nguyên thuỷ cũng không bao giờ được phép lười khi đã qua thời kỳ bú mớm.

    Like

  11. Tàu chưa thể chìm nếu như các cuộc hội thảo chưa chấm rứt, các bác đừng lo lắng nhiều cho tổn thọ. “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.(HCM). Đến như tấm gương đạo đức sáng ngời như Bác Hồ còn phải “ham muốn tột bậc” mà vẫn chưa thành, huống hồ bây giờ có rất nhiều (nếu không muốn nói là phần đa) tấm gương mờ (suy thoái do hội nhập) đang cầm cân nảy mực, đang mượn danh nô bộc của dân mà “buông lỏng quản lí gây thất thoát tiền của của nhân dân” thì … hỡi ôi! Sao Bác đi xớm thế!

    Like

    • Bác Daingu ơi, chắc Bác phải thay bàn phím khác thôi, chứ mấy chữ “d” với “r”, “s” với “x” tráo đổi nhau loạn cả lên. Các em học sinh, sinh viên vào đọc lại tưởng bác chuẩn bị làm cuộc cách mạng cải cách chính tả đấy bác ạ.

      Like

  12. Tôi không rõ là tham luận này được trình bày ở đâu và trong hoàn cảnh nào, nhưng tôi xin phép có 2 comments nhỏ:

    (1) Nếu nói rằng những điều cụ Hồ nói ra là “góp phần xây dựng nên bốn trụ cột giáo dục của toàn thế giới do UNESCO khuyến nghị” thì e là hơi khiên cưỡng. Ngoài ý “học để làm việc”, các ý khác trong câu nói của cụ Hồ hầu như không phản ánh những khuyến nghị của UNESCO. Nếu cho rằng ý “học để làm người” là phản ánh ý “Learning to be” thì cũng không ổn. Ý này của UNESCO có thể hiểu là “học để khẳng định mình/hoàn thiện mình”, còn “học để làm người” thì chung chung, mơ hồ quá. Đoạn giải thích của UNESCO ở đây cho thấy rõ ý này: http://www.unesco.org/delors/ltobe.htm. Ngay cả nếu cho rằng ý “học để làm người” là nhằm diễn tả ý trên của UNESCO, thì câu của cụ Hồ vẫn thiếu mất 2 điều căn bản khác là “học để biết” và “học để chung sống”. Giả sử nếu muốn diễn dịch ý “Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” thành ý “học để chung sống” thì cũng khiên cưỡng. Ý nghĩa của câu “học để chung sống” rộng hơn nhiều. Tôi nghĩ là ý của cụ Hồ mang dáng dấp của “lý luận Mác xít” hơn là cái ý nghĩa hiện đại sau này mà UNESCO nói đến, có thể thấy ở câu “học để làm cán bộ” hay những từ như “đoàn thể, giai cấp”.

    (2) Tôi nghĩ là việc gợi lại những ý này của cụ Hồ không có ý nghĩa nhiều lắm trong giai đoạn hiện nay. Cụ Hồ viết câu này từ hồi giữa thế kỷ, ngoài ra cụ còn chịu ảnh hưởng phần nào các tư tưởng XHCN thời đó, cho nên có nhiều điểm không còn phù hợp với ngày nay.

    Like

  13. Học để làm gì? Nhiều người đi học và cho trẻ đi học chỉ để nhằm đến mục đích tồn tại được trong xã hội đang định hướng tiến lên CNXH. Học để không bị đẩy vào phần thải loại của chính cái xã hội này. Người ta học (kết hợp với chạy chọt) để khi trưởng thành có một chỗ dung thân và tiếp tục góp phần đục khoét tổ ấm của mình (quê hương đất nước). Dạy là cách người ta làm tha hoá những tâm hồn trắng trong. Người ta quyết không cho những thành phần khác được dạy, nếu không chịu định hướng theo đúng mục đích là… tha hoá những tâm hồn. Không hiểu như vậy? Không có cách nào giải thích vì sao nội dung SGK bị bóp méo khác xa sự thật, vì sao việc dạy bị quản lý chi phối chặt chẽ như vậy? Dạy để cho những cái đầu hon nớt không còn kịp tư duy, nhận thức mục đích thực sự đang học gì? học để làm gì? Những “cái máy nói” khi được phát biểu đã chứng chứng minh rất rõ cho điều này. Những người thông minh sáng suốt thời nào cũng có, nhưng chưa có thời nào nhiều người tìm cách ở lại ngoài biên giới Việt nam nhiều như thời nay. Kẻ thù của Việt nam sẽ bằng mọi cách động viên xúi bẩy và duy trì nếu chúng ta tiếp tục tiến bước tới chỗ diệt vong.

    Like

  14. Giải pháp nào cho giáo dục Việt Nam?
    Là một người công tác trong ngành giáo dục Việt Nam nhiều năm, trước những bất cập của giáo dục phổ thông trong hiện tại và quá khứ, tôi cúng muốn nêu một vài ý kiến của mình như một góc nhìn cụ thể
    Đối tượng của giáo dục là những con người cụ thể, là một thực thể linh động, nhanh chóng hội nhập vào cuộc sống xã hội thay đổi nhanh hiện nay. Trước tác động của kinh tế thị trường, của sự phát triển của khoa học cong nghệ và của công nghệ thông tin, sinh lý, tâm lý của học sinh phổ thông cũng phát triển đa chiều. Vì vậy, thái độ học tập và ý thức rèn luyện của học sinh cũng phân hóa rõ ràng. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần nhận thấy một thực tế rõ ràng rằng, khả năng nhận thức, khả năng kiên trì, khả năng sáng tạo của học sinh cũng rất khác nhau, khả năng học tập của mỗi cá nhân học sinh cũng rất khác nhau ở các môn học.
    Để tạo được điều kiện cho các học sinh có thể phat huy hết khả năng học tập của bản thân và giữ được bản săc dân tộc có ý thức công dân, giáo dục Việt Nam cần phải có những thay đổi cơ bản. Theo cá nhân tôi xin có một vài ý kiến về môn học và sách giáo khoa cho học sinh phổ thông như sau:
    Về môn học: Chúng ta nên đặt ra những môn học bắt buộc và mon học phát triển năng lực
    Môn học bắt buộc gồm: Toán; Ngữ văn; Lịch sử và Giáo dục công dân. Những môn học bắt buộc cần phải được cá mặt trong các kỳ thi cơ bản và bắt buộc của từng cấp học; thi chuyển cấp
    Các môn còn lại: Ngoại ngữ; Lý; Hóa; Sinh; Tin; Công nghệ; Địa; Thể dục là môn phát triển năng lực. Ở bậc tiểu học và trung học cơ sở tạo những hiểu biết cơ bản về bộ môn; đến cấp trung học phổ thông cần có sự phân hóa tùy theo năng lực sở trường của học sinh, các học sinh khác đạt được yêu cầu cơ bản. Các trường chuyên nghiệp lựa chọn môn học phát triển năng lực phù hợp với ngành nghề đào tạo
    Về chương trình: Tôi đồng ý với một chương trình chung cho toàn quốc
    Về sách giáo khoa: Sách giáo khoa của một môn học cần được phân ra ở 3 mức độ: cho phù hợp với năng lực học sinh gồm: có khả năng nhận thức; nhận thức tốt; nhận thức rất tốt và được tích hợp trong một cuốn sách (Phần cơ bản; phần vận dụng và phần sáng tạo) để học sinh có thể học tập và nhận thấy năng lực của thân. Và tùy theo mức độ nhận thức của học sinh mà có thể lựa chọn để giảng dạy.
    Để thực hiện được những đổi mới này, đội ngũ giáo viên là nhân tố quan trọng, quyết định chất lượng của giáo dục Việt Nam

    Like

  15. Thưa GS TVN và các nhà hiền triết, các nhà bình luận, các bạn,
    Tôi tâm đắc với bài viết của GS TVN và nhận xét, bình luận của các bác.
    Tôi rất vui khi đọc những comments, có điểm chung là các bác đang không đồng tình với cách làm gd của nước nhà, đang “loay hoay” tìm đường đi.
    Với mỗi góc độ nhìn khác nhau, ở góc độ nào cũng thấy dở mà các bác đã nêu ra. Tôi xin kg nhắc lại những điều đó, xin mạo muội đưa ra quan điểm của riêng mình:
    Tôi tôn trọng và cám ơn bài viết của GS TVN, về quan điểm và cách lập luận của ông. Ông đã chỉ ra những vấn đề mà mọi người đang quan tâm về phát triển gd trong thế giới hội nhập, đã mạnh dạn chỉ ra những vấn đề ngành gd chưa làm được – vấn đề mà những lãnh đạo khác hoặc không nhìn thấy hoặc không dám nói ra. Cho dù đó là những lời bộc bạch muộn mằn sau khi mãn nhiệm, tuy nhiên vẫn là tốt “Better late than never” muộn còn hơn không.
    Người ta nói “Nếu luôn đặt mình vào vị trí của người khác mà suy ngẫm thì sẽ nhìn vấn đề khách quan hơn”, và tôi xin chia sẻ với tất cả ý kiến của các bác. Vấn đề ở chỗ làm gd thế nào? theo tôi đó là trách nhiệm của tất cả mọi người, của toàn xã hội, sao cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện tại mỗi thời điểm.

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: