How We Learn

Không chỉ dạy kiến thức mà là dạy năng lực – Đinh Quang Báo, Hồ Ngọc

Theo GS TS Đinh Quang Báo, Ủy viên Hội đồng quốc gia giáo dục, tư tưởng định hướng cốt lõi xây dựng chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 là phát triển năng lực người học thay vì chủ yếu tiếp cận nội dung như cách làm từ trước đến nay. Phương án tích hợp và phân hóa sâu sắc ở những năm cuối chương trình là những công cụ được đề xuất để xây dựng dự thảo đề án chương trình. 

Trả lời phỏng vấn TTCT, GS Đinh Quang Báo nói:

Cơ cấu hệ thống giáo dục phổ thông sau năm 2015 dự kiến là 12 năm với thời gian các cấp học vẫn như hiện nay. Đề xuất này căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó chúng tôi đặc biệt quan tâm tới yếu tố tâm lý lứa tuổi. Nếu mục tiêu giáo dục chỉ là cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức phổ thông để các em chuẩn bị hành trang vào đời thì có lẽ không cần nhiều thời gian đến thế trong thời đại này. Dạy một đơn vị kiến thức cho học sinh bây giờ cần ít thời gian hơn trước đây. Vì sao? Trước đây nguồn kiến thức phổ thông chủ yếu trong sách giáo khoa, tài liệu tham khảo rất hạn chế. Ngày nay nguồn kiến thức phổ thông nhiều vô kể, sách rất nhiều, tài nguyên mạng thì dồi dào. Cường độ cũng như thời gian lao động của giáo viên trong việc truyền thụ kiến thức cho học sinh giảm đi rất nhiều, thậm chí có những đơn vị kiến thức thầy cô chưa kịp dạy học sinh đã biết từ những nguồn khác.

Nhưng mục tiêu giáo dục của chúng ta là rèn luyện nhân cách cho học sinh mà tri thức chỉ là một trong ba yếu tố cấu thành nên, hai yếu tố còn lại là phẩm chất người (thái độ, tư cách) và kỹ năng xử lý, giải quyết vấn đề (còn gọi là năng lực chung). Chính hai yếu tố sau này đòi hỏi thời gian để học trò được trải nghiệm, nó khiến chúng ta không thể đốt cháy giai đoạn. Nhà trường không chỉ là nơi chuẩn bị cho nhân cách tương lai mà còn là một môi trường đời sống để học trò trải nghiệm. Học trò phải được tắm mình trong đời sống nhà trường trong một khoảng thời gian đủ dài mới bước vào đời với một hành trang đã được chuẩn bị đầy đủ. Tham khảo mô hình các nước cho thấy họ chủ yếu làm từ 12 năm trở lên. Có nước 13 năm, có nước 14 năm. Mình chắc không giỏi đến mức chạy nhanh hơn những nước  khác.

Theo giới thiệu phác thảo chương trình của nhóm soạn thảo đề án chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 thì phân hóa là một trong những công cụ đảm bảo giáo dục có chất lượng. Thật ra dạy học phân hoá không phải là vấn đề mới khi mà chúng ta từng thử nghiệm phân ban nhiều lần nhưng đều thất bại. Thưa GS, làm sao để dạy học phân hóa trong chương trình mới không lặp lại sự thất bại của phân ban?

Sự thất bại phải được đánh giá ở nhiều khía cạnh. Thất bại có thể do anh chọn triết lý sai, hoặc do thất bại về ý tưởng, mà cũng có thể do việc tổ chức thực hiện không đảm bảo được ý tưởng mà người ta đề xuất… Phân ban của chúng ta thất bại có nguyên nhân ở việc không đủ điều kiện tổ chức triển khai. Ví dụ ban kĩ thuật là một ý tưởng tiến bộ nhưng ta làm  không nổi. Hơn nữa phân ban là một mô hình của phân hóa nhưng ở mức độ rộng quá, lớn quá nên cứng, thiếu linh hoạt. Hầu hết các nước đều dạy học phân hóa, phân hóa mà ta nói ở đây là ở cấp độ vĩ mô, tức phân luồng, còn phân hóa vi mô – theo từng cá thể người học thì sẽ nói tới ở một chủ đề khác. Nhưng phân hóa từ đâu, phân hóa đến mức nào là một vấn đề chúng tôi đang thảo luận. Lần này chúng ta sẽ tiến hành phân hóa sâu, nghĩa là nhiều tổ hợp để lựa chọn hơn, các nhánh rẽ được linh hoạt hơn, và mô hình thích hợp là dạy học tự chọn.

GS có thể nói rõ hơn mô hình này?

Sẽ có trọng số cho một số môn học cốt lõi. Đây là những môn học vừa có giá trị cung cấp tri thức nền cho mỗi cá nhân, vừa có vai trò công cụ cho mọi hoạt động của con người. Hiện tại chúng tôi xác định đó là các môn Toán, Ngôn ngữ (bao gồm tiếng mẹ  đẻ và ngoại ngữ 1), Giáo dục công dân. Các môn còn lại là môn phân hóa. Học sinh tùy thuộc vào năng lực và nhu cầu của mình, cân đối với nhu cầu xã hội để lựa chọn tổ hợp các môn học phù hợp. Khi mà ngành nghề ngày càng phân hóa thì thiết kế môn học ngày càng nhiều lên, ngân hàng tự chọn ngày càng phình ra, giúp phân hóa được nhiều nhánh hơn, học sinh lựa chọn dễ hơn. Như vậy dẫu chương trình phổ thông được thiết kế rất nhiều môn nhưng mỗi học sinh chỉ phải học một số môn trong nhiều môn đó. Theo như đề xuất của nhóm nghiên cứu chương trình phổ thông sau năm 2015 của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam là mỗi học sinh cấp THPT phải học khoảng 7 môn, trong đó có 4 môn bắt buộc mà học sinh nào cũng phải học.

Nghĩa là sau khi tự chọn, học sinh sẽ được chính thức “bỏ rơi”những môn mà mình không thích học nữa?   

Nói như vậy là không đúng với bản chất vấn đề mà chúng tôi đang bàn thảo. Chúng tôi sẽ cấu trúc chương trình như một chỉnh thể với logic hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản 9 năm (tiểu học và THCS) và giai đoạn sau giáo dục cơ bản.  Đến THCS nói chung không có phân hóa mà chỉ có giáo dục toàn diện. Tất cả các môn được học như nhau, không có môn nặng môn nhẹ. Để giảm tải chúng tôi sẽ thiết kế chương trình tích hợp, vì thế số môn sẽ ít  hơn so với chương trình hiện hành. Nội dung chương trình sẽ đủ để hết lớp 9 học sinh đã có được một nền chung về tri thức phổ thông.

Phân hóa chỉ từ cấp THPT. Ngay cả ở cấp này vẫn còn một số môn cốt lõi như tôi đã nói ở trên. Những môn cốt lõi này vừa tiếp tục trang bị kiến thức nền cho học sinh, vừa là công cụ để các em học những môn khác. Đã đến giai đoạn được tự chọn thì dĩ nhiên học trò không học các môn khác ngoài những môn mình chọn. Các em có quyền không phải học những môn mình không chọn. Một khi các em không chọn nghĩa là các em không còn cần những môn đó, kiến thức những môn đó ở cấp dưới ta đã trang bị đủ một cách cơ bản toàn diện rồi.

Đến nay chúng tôi xác định sẽ phân hóa một cách sâu sắc ở lớp 11 và lớp 12. Còn lớp 10 dạy như thế nào hiện nay còn là một dấu hỏi, các chuyên gia vẫn tiếp tục bàn cãi.

Phân ban thất bại có một phần nguyên nhân từ xu hướng mà các nhà chuyên môn tìm mọi cách nhưng không thể nào cưỡng lại: học để thi ĐH. Bây giờ phân hóa sâu thế này liệu sẽ nảy sinh tình trạng người ta đổ dồn vào một vài nhánh và có những nhánh không ai học, mối tương quan giống như khối A và khối C?

Cái này tôi không nói trước được. Để xem xu hướng đó có bình thường hay không cần có những nghiên cứu chuyên đề nhằm tính toán nhu cầu nhân lực về khoa học xã hội với một quốc gia tỉ lệ bao nhiêu so với nhu cầu chung?  Tỉ lệ đó có tương ứng với tỉ lệ thí sinh khối A và khối C trong kỳ thi ĐH? Nếu tương ứng thì nó là bình thường trong mối quan hệ cung và cầu. Còn nếu quả thật những lĩnh vực khoa học xã hội cần người học nhưng học trò lại chọn toán lý thì ta phải có chính sách vĩ mô. Như sư phạm chẳng hạn, khi nó không có người học thì buộc nhà nước phải có chính sách vĩ mô. Con người bao giờ cũng tìm cái lợi nhất cho mình, từng người một không đi phân chia cho xã hội.

Ở trên GS có nhắc đến phương án tích hợp. Đây cũng là một định hướng quan trọng trong xây dựng chương trình phổ thông sau năm 2015?  

Mấy năm nay chúng ta vẫn nói đến việc dạy học tích hợp và sử dụng nó như một phương pháp để giải quyết khối lượng lớn kiến thức cần phải bổ sung cho học sinh trong nhà trường. Nhưng ở chương trình này, tích hợp không đơn giản là một phương pháp dạy học mà là thiết kế nội dung để hình thành ở học sinh tri thức tích hợp, năng lực tích hợp khi nhận thức, khi giải quyết một vấn đề khoa học hay vấn đề thực tiễn, đời sống. Đặt vấn đề xây dựng chương trình theo hướng tích hợp, điều nan giải mà chúng tôi gặp phải không chỉ là biên soạn chương trình, viết SGK, đào tạo – bồi dưỡng giáo viên mà là chưa quán triệt để các nhà khoa học cơ bản hiểu và ủng hộ. Chẳng hạn làm thế nào để các nhà khoa học hiểu rằng, khi chúng tôi tích hợp môn lịch sử với một số môn liên quan khác là để làm rộng hơn cái sử, sâu hơn cái sử chứ không mất cái sử đi?

Để dễ hình dung về mục tiêu giáo dục, tôi ví dụ thế này: Chúng tôi dạy sử, dạy địa cho học sinh không phải để dạy các em thành một nhà địa lý học hay một nhà sử học mà là dạy các em năng lực sử dụng kiến thức địa lý, kiến thức lịch sử trong cuộc sống. Đây là hai hướng tiếp cận khác nhau. Nếu tôi dạy cho anh thành nhà chuyên môn thì tôi phải cho anh tiếp cận kiến thức theo chuyên ngành hẹp. Hướng tiếp cận này không chỉ không giúp ích cho đại đa số người học mà còn làm cho môn học trở nên khô cứng, khó học, kém hấp dẫn. Nội dung chương trình môn sử hiện nay là một ví dụ tiêu biểu cho cách tiếp cận này. Học sinh học mà không biết dùng kiến thức đó để làm gì, không thấy giá trị gì cả. Nếu cho các em tiếp cận khai thác giá trị của nó trong đời sống thì các em sẽ thích học, sẽ khao khát khám phá, tìm hiểu.

Cảm ơn giáo sư!

————————————————————————————————

Theo đề xuất của nhóm nghiên cứu Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, thiết kế chương trình phổ thông sau năm 2015 sẽ theo hướng vừa tích hợp, vừa phân hóa. Chương trình sẽ tăng cường tích hợp trong nội bộ các môn học cốt lõi (Toán, Ngôn ngữ, Giáo dục công dân) và lồng ghép các vấn đề như môi trường, biến đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số, sức khỏe sinh sản… vào các môn học và hoạt động giáo dục, kể cả cấp tiểu học (cấp học mà chương trình hiện hành vốn đã thực hiện tích hợp). Ngoài ra cấp tiểu học và THCS sẽ có một số môn mới. Cấp tiểu học có hai môn Khoa học và Công nghệ lớp 4, 5 (trên cơ sở hai môn Khoa học và môn Kĩ thuật trong chương trình hiện hành); Tìm hiểu Xã hội lớp 4, 5 (trên cơ sở môn Lịch sử & Địa lý lớp 4, 5). Cấp THCS cũng có hai môn mới: Khoa học tự nhiên (trên cơ sở các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học trong chương trình hiện hành); Khoa học Xã hội (trên cơ sở các môn Lịch sử, Địa lý trong chương trình hiện hành cùng một số vấn đề xã hội).

Hồ Ngọc thực hiện bài phỏng vấn này.

Advertisements

Tagged as: ,

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Hướng cải cách

7 phản hồi »

  1. Năm 1986 theo công bố cải cách GD cũng nằm mục đích là làm cho tốt hơn cái đang có. Rút kinh nghiệm những gì trải nghiệm, dù học ở đâu, trường công hay trường tư vẫn cần học thêm kỹ năng sống, tiếng Anh chuẩn, tin học để học thêm những kiến thức nếu thứ đó không có trong trương trình (hoặc có ở dạng hình thức mà có cũng như không).

    Like

  2. Để em cố thử vài năm sau làm 1 bộ phim về giáo dục thử xem sao, như phim 3 idiot đấy. Để coi thử dư luận sẽ ra sao!

    Like

  3. Xem bộ phim 3 idiot thấy nền GD của Ấn Độ tuy lạc hậu nhưng không lạc lối. Thấy nền GD của họ vừa tiếc vừa thèm, mong bao giờ cho đến ngày xưa (sinh viên đã được nhà tuyển dụng phỏng vấn từ trường đại học, nhân tài không bị thui chột, tha hoá). Một xã hội lựa trọn người ,tuyển dụng người chỉ dựa vào tiêu chuẩn phong bì và người dân ào ào chấp nhận mới đáng thất vọng. Bạn Huỳnh trung Thuận định làm một bộ phim? Phim hay sẽ nhiều nguy cơ sẽ bị cấm, nếu không bị cấm phim cũng chỉ như những phim truyền hình Việt nam.

    Like

    • bác cứ yên tâm khoản ấy, em là chuyên gia xoắn đểu mà, bên ngoài trông có vẻ là ăn theo thế thôi. Chứ bên trong coi hết phim là thấm tới óc. Vì em theo bên đạo diễn phim mà. Mọi người cứ thong thả đi. Tới lúc nó cần bật ra như 1 ý kiến rồi. Cao lắm cũng kế tục bụi đời chợ lớn thôi!

      Like

  4. Đào tạo năng lực cho học trò, dạy kỹ năng trên một vốn nền tảng tối thiều, để trò thành người có hiểu biết và biết làm người, …là những vấn đề được đặt ra từ lâu.

    Để … mang nước cho thêm vào cối xay (apporter de l’eau au moulin – thành ngữ Pháp), xin giới thiệu bài viết dưới đây, trong đó các tác giả như Philippe Perrenoud, Philippe Meirieu và các khái niệm như làm chủ hiểu biết, giáo dục khai phóng, … được bàn đến :

    http://huynhmai.org/2013/04/28/day-ky-nang-hay-truyen-kien-thuc/

    Like

    • Xin loi cac admin, hom nay em khong co viet duoc tieng Viet vi phai dung bang may khac.
      Em muon gui toi bac Mai loi cam on ve nhung bai viet rat bo ich ve giao duc tre em va ca hoc sinh tren trang ca nhan. Mong bac Mai se truyen ddat nhieu kinh nghiem quy gia cho chung the he sau nhu chung chau a.

      Like

  5. Bài của ngài Báo là thừa. Chưa bao giờ là nhà trường không dạy năng lực cả. Ví dụ nhé: Học sinh VN giỏi quay cóp không? có quá đi chứ! đấy không là năng lực thì là cái gì? trước kì thi tốt nghiệp bao giờ các giáo viên chả mất mấy buổi dạy các em quay cóp? Ấy là dạy năng lực đấy! hi hi. Con người luôn có năng lực thích nghi với xã hội theo đúng quy luật cung – cầu. Các bác cứ tạo cầu tốt thì sẽ có cung tốt. Còn cứ như hiện nay thì có cải cách cả trăm cuộc cũng vứt đi. Giải tán là được rồi. tồn tại không những vô ích mà gây nhiều tác hại quá.

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: