How We Learn

Chương trình tiếng mẹ ở Bỉ (Tiểu học và trung học) – Nguyễn Huỳnh Mai

1. Ở bài này từ tiếng mẹ được dùng thay từ Pháp văn (là tiếng mẹ ở miền nam nước Bỉ) vì trên phương diện sư phạm, những ý tưỡng «hướng đạo», những chủ đích, … của chương trình có thể, trong một chừng mực nào đó, làm cho người dạy tiếng mẹ ở nước khác suy nghĩ.

2. Trong nội dung của chương trình, chủ đích ở đây không đi vào cụ thể xem tác giả nào Bỉ cho vào chương trình mà quan niệm về chương trình. Vài dòng chữ nhỏ in nghiên là phần thêm vào của tác giả bài này. Những phần khác thường là chỉ tóm dịch từ các văn kiện có dẫn ở phần tài liệu tham khảo.

Dẫn nhập qua vài thí dụ cụ thể.

Thí dụ đầu tiên: một bài dạy kỹ năng đọc viết cho học trò lớp một, tháng thứ ba sau ngày tựu trường, đã qua khởi điểm nhận diện các chữ cái và đến giai đoạn tập đọc. Bài học 45 phút. Phương pháp tổng hợp. Chuyện con bò cái tên Lucie (1).

Thầy và trò lần lượt làm các công việc sau đây :

. Nhận diện cái bìa sách
. Đặt lại tựa sách theo thứ tự
. Tô màu các thành phần khác nhau của bìa sách
. Nối liền các hình ảnh theo một thứ tự có nghĩa (áo và nón, cỏ và con bò, …)
. Khoanh tròn các chữ giống nhau trong các từ
. Nối các từ với ảnh minh họa
. Tập viết các chữ (con bò cái, nón, cái áo, …)
. Trong một câu viết liên tục, cắt rời các chữ khác nhau
. Chơi ô chữ, tìm cách cho vào các khuôn những chữ vừa học để vừa có thể đọc hàng ngang và hàng dọc

Như vậy sau một giờ học các em biết đọc và viết ít nhất năm sáu từ, biết về trang trại, thú vật, tên người và «du ngoạn» trong thế giới của tưởng tượng ở đó con bò cũng có tên. Các em vừa học đọc và tiếp tục vẽ, tô màu, …

Các chủ đích: đọc, hiểu, viết, kể chuyện đều đạt được.

Thí dụ thứ nhì: Theo một sách «chiến lược đọc» cho năm thứ 2, trung học cơ sở (tương đương với lớp 8 ở VN) (2)

Phân tích tóm lược, sau khi đọc xong, một truyện dài 6 trang bằng cách trả lời bảng câu hỏi dưới đây:

Chuyện xảy ra ở đâu vào thời điểm nào?
Tác giả bắt đầu chuyện như thế nào và kết thúc ra sao?
Đây là bốn thể loại của câu chuyện, thể loại nào phù hợp với chuyện em vừa đọc?
Chủ đích của tác giả là gì, theo ý em?
Tả trạng thái tinh thần của nhân vật chính bằng những từ của em!
Nội dung chính của câu chuyện trong vài dòng!

Đọc, hiểu, phân biệt thể loại và viết diễn tả kể lại được bằng vốn từ ngữ của riêng mình, đó là kết quả nhắm tới của bài học.

Thí dụ thứ ba: theo một nghiên cứu về hiện trạng «đọc văn chương» ở bậc trung học trên đối tượng sinh viên năm đầu Đại học (3).

Vài kết quả chính:
– năm tác giả mà các em kể tên với ít nhất là một tác phẫm của mỗi tác giả: Zola, Balzac, Camus, Stendhal và Hugo (kể đúng tác phẩm và tác giả).
– hỏi về tác giả cổ điển, cũng với ít nhất là một tác phẩm, thì các em kể Corneille, Racine, Molière, La Fontaine và Voltaire.

– 72 % các tác phẫm các em đã đọc là do yêu cầu ở trường 28 % số còn lại là do các em tự chọn.

Tác giả cổ điển duy nhất mà các em hay đọc ngoài nhu cầu của trường là Molière.

Thí dụ này cho thấy là trong một chừng mực nào đó, môn văn ở trường trung học còn để lại vài kiến thức tốt nhưng chưa tới một phần ba học sinh trung học đọc thêm các tác giả văn chương ngoài khung khổ trường học.

Sự cần thiết của tiếng mẹ (4)

Tiếng mẹ là chìa khóa đầu tiên mà trẻ cần có để tiến đến việc tiếp thu kiến thức.

Chính vì thế mà trong suốt học trình, từ từ , trò sẽ được hướng dẫn để làm chủ, để có được một số kỹ năng, một số cách suy nghĩ, những các hình thức học, những mẫu giao tiếp, …

Để rồi những vốn liếng này sẽ được dùng như những phương tiện để cấu thành vốn hiểu biết ở trường và sau đó, trong quá trình tiếp thu học suốt đời.

Tiếng mẹ cần để hiểu thông tin, truyền thông tin, xữ dụng những số mã của những loại ngôn ngữ khác như ngôn ngữ của hình ảnh, ngôn ngữ của những đồ thị, ngôn ngữ của toán học và của những khoa học khác, kể cả ngôn ngữ của tin học.

Tiếng mẹ cần để xữ lý thông tin, phân tích, giải mã bằng cách so sánh, phân biệt nguyên nhân hậu quả, cái giống nhau và cái khác nhau giữa các nguồn thông tin khác nhau.

Tiếng mẹ cần để xếp hạng các thông tin, đặt giả thuyết, kiểm tra giả thuyết, tìm hiểu ý nghĩa, … để trình bày, tóm lược, ghi nhớ thông tin để có thể dùng thông tin ấy trong một hoàn cảnh mới khác.

Tiếng mẹ còn cần để có thể sản xuất thông tin, viết bài và trình bày các công trình sáng tạo của mình.

Làm chủ được tiếng mẹ là làm chủ được ngôn ngữ cần thiết cho sự học mà ngoài cái ích lợi đó, còn là khai triển khả năng đối thoại và nâng cao văn hóa. Tất cả những điều đó góp phần cho sự phát triển con người và sự tự lập của trò.

Chương trình tiếng mẹ – chủ đích (5)

Chủ đích chương trình học ƭiếng mẹ ở bậc trung học cơ sở và phổ thông ở Bỉ chỉ tóm lược bằng ba nhóm chữ : biết đọc, biết viết, biết nói và nghe.

Đọc một câu, một đoản văn, … phải nhận biết trước nhất xuất xứ và tác giả để giúp ta hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng. Đọc không có nghĩa chỉ biết ráp vần mà cần vận dụng trí phán xét, tìm hiểu nội dung, nhận diện thể loại của những gì mình đọc và sau đó có khả năng diễn dịch lại được những gì mình đọc

Đọc là xây dựng ý nghĩa với vai trò của người nhận thông tin. Thông tin này có thể là một thông điệp viết như truyện cổ tích, truyện ngắn, tiểu thuyết, cốt truyện của một vở kịch, một bài thơ, … nhưng cũng có thể là những thông tin trên giấy của cuộc sống hàng ngày như thư của sở thuế vụ, bảng cách dùng của một máy móc hay thư từ trao đổi với bạn bè người thân,…

Thông tin cũng có thể là một hình ảnh, sống động hay cố định, phim ảnh, áp- phích, bảng quảng cáo …).

Biết đọc một biển quảng cáo là có kỹ năng phân tích phán đoán để độc lập, không bị ảnh hưởng bởi nội dung của quảng cáo.
Đọc có suy nghĩ, đọc một cách có hiểu biết là như thế.

Viết là sáng tạo ra ý nghĩa của một thông điệp mà mình muốn người đọc hiểu. Thông điệp này phải dùng những hình thức thích hợp tùy theo hoàn cảnh, thời điểm, chủ đích, … Người viết phải rành những thể loại hành văn khác nhau, rèn khả năng lý luận để bảo vệ ý mình và biết kết hợp thể thức viết với những phương thức thông tin khác (hình ảnh minh họa vidéo). Đồng thời triển khai sức sáng tạo trong cấu trúc, chọn ngữ vựng, … cho bài viết. Cuối cùng phải có khả năng nhìn lại, suy nghĩ về cách viết của mình để tự phán xét.

Nói và nghe là diễn tả ý tưởng của mình bằng lời và bằng cơ thể hay bằng tất cả các phương tiện mà ta có thể huy động được.

Tùy hoàn cảnh, tùy đối tác, … mà dùng ngữ vựng thích hợp, phải làm sao hiểu người đối diện và làm cho người này hiểu ta. Triển khai khả năng dùng ngôn ngữ của cơ thể và ngôn ngữ của âm thanh. Thế nào là hùng biện và cuối cùng, suy nghĩ về cách ta nói và nghe.

Trong các nội dung của kỹ năng có những điểm trùng nhau hay lập đi lập lại : tùy hoàn cảnh, hệ thống, ý nghĩa của đối thoại, và kỹ năng nhận xét về cách đọc, cách viết cách nói hay nghe của mình – démarche réflexive – tự kiểm, tự nhìn lại, tự phán xét – để có thể tiến bộ làm tốt hơn là những điểm được nhắc lại nhiều lần.

Cá nhân người đọc, viết, nói hay nghe cũng rất là quan trọng – cá nhân này vừa là là tác giả của áng văn ta đọc mà cũng có thể là … chính ta, tức là học trò.

Nếu bên ta Nguyễn Du đã viết
«Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ»

thì tập tành cho học trò đọc, hiểu, và hành văn thích hợp với hoàn cảnh và thích hợp với tâm trạng của bản thân người viết hoặc người đọc, là một điều cần thiết – từ đó có thể làm nẩy mầm cái «thú» đọc sách, tìm đến sách tùy theo tâm trạng.

Cho áp dụng thực tiển, những phương tiện để đạt đến các chủ đích hoàn toàn tùy thuộc vào sự tự do sư phạm của cơ quan tổ chức (PO pouvoir organisateur) các trường, các giáo viên và dĩ nhiên, tùy theo đặc thù, khả năng, nhu cầu, vận tốc tiến triển trong quá trình học, …của trò.

Các tác giả thì học lúc nào ?
Đó là điểm thứ nhì của phần này. Nội dung của chương trình.

Các tác giả mà giáo viên và học sinh khai thác ở trường chỉ là những phương tiện, những minh họa, những «cách» để đọc, để viết hay để nói tiếng mẹ. Phân tích các tác phẩm là thực hành thao tác đọc, hiểu các tác giả là hiểu công trình sáng tạo trong bối cảnh của họ để có thể từ đó đi đến việc viết hay nói của người có tri thức (6).

Nội dung của chương trình một lần nữa ở đây cũng có thể tóm lược bằng ba nhóm chữ khác : kiến thức về ngôn ngữ, kiến thức về văn chương và nghệ thuật, kiến thức về con người và thế giới.

Kiến thức về ngôn ngữ có thể được dạy cho trẻ từ lúc chúng tập đánh vần. Trẻ có khả năng tiếp thu rất lớn và dù chỉ mới 6-7 tuổi đã có thể hiểu những khác biệt về ngôn từ tùy địa phương, tùy văn hóa, … Dĩ nhiên cần phải dạy những luật lệ của ngôn ngữ (văn phạm) nhưng văn phạm ứng dụng và theo phương pháp qui nạp.

Kiến thức về văn chương và nghệ thuật. Ở đây không phải dạy từ chương và không phải học thuộc lòng. Kiến thức về văn chương và nghệ thuật là để giúp cho trò hiểu những nguồn gốc văn hóa đã ảnh hưởng đến tiếng mẹ của chúng, để chúng hiểu hơn về thời đại chúng đang sống và tiếp thu những cái đẹp trong môi trường chúng đang sống.

Dạy nguồn gốc văn chương khác với gợi ý cho trò thích tìm tòi đọc thêm. Cả hai ảnh hưởng hổ tương nhưng tìm tòi đọc thêm là một quá trình cá nhân, chỉ có thể khơi mào khi một vốn tối thiểu được bảo đảm. Cái quá trình đó, thông thường được hoàn tất khi trẻ xong trình độ trung học cơ sở (lớp 9).

Nguồn gốc văn chương không chỉ bắt học trò học thuộc những gì đã được viết trong quá khứ mà để xem hiện tại ta kế thừa gì. Góc nhìn, góc khai thác và từ đó phương pháp sư phạm, hoàn toàn khác. Kể như gợi ý trò «học» quá khứ để rèn nhận định suy xét của trò.

Qua văn chương, học quá trình tiến hóa của xã hội. Những trường phái khác nhau trong văn chương giúp trò hiểu những kế thừa (héritage) hay những «cách mạng» hay gián đoạn (ruptures) hầu hiểu được những phần mà văn chương hiện tại vẫn còn giữ của quá khứ và phần tiêu biểu của hiện đại – một cách hiểu có chiều sâu.

Văn chương không tách rời cuộc sống. Học văn là học cả những sản phẩm văn hóa nghệ thuật khác như hội họa, kiến trúc âm nhạc. Chính vì thế, những mẫu văn nhỏ có thể là những bài tập đọc cho lớp 1 lớp 2. Đồng thời, ở cở tuổi nào các em cũng có khả năng nhận thức và suy ngẫm về cái đẹp của những công trình kiến trúc, những tượng đài, tác phẩm nghệ thuật ở gần nhà, gần trường, ở môi trường sống của các em… Sự học không có tính từ chương mà thành cụ thể và thiết thực.

Một cái vườn đẹp cũng là một tác phẩm nghệ thuật. Ở trời Âu, chúng tôi thường kể thí dụ của vườn Giverny và danh họa Claude Monet. Liên hệ giữa văn chương và hội họa thì có thí dụ của nhà thơ René Char và họa sĩ Georges Braque.

Dĩ nhiên, các em sẽ học qua những dấu móc quan trọng của văn chương và nghệ thuật từ truyện cổ tích, tác phẩm cổ văn hay các tác phẩm văn học hiện đại.

Thứ tự thời gian không nhất thiết là một thứ tự sư phạm. Thầy và trò có thể chọn cách xếp đặt học theo chủ đề, học theo thể loại, học theo một nhân vật.

Một số kiến thức lý thuyết về các trường phái văn học cũng cần cho học trò – để chúng có một hành trang hầu hiểu hơn các thí dụ cụ thể chúng đang học (các mẫu văn các tác giả) và đồng thời là chìa khóa để chúng giải mã nhứng tác phẫm văn chương hay văn hóa mà chúng sẽ đọc hay gặp trong tương lai.

Đọc và học các tác giả không những để tiếp cận những áng văn chương của kho tàng học thuật mà còn để hiểu những bối cảnh trong đó các tác phẩm này được viết và ra đời. Nhiều tác giả lại có thể còn là những chứng nhân của thời đại họ và có thể làm cho người đọc suy nghĩ thêm về thân phận con người và tiến hóa của xã hội. Học văn cũng là học làm người.

Kiến thức về con người và thế giới

Tiếng Pháp cũng là ngôn ngữ được dùng của một số tác giả người nước ngoài. Một số tác giả ngoại quốc cũng được dịch ra tiếng Pháp. Các môn học như sử, địa lý, tôn giáo hay khoa học kể đầy những địa danh, khoa học gia hay lịch sử toàn cầu,… nhưng văn chương ngoại quốc cũng là một phương thức giúp trò hiểu và sống với hiện trạng xã hội toàn cầu hóa – không những chỉ là một toàn cầu hóa về kinh tế mà còn là thế giới không ranh giới về văn học và nghệ thuật. Học về con người và thế giới cũng nằm trong chương trình môn ngữ văn là như thế.

Sau vài phát họa về nội dung kể trên, một cách cụ thể, chương trình đề nghị một danh sách đầy đủ các trào lưu văn chương Pháp ngữ từ quá khứ tới hiện tại, với các tác giả của mỗi thời đại, một loại văn học sử yếu tóm tắt mà giáo viên có thể dựa theo đó để chọn, cấu trúc chương trình với học sinh của mình (7).

Thay lời kết luận?

Bài này vừa trình bày chương trình khung ở Bỉ : nguyên tắc tự do dạy, tự do học và dạy theo học trò, theo bối cảnh,… đặt hết tin tưởng cho trường, trên thầy và trò để làm sao thực hiện được các kỹ năng đọc, viết nói, …

Những «nguyên lý» nói trên là những điểm tựa, là hướng nhắm tới để từ đó thầy và trò chọn … đường đi tới đích. Khái niệm curriculum là thế, Nằm lòng những chủ đích, và triết lý của môn học/dạy, trí sáng tạo của các «diễn viên», tức là thầy và trò, sẽ viết nên nhạc nên lời.

Cụ thể thế nào thì không có gì bắt buộc.

Tìm mãi thì cùng lắm thì giáo viên sẽ có được những «nguồn gợi ý» kiểu như trang này với danh sách thư mục hay những bài giảng «sẳn», những «phiếu tóm lược các tác phẩm hay các tác giả» (8).

Thế có nghĩa là những giáo viên tiếng mẹ và văn chương cùng chung trường sẽ cùng nhau tổ chức một «sườn» một loại «khung» để phân công trong nội bộ và sau đó uyển chuyển ứng dụng «chương trình» này với học trò.

Nhưng một cách tổng quát, đại đa số các trường đều cho vào «chương trình thực tế» của mình các tác giả chính như Molière, Corneille, Racine, Hugo… mà thí dụ 3 có nhắc đến ở đầu bài này.

Đường đi thì không giống nhau, lộ trình diễn tiến có khác nhau, các phương pháp sư phạm có thể hoàn toàn khác biệt. Dĩ nhiên, có trường đào tạo nhiều sinh viên văn khoa tương lai. Có trường khác chỉ giúp một số em đủ khả năng để sau này làm kế toán hay hay làm thợ sửa điện … nhưng với những chủ đích giống nhau, học trò nào cũng hấp thụ được một số vốn liếng cơ sở (back ground) về tiếng mẹ, với những điểm tựa (point de repère) vững chắc về văn chương để biết đọc, biết viết, biết nói và biết nghe.

Rốt cuộc, nguyên tắc đề ra bởi UNESCO «học để biết, để làm, để sống với người khác, …» không xa, kể cả việc học tiếng mẹ theo chương trình ở Bỉ.

Tài liệu tham khảo

(1). http://www.enseignons.be/fondamental/preparations/lucie-la-vache

(2). http://data.vanin.be/Mediafiles/flipbooks/sdl1/index.html

(3). DUFAYS, Jean‐Louis, « Lire au fil des ans : quelle continuité des apprentissages littéraires au secondaire en Belgique francophone ? », in Jean‐Louis DUMORTIER (dir.), Quelles progressions curriculaires en français ?, Namur, P.U.N, 2012 (Dyptique n°23).

(4).Theo trang :
http://www.enseignement.be/index.php?page=25189&navi=2648
tải compétences terminales en Français. Ressource 209.pdf
(trang 4-6).

(5). tài liệu đã dẫn trên, trang 7-15.

(6). tài liệu đã dẫn trên, trang 16-17.

(7). tài liệu đã dẫn, trang 18-24.

(8). http://www.enseignement.be/index.php?page=24338

Advertisements

Tagged as:

1 Response »

  1. “Rốt cuộc, nguyên tắc đề ra bởi UNESCO «học để biết, để làm, để sống với người khác, …»” Có phải ở đâu cũng cần như vậy? Đây là chương trình Giáo Dục để đào tạo người hiểu biết chuẩn bị cho họ bước vào một xã hội văn minh. Nó rất khác với mục đích lập trình cho những Robot làm việc chính xác. Để xử dụng Robot an toàn trước khi xuất xưởng phải có giấy chứng nhận an toàn xử dụng. Bởi vậy người ta luôn luôn cần văn bằng (giấy chứng nhận đã được lập trình).

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: