How We Learn

Một số nét cơ bản về lương giáo viên – Học Thế Nào

Ngày 14 tháng 12 năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang với 7 bảng lương. Nhà giáo được hưởng lương theo bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và bảng lương chuyên gia cao cấp. Cho đến nay, mọi quy định về lương của viên chức, công trong cả nước bắt nguồn từ nghị định này.

Tuy nhiên, theo nghị định 204/2004/NĐ-CP có 4 ngành được hưởng phụ cấp thâm niên nghề là quân đội, công an, hải quan, cơ yếu (không có nhà giáo). Sau một thời gian dài kiên trì đề xuất, Quốc hội thông qua tại Nghị quyết 35 ngày 19/6/2009. Sau đó, Quốc hội tiếp tục thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, với quy định Nhà giáo được hưởng tiền lương, phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp thâm niên và các phụ cấp khác theo quy định của Chính phủ.

Ngoài lương, nhà giáo trực tiếp đứng lớp được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề. Ngày 6/10/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc với các mức phụ cấp 25% , 30%, 35%. 40%, 45%, 50% tuỳ thuộc vào nhà giáo công các ở các cấp học, địa bàn vùng miền, các loại trường (ngày 23/1/2006 mới ban hành Thông tư Liên tịch số 01/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC hướng dẫn thi hành)…

Một bộ phận nhà giáo tuỳ theo địa bàn công tác, trách nhiệm công việc, ngạch, bậc lương và thâm niên giữ bậc lương cuối cùng mà còn được hưởng thêm phụ cấp khu vực, phụ cấp trách nhiệm công việc (tổ trưởng chuyên môn, khối trưởng, giáo viên tổng phụ trách). Những nhà giáo công tác ở các cơ sở giáo dục phụ cấp dạy thêm giờ, thêm buổi. Với những người có thâm niên từ 5 năm trở lên được hưởng phụ cấp thâm niên (theo Nghị định 54/2011/NĐ-CP ban hành tháng 7/2011).

Tuy nhiên phụ cấp ưu đãi theo nghề là phụ cấp trực tiếp giảng dạy trong các trường công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân không được dùng để tính đóng và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Vì thế lương hưu của giáo viên rất thấp. Mặt khác, cán bộ quản lý giáo dục, những người trưởng thành từ nhà giáo, cán bộ quản lý trường học  nhưng không được hưởng phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp ưu đãi theo nghề  (phụ cấp trực tiếp giảng dạy). Đây là một mâu thuẫn vì những nhà giáo giỏi, cán bộ quản lý trường học giỏi được điều động về công tác ở các cơ quan quản lý giáo dục các cấp không những không được thêm lương mà còn bị giảm tiền lương và phụ cấp theo lương khoảng gần một nữa.

Nhà giáo công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng các chế độ phụ cấp quy định tại Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ với cách tính hưởng các chế độ phụ cấp được tính lại theo quy định tại nghị định này. Năm 2010 Chính phủ ban hành Nghị định 116/2010/NĐ-CP về chính sách đối với công chức, viên chức, lực lượng vũ trang công tác ở vùng đặc biệt khó khăn (trong đó có nhà giáo). Năm 2013 Chính phủ ban hàn Nghị định 19/2013/NĐ-CP sửa đổi một số điều Nghị định 61. Ba nghị định này không cái nào thay thế được cái nào mà cùng tạo nên một chính sách hoàn chỉnh với nhà giáo ở vùng đặc biệt khó khăn.

Nhà giáo được phân loại thành viên chức các loại: loại A3, nhóm 1 (A3.1) Giáo sư – Giảng viên cao cấp; loại A2, có 2 nhóm, nhóm 1 (A2.1) Phó Giáo sư – Giảng viên chính, nhóm 2 (A2.2) giáo viên trung học cao cấp; loại A1 – giảng viên, giáo viên trung học; loại A0 – giáo viên trung học cơ sở; loại B – giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học.

Ngày 15 tháng 6 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 61/2005/QĐ-BNV ban hành tạm thời chức danh và mã số ngạch một số ngạch viên chức ngành giáo dục và đào tạo, văn hoá-thông tin, theo đó, giáo viên mầm non, phổ thông có chức danh và mã số các ngạch viên chức: giáo viên mầm non chính (trình độ cao đẳng) Mã số 15a.206; giáo viên mầm non cao cấp (trình độ đại học) mã số15a.205; giáo viên tiểu học chính (trình độ cao đẳng) mã số 15a.204; giáo viên tiểu học cao cấp (trình độ đại học) mã số 15a.203; giáo viên trung học cơ sở (trình độ cao đẳng) mã số 15a.202; giáo viên trung học có sở chính (trình độ đại học) mã số 15a.201; giáo viên trung học phổ thông chưa đạt chuẩn (chưa đạt trình độ đại học) mã số 15c.207; giáo viên trung học cơ sở chưa đạt chuẩn (chưa đạt trình độ cao đẳng) mã số 15c.208; giáo viên tiểu học chưa đạt chuẩn (chưa đạt trình độ trung học) mã số 15c.209; giáo viên mầm non chưa đạt chuẩn (chưa đạt trình độ trung học) mã số 15c.210.

Bảng lương chuyên gia cao cấp có 3 bậc. Giáo sư, giảng viên cao cấp có 6 bậc lương từ 6,2 đến 8,0; phó giáo sư – giảng viên chính có có 8 bậc lương, từ 4,40 đến 6,78; giảng viên có 9 bậc lương, từ 2,34 đến 4,98; giáo viên trung học cao cấp (bao gồm giáo viên cao cấp trung học chuyên nghiệp, giáo viên cao cấp dạy nghề, giáo viên cao cấp trung học phổ thông, giáo viên cao cấp trung học cơ sở) có 8 bậc lương, từ 4,00 đến 6,38; giáo viên trung học đạt chuẩn, giáo viên trung học cơ sở chính và giáo viên mầm non cao cấp có 9 bậc lương, từ 2,34 đên 4,98; giáo viên trung học chưa đạt chuẩn, giáo viên trung học cơ sở đạt chuẩn, giáo viên chính tiểu học và giáo viên chính mầm non  có 9 bậc lương, từ 2,10 đến 4,89; giáo viên tiểu học đạt chuẩn và giáo viên mầm non đạt chuẩn có 12 bậc lương, từ 1,86 đến 4,06; giáo viên mầm non chưa đạt chuẩn có 12 bậc từ 1,65 đến 3,63 và chế độ vượt khung từ 5% đến 11%. Giáo viên trung học cơ sở và giáo viên tiểu học chưa đạt chuẩn tính đến ngày Thông tư số 81/2005/TTLT-BNV-BTC ngày 10 tháng 8 năm 2005 có hiệu lực thi hành mà có tuổi đủ 55 trở lên đối với nam, đủ 50 trở lên đối với nữ thì được vận dụng xếp lương như giáo viên đạt chuẩn, trường hợp còn lại (nam dưới 55 tuổi, nữ dưới 50 tuổi) thì tạm thời xếp lương như giáo viên đạt chuẩn, nếu sau 5 năm không đạt chuẩn phải bố trí việc khác cho phù hợp.

Xét về thang, bậc lương của nhà giáo, chưa phải hoàn toàn là một trong những thang, bậc lương cao nhất trong hệ thống thang, bậc lương hành chính, sự nghiệp. Ví dụ: Ngạch giáo sư, giảng viên cao cấp (nhóm 1, A3.1) được xếp 6 bậc và vượt khung 5% trong bảng chuyển, xếp lương số 5 và bảng lương số 3 -bảng lương viên chức, có 27 chức danh cùng được xếp chung như giáo sư, giảng viên cao cấp, chỉ cao hơn 14 chức danh (thuộc nhóm 2, A3.2); ngạch phó giáo sư, giảng viên chính (nhóm 2, A2.1) được xếp 8 bậc và 5% vượt khung, có 28 chức danh cùng được xếp chung, chỉ cao hơn bậc lương của 18 chức danh (nhóm 2, A2.2); ngạch giảng viên, giáo viên trung học được xếp 9 bậc và vượt khung 5%, 8%, có 53 chức danh cùng được xếp chung, không cao hơn bậc lương của chức danh cùng loại nào cả; ngạch lương giáo viên trung học cao cấp (nhóm 2, A2.2) được xếp 8 bậc lương và vượt khung 5%, 8%, 11%, có 18 chức danh cùng được xếp chung, thấp hơn bậc lương, bảng lương 28 chức danh cùng loại công chức, viên chức A2…

Trong khi công chức, viên chức các ngành khác cùng trình độ đào tạo được phân loại thành các ngạch chức danh: viên – chính – cao cấp, giáo viên trung học chỉ có 2 ngạch: giáo viên trung học và giáo viên trung học cao cấp, thêm vào đó, gộp giáo viên trung học phổ thông, giáo viên TCCN, giáo viên trung cấp nghề là chưa phù hợp;

Nhóm ngạch giaó viên mầm non cao cấp, giáo viên tiểu học cao cấp là những viên chức hàng đầu của các cấp học này. Vì vậy, ngạch lương của nhóm ngạch này hiện nay có 9 bậc lương và vượt khung 5% , 8% như ngạch lương của nhóm viên chức A1 là chưa hợp lý, cần rút ngắn và có ít bậc hơn để đảm bảo nguyên tắc ngạch càng cao thì càng ít bậc và khoảng cách giữa các bậc rộng hơn để đảm bảo tương quan với công chức, viên chức loại A3 (nhóm ngạch cao cấp) trong các bảng lương chỉ có 6 bậc và vượt khung 5%.

Văn bản pháp quy về lương giáo viên (10 tài liệu)

1. Nghị định 204 ban hành năm 2004 quy định về lương công chức, viên chức, lực lượng vũ trang…

2. Quyết định 244 ban hành năm 2005 về trợ cấp đứng lớp với GV.

3. Nghị định 54 ban hành năm 2011 và Thông tư liên tịch 68 ban hành cùng năm hướng dẫn thực hiện nghị định 54 về trợ cấp thâm niên cho nhà giáo.

4. Nghị định 61 ban hành năm 2006 về chính sách đối với nhà giáo ở vùng đặc biệt khó khăn. Nghị định 116 ban hành năm 2010 về chính sách đối với công chức, viên chức, lực lượng vũ trang công tác ở vùng đặc biệt khó khăn (trong đó có nhà giáo). Nghị định 19 ban hành năm 2013 sửa đổi một số điều nghị định 61. Ba nghị định này không cái nào thay thế được cái nào mà cùng tạo nên một chính sách hoàn chỉnh với nhà giáo ở vùng đặc biệt.

Trên mạng đã có ai đó đối chiếu và soạn thành một nghị định “ba trong một” hoàn chỉnh, phần đã bổ sung, sửa đổi so với nghị định 61 là phần được bôi vàng, tên file là “Nghị định 61 sau sửa đổi”.

5. Phụ lục kèm theo là Nghị quyết 30a ban hành năm 2008 về chương trình hỗ trợ huyện nghèo, danh sách 62 huyện nghèo.

Advertisements

Tagged as:

1 Response »

  1. Khoảng hai chục năm trước lương GV là do ban nội chính quyết định. Có một cô giáo được cán bộ UBND ban nội chính hỏi “em có muốn tăng lương không?”. Đọc phân loại bậc lương của GV “chi tiết bình đẳng” như trên tôi thấy thức tạp chẳng muốn tìm hiểu thêm. Và nếu là người hưởng lương thì tìm hiểu làm gì? Hiểu được thì đề nghị cấp trên tăng lương ư? Cô giáo trẻ kia có lẽ cũng như tôi khi nghĩ rằng, cái gì nó đến thì đón thôi mong đợi đòi hỏi cũng chẳng được. Thời gian sau cô giáo trẻ nhận thấy, bậc lương có tăng thì chênh chẳng đáng kể về số tiền. Nhưng cô như người lỡ chuyến tàu và kịp nhận ra để lên chuyến sau.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: