How We Learn

Đổi mới căn bản giáo dục: gốc rễ và đề xuất, giải pháp – Nguyễn Hoàng

Trong thời gian qua, nền giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng của Việt Nam chưa đáp ứng kỳ vọng của người dân, của các cấp lãnh đạo. Ai cũng nhận thức rằng, giáo dục là quốc sách hàng đầu, là chìa khóa mở tương lai đất nước v.v… nhưng diện mạo chưa có thay đổi lớn. Về giáo dục đại học, gần đây có những điểm nóng như là việc tuyển sinh, thành lập trường, mở/đóng ngành đào tạo, trường công lập/ngoài công lập, chính quy/vừa làm vừa học,… như là những mâu thuẫn không chỉ nội tại của nền giáo dục đại học mà  bắt đầu trở thành những xung khắc giữa các hoạt động giáo dục, đào tạo và các hoạt động khác của xã hội.

Đổi mới căn bản, toàn diện…, theo một nghĩa nào đó gần như là cuộc cách mạng trong giáo dục, vì vậy chúng ta hãy quay trở về cái gốc của nền giáo dục Việt Nam và cụ thể là giáo dục đại học.

Vấn đề gốc rễ của nền giáo dục đại học: Triết lý và mục tiêu

Về triết lý của nền giáo dục nước nhà nói chung, dù chưa ban hành tuyên ngôn rõ ràng nhưng ở Luật giáo dục, các văn kiện của nhà nước và của ngành cho thấy đã khẳng định rõ mục tiêu (từ đó cho thấy được dáng dấp triết lý) của nền giáo dục Việt Nam, đó là:

Điều 2. Mục tiêu giáo dục

Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 3. Tính chất, nguyên lý giáo dục

1. Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.

2. Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.[1]

Về giáo dục đại học, cũng dường như chưa có triết lý cụ thể, nhưng có thể hình dung qua mục tiêu được trình bày trong dự thảo Luật giáo dục đại học như sau:

Điều 5. Mục tiêu của giáo dục đại học

Mục tiêu chung:

a) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế;

b) Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân[2].

Nền giáo dục đại học thời phong kiến Việt Nam, có thể xem như bắt đầu cách đây một ngàn năm, từ thời Lý, Trần,… tuy nhiên nội hàm, mục tiêu, sứ mệnh của nền đại học ấy nhằm đào tạo tầng lớp kẻ sĩ, đỗ đạt để ra làm quan nếu gặp thời; lui về ẩn dật, vui thú điền viên nếu chán chường thế sự. Nền giáo dục ấy vốn đóng khung trong một số gia đình, dõng dõi có truyền thống khoa bảng, khá giả và chỉ một số hiếm hoi người có tài năng đặc biệt của tầng lớp thường dân mới chen chân vào được.

Chiều dài nền giáo dục đại học hiện đại của Việt Nam hình thành chưa tới 100 năm, mỏng hơn rất nhiều so với nhiều nền đại học trên thế giới, đặc biệt ở châu Âu và châu Mỹ. Thêm nữa, trong một thời gian khá dài, việc xây dựng mô hình, cách thức quản lý, ta hết bị ảnh hưởng của Pháp, đến Liên xô rồi Mỹ,… từ nền tảng hiện hữu đến những kinh nghiệm, công nghệ du nhập về. Do cố gắng dung hòa  những cái hiện hữu đó thành thể thống nhất, tất cả đã hòa trộn thành một bức tranh lồng ghép không rõ hình thù đường nét.

Vì vậy, để “đổi mới căn bản, toàn diện…”, việc trước tiên cần xác định những nguyên lý, mục tiêu không chỉ phục vụ cho tầm nhìn ngắn, hạn hẹp trước mắt mà phải quán xuyến được chiều dài xuyên suốt thế kỷ. Việc học hỏi từ mô hình đại học của các nước tiên tiến là cần thiết. Họ có bề dày kinh nghiệm bao nhiêu thế kỷ, đã trải qua những lần thay da đổi thịt đau đớn để định hình nên nền đại học ngày nay. Ta không thể lấy lý do đặc thù Việt Nam nhằm áp đặt một nền giáo dục không giống ai, để rồi sau đó thay đổi, cải cách, chắp vá như chuyện đã diễn ra trong thời gian dài vừa qua.

Người ta thường phân tầng thực thể nền đại học của một quốc gia trong những giai đoạn cụ thể là tinh hoa hoặc đại chúng. Hiện nay, Hoa Kỳ là một quốc gia thể hiện rõ hai loại hình đại học ấy tồn tại song song. Các trường đại học tinh hoa có thể kể đến là  Ivy League gồm 8 trường đại học miền đông và thêm một số trường đại học khác thuộc top đầu của Hoa kỳ và thế giới, dành cho sinh viên giỏi, tiềm lực kinh tế dồi dào, đào tạo ra những trí thức, những chuyên gia hàng đầu của Hoa Kỳ và thế giới. Bên cạnh đó những trường đại học cộng đồng và các trường đại học cấp tiểu bang với yêu cầu khá mềm dẻo về mặt học thuật cũng như tài chính nhằm dành cho bất cứ ai muốn học đại học đồng thời đào tạo nhân lực nhiều cấp độ phục vụ cho xã hội.

Một cách phân loại khác dựa vào học thuật, tạm gọi là đó là đại học khai phóng (liberal arts) và đại học chuyên nghiệp, nghề nghiệp (professional). Chương trình đào tạo ở trường đại học khai phóng thường thiên về các ngành khoa học xã hội, nhân văn, các ngành khoa học trừu tượng như triết học, toán học, khoa học tự nhiên, … đào tạo những người đi tìm kiếm, khám phá tri thức mới. Còn ở trường đại học chuyên nghiệp thì chú trọng việc bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện kỹ năng ở một ngành nghề chuyên môn cụ thể để tạo ra chuyên gia phục vụ xã hội như ngành y, dược, kỹ sư, luật học,… Tất nhiên có sự giao nhau trong cách phân chia như vậy.

Ngày xưa, giáo dục đại học của Việt Nam (và Á đông) thuộc dạng thứ nhất. Bóng dáng của các chuyên ngành khoa học kỹ thuật, công nghệ không có chỗ trong quan niệm đại học. Thi cử không đỗ đạt, các khóa sinh có thể trở thành một nhà giáo hay thầy thuốc mà không qua một trường lớp đào tạo bài bản. Ngay cả nếu được đỗ đạt và bổ làm quan, họ cũng chưa trải qua một trường lớp hành chánh nào, việc cai trị phần lớn do tài năng và sự ứng xử (có phần cảm tính) của các vị quan ấy mà thôi.

Ở Viện đại học Huế trước năm 1975, Viện trưởng Lê Thanh Minh Châu đã nêu 3 điểm căn bản trong đường hướng giáo dục là:

1.  Xây dựng một nền giáo dục đặt trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản;

2.  Đóng góp tích cực vào việc phát triển quốc gia và cộng đồng địa phương;

3. Phát huy niềm thông cảm và hợp tác quốc tế, đặc biệt giữa các quốc gia miền Nam Á châu.[3]

Như vậy, trong quan niệm lẫn thực tế, nền giáo dục đại học luôn tồn tại đủ các hình thái đại học tinh hoa, đại chúng, khai phóng và nghề nghiệp. Điều quan trọng là cần phải tạo ra sự hài hòa phù hợp với hiện trạng đất nước và xu hướng thế giới một cách chủ định, không để thiên lệch về một phía nào dù vô tình hay hữu ý. Ở đất nước ta, trong khoảng vài thập niên trở lại đây, giáo dục nghề nghiệp lấn át giáo dục khai phóng; người học tập trung chọn những ngành liên quan đến kinh tế, tài chính, kỹ thuật, công nghệ, y dược,… ít người chọn học ngành thuộc khối khoa học xã hội, nhân văn, tự nhiên, triết học,… mà ngay cả ngành nghề liên quan đến nông nghiệp, nông thôn cũng rất ít người chịu vào học.

Cho dù có những hình thái đại học gì đi nữa, ngày nay tầng lớp tinh hoa của xã hội được chắt lọc từ các trường đại học, đi ra từ ngưỡng cửa đại học, do vậy một trong những mục tiêu, nhiệm vụ của đại học là phải thu hút được người giỏi, học đúng sở trường, được đào tạo bài bản để họ cống hiến và được xã hội thừa nhận. Tầng lớp tinh hoa này sẽ nắm giữ những bộ phận chủ chốt trong guồng máy xã hội, là những người đưa ra những ý kiến tham vấn về chiến lược phát triển đất nước, là những nhà tư tưởng (think tank), đồng thời đây là “chiếc máy cái” đào tạo, bồi dưỡng những tầng lớp tinh hoa khác của tương lai.

Kinh nghiệm phổ quát cho thấy, thầy giỏi mới tạo ra được trò giỏi, trò giỏi lại trở thành thầy giỏi hơn,… và cứ thế mới có nhiều hiền tài dấn thân phục vụ đất nước.

Theo báo cáo của ông Jacques Lucien Jean Delors, cựu chủ tịch ủy ban châu Âu và chủ tịch ủy ban giáo dục UNESCO đối với giáo dục của thế kỷ 21, trong báo cáo nổi tiếng “Learning: The Treasure Within” (1996)[4] đã nêu ra những tư tưởng quan trọng về giáo dục. Ông cho rằng, nền giáo dục cần dựa trên 4 cột trụ chính đó là: học để biết, học để làm việc, học để chung sống, học để hoàn thiện mình (learning to know, learning to do, learning to live together, learning to be).

So với mục tiêu giáo dục đại học trên thế giới, ở ta chú trọng đến việc giáo dục nghề nghiệp, tức là chú trọng trụ cột thứ hai, còn các trụ cột khác thì mờ nhạt hơn. Nói cách khác, ở đại học hiện nay tập trung đến hoạt động đào tạo chuyên môn còn các hoạt động giáo dục khác xem là yếu tố phụ hoặc chỉ dành cho việc giáo dục chính trị, tư tưởng. Điều này được thể hiện từ chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo đến chương trình đào tạo của các trường đại học trong nước cũng như cách thức tổ chức giảng dạy.

Ý tưởng cơ bản và toàn diện về 4 trụ cột giáo dục như nêu ở trên rất đáng quan tâm để vận dụng vào việc đổi mới giáo dục đại học của nước ta. Thứ nhất, ta kế thừa truyền thống tinh thần hiếu học, vô vị lợi, học để làm người về mặt nhân cách, tinh thần được đúc kết trong 2 chữ “kẻ sĩ”. Học hỏi để hiểu biết, để hoàn thiện bản thân, để chung sống hòa bình, có trách nhiệm với cộng đồng, loại bỏ tính vị kỷ, xác lập tinh thần khai phóng, giảm được việc phụ huynh, học sinh chọn ngành nghề học tập theo phong trào, theo mục đích duy nhất có được thu nhập cao khi làm việc. Sinh viên sẽ căn cứ vào sở trường, năng lực, niềm đam mê, đăng ký học ngành nghề phù hợp từ đó phát huy cao nhất kết quả học tập của mình và đóng góp hữu hiệu cho xã hội. Tiếp theo, mục tiêu học để làm việc, để có trình độ bậc cao trong nghề nghiệp vẫn là yếu tố cốt lõi như trong dự thảo Luật giáo dục đại học nêu ra là điều tất yếu. Tăng cường rèn luyện các “kỹ năng mềm” chính là để đáp ứng cột trụ thứ ba, cái mà sinh viên cần thiết lúc ra trường bên cạnh vững vàng chuyên môn, nhân sinh quan, tư cách đạo đức, hướng đến chân, thiện, mỹ toàn diện.

Tóm lại, cần đầu tư công sức xác định những nguyên lý, triết lý, mục tiêu giáo dục dựa vào những thành tựu, kinh nghiệm cuả thế giới và thực tiễn Việt Nam để có tầm nhìn, dự phóng dài hạn. Với những vấn đề phổ quát của nhân loại như giáo dục, kinh tế,… cần tránh tư duy “ta làm theo cách của Việt Nam,…” vì nhìn chung, thời gian qua, cách làm của Việt Nam thường thể hiện tính tùy tiện, ngắn hạn, nhìn thấy cái lợi trước mắt mà không nhận ra cái nguy hại tiềm ẩn lâu dài. Tất nhiên, không phủ nhận ta có những thế mạnh riêng như “lý luận và thực tiễn về chiến tranh nhân dân”, hoặc có những tiểu xảo để đối phó với những vấn đề đột xuất, cấp bách nhưng đó không phải là chuyện giáo dục, khoa học, kế sách lâu dài.

Muốn có nền giáo dục hiện đại, tiên tiến thì phải theo chuẩn quốc tế, chuẩn của các quốc gia có hằng trăm năm kinh nghiệm và truyền thống về giáo dục đại học. Hiện nay, ta chưa đạt chuẩn ấy thì phải vạch lộ trình, hướng đi và những biện pháp cụ thể để trong thời gian ngắn nhất, nền đại học của ta có thể hòa nhập với thế giới, tránh kiểu “vừa làm vừa rút kinh nghiệm” một cách mò mẫm. Việc hợp nhất, thành lập các đại học quốc gia, đại học vùng hơn 16 năm qua chưa có đánh giá, kết luận đầy đủ về mô hình này; việc “xã hội hóa” giáo dục thể hiện qua việc cho phép mở các trường tư thục có lợi nhuận, liên kết đào tạo tràn lan với các đại học hạng xoàng nước ngoài; việc tách rồi  nhập các trường đại học; việc hình thành rồi xóa bỏ trường đại học Đại cương, việc bỏ rồi thi tốt nghiệp môn Lý luận chính trị,… như đã diễn ra là những minh chứng cho những “mò mẫm” nói trên.  Còn lại, những vấn đề như trao quyền tự chủ, tự trị đại học, nên có Bộ chủ quản các trường đại học hay không,… ngay Quốc hội  là cấp lãnh đạo  quyền lực cao nhất vẫn chưa thể hiện chính kiến, quyết định để thể hiện trong Luật Giáo dục đại học mà dành lại cho Chính phủ ban hành những quy định riêng, chứng tỏ hoặc là chưa nghiên cứu kỹ để có quyết sách hoặc lại thực hiện “cách làm của Việt Nam”.

Nếu không đi theo con đường của thế giới văn minh đang tiến hành, ta sẽ tự cô lập mình và khoảng cách giữa nền giáo dục nước nhà và thế giới ngày càng lớn. Tất nhiên ta không quá nôn nóng, muốn làm cho bằng được ngay lập tức mà không để ý đến điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta nhưng trong tư tưởng chỉ đạo phải nhất quán và phải có lộ trình phù hợp.

 

Một số đề xuất

1. Rà soát việc hình thành, nâng cấp một số trường đại học thành trọng điểm. Việc này nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện nhưng khá dàn trải, bình quân nên chưa thấy rõ hiệu quả. Hiện nay, có 14 đại học, trường đại học được đưa vào danh sách xây dựng thành các trường trọng điểm quốc gia từ mấy năm qua, tuy nhiên những chính sách, chế độ, những quan tâm chỉ đạo đặc biệt của các cấp có thẩm quyền chưa thực sự thể hiện. Chẳng hạn kinh phí, ngân sách, xây dựng cơ sở hạ tầng dành cho các trường này vẫn không mấy sáng sủa, chế độ dành cho giảng viên, cán bộ quản lý không có gì khác,… Ví dụ, với một đại học đa ngành như Đại học Huế, được gộp lại từ nhiều trường đại học vốn có bề dày lịch sử và hoàn cảnh khác nhau, có rất nhiều ngành đào tạo, sẽ là rất khó để cùng trở thành “tinh hoa” nên cần phải có sự định hướng, chỉ đạo và đầu tư lớn từ các cấp có thẩm quyền của nhà nước.

2. Về nhập khẩu giáo dục đại học: Nhìn ra bên ngoài, ngay chỉ ở vùng Đông Nam Á, những người giữ trọng trách về công tác giáo dục đại học có lẽ rất sốt ruột với thực trạng nước nhà. Việc đào tạo các chương trình tiên tiến, việc thành lập một số trường đại học “xuất sắc” theo mô hình nước ngoài như đang diễn ra là một hình thức nhập khẩu giáo dục đại học, từ chương trình, cách quản lý cho đến một đại học với ban lãnh đạo là người nước ngoài như Đại học Việt Đức là bước đầu cần thiết, nhằm trấn an và giải quyết khủng hoảng sự thiếu vắng của một trường đại học có đẳng cấp khu vực.

Tuy nhiên việc du nhập các nền đại học khác nhau vào nước ta như đã nói là điều đáng suy nghĩ. Qua thông tin trên internet cho biết còn có thêm trường đại học Việt Hung; một trường đại học Việt Anh đang chuẩn bị thành lập và nhà nước đang đàm phán để mở trường đại học Việt Mỹ; trong tương lai không biết còn có trường đại học Việt gì nữa. Việc tiếp tục mở  nhiều trường đại học “xuất sắc” kiểu này, cho thấy tâm lý khá tự ti của ta, một quốc gia có truyền thống đại học gần một ngàn năm hay gần 100 năm đại học theo hướng hiện đại, ta vẫn không đủ niềm tin để tự mình mở ra và điều hành một trường đại học riêng cho mình theo tiêu chuẩn hiện đại, quốc tế. Mở trường dạng này không khéo giống như để các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam liên doanh kiểu “Honda Vietnam”, “Suzuki Vietnam”, cuối cùng đến nay, Việt Nam không có nổi một nhà sản xuất xe máy có chất lượng cao mang thương hiệu riêng mình.

Trong lúc đó, Việt Nam vào thời gian đặc biệt khó khăn, chiến tranh dữ dội, ở miền bắc có các trường đại học như Bách Khoa, Kinh tế quốc dân theo mô hình của Liên xô, Đông Âu, chất lượng đào tạo có lẽ cũng không thua kém nhiều các trường đại học trong cùng hệ thống. Ở miền nam, các Viện đại học Sài gòn, Huế dù thời gian tồn tại mới được 18 năm, vẫn có vị thế quan trọng trong phạm vi các nước Đông Nam Á, vẫn có những đường nét của một đại học phương tây hiện đại từ mục tiêu, cách thức tổ chức quản lý, đào tạo,… Do vậy, giờ đây lẽ nào chúng ta không xây dựng được những trường đại học “xuất sắc” do chính người Việt đứng ra tổ chức, quản lý và lãnh đạo. Chưa kể, trong một quốc gia, khi du nhập nhiều tư tưởng, mô hình đại học khác nhau, cho dù chúng đều ở bậc cao thì sự xung khắc về học thuật, quan niệm không thể tránh khỏi và Việt Nam không thể là một “Liên hiệp quốc” thu nhỏ được. Ngoài ra, chắc gì những người nước ngoài sang giúp chúng ta làm lãnh đạo là tinh hoa cao nhất của nước họ. Một ví dụ rất nhỏ nhưng nhiều người gặp phải. Vì không có tiêu chuẩn Việt Nam về ổ cắm và phích cắm điện nên khi nhập thiết bị điện dân dụng về, người tiêu dùng gặp đủ kiểu phích cắm dẹp, tròn vuông, xiên, ba chấu, … rất mất công để tìm bộ chuyển đổi.

Thời gian qua chúng ta đã gửi du sinh đi học nước ngoài theo nhiều chương trình quốc gia và quốc tế. Một số lớn các bạn ấy khi học xong thì ở lại làm việc bằng nhiều cách khác nhau. Ngoài lý do là lương bổng ở nhà thấp, một yếu tố quan trọng khác khiến người ta ngại về đó là môi trường nghiên cứu, giảng dạy của Việt Nam khác quá xa môi trường họ đang làm việc. Nếu chiêu tập lực lượng này về cùng những Việt kiều có lòng với đất nước, chỉ cần một vài vị Giám đốc, Hiệu trưởng của ta có đầy đủ quyền lực như Giám đốc người nước ngoài, cộng với tâm huyết, trí tuệ, lòng yêu nước thì chắc chắn sẽ xây dựng được một đại học có đẳng cấp theo mô hình phương tây, mang bản sắc Việt Nam và đây là cái cần thiết cho chúng ta.

3. Tạo tâm lý, dư luận xã hội: Tuyên truyền vận động trong xã hội về vấn đề học thuật, ngành nghề, tạo ra dư luận lành mạnh về việc định hướng nghề nghiệp tương lai cho học sinh, loại bỏ tâm lý sính bằng cấp một cách hình thức là điều rất cần thiết. Các nhà tuyển dụng cần tập trung khảo sát năng lực chuyên môn cụ thể của người lao động, phù hợp với yêu cầu công việc, còn bằng cấp chỉ là điều kiện cần. Như vậy các trường cao đẳng, trường dạy nghề có cơ hội phát triển, đào tạo những công nhân, chuyên viên lành nghề thành thạo. Người học tìm được việc làm phù hợp, có cuộc sống ổn định và cống hiến cho xã hội. Đại học sẽ dành cho những ai có mong muốn biết nhiều, học nhiều và muốn đi sâu trong chuyên môn, tri thức. Đại học không phải là nơi chỉ để kiếm danh, kiếm cần câu cơm, không phải là nơi gian dối trong học tập, thi cử để kiếm mảnh bằng cho có với đời. Cuộc sống không chỉ là “cơm áo gạo tiền” do vậy, cần khơi gợi niềm đam mê, tính lãng mạn tích cực để người có những năng lực đặc biệt sẵn sàng thực hiện việc học tập, nghiên cứu theo đúng sở trường, như thế ngành nào, nghề nào cũng có những người giỏi, xuất chúng.

Hiện nay có thực tế học sinh phổ thông chọn ngành nghề theo trào lưu và nhu cầu xã hội trước mắt. Đối với những người không trúng tuyển nguyện vọng 1 vào đại học trong kỳ thi 3 chung thường chọn đăng ký nguyện vọng 2,3 ở những ngành đôi lúc chỉ nhằm dễ trúng tuyển chứ chưa chắc phù hợp với khả năng, nguyện vọng và sở trường. Sinh viên sẽ không hứng thú khi học; tốt nghiệp xong không hẳn có năng lực về chuyên môn, nghề nghiệp được đào tạo. Như vậy, người học nếu bước đầu chọn sai thì phải chịu hậu quả suốt cả cuộc đời đối với bản thân và là gánh nặng cho xã hội.

4. Về hiệu quả xã hội trong việc mở các loại hình trường: Quan điểm giáo dục – đào tạo sau bậc trung học như là “dịch vụ”, về nhiều khía cạnh nó rất cần thiết để giữa các trường, các bậc học có sự cạnh tranh lành mạnh với nhau. Tùy từng điều kiện, khả năng và hoàn cảnh cụ thể, sản phẩm đào tạo bất cứ bậc nào phải tốt, đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng. Ví dụ sau đây dù có khiên cưỡng nhưng cho ta một hình ảnh: Ta cần sắm một phương tiện để đi lại. Nếu có nhiều  tiền thì mua xe hơi, ít tiền hơn thì mua xe máy, ít tiền hơn nữa thì mua xe đạp. Nhưng đã là phương tiện đi lại thì nó phải tốt, bền, phục vụ đúng yêu cầu sử dụng. Với người mua xe không xem nó là phương tiện đi lại mà cốt để “oai” thì có khi sẵn sàng mua xe Dream tàu, sau đó dán mác là Dream Thái. Do chất lượng không đảm bảo, người sử dụng không tiên liệu được lúc nào xe trục trặc, bị “ban” dọc đường nên khá nguy hiểm và chậm trễ trong công việc. Nếu bằng lòng với chiếc xe đạp tốt thì thời gian có lâu hơn một chút, người ta vẫn chủ động đi, đến đúng lúc.

Xã hội chúng ta, từ người lãnh đạo đến người dân phải tạo ra “tâm lý tiêu dùng” thông minh. Nếu chưa đủ điều điều kiện để mở trường đại học đúng nghĩa thì cứ bằng lòng với một trường cao đẳng, trung cấp tốt, chất lượng cao. Nếu hoàn cảnh gia đình, trí tuệ của học sinh chưa đủ đáp ứng với yêu cầu của bậc đại học thì cứ bằng lòng với các bậc học thấp hơn, được học hành, đào tạo có chất lượng để đảm trách tốt chức năng được phân công trong xã hội. Nếu vẫn cố để theo đuổi bậc đại học thì tình hình cũng giống như Dream tàu dán mác Dream Thái mà thôi, đó là kiểu nửa thầy, nửa thợ: thầy không xứng thầy, thợ không ra thợ.

 

Vài giải pháp cụ thể

1. Xây dựng các trường “đại học xuất sắc” mới: Suy nghĩ, cân nhắc việc nhập khẩu đại học nước ngoài và tự mình xây dựng đại học mới do người Việt lãnh đạo, tổ chức, điều hành theo tiêu chuẩn quốc tế. Nếu vào trang web của trường đại học Việt Đức, chúng ta có thể gợn buồn vì ban lãnh đạo và giảng viên chủ yếu là người nước ngoài; bằng cấp do Đức cấp, trang web tiếng Việt không được trang trọng, trình bày lẫn lộn tiếng Việt với tiếng Anh…

Có thể hình dung các trường “đại học xuất sắc” nếu được xây mới tại Việt Nam sẽ như thế này.  Đó là những đầu tàu, hoa tiêu định hướng cho những trường đại học khác trong môi trường Việt Nam với chuẩn quốc tế. Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, để xây một con đường, chiếc cầu mấy nghìn tỉ, thậm chí xây một tượng đài mấy trăm tỉ có vẻ dễ được xét duyệt hơn là xây một ngôi trường dăm bảy trăm tỉ, do vậy thật sự cân nhắc chọn những nhóm ngành, khối ngành xây dựng ít tốn kém nhưng có thể nhanh chóng phát huy tinh thần đại học. Những trường, ngành liên quan đến kinh tế, kỹ thuật thì mở ở những thành phố, đô thị năng động như Hà Nội, Tp. HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng; những trường, ngành về khoa học xã hội, nhân văn, toán học, triết học, luật học,… thì cần một môi trường thâm nghiêm, có bề dày văn hóa, yên tĩnh để phát triển như Huế, Đà Lạt chẳng hạn.

Trường đại học xuất sắc là nơi cung cấp giảng viên đúng chuẩn, chất lượng cao cho các trường đại học, cao đẳng khác; cung cấp chuyên gia giỏi cho các cơ quan tổ chức nhà nước. Đây là nơi truyền bá phổ biến tri thức cho xã hội, thể hiện đúng nghĩa môi trường và tinh thần đại học. Ngoài những chương trình đào tạo cấp bằng, chứng chỉ cần tổ chức các buổi giảng theo chuyên đề, diễn thuyết, hội thảo, seminar theo những chủ đề thời sự hoặc học thuật cao, dành cho bất cứ ai muốn nâng tầm hiểu biết. Trường tập trung đào tạo bậc cao. Tỉ lệ sau đại học/đại học phải là 60/40 %.

Một trường loại này được lãnh đạo, điều hành chủ yếu bởi người Việt với quyền hạn, trách nhiệm như người nước ngoài, cụ thể:

– Quản lý: Lãnh đạo phải có quyền uy lớn, gắn với trách nhiệm lớn và phải chịu trách nhiệm cá nhân trong những quyết sách của mình.

– Giảng viên: làm đúng công việc chuyên môn, giảng dạy và nghiên cứu theo tinh thần sáng tạo, năng động. Đặc biệt hằng năm phải có công bố công trình nghiên cứu của mình trên những tạp chí quốc tế có uy tín. Có thể ban đầu số lượng bài báo ít nhưng sau đó tăng lên. Không chấp nhận những bài báo đăng ở các tạp chí kém chất lượng để tính điểm công trình. Giảng viên được tuyển từ những du sinh, Việt kiều được đào tạo bài bản, đã giảng dạy nhiều năm ở nước ngoài hoặc những người có năng lực, có kinh nghiệm giảng dạy hiện đang công tác ở các trường đại học trong và ngoài nước. Giảng viên là người phải thành thạo một vài ngoại ngữ theo nghĩa là phải giảng dạy, thuyết trình, viết báo, tranh luận học thuật một cách lưu loát bằng ngoại ngữ.

– Sinh viên: là những người khá giỏi, có năng lực và đặc biệt thiết tha với việc học tập, nghiên cứu mở mang tri thức và nghề nghiệp. Quy trình tuyển sinh phải đánh giá và tư vấn  được năng lực, trình độ, sở trường của người học.

– Chính sách: trao quyền tự chủ, tự trị cho trường đại học. Hiệu trưởng khi nhận nhiêm vụ phải tự xem mình như một thuyền trưởng, sẽ gắn bó, sống chết với con tàu đại học để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.

– Chương trình đào tạo do Hiệu trưởng, Hội đồng khoa học đào tạo của trường chịu trách nhiệm, có thể tuân theo một cách mềm dẻo chương trình khung  của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

– Ngôn ngữ giảng dạy: Tiếng Việt là chính, tuy nhiên một số môn, số tín chỉ có thể dạy, học bằng ngoại ngữ bất cứ lúc nào. Do vậy, yêu cầu sinh viên phải thành thạo một ngoại ngữ theo nghĩa là có thể nghe giảng, trình bày bài làm của mình bằng ngoại ngữ. Việc rèn luyện ngoại ngữ do sinh viên chủ động dưới sự hỗ trợ của trường về mặt thời gian, giảng viên, môi trường học tập.

– Tinh thần đại học: phải hình thành, duy trì và lan rộng trong giới trí thức, phải trở thành suy nghĩ thường trực của giảng viên, sinh viên và người quản lý lãnh đạo đại học. Tinh thần đại học phải là khoa học, nhân văn, trung thực, khai phóng, sáng tạo, hợp tác, hoài nghi.

2. Cách xử lý đối với hệ thống giáo dục sau trung học hiện nay: có thể thấy tính phức tạp, rối rắm của hệ thống này và thật khó nâng cấp hay điều chỉnh để một số trường trở thành thành những trung tâm xuất sắc. Sức ỳ, quán tính, lịch sử, truyền thống và những mối quan hệ nhân văn hiện có,… không cho phép đổi mới mạnh mẽ, toàn diện. Xét riêng chỉ tại một đơn vị cho thấy việc tách, nhập tổ chức lại các mô hình đại học diễn ra ở Đại học Huế từ sau ngày giải phóng đến nay đã để lại nhiều kinh nghiệm chua xót, mặc dù khi thực thi ai nấy đều tin và cho rằng đó là làm cho cái cũ trở nên tốt hơn. Vì vậy:

– Giữ nguyên hiện trạng hệ thống các trường đại học hiện có. Kiên quyết không mở thêm các trường đại học kiểu như nâng cấp các trường Cao đẳng, Trung cấp hay mở trường đại học địa phương.

– Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung quản lý, kiểm tra giám sát tốt hệ thống các trường đại học của cả nước theo những quy chế, quy định hiện hành, bảo đảm không có trường nào lách luật, vượt rào. Tiếp tục hỗ trợ ngân sách, dự án như đã lên kế hoạch cho các trường đầu tư xây dựng trọng điểm.

– Ủng hộ, tạo điều kiện cho trường đại học nào có năng lực đột phá cải tổ theo tiêu chuẩn của trường đại học “xuất sắc” đã nói; đối với trường nếu thành lập mới thì dứt khoát phải đảm  bảo đầy đủ  tiêu chuẩn Việt Nam hoặc tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế. Các dự án để nâng cấp, mở trường cần hết sức rõ ràng, minh bạch, khả thi, nếu cần thì phải công bố cho toàn xã hội biết.

Từ những đề xuất nêu trên, có lẽ chưa nên tác động căn bản, toàn diện nhằm cải tổ hệ thống giáo dục sau trung học hiện hành của Việt Nam nếu chưa có nghiên cứu toàn diện, sâu sắc không chỉ về giáo dục đại học mà còn trong mối tương quan với kinh tế, chính trị, xã hội; với bậc giáo dục phổ thông. Ta cần tìm hiểu thật kỹ quy luật khách quan chi phối và rồi dựa theo quy luật ấy để điều chỉnh, phát triển hơn là làm theo cách duy ý chí.

Nếu xây dựng mới được những trường đại học xuất sắc, thuần Việt thì đó chính là những mô hình để hệ thống các trường đại học khác trong nước có thể học tập kinh nghiệm, nâng cấp cải tổ theo tiêu chuẩn thế giới. Như vậy, ngoài những loại hình trường đại học đã và đang tồn tại và phát triển như hiện nay, sẽ có những trường đại học thật sự đúng nghĩa theo tinh thần đại học nghiên cứu, xuất sắc, không chỉ là nơi đào tạo nghề bậc cao mà có thể đóng vai trò như những “trung tâm tư tưởng”, “trung tâm tri thức”, tham vấn giải quyết nhiều vấn đề của đất nước, xã hội.

PGS.TS Nguyễn Hoàng,

Giảng viên Khoa Toán, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế


[1] Luật Giáo dục 2005

[2] Luật Giáo dục đại học 2012

[3]  Trích diễn văn đọc trong buổi lễ khai mạc Khóa Hội thảo Liên khoa Đại học Huế ngày 15.8.1971.

[4] Report to UNESCO of the International Commission on Education for the Twenty-first Century,  published in 1996 by the United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Hướng cải cách

14 phản hồi »

  1. Chết tui rồi! Đọc bài này chỉ muốn, cố hiểu cái mục tiêu Giáo Dục nhưng không thể. Thôi nhìn gương hai thằng bạn học không đọc tiếp nữa.

    Like

  2. Dân ta có câu “Có bột mới gột nên hồ”. Ngày xưa chất kết dính gọi là hồ, dùng dán giấy được nấu từ bột gạo và nước tạo thành. Trình độ “giả kim thuật” của người Việt xưa không biết đến đâu nhưng đúc kết lại một câu dễ nhớ. Ngoài chất nước thì cần có chất tinh bột (bột ngô, khoai,sắn..gạo) chỉ nước không đúng là làm sao nấu hồ. Ông Cha ta ngày xưa tài thật, tài từ câu nói ngắn ai cũng hiểu.

    Like

  3. Bác namviet, em nghĩ Bác cũng phải thông cảm cho tác giả. Với tư cách là giảng viên, PGS. TS. đương chức, đương quyền ở VN, muốn viết kiến nghị để cấp trên có ý định đọc, thì bắt buộc phải viết văn dài dòng như vậy, các khái niệm và phạm trù phải đúng như quy định của chính phủ, Đảng và nhà nước! Còn khi phát biểu trước Thanh niên Sinh Viên và nhất là khi nói bên lề với bạn bè cùng là tri thức thì chắc sẽ ngắn gọn hơn, dễ hiểu hơn ạ.

    Em thì thấy để ai ai cũng nghe và làm theo một cách hiệu quả thì chắc phải nhắc đến lợi ích Cá nhân của từng người học, người dạy, của chính phủ, của mọi người dân, khi Giáo Dục được đổi mới.
    Thí dụ như, chỉ có đổi mới GD thì người học ở VN mới có bằng cấp được Quốc tế công nhận, người dạy mới có lương đủ ăn mà không bị tha hoá, chính phủ VN sẽ tự hào có được một lực lượng trí thức cạnh tranh được với các con Rồng Châu Á (chứ không phải có các phần tử vô học nhưng quá khích như ở một số các nước Ả Rập oánh nhau tả tơi), người dân sẽ không còn phải tốn tiền cho con cái ăn học những cái mà xã hội Văn Minh và tiến bộ không Cần đến.

    Like

    • Đồng tình với bạn Thanh Hải là phát biểu trước thiên hạ thì phải vang như…chuông. “Điều 2. Mục tiêu giáo dục” là mục tiêu ước mơ của nền GD thế giới hiện tại và tương lai (hình tượng xa của thế giới). Thế giới chắc chắn phải thấy ta nói đúng cái mục đích đó và tất nhiên họ phải kính phục ta về chí hướng. Không biết tôi có lầm lẫn gì không? nhưng khi nghĩ về chữ ” toàn diện” thấy nói thì dễ nhưng trên thế giới chưa ai làm được Đưa ra một mục tiêu không ai làm được gì là Trạng hay người thường cũng đều không làm được. Nếu mục tiêu phấn đấu để “toàn diện không biết” cũng không đơn giản vì như vậy phải cấm tất cả sự trao đổi thông tin và cấm nghĩ. nhưng cách này cũng không ổn. Hay toàn diện của người ta khác toàn diện của tôi? Có lẽ ta phải xin kinh phí và có một lộ trình phân tích chữ “toàn diện” để bàn về đổi mới Giáo Dục Việt nam.

      Like

  4. Đổi mới GD thì xin để những người có học vị, nhưng ước mơ của người dân thường xin được kể ra đây. Thay vì giảm tải việc học thì cá nhà nghiên cứu phương pháp GD có thể lấy một số kinh nghiện xưa. Ví dụ: thay cho làm bài tập toán, người ta có thể cho học sinh thi đấu trò “Ô ăn quan” (trò chơi dân gian này mong người ta đừng nghĩ cái tên này nọ mà cấm nhé). Thay vì đưa bài tập thể dục nhảy dây, đá cầu khiến cháu nào buổi tối cũng phải hùng hục tập trên đầu nhà hàng xóm, bằng giờ ra chơi với cầu với dây. Giáo Dục toàn diện là điều người dân chẳng dám mơ (mơ dân giỏi hơn vua còn có lý) nhưng mơ học thật chứ không phải học giả vờ “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức….” . Chỉ cần đừng “giả vờ trả lương, giả vờ làm việc” là điều người dân khắc khoải.

    Like

  5. Tôi nhiều lúc cũng sợ phải đọc bài viết chán lại dài, lằng nhằng. Nó cũng không quan trọng bằng giáo điều, sáo rộng. Giáo điều cũng là một thứ gian dối hay dốt nát. Mong các vị học giả mau giúp có một nền giáo dục chống giáo điều, nhất là ở vai trò lý luận, chính sách về văn hoá, giáo dục đào tạo. Tôi thích ngài NV câu phải học các cụ nói ngắn thôi mà tinh hoa, chắt lọc.

    Like

  6. Đề phòng tác giả bài viết và các học giả, các nhà quản lý, làm chính sách trong khi phân tích chữ “toàn diện” và cách hướng tới mục tiêu đó. Tôi xin đưa ra một mục tiêu dễ ngàn lần(có khi hơn). Đào tạo ra bao nhiêu người là dùng gần hết từng ấy người và để họ sống được bằng khả năng chuyên môn của họ.

    Like

    • bác nói sai toét. Trong xã hội thế nào chả có kẻ không ý thức được mình. Những kẻ ấy học ngành nghề không phù hợp nên không khá được. Thế mà đào tạo xong phải dùng hết thì chết rồi, đúng kiểu bao cấp rồi, thụt lùi rồi. Hậu quả ngày nay có một nguyên nhân là do mấy kẻ ấy được dùng hết mà ra đấy bác ạ.

      Like

      • Ăn trộm của tôi chữ “gần”hết, nên mới hiểu vậy.

        Like

      • vâng. vì “gần” nó mơ hồ quá ạ. bao nhiều phần trăm là gần nhỉ? 80% hay 90% hay 95%? Ngay đến hết cũng không hẳn là hết huống gì là gần?
        Theo kinh tế thị trường thì đào tạo và sử dụng điều chỉnh nhau bởi quy luật cung cầu. Anh cứ có nhu cầu sử dụng thì có đào tạo, ngành nào thu nhập cao thì nhiều người học. Và ngành ấy sẽ thừa người, tạo sự cạnh tranh để chỉ có người giỏi tồn tại. Kẻ không ý thức được mình sẽ có học mà bị thất nghiệp. Ấy là bình thường. Cho nên hết hay gần hết đều là chủ quan, duy ý chí. Cứ đào tạo thoải mái

        Like

  7. – Xin trích lại nguyên văn trong bài viết này:

    “Điều 2. Mục tiêu giáo dục

    Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Điều 3. Tính chất, nguyên lý giáo dục

    1. Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.

    2. Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội….”

    – Xin thưa với ông PGS.TS Nguyễn Hoàng: đã mấy chục năm qua từ khi thống nhất nước nhà đến nay, ngành GD đã rất kiên định những “mục tiêu”, “triết lý” GD như ông vừa nói ở trên đấy chứ. Và hiệu quả đào tạo con người VN trong mấy chục năm qua như thế nào thì chắc ông cũng đã rõ. Với học vị, học hàm cao ngất ngưỡng thế kia, ông có thể tư duy khác những gì mà mấy mươi năm qua có quá nhiều vị nhai đi nhai lại không? Người dân quê tôi có câu “gà què ăn quẩn cối xay/ rau răm muối ớt xé phai con gà què”. Phải chăng vì con gà nó bị què nên nó không thể đi đâu xa để kiếm ăn ngoài việc quẩn quanh bên cái cối xay với vài hát thóc, hạt gạo rơi vãi. Nó không bao giờ có cơ hội thưởng thức hương vị những món như côn trùng, giun, dế, thịt, cá nên nó rất ốm và nhất là không có khả năng để chiến đấu với mấy anh gà khác được? Vậy thì để làm gì con gà què ấy, mần thịt “xé phai”… nhậu cho rồi.

    – Thật sự tôi rất đồng cảm với câu “Giáo điều cũng là một thứ gian dối hay dốt nát” của bạn Hoàng Minh Bảo San trong cái comment ở trên về bài viết này của ông.

    Like

    • Bạn Rất Là Buồn xin hãy buồn 5 phút thôi nhé. Bởi vì phần bạn trích thực ra là một văn kiện mới về Giáo Dục chư không phải của tác giả Nguyễn Hoàng. Phần tác giả là phần đề xuất ở phần sau. Dưng mà, nhớ ngày đi học cứ mỗi lần mở sách GK ra là chán học. Nhưng giờ thấy mình thật bất công với thầy cô giáo, với nhà văn, nhà thơ, nhà viết bài…của Việt nam. Tại sao không tự thấy mình khi viết đơn cũng có vài dòng mà không nghĩ ngợi? Biết là thế, cố gắng không chủ quan là thế nhưng vừa đọc được tới chữ “toàn diện” thế là đầu óc loạn xạ không thể tiếp tục. Hôn nay kinh nghiệm đọc từ “một số đề xuất” phần của tác giả.

      Like

  8. Theo tôi đây là bài viết hay, rất hay.

    Like

  9. Bài viết rất hay với tác giả và vô dụng với xã hội, Đừng viết tốt hơn.

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: