How We Learn

Gửi bộ trưởng: Một lá thư ngỏ bàn về giáo dục– Lương Hoài Nam

TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 7 năm 2013

 

Từng là sản phẩm của nền giáo dục Việt Nam khi còn là học sinh cắp sách đến trường, là khách hàng của giáo dục Việt Nam khi bỏ công sức, tiền bạc cho việc học hành của các con (và tới đây là các cháu), tôi đánh giá cao việc Bộ trưởng công bố địa chỉ email với mong muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân cho ngành giáo dục nước nhà mà Bộ trưởng phụ trách.Cá nhân tôi xin hưởng ứng lời kêu gọi của Bộ trưởng bằng chính lá thư ngỏ này gửi đến Bộ trưởng.

Thưa Bộ trưởng, những bất cập của nền giáo dục Việt Nam đã được rất nhiều chuyên gia giáo dục và đông đảo người dân nêu ra liên tục trong hàng chục năm qua. Hiếm có một nước nào mà mỗi năm các kỳ thi tốt nghiệp, thi đại học lại trở thành các sự kiện đặc biệt, thu hút sự quan tâm rộng rãi của báo chí, người dân như ở Việt Nam. Các con của chúng tôi may mắn có điều kiện học trung học, dự bị đại học và đại học tại Singapore và Anh. Điều khác biệt rất dễ nhận thấy là ở các nước này nhà trường chẳng bao giờ tổ chức lễ khai giảng;đến kỳ thi hết cấp học, vào đại học báo chí của họ cũng chẳng đưa tin. Học sinh cứ đến ngày đến giờ thì tới trường nhận sách giáo khoa, thời khoá biểu, làm quen với thầy cô, bạn bè cùng lớp rồi bắt đầu năm học mới. Việc lựa chọn, đăng ký trường, ngành, thông báo kết quả thi, các cơ hội học thay thế nếu lựa chọn ưu tiên không đạt… đều được thực hiện qua internet.Có cảm giác là nền giáo dục và chuyện thi cử ở các nước này đã đạt độ ổn định đến mức chẳng có gì để nói, để bàn, để tranh luận nữa.

Quả thực, cái gì mà năm nào cũng thế, “đến hẹn lại lên”, “cứ thế mà làm” thì cũng không có gì để xã hội phải đặc biệt quan tâm nữa thật.

Trong khi đó ở Việt Nam, hàng năm Bộ GD-ĐT đưa ra quy chế, hướng dẫn thi tốt nghiệp PTTH, mỗi năm một kiểu, quanh quẩn mãi mà vẫn chưa ổn định được việc này. Ngay đến môn thi tốt nghiệp là những môn nào học sinh cũng không được biết trước, hằng năm phải chờ quyết định của Bộ. Cách làm này dẫn đến sự cố hằng trăm học sinh Trường PTTH Nguyễn Hiền ở TP Hồ Chí Minh xé đề cương môn Lịch sử ném tung tóe khi họ biếtkhông phải thi tốt nghiệp môn học này trong kỳ thi tốt nghiệp vừa rồi.

Ở nước ta, chuyện giáo dục được quan tâm quanh năm và từ năm này qua năm khác. Nghĩ theo hướng tích cực, điều đó là vì người Việt Nam và cả xã hội rất quan tâm đến việc học hành của trẻ em. Nhưng cũng cần nhìn nhận dưới  cả góc độ khác: phải chăng sự “quan tâm” đó thật ra là sự bận tâmdo những bất cập của chuyện học hành, thi cử trong một nền giáo dục chưatạo được sự yên tâm, tin tưởng của cả giới chuyên môn lẫn người dân?

Nếu như sự quan tâm đến giáo dục là tích cực thì sự bận tâm lại mang tính tiêu cực, nếu không phải bận tâm hoặc bớt phải bận tâm thì tốt hơn.Nhưng sự thật là cả giới chuyên môn và người dân nước ta không thể không bận tâm được. Và dưới góc nhìn nhất định, những buổi lễ khai giảng đầy cờ hoa, khẩu hiệu, các bài phát biểu dõng dạc không hẳn thể hiện sự thoả mãn, hài lòng với thực trạng nền giáo dục, mà là để thêm một lần hạ quyết tâm nâng cao chất lượng dạy và học. Năm nào cũng như vậy, nhưng chưa thay đổi được bao nhiêu nên vẫn phải tiếp tục hạ quyết tâm.

Nếu góc nhìn trên của tôi là sai thì mong Bộ trưởng lượng thứ, nhưng tôi xin được trình bày một số điều mà nền giáo dục Việt Nam, theo tôi, đã và đang tạo ra sự bận tâm cho cả giới chuyên môn và người dân, như sau:

1. Kết cấu chương trình giáo dục phổ thông.

Chương trình học phổ thông của ta quá nặng các môn tự nhiên (toán, lý, hoá), nhẹ các môn xã hội, giáo dục kỹ năng sống và làm việc (văn, sử, địa, ngoại ngữ, giáo dục giới tính, giáo dục công dân, kiến thức pháp luật, kỹ năng thuyết trình,  làm việc theo nhóm, thể dục thể thao, v.v.).

Nếu như việc học nặng các môn tự nhiên chỉ bổ ích cho những người chọn các ngành khoa học tự nhiên khi vào đại học và ra làm việc, thì các môn học xã hội, kỹ năng sống và làm việc bổ ích cho cả đời người của mọi người, kể cả người theo các ngành khoa học tự nhiên. Kiến thức về các lĩnh vực đó không bao giờ thừa, thường là thiếu hoặc rất thiếu. Không ít người có một vài bằng đại học nhưng soạn một văn bản tiếng Việt đơn giản cũng không đạt. Không ít người khi tiếp xúc với đối tác nước ngoài, ngoài các vấn đề công việc ra chẳng biết chuyện trò gì.Không ít người không thể thuyết trình hiệu quả trước đông người, kể cả về các vấn đề chuyên môn mà mình nắm vững. Không ít người biết chuyên môn, nhưng không thể đóng góp hiệu quả cho các hoạt động, đề án tập thể đòi hỏi sự chia sẻ, phối hợp, cộng hưởng. Không ít người thiếu hẳn những chuẩn mực đạo đức, văn hoá ứng xử, hiểu biết pháp luật tối thiểu sau khi ra trường.

Theo một số thông tin đăng tải gần đây, 37% sinh viên ra trường không tìm được việc làm do thiếu hụt kỹ năng thực hành, 83% sinh viên ra trường bị các nhà tuyển dụng đánh giá thiếu kỹ năng sống. Đã phỏng vấn tuyển dụng hàng nghìn người trong 20 năm qua, tôi nghĩ những con số này có cơ sở và rất đáng lo ngại. Nhiều cơ quan, doanh nghiệp sau khi tuyển dụng sinh viên ra trường phải tổ chức đào tạo cho họ các kiến thức, kỹ năng cơ bản mà lẽ ra họ đã phải được chuẩn bị tốt trong những năm học đại học.

2. Sự cào bằng, áp đặt, thiếu tính hướng nghiệp của chương trình giáo dục.

Sự cố video clip “Kẻ lười biếng” gần đây là một sự “nổi loạn”, báo động về tình trạng học sinh mất niềm tin vào nền giáo dục Việt Nam. Tôi nghĩ rằng “Kẻ lười biếng” không phải là học sinh duy nhất mất niềm tin, chỉ có điều em này có khả năng và mức độ mạnh dạn để công khai trình bày suy nghĩ, đánh giá của mình về nền giáo dục. Nhiều điều “Kẻ lười biếng” nói đáng để các nhà quản lý giáo dục xem xét nghiêm túc thay vì bác bỏ cho qua chuyện.

Cách đây gần 10 năm, khi đang là học sinh lớp 10 chuyên toán của một trường chuyên tại Hà Nội, con trai chúng tôi cũng thể hiện sự mất niềm tin vào hệ thống giáo dục Việt Nam bằng một bài cháu viết gửi đăng trên báo Thanh Niên. Thay vì mừng về sự “chín chắn”, biểu hiện “ông cụ non” của một đứa trẻ, vợ chồng chúng tôi tin rằng cần phải đưa cháu trở lại làm người học sinh chăm chỉ, đam mê học hành. Nhưng vì cháu đã mất niềm tin vào cách dạy và học ở Việt Nam qua trải nghiệm của chính cháu và bạn bè, chúng tôi nghĩ, cách tốt nhất là để cháu trở thành học sinh của một nền giáo dục khác mà cháu tin tưởng và có đam mê học tập mạnh mẽ. Một khi chúng ta mất niềm tin vào một thứ, rất khó để chúng ta tiếp thu nó một cách hiệu quả. Điều này rất nguy hiểm cho học sinh với nhiệm vụ chính là học.

Phải chăng cái làm cho học sinhmất niềm tin vào hệ thống giáo dục và chán học là sự cào bằng, tính áp đặt trong chương trình giáo dục và cách dạy? Mỗi đứa trẻ có những mặt mạnh, mặt yếu, thiên hướng, năng khiếu riêng, nhưng trong hệ giáo dục hiện nay, với chương trình học giống nhau suốt cả 12 năm, các em có rất ít cơ hội lựa chọn để học tốt hơn những môn học các em có năng khiếu và đỡ phải mất công, khổ sở với những môn học các em không thể tiếp thu tốt vì các tố chất cá nhân (hoặc nhiều khi chỉ đơn giản làcác em không thích các môn học đó).

Kiến thức là vô tận, do vậy, yêu cầu phát triển toàn diện con người không đồng nghĩa với việc bắt học sinh phải học những môn học phổ thông mà khả năng tiếp thu của các em rất hạn chế. Nhớ lại, khi học cấp 3 chúng tôi được (phải?) học môn nhạc. Đối với tôi, đó là một cực hình, tôi không thể nào phân biệt được nốt nhạc này với nốt nhạc kia. Ở lứa tuổi đó, năng khiếu âm nhạc nếu có thì đã có rồi, nếu đã không có thì cũng không thể tạo ra được, vậy thì bắt tôi học nhạc để làm gì?Nếu được lựa chọn, tôi đã sử dụng thời gian học nhạc để học môn khác nhiều hơn.

Khi so sánh với một số hệ giáo dục khác mà học sinh có quyền lựa chọn môn học (sẽ nêu dưới đây), tính hướng nghiệp cho học sinh trong chương trình phổ thông của ta quá ít, làm cho các em phải học nhiều thứ không cần thiết, học ít các thứ cần thiết (cho nghiệp sẽ chọn). Con gái chúng tôi học xong lớp 8 ở Việt Nam thì đi Singapore học tiếp trung học với chỉ 7 môn học, trong khi các bạn của cháu học lớp 9 ở Việt Nam với 12-13 môn. Con trai chúng tôi đang học giữa lớp 10 thì được nhận vào học dự bị đại học ở Anh với 6 môn học (do cháu tự chọn), chỉ bằng một nửa số môn cháu học ở Việt Nam.

Chương trình phổ thông giống nhau cho tất cả học sinh trong cả 12 năm học là sự lãng phí thời gian, sức học cho học sinh, lãng phí công sức, tiền bạc cho các gia đình và toàn xã hội. Theo tôi được biết, có rất ít nước trên thế giới còn theo hệ thống giáo dục phổ thông kiểu như vậy.

3. Tỷ lệ đào tạo “thầy” và “thợ” cho thị trường lao động.

Do chương trình giáo dục phổ thông giống nhau suốt 12 năm và tâm lý phải cố gắng cho con vào đại học phổ biến của các phụ huynh nước ta, tỷ lệ đào tạo đại học và cao đẳng dạy nghề ở nước ta bất hợp lý, gây mất cân đối về nguồn cung trên thị trường lao động.

Nền kinh tế nào cũng cần có “thợ” nhiều hơn “thầy”, đào tạo nghề thông thường phải nhiều hơn đào tạo kinh điển (để làm các công việc nghiên cứu, quản lý). Do dôi dư lao động có bằng đại học nhưng lại thiếu lao động được đào tạo nghề có chất lượng cao, nhiều cơ quan, doanh nghiệp tuyển dụng lao động có bằng đại học cho những công việc thật ra chỉ cần lao động được đào tạo nghề (cao đẳng, thậm chí trung cấp).

Khi người có bằng đại học chưa tìm được cơ hội việc làm tốt hơn, họ sẵn sàng chấp nhận một công việc lao động giản đơn, với mức thu nhập thấp. Nhưng sau khi đã được nhận vào làm việc, họ luôn luôn tìm cơ hội thay đổi sang công việc khác mà họ coi là phù hợp với bằng đại học của họ (từ nhân viên thành chuyên viên). Khi người lao động không hài lòng với công việc đang làm, chất lượng công việc bị giảm sút, phát sinh sự bất ổn định trong công tác nhân lực, thậm chí còn gây tiêu cực cho tổ chức.

Trong những năm gần đây, thay vì nâng cao chất lượng, uy tín của các trường đại học và cao đẳng để “thầy” cho ra “thầy”, “thợ” cho ra “thợ”, chúng ta lại cho nâng cấp nhiều trường cao đẳng lên đại học, có cả trường hợp từ trung cấp lên cao đẳng rồi lên đại học trong một thời gian ngắn. Điều đó làm giảm chất lượng cả “thầy” và cả “thợ”, đồng thời làm cho tỷ lệ “thầy” – “thợ” càng bất hợp lý.Bằng việc chuyển dịch quá nhiều học sinh về phía đại học, chúng ta cũng làm hỏng chất lượng của cả “thầy” và “thợ”.

Theo số liệu tại website moet.gov.vn, trong năm học 2010-2011, nước ta có 726.219 sinh viên học tại 226 trường cao đẳng, 1.435.887 sinh viên học tại 188 trường đại học. Sang năm học 2011-2012, có 756.292 sinh viên tại 215 trường cao đẳng và 1.448.021 sinh viên tại 204 trường đại học. Mặc dù số sinh viên cao đẳng có tăng, nhưng số trường cao đẳng đã giảm 11 trường, số trường đại học tăng thêm 16 trường, tỷ lệ sinh viên đại học – cao đẳng ở nước ta khoảng 2:1. Tỷ lệ này tại EU cỡ 1:1,5, tại Nhật cỡ 1:1. Tỷ lệ sinh viên đại học – cao đẳng của Việt Nam tương đương Mỹ, nhưng cần lưu ý rằng rất nhiều các doanh nghiệp Mỹ đã chuyển các hoạt động sản xuất cần nhiều lao động giản đơn sang các nước đang phát triển tại châu Á và Mỹ La-tinh, chỉ duy trì các khâu nghiên cứu – phát triển, tiếp thị, phân phối… cần lao động chuyên môn cao tại chính quốc. Ta chưa thể theo Mỹ trong chuyện này.

Theo quy hoạch đã được phê duyệt, đến năm 2020 cả nước có 460 trường đại học và cao đẳng, gồm 224 trường đại học và 236 trường cao đẳng. Với tỷ lệ như vậy và quy mô vượt trội của 02 trường Đại học Quốc gia, e rằng tỷ lệ “thầy” – “thợ” trên thị trường lao động đến năm 2020 vẫn bất hợp lý (trừ khi phát triển được một số trường cao đẳng có quy mô rất lớn).

4. Cuộc thi tốt nghiệp.

Trong những năm gần đây, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp luôn tiệm cận mức tuyệt đối. Năm học 2012-2013, tỷ lệ học sinh đạt tốt nghiệp hệ giáo dục trung học phổ thông đạt 97,52% (“hơi giảm” so với 98,97% của năm học 2011-2012).

Một kỳ thi mà chỉ có một vài phần trăm học sinh không đỗ, điểm thi của nó sau đó cũng không được sử dụng cho mục đích gì đáng kể, trong khi nó gây tốn kém rất lớn về công sức, tiền bạc, gây tắc đường, tăng tai nạn giao thông…, tôi nghĩ không cần phải tổ chức nữa. Chúng ta hoàn toàn có thể cấp chứng nhận tốt nghiệp cho tất cả học sinh khi họ kết thúc toàn bộ chương trình giáo dục PTTH, việc chọn lọc học sinh sẽ thực hiện qua các kỳ thi đại học, cao đẳng (bản thân các kỳ thi này cũng cần được hoàn thiện).

Không nên tiếp tục một cách làm vất vả, tốn kém như thi tốt nghiệp khi mà nó đã không còn tạo được giá trị lớn hơn các loại phí tổn phải bỏ ra.

5. Đầu tư nước ngoài vào giáo dục và liên kết đào tạo.

Trong những năm qua, nhà nước đã ban hành một số văn bản quy định về đầu tư nước ngoài vào giáo dục, hợp tác liên kết đào tạo.Gần đây nhất là Nghị định 73/2012/NĐ-CP ký ngày 26/9/2012.

Tôi có cảm giác các quan điểm, chính sách của ta đối với vấn đề này vẫn còn thiếu tính nhất quán và kinh nghiệm thực tiễn.

Một mặt, chúng ta thấy cần phải thu hút đầu tư nước ngoài vào giáo dục, cho phép liên kết đào tạo để phát triển lĩnh vực quan trọng này. Mặt khác, có vẻ chúng ta vẫn muốn bảo hộ các cơ sở đào tạo không có vốn đầu tư nước ngoài trong cạnh tranh giáo dục, vì thế quy định những hạn chế như trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi không được tiếp nhận vào học chương trình nước ngoài, các trường tiểu học và THCS không quá 10% tổng số học sinh của trường; các trường THPT không quá 20% tổng số học sinh của trường. Nhiều người đã bày tỏ băn khoăn về các quy định này.

Trên thực tế, tổng vốn FDI vào giáo dục ở Việt Nam chưa đến 500 triệu USD và mức đầu tư bình quân vào một dự án giáo dục chưa đến 3 triệu USD, rất thấp so với các lĩnh vực khác. Các nhà đầu tư giáo dục nước ngoài chủ yếu đầu tư vào các dự án trường mầm non và PTCS. Mới  chỉ có 3 trường hệ đại học ở Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo tôi, việc thu hút đầu tư vốn FDI vào các dự án trường đại học ở Việt Nam không có triển vọng sáng sủa. Hầu hết các trường đại học danh tiếng trên thế giới hoạt động theo quy chế phi lợi nhuận (kể cả các trường đại học tư nhân). Họ tiếp nhận các nguồn tài trợ từ chính phủ, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và bắt buộc phải duy trì nguyên tắc phi lợi nhuận. Họ không đầu tư vốn ra nước ngoài, mà chỉ thực hiện các chương trình liên kết đào tạo và các khoản thu từ các hoạt động này thường cũng mang tính phi lợi nhuận. Nói chung, đào tạo đại học không phải là lĩnh vực để các nhà đầu tư kiếm lợi nhuận. Số lượng các trường đại học tư nhân với mục tiêu kinh doanh (với mục tiêu lợi nhuận) rất ít, thường không phải là các trường danh tiếng và ngay cả họ cũng ít khi đầu tư vốn ra nước ngoài.

Nhìn chung, liên kết đào tạo là hình thức hợp tác phổ biến nhất. Các nhà đầu tư địa phương (nhà nước, tư nhân) bỏ vốn thành lập trường, tuyển sinh và đào tạo học sinh, sinh viên theo chương trình khung, giáo trình của trường nước ngoài, kèm với những hình thức hỗ trợ nhất định của trường nước ngoài. Đây có lẽ là hướng đi mà Việt Nam cần ưu tiên và tạo mọi điều kiện thuận lợi, kể cả việc cho phép áp dụng toàn bộ chương trình khung nước ngoài đối với ngành nghề đào tạo được liên kết quốc tế. Chúng ta thu hút cho các học sinh học đại học ở nước ngoài về nước làm việc như thế nào thì cũng cần tạo điều kiện như thếcho các trường đại học trong nước thực hiện các chương trình đào tạo tương tự thông qua liên kết đào tạo. Việc này có thể làm giảm nhu cầu đi học ở nước ngoài và tạo điều kiện cho nhiều người được tiếp cận các chương trình đào tạo quốc tế ngay ở trong nước.

6. Tiếp tục chắp vá hay đổi mới toàn diện hệ giáo dục?

Trong phạm hiểu biết của một người ngoài ngành, tôi nghĩ rằng thế giới thật ra cũng chỉ có mấy nền giáo dục lớn (có người gọi triết lý, hệ giáo dục), đó là Pháp, Anh, Mỹ, Liên-xô (cũ)… Hệ giáo dục của các quốc gia khác là kết quả của việc ứng dụng, pha trộn các hệ giáo dục lớn qua các thời kỳ chiếm đóng thực dân và xâm nhập văn hoá trong xu thế toàn cầu hoá hiện đại. Cách ứng dụng, pha trộn có liên quan đến các yếu tố kinh tế, văn hoá, tôn giáo địa phương, cái mà ta có thể gọi là “tiếp thu và phát triển một cách sáng tạo”.

Do bối cảnh lịch sử, hệ giáo dục của ta chịu ảnh hưởng và có sự pha trộn của nhiều hệ giáo dục lớn: Pháp, Liên-xô (cũ), Mỹ (ở miền Nam trước đây), Anh (do ảnh hưởng của thời kỳ hội nhập). Đã đến lúc cần có sự nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn một hệ giáo dục có tính đồng bộ, tính liên kết cao hơn.

Nếu nhìn ra các nước lân cận, có thể thấy Singapore, Malaysia, Thái Lan có hệ giáo dục rất gần với hệ của Anh.Ở các nước thuộc Liên-xô (cũ), kể cả Nga, sự ảnh hưởng của nền giáo dục Anh cũng đang ngày càng lớn.

Tôi nghĩ, việc đổi mới toàn diện giáo dục ở nước ta nên đoạn tuyệt với cách tiếp cận “ứng dụng và phát triển sáng tạo” theo kiểu làm lâu nay.Nên chọn một hệ giáo dục tốt làm cơ sở tham chiếu đểxây dựng hệ giáo dục mới.

Tôi nghĩ đó nên là hệ giáo dục Anh. Về đại cương, hệ giáo dục này bao gồm 6 năm tiểu học và 5 năm trung học (cho phép thực hiện chương trình trung học “nén” với 4 năm). Sau khi kết thúc trung học, tuỳ thuộc kết quả một kỳ thi chung, học sinh được chọn theo học hệ cao đẳng học nghề (polytechnic) 3 năm, hoặc dự đại học 2 năm để thi vào các trường đại học (university) với thời gian học 3 năm (ngoại trừ một số ngành đặc biệt).

So với chương trình PTTH hiện nay, học sinh có thể tiết kiệm 01 năm (hoặc 02 năm nếu theo chương trình trung học “nén”). Ngoài ra, số môn học ở các lớp trung học cũng ít hơn và học sinh được chọn các môn học (ngoài 3-4 môn học bắt buộc).Như vậy, học sinh trung đã bắt đầu được hướng nghiệp qua việc lựa chọn các môn học mình yêu thích và có thế mạnh. Số môn học các năm cuối cấp trung học chỉ khoảng 7-8 môn (thay vì 12-13 môn theo chương trình hiện nay), cho phép các em học sâu hơn các môn này.

Chương trình dự bị đại học 2 năm (chương trình “nén” 1,5 năm) cũng cho phép học sinh chọn học 7-8 môn học phù hợp với định hướng ngành học đại học, tuy nhiên, học sinh cũng có quyền chọn học nhiều môn hơn.

Giáo dục Anh là một trong những hệ giáo dục tốt nhất trên thế giới và có khả năng thích ứng với điều kiện địa phương của các nước. Nhiều quốc gia thuộc địa cũ của Anh áp dụng hệ giáo dục này và nhìn chung phát triển thuận lợi hơn so với các nước khác. Hệ giáo dục Anh cho phép học sinh phát hiện và có điều kiện lựa chọn, tập trung cho các lĩnh vực kiến thức mà học sinh có năng khiếu sớm hơn nhiều so với các hệ giáo dục mang tính đổ đồng, cào bằng như hệ giáo dục Việt Nam hiện nay.

Các nhà giáo dục có thể có những quan điểm khác. Điều tôi muốn nói là chúng ta nên tránh phát triển một hệ giáo dục có tính chắp vá, pha trộn quá nhiều. Để có thể “áp dụng sáng tạo” kinh nghiệm giáo dục của các hệ giáo dục khác nhau, cần phải hiểu tường tận chúng. Một công trình kiến trúc chắp vá vẫn có thể là một công trình đẹp, nhưng nó đòi hỏi những kiến trúc sư tài ba.Với những gì đã và đang tích tụ trong một hệ giáo dục như ta đang có, việc tiếp tục chắp vá để có một hệ giáo dục tốt hơn là quá khó.

Kể cả khi có sự đồng thuận lấy hệ giáo dục Anh làm cơ sở để xây dựng một hệ giáo dục mới, việc chuyển đổi cần có lộ trình thời gian để giải quyết nhiều vấn đề phát sinh.Có thể cần 3 năm, 5 năm hoặc lâu hơn.Nhưng nếu không đặt ra mục tiêu, lộ trình thay đổi để bắt đầu chuẩn bị thì các bất cập của giáo dục Việt Nam có thể kéo dài và gây thiệt thòi cho nhiều thế hệ nữa.

7. Dạy thêm – học thêm.

Vấn đề dạy thêm – học thêm đã được mổ xẻ, bàn luận rất nhiều. Mặc dù rất băn khoăn, thông cảm với thu nhập và điều kiện sống của các giáo viên, tôi cho rằng cần chấm dứt dứt điểm, càng sớm càng tốt, tình trạng dạy thêm – học thêm như hiện nay vì sự lành mạnh, chất lượng của nền giáo dục.

Việc dạy thêm – học thêm không chỉ gây tốn kém công sức, tiền bạc của các gia đình cho việc học hành của con em, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến sự cân bằng học hành – nghỉ ngơi và phát triển toàn diện trí-lực của học sinh. Nó phá vỡ sự công bằng giữa các học sinh với điều kiện gia đình chênh lệch và thiệt thòi cho con em các gia đình có khó khăn kinh tế. Nó làm xấu đi hình ảnh thầy cô trong con mắt học trò và các phụ huynh học sinh.

Thế hệ chúng tôi không phải học thêm, nhưng chắc gì chất lượng học đã kém so với hiện nay?Các học sinh Việt Nam được gửi ra nước ngoài học trong những năm 70-80 vẫn học rất giỏi so với học sinh của các nước khác, thường chiếm các vị trí đứng đầu về kết quả học tập.

Nhìn ra các nước xung quanh, học sinh phổ thông cũng không phải học thêm các môn chính khoá. Tình trạng học sinh học thêm ở Việt Nam, thậm chí ngay từ lớp 1, là một thực tế độc nhất vô nhị và khó có thể biện minh được, ngoại trừ lý do thu nhập của đội ngũ giáo viên nước ta quá thấp so với nhu cầu cuộc sống. Nếu lấy việc dạy thêm – học thêm để giải quyết vấn đề thu nhập của giáo viên, nền giáo dục khó mà tốt lên được.

Chương trình giáo dục phải được xây dựng để học sinh có thể nắm vững những kiến thức được dạy ở lớp và các bài tập về nhà. Đối với các em học sinh có khả năng tiếp thu yếu hơn, nhà trường cần tổ chức các lớp phụ đạo miễn phí để giúp các em có điều kiện đáp ứng được yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình, thu hẹp khoảng cách với các học sinh khá, giỏi. Ở Singapore và nhiều nước khác người ta làm như thế, không bao giờ có việc giáo viên hoặc nhà trường thu tiền phụ đạo các học sinh kém hơn.

8. Chi cho giáo dục và đời sống, chất lượng đội ngũ giáo viên.

Ông cha ta nói: “Có thực mới vực được đạo”, điều đó đúng với mọi thứ, trong đó có giáo dục.

Theo các số liệu tại trang mạng www.nationmaster.com, tỷ lệ “Đầu tư công cho giáo dục / Chi tiêu của chính phủ” (“Public spending on education/ Government expenditure”) của một số quốc gia như sau: Trung Quốc – 12,71%, Thái Lan – 19,98%, Singapore – 18,22%, Malaysia – 28,02 và Philippines – 17,22%.

Ở nước ta, theo các nghị quyết của Đảng, Quốc hội và chủ trương, chính sách của Chính phủ, chi ngân sách nhà nước (cả trung ương và địa phương) cho giáo dục đào tạo và dạy nghề được xác định ở mức 20%. Xét về tỷ lệ % thì con số này không nhỏ so với các nước trên, nhưng vì tổng chi ngân sách của Việt Nam nhỏ hơn đáng kể so với họ (do nền kinh tế có GDP còn nhỏ), con số tuyệt đối chi cho giáo dục đào tạo ở nươc ta thấp hơn nhiều (đặc biệt nếu tính bình quân trên một giáo viên, trên một học sinh).

Nếu xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhân tài là nguyên khí quốc gia, không thể không cải thiện tỷ lệ và tổng chi ngân sách cho giáo dục. Nguồn ngân sách được tăng lên một phần dùng để cải thiện thu nhập cho đội ngũ giáo viên, làm sao để nghề giáo viên trở nên hấp dẫn trong các nghề công chức. Ngoài ra, ngân sách tăng thêm cũng dùng để nâng cấp trường lớp, thiết bị giảng dạy, cấp học bổng khuyến học và các nhu cầu thiết thực khác của ngành giáo dục.

Chúng ta hoàn toàn có thể bán bớt doanh nghiệp nhà nước để đầu tư thêm cho giáo dục.Khi bán bớt doanh nghiệp, nhà nước đỡ phải đầu tư thêm cho chúng, lại càng có thêm nguồn đầu tư cho giáo dục. Trong khuôn khổ nguồn ngân sách có hạn, nếu cần phải lựa chọn một bên là các doanh nghiệp nhà nước, một bên là chất lượng lao động cho mọi thành phần kinh tế, tôi nghĩ nên lựa chọn cái sau. Nó cần hơn cho sự phát triển lâu dài, bền vững của đất nước Việt Nam.

Câu “Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” dân gian nói suốt mấy chục năm qua, đến nay vẫn đúng nếu so sánh điểm chuẩn vào đại học giữa ngành sư phạm và các ngành khác.Nhiều trường, khoa sư phạm tuyển sinh đại học với điểm chuẩn trên dưới 15 điểm, thậm chí có những ngành điểm chuẩn chỉ 12-13 điểm.Những học sinh với các điểm thi các môn chưa đạt trung bình đó, khi ra trường trở thành giáo viên dạy học sinh, họ sẽ đưa nền giáo dục nước ta đến đâu?Số phận các em học sinh của họ sẽ như thế nào?

Chúng ta cần tìm cách chấm dứt thực tế đau khổ này vì tương lai các thế hệ con em chúng ta và biến nghề sư phạm thành một nghề thu hút người tài, thể hiện rõ nhất qua điểm chuẩn đầu vào của các trường, khoa sư phạm. Muốn làm được như thế, phải có chế độ đãi ngộ tốt đối với nghề giáo.Muốn có chế độ đãi ngộ tốt thì phải có đủ tiền, không thể khác được.

Thưa Bộ trưởng, các vấn đề tôi đề cập trên đây thật ra không có gì mới, chúng đã được nhiều chuyên gia và người dân nêu ra trong nhiều năm qua. Tôi tập hợp lại trong thư này gửi Bộ trưởng với mong muốn các vấn đề này sẽ nhận được sự quan tâm xem xét và giải quyết toàn diện hơn, với lộ trình rõ ràng hơn. Tôi cũng không khẳng định rằng các nhận xét, quan điểm của tôi là toàn diện, chính xác.Góc nhìn của tôi chỉ là một trong rất nhiều góc nhìn về giáo dục Việt Nam. Nếu Bộ trưởng tổ chức một cuộc hội thảo, hay một “Hội nghị Diên Hồng” về giáo dục, với sự tham gia của giới chuyên môn và các tầng lớp nhân dân, tôi tin là Bộ trưởng sẽ nhận được hàng trăm, hàng nghìn ý kiến, kiến nghị rất tâm huyết và có giá trị.

Các bất cập của nền giáo dục Việt Nam cũng không phải do Bộ trưởng, mà tích tụ từ hàng chục năm qua, theo tôi, hoàn toàn không cần thiết phải truy xét tại ai, tại sao? Trong quá trình phát triển của cả đất nước hay một lĩnh vực, có rất nhiều bất cập không phải do lỗi của ai, mà là kết quả của bối cảnh lịch sử, của việc xác định các thứ tự ưu tiên trong từng giai đoạn. Cái sai nhiều khi chỉ là sự kéo dài của cái đúng của giai đoạn trước.Điều quan trọng nhất là nhận diện các vấn đề và có biện pháp, lộ trình khắc phục.

Khi một số đại biểu quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm thấp cho Bộ trưởng trong đợt bỏ phiếu tín nhiệm gần đây của Quốc hội, hoặc khi người dân (như tôi) bày tỏ sự chưa hài lòng với nền giáo dục, tôi nghĩ không ai lại đi nghĩ là Bộ trưởng gây ra những bất cập đó. Cái mà họ chưa hài lòng, tôi nghĩ, là cách Bộ trưởng và Bộ GD-ĐT dưới sự lãnh đạo của Bộ trưởng nhận diện các bất cập và các biện pháp, lộ trình giải quyết.Tình hình hôm nay chưa tốt, không sao cả, miễn là Bộ trưởng cho chúng tôi – người dân, một kế hoạch khắc phục cụ thể những thứ chưa tốt.Chúng tôi sẽ tin, cổ vũ và chờ đợi.
Xin trân trọng cám ơn Bộ trưởng!

TS Lương Hoài Nam

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Thư bạn đọc, Vai trò của xã hội dân sự

27 phản hồi »

  1. Bài viết rất hay. Tiếng là thư ngỏ gửi bộ trưởng BGD&ĐT nhưng thực ra là gửi cho những ai vẫn còn mơ mộng chưa hiểu về nên GD Việt nam. Bởi nếu ai còn nghĩ đến tương lai dân tộc thì làm sao có thể vô cảm khi nghe những tiếng than từ phía những người bỏ tiền, bỏ thời gian, công sức theo học. Lắm lúc thấy dường như lỗi ở phía người đi học chứ không phải lỗi từ Bộ. Có vẻ họ như những “con bạc khát nước”.

    Số lượt thích

  2. rất đồng tình với quan điểm của tác giả, mở nhiều trường đại học, học liên thông từ trung cấp, cao đẳng lên đại học chỉ mất thêm có 1,5 năm,… hỏi tại sao không thừa thầy, ai cũng muốn làm “thầy” bảo sao tỉ lệ thất nghiệp nước nhà lại cao.

    Số lượt thích

  3. Tác giả đưa ra những trải nghiệm với nền GD VN từ đời cha đến đời con như hồi chuông cảnh tỉnh, để đến đời cháu không phải lặp lại những bước đi lệch lạc đó nữa. Bức thư ngỏ này thật có ý nghĩa ạ!

    Số lượt thích

  4. Nếu đưa được chừng này kiến nghị của TS LHN vào GDĐT của VN thì thiết thực, đáng kể lắm.
    Xin TS viết thêm 1 thư nói kỹ về dạy thêm, học thêm. Tôi muốn hỏi, nếu thầy dạy thêm mà tình nguyện, không vụ lợi còn trò học thêm vì tự do lựa chọn để đáp ứng nhu cầu bản thân thì sao?
    Nên chăng đưa vấn đề DTHT thành đối tượng không chỉ của “pháp trị” mà còn quan trọng hơn là “đức trị” với những chuẩn, những tuyên thệ từ sinh viên sư phạm cho đến giáo viên? Và vấn đề “thực mới vực đạo” cho gv nữa, trong khi cả xã hội đang tham nhũng tràn lan?

    Số lượt thích

  5. ấy ấy. Dạy phải lấy tiền chứ. Sao lại cứ thích hưởng thụ bằng sự từ thiện thế.
    Tôi lại cứ cho rằng Tốt nhất là Bộ cứ tạo điều kiện thật rộng cho GD:
    – chấp nhận mọi loại hình GD: trường lớp công, trường lớp tư, trường lớp nước ngoài, học trực tuyến quá hay vì rẻ tiền, kể cả gia sư cũng là chính thức luôn, tự học không cần thầy lại càng hoan nghênh.
    – Chấp nhận mọi chương trình đào tạo: chương trình của Bộ, chương trình của nước ngoài, chương trình của từng trường riêng, chương trình các thầy tự bịa ra, chương trình học trò tự bịa ra.
    Tại sao thế? Bởi vì mỗi hình thức ấy đều có điểm mạnh, điểm yếu không so sánh được. Ví như :
    – gia sư là một thầy một trò là rất gần gũi, rất cởi mở; Trò tự học lại càng thiên tài; Các chương trình nước ngoài thì tiên tiến hiện đại; chương trình của Bộ thì chuẩn mực, thiết thực.
    – Các chương trình học càng phong phú càng tốt vì mỗi cá nhân mỗi khác, không thể có một chương trình phù hợp chung được.
    Thế Bộ làm gì? Bộ tổ chức thi tốt nghiệp. Bất cứ ai đăng kí đều được thi (không kể tuổi tác), đỗ thì được cấp bằng, trượt thì về học lại, sau này thi lại. Mỗi năm cả một cái Bộ chỉ làm một việc là tổ chức thi tốt nghiệp nên chắc chắn sẽ tốt. (không tốt thì cho Bộ nghỉ luôn đi.)
    Như thế sẽ chẳng có dạy thêm – học thêm. Thầy cứ mở lớp, đóng thuế, trò thích thì học, không thích thì bỏ. Thầy nào giỏi thì trò đến học nhiều và giàu có, thầy nào kém thì trò không đến và nghèo đói.
    Giỏi hay kém cũng là tương đối, là phù hợp hay không mà thôi và đều do trò, khách hàng, đánh giá, Như thế chả có bệnh thành tích gì cả.
    Như thế trường nào cũng cố gắng đưa ra một dịch vụ tốt nhất để phục vụ nếu không muốn sập tiệm.
    Như thế trò nào cũng cố gắng học vì học cho mình chứ chẳng phải cho bố mẹ hay cho thầy cô nào sất.
    Vậy là thi nghiêm túc, trường tốt, thầy tốt, trò tốt.
    TUYỆT. (mới là GD phổ thông nhé)

    Số lượt thích

  6. Về GD đại học thì thế này, cũng phải đặt một số chuẩn tối thiểu về trường đại học: đủ phòng ốc, đủ giáo viên (tối thiểu là bằng đại học thôi chứ đòi bằng cao học mà như hiện nay thì thà chỉ bằng đại học cho cạnh tranh lành mạnh, rộng rãi), đủ phòng thí nghiệm, phòng thực hành, đủ phương tiện máy móc.
    Thế nào là đủ? Đủ là đủ theo ngành (do các trường chứng minh rằng mình đủ), đủ quay vòng 3 ca (sáng, chiều, tối). Thế thôi.
    Còn lại tùy các trường tự do:
    – Tự do tuyển sinh.
    – Tự do đào tạo.
    – Tự do cấp bằng.
    – Riêng các trường do vốn nhà nước thì Bộ có quyền đặt thêm yêu cầu gì tùy Bộ.
    Như thế cơ hội học hành sẽ mở rộng với mọi người.
    Như thế các trường sẽ nhanh nhạy mở thêm các ngành phù hợp ngay khi thấy nhu cầu sắp diễn ra.
    Như thế các trường sẽ thực sự lo chất lượng vì chỉ 2 khóa không được đánh giá tốt (từ phía người học và người tuyển dụng) thì sẽ mất uy tín không lấy lại được, sẽ sập tiệm. (người học có quyền mau bảo hiểm cho quá trình học nếu trường sập mà không được chuyển tới trường khác).
    Như thế các trường sẽ đặt uy tín lên hàng đầu.
    Như thế tuyển dụng sẽ không chỉ nhìn cái bằng.
    Thế là: Cơ hội rộng mở, cạnh tranh lành mạnh, uy tín hàng đầu, không trọng bằng cấp.

    Số lượt thích

    • Giờ đây có thể chắc chắn một điều (điều chắc chắn là không có điều gì chắc chắn) trang Học Thế Nào mục tiêu là bàn về việc học. Bạn le báo phục đôi khi cũng thể hiện (hay giả vờ) ngây thở nhể!

      Số lượt thích

  7. Rất nhiều người đều thấy rằng chất lượng của nền giáo dục ở VN đã rơi xuống tận đáy. Biết bao nhà nghiên cứu, học thuật, những nhà giáo có tâm và tầm đều kêu gào khẩn thiết và cấp bách phải thay đổi toàn diện nền giáo dục”không giống ai” này. Nhưng chúng ta cũng biết rằng ông bộ trưởng bộ giáo dục không phải là người duy nhất chịu trách nhiệm, mà chính là ĐCS VN, người lãnh đạo nhân dân VN qua bao thế hệ, mới là kiến trúc sư chính của công cuộc chấn hưng này. Quan trọng là “người lãnh đạo nhân dân VN qua bao thế hệ” này có đủ tâm và tầm để quyết định một việc cực kì trọng đại như thế không?
    Tôi đã mỏi mòn trông đợi và cho đến bây giờ thì hoàn toàn mất tin tưởng rồi. Còn ai sau đây có thể vực dậy trong tôi le lói một ít niềm tin?

    Số lượt thích

    • thưa với bạn:
      trả lời câu hỏi thứ nhất của bạn là : không.
      trả lời câu hỏi thứ hai của bạn là : có. (nhưng phải lâu lâu tí nữa)

      Số lượt thích

  8. Trời ơi đối với mình môn hóa quả là một cực hình. Trong khi đó môn này chả nằm trong số môn để mình thi đại học chứ, mà cũng chả giúp ích gì cho mình cả.mình sau này định thi khối H, là khối năng khiếu ấy, nhưng thật khổ sở khi mỹ thuật lại không có trong chương trình học cấp 3. Mà lại phải tốn thời gian học những môn đâu đâu ấy,

    Số lượt thích

  9. Tôi rất tâm đắc với bài viết của tác giả Lương Hoài Nam.
    Xin được phụ họa, “nối điêu” thêm vài ý kiến nhỏ.
    Giáo dục VN còn tồn đọng quá nhiều bất cập. Để phân tích hết các bất cập đó, cần có một công trình nghiên cứu khoa học dài hơi, cần có sự đóng góp công sức của nhiều người.
    Từ một góc nhìn nhỏ và hẹp, tôi xin được chia sẻ một chút quan niệm của tôi về môn học mà lâu nay thường được gọi là môn Văn.
    Từ cách đây gần 20 năm, tôi từng nghĩ rằng, không nên coi môn Văn là môn quan trọng; trái lại môn Tiếng Việt mới là môn quan trọng nhất. Vì môn Tiếng Việt có vai trò xây dựng nền tảng ngôn ngữ cho học sinh. Chỉ khi có năng lực ngôn ngữ tốt thì học sinh mới có thể học tốt các môn khác. Hơn nữa, ngôn ngữ và tư duy-trí tuệ gắn liền với nhau như 2 mặt của một chiếc lá, cho nên phát triển ngôn ngữ cũng chính là phát triển tư duy vậy.
    Xuất phát từ đó, tôi nêu lên quan niệm: “Người Việt phải giỏi tiếng Việt”, và: “Mục đích của môn Văn là phải làm cho mọi học sinh thực sự giỏi tiếng Việt”. Mỗi khi có cơ hội trò chuyện về chuyên môn với đồng nghiệp và cán bộ quản lý giáo dục, tôi đều chia sẻ quan điểm đó.
    Nhưng buồn thay, tất cả đều nhìn tôi như thể nhìn một người ngoài hành tinh.
    Với họ, môn Văn, nghĩa là giảng văn, là phân tích văn thơ, là đem tác phẩm ra tán tụng, ngợi ca. Việc dạy văn của họ là trình diễn trước học trò thứ ngôn ngữ son phấn, màu mè, lên trầm xuống bổng sao cho tràn trề cảm xúc. Việc dạy-học văn như thế lâu ngày biến thành việc diễn ca kịch, cải lương. Ai diễn giỏi thì được khen là giáo viên giỏi.
    Tôi thì âm thầm (và lén lút) chọn cho mình một lối đi riêng, trung thành với quan điểm của mình về mục tiêu chính đáng của môn Văn.
    Có một lần tôi may mắn được trình bày ý kiến với một vị Giáo sư, là một trong các tác giả sách giáo khoa chính thống của Bộ Giáo dục. Thầy chỉ cười, khen tôi có ý kiến mới lạ. Nhưng rồi thầy kết luận: chúng ta đã quá quen với quan niệm và cách làm cũ, không thể làm theo cách của bạn được!
    Đại thể, ý kiến của tôi như sau:
    Hãy bỏ ngay môn Văn học trong nhà trường đi, thay vào đó là môn Tiếng Việt.
    Môn Tiếng Việt thì dạy-học những gì? Dạy học 4 kỹ năng NGHE, ĐỌC, VIẾT, NÓI.
    Trong đời sống hằng ngày, xã hội cần những kiểu văn bản nào, thì hãy dạy cho học sinh thành thạo các kiểu văn bản đó ở cả 4 kỹ năng nghe, đọc, viết, nói.
    Những kiểu văn bản nào được nhiều người dùng, dùng thường xuyên trong đời sống và có ảnh hưởng quyết định đến đời sống của con người?
    Những kiểu văn bản đó là: văn bản báo-công luận, văn bản hành chính (đặc biệt là văn bản luật), văn bản khoa học và văn bản nghị luận.
    Văn bản văn học hay văn chương chỉ là một trong các loại văn bản có mặt trong đời sống. Nó không phải là kiểu văn bản có “ý nghĩa sống còn” đối với tất cả mọi người trong đời sống thường nhật. Văn chương, bản chất của nó, chỉ là một nhánh của nghệ thuật. Nó không thể quan trọng hơn hay có ưu thế hơn so với âm nhạc, điện ảnh, ca kịch…Nó ngẫu nhiên có liên quan đến ngôn ngữ, đến tiếng Việt chỉ vì nó dùng ngôn ngữ làm chất liệu, làm phương tiện để xây dựng tác phẩm. Vậy thôi. Việc dạy-học thứ nghệ thuật này không nên là điều bắt buộc đối với tất cả học sinh. Nếu ai ham thích thứ nghệ thuật đó thì nên tự học lấy.
    Nhưng, việc học tiếng Việt, phải là điều bắt buộc, phải có tính “cưỡng bức”. Bởi nếu không giỏi tiếng Việt, tức là không có kỹ năng ngôn ngữ tốt, thì anh không thể có kỹ năng tư duy tốt, không thể là người có trí tuệ được. Muốn giỏi các môn học khác, nhất là các môn khoa học, thì trước hết phải giỏi tiếng Việt.
    Đó là điều hiển nhiên.
    Nhưng thử hỏi có bao nhiêu giáo viên Văn nhận ra sự thật đó!
    Nhân tiện, xin nói thêm: nếu đã chấp nhận mục tiêu của môn Văn là dạy cho học sinh thành những “người Việt giỏi tiếng Việt” thì phải đổi ngay tên gọi của môn học mà lâu nay người ta gọi là môn “Tiếng Việt” ấy đi. Nếu còn giữ nó trong nhà trường thì phải gọi nó bằng một cái tên đúng với đặc trưng của nó. Phải gọi nó là môn VIỆT NGỮ HỌC chứ không thể gọi nhầm nó là môn “Tiếng Việt” như lâu nay nữa. Còn môn Tiếng Việt đích thực là môn dạy 4 kỹ năng nói-nghe-đọc-viết các loại văn bản thông dụng. Nó là môn học ứng dụng, còn thiết thực hơn cả môn khoa học-công nghệ nữa!
    Đây là vấn đề lớn, không thể nói hết trong một comment được. Xin được chia sẻ đôi lời thiển cận. Rất mong nhận được ý kiến trao đổi cả quý vị.

    Số lượt thích

    • “…việc học tiếng Việt, phải là điều bắt buộc, phải có tính “cưỡng bức”. Bởi nếu không giỏi tiếng Việt, tức là không có kỹ năng ngôn ngữ tốt, thì anh không thể có kỹ năng tư duy tốt, không thể là người có trí tuệ được. “. Tôi thấy bài này cực đoan hơn cả cực đoan.Như người có một súc gỗ, làm không thành cái bàn, rồi bảo cái bàn không cần, làm ghế cần hơn. Cứ lần lượt cải cách thế rồi cái thớt không có luôn. Nhưng chính cách tư duy như thế này, cộng với nguồn tài chính dồi dào lại dễ làm quan to. Thấy cách tư duy này, giống những phát biểu “sốc” của các quan nhà ta.
      Có nhiều phụ huynh cho biết, con của họ đi du học về, muốn xin việc phải mất vài ba trăm triệu. Như vậy, nơi nào tuyển người cứ nhận người vào làm thử một năm. Nếu không đạt yêu cầu thì đuổi việc. Nhân viên càng dốt càng dễ đuổi việc. Nhà tuyển dụng thu lợi nhuận từ khâu tuyển người, nên chuyên môn không phải là điều kiện cần.

      Số lượt thích

    • Hehe, thiển cận thật ! Không có Văn thì làm gì có tiếng Việt cho anh học hả anh chu ba di?

      Số lượt thích

      • Trời ơi, ngôn ngữ có trước, văn chương có sau chứ bác; văn chương chỉ là sự vận dụng ngôn ngữ một cách có nghệ thuật mà thôi; ngôn ngữ đẻ ra văn chương chứ không đẻ ngược như bác nói đâu.
        Một nhà văn có tài, trước hết, phải là người nắm rất vững ngôn ngữ; có giỏi ngôn ngữ thì mới rành văn chương được.
        Không có văn thì ta học tiếng Việt trong ngôn ngữ hội thoại, trong văn bản khoa học, trong văn bản hành chính, trong kinh sách, trong báo chí, trong từ điển…
        Dùng văn chương để học tiếng Việt cũng tốt thôi. Tiếc một cái là bọn điếm chữ dùng văn chương làm trò xiếc ngôn từ, tô son chuốt phấn nhằm che đậy sự ngu xuẩn và trống rỗng trong tâm hồn, làm cho người ta coi khinh văn chương đi, làm cho văn chương chân chính cũng bị vạ lây.
        Nói bác biết, em đây là tín đồ của văn chương đấy, cực kỳ hâm mộ Lep Tônxtôi, Đôtxtôiepxky, London và Lỗ Tấn; em gần như thuộc lòng các cuốn “Không gia đình” của Malo, “Và một ngày dài hơn thế kỷ của Aitmatop” đấy!
        Vài dòng cho vui thế thôi, chẳng có ý gì đâu.

        Số lượt thích

      • Thế thì chu ba di còn phải đọc thêm Rousseau nữa, ông ấy cho rằng ngôn ngữ được sinh ra là vì trai gái yêu nhau có những điều cần phải nói với nhau, vì thế mà sinh ra ngôn ngữ.

        Số lượt thích

      • Đối tượng và mục đích!
        Học giỏi mà không hành thì có ích lợi chi ! Hoặc học giỏi mà làm sai thì lại càng tệ hơn là không học. Câu hỏi không phải học cái gì, mà là học thế nào?

        Một trong những mục đích nhà trường hy vọng nơi các em, là các em trở thành (vâng, trở thành) những “effective communicators”. Những mục đích khác là critical thinkers, responsible citizens, long life learners, academic achievers, etc.

        Như vậy, effective communicators là gì? Có phải là ăn nói có đầu có đuôi, có nền tảng vững chắc, xây dựng một đề tài hợp lý, có đối thoại tốt, và cuối cùng có một kết luận đẹp lòng mọi người ? (hay ít nhất là đa số)

        Số lượt thích

      • Hihi, bác pnh, tôi sẽ thích là sau đối thoại, mỗi người có một kết luận của riêng mình, và nếu cần phải có một cái kết luận chung, thì mọi người sẽ biểu quyết, hoặc là người nào chịu trách nhiệm thì người ấy quyết!
        Và thậm chí trong trường hợp không thể có cái kết luận thì mọi người cũng hiểu vấn đề, hoặc hiểu nhau hơn, và đó là điều quan trọng nhất, có phải không ạ?

        Số lượt thích

      • Hơi ngoài đề tí ! Vậy thì, bạn kết luận thế nào về viên thanh tra Miron trong chuyện Recette de meurtre (recipe for murder) của C.P. Donnell, Jr.

        Số lượt thích

    • Ý của chu ba di hay. Phải là người có tâm huyết và trăn trở rất lớn về vấn đề đang gọi là môn văn trong giáo dục nước nhà thì chu ba di mới có thể có những ý kiến đó, tất nhiên cái gì thiên hẳn về một bề thì cũng đều được coi là cực đoan cả, nhưng tôi tin chu ba di cũng sẽ không thiên hẳn về một bề, chỉ là anh đang nhấn mạnh vào vấn đề anh thấy quan trọng hơn. Cũng như anh mong muốn vấn đề “quan trọng hơn” ở đây là môn Tiếng Việt với bốn kỹ năng để dạy học sinh trong nhà trường là nghe, nói, đọc, viết phải được coi trọng hơn cái đang được gọi là môn Văn ( nghiêng về phân tích, luận bàn về tác giả, tác phẩm như bấy lâu nay…). Nếu đặt phạm vi ngoài xã hội, ở “bàn tròn văn học, văn chương” thì người ta sẽ tranh cãi và có thể sẽ là bất phân thắng bại về vấn đề trong văn học, văn chương ngôn ngữ có trước hay văn chương có trước (lưu ý là chỉ trong văn chương văn học, giả dụ trong việc hình thành một tác phẩm, chứ không luận bàn rộng trong đời sống). Còn nếu đặt trong phạm vi nhà trường, cần phải giáo dục (hay là trang bị) điều gì trước và điều gì là căn bản cho học sinh thì ý của chu ba di là chính xác: Đó chính là các vấn đề dạy về Tiếng Việt như nói, đọc, viết (dạng trang bị kỹ năng cho học sinh) phải là mục tiêu đầu tiên, và mục tiêu tiếp theo mới là thẩm thấu tác giả, tác phẩm. Tôi mong kiến hay của chu ba di được vận dụng sớm trong chương trình đổi mới sắp tới.

      Số lượt thích

    • Là một giáo viên, tôi rất tán thành ý của Chu Ba Di. Các bạn đừng vì từ “cưỡng bức” mà ném đá bác ấy. Chúng ta lên án độc đoán, nhưng đôi lúc, sống trong xã hội độc đoán, ta bị nhiễm hồi nào không biết. Môn Văn của nước ta, do ảnh hưởng chiến tranh, ảnh hưởng của việc xây dựng “con người mới”, “đánh giặc toàn dân” nên nhuốm màu chính trị. Hãy trả lại những áng thơ văn hay cho văn học. Đúng như bạn nói, những văn bản cần thiết thì học sinh không học, hay không được chú ý. Ví dụ, các em muốn viết một bài báo, nhưng không dám viết vì …không biết viết làm sao, chả nhẽ lại mở đề kiểu “nhà em có nuôi một …”

      Số lượt thích

  10. Hay qua, tìm được người để hỏi rồi. Theo bạn LH ông Rousseau (nhiều người học triết, hay nhắc đến ông này) có phải và một công dân tốt? Y tôi nghiêng về việc làm chứ không dừng lại ở lời nói. Những lời nói đúng bao giờ cũng dễ hơn làm đúng.

    Số lượt thích

    • Tôi nghĩ ông ấy quả là một công dân tốt, của mọi thời đại. Những tác phẩm của ông ấy (không phải lúc nào cũng nói đúng nhé, vì thường là chủ quan, và gợi mở suy nghĩ thì đúng hơn) vẫn có giá trị qua thời gian. Ông ấy lại còn là người rất tình cảm. Chắc bác nhắc đến việc ông ấy đưa các con vào trại trẻ mồ côi. Chuyện ấy thì tệ thật, nhưng chưa phải là tệ nhất, như ở ta bây giờ đẻ con xong còn đem quăng quật ở gốc cây, bụi rậm, thùng rác, giá có cái nhà trẻ mồ côi để họ tống con vào đấy thì tốt hơn! Nếu bác namviệt đọc “Tự bạch” (Les Confessions) trong đó ông ấy phân trần về việc ấy, và đọc “Emile”, thì sẽ thấy là ông ấy suy nghĩ và hành động sai lầm thôi, và sau này ông ấy đau khổ lắm đấy. Một trong những vấn đề lớn của hồi ấy, và cả bây giờ, là người ta không biết cách ngừa thai. Còn nạo thai, thì cũng chẳng khác gì giết con, bao nhiêu người đã làm điều ấy bao nhiêu lần trong đời, phần lớn là vì ngu ngốc, y như Rousseau, mà sau này chẳng biết họ có đau khổ ân hận gì không? Phải tuyên truyền ngừa thai, các bác ạ, chứ không phải tuyên truyền đức hạnh rồi giải quyết hậu quả.

      Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: