How We Learn

Trường công chất lượng cao và vấn đề bình đẳng xã hội – Phạm Thị Ly

Giáo dục- mục đích công và lợi ích tư

Nhà trường từ thủa mới hình thành đã chứa đựng mâu thuẫn giữa hai tầm nhìn khác nhau về mục đích của giáo dục, và mâu thuẫn đó vẫn đang tiếp tục mãi đến ngày nay: một mặt, giáo dục được xem là phương tiện thực hiện sứ mạng công (duy trì sự trung thành với những niềm tin cột trụ của xã hội, những giá trị cốt lõi giữ cho xã hội ổn định và phát triển[1]), mặt khác giáo dục là phương tiện thực dụng để đạt những lợi ích tư (đạt được những kỹ năng và kiến thức giúp cho người có học kiếm sống tốt hơn những người không được học hành).

Ở các nước tư bản phát triển, lý do kinh tế cho việc theo đuổi học hành đã tăng dần ngày càng mạnh, và ngày nay thì nó trở thành rõ ràng như là một mục tiêu cơ bản của giáo dục. Quan niệm của công chúng về giáo dục đã diễn tiến qua thời gian, từ chỗ nhấn mạnh mục tiêu tôn giáo, đến chỗ nhấn mạnh vào chính trị, rồi sau đó là kinh tế, và cuối cùng là gắn chặt với những lợi ích của những người đi học (David Labaree 1974, 2011, David Tyack and Larry Cuban 1995).

Xu hướng này cũng diễn tiến tương tự ở Việt Nam, từ chỗ nhấn mạnh mục tiêu chính trị đến mục tiêu kinh tế và cơ hội của từng cá nhân, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường. Mặc dù mục đích công và lợi ích tư của giáo dục không mâu thuẫn nhau, nhưng việc nhấn mạnh yếu tố nào là chủ yếu sẽ dẫn đến cách định hình hệ thống giáo dục và cách sử dụng ngân sách công cho giáo dục:

Dưới cái nhìn thương mại, đi học là theo đuổi những lợi ích trần tục, một cách để kiếm sống (,,,). Cái lý lẽ ấy được mọi người hiểu rất rõ tuy chẳng mấy khi được nói ra. Những lời lẽ tốt đẹp về giáo dục (…) vốn rất thịnh hành, khiến bất cứ ai cũng sẽ thấy khó mà nêu công khai rằng đi học là cách để đạt được những lợi ích tài chính mai sau, vì nói thế có vẻ như coi thường sứ mạng cao cả của giáo dục (…).Trong khi quan điểm tôn giáo kích thích những nỗ lực từ trên xuống, qua nhà nước và nhà thờ để đẩy mạnh hoạt động giáo dục cho dân chúng, thì quan điểm thương mại khơi dậy những nỗ lực từ dưới lên qua từng cá nhân người tiêu dùng giáo dục để theo đuổi việc học vì lợi ích của chính họ[2].

Các nhà cải cách theo quan điểm thứ nhất đến nay vẫn có xu hướng đối xử với giáo dục như là hàng hóa công. Họ  coi những nỗ lực cải cách giáo dục như một giải pháp nhằm giải quyết các vấn nạn xã hội cũng như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia, do đó lợi ích mà giáo dục mang lại sẽ được chia sẻ cho tất cả mọi người dù là bản thân người ấy hay con cái họ có đến trường hay không. Trái lại, những người tiêu dùng giáo dục lại tiếp cận giáo dục như một hàng hóa tư, một tài sản cá nhân của những người giành được nó. Họ chỉ đơn giản là theo đuổi lợi ích của chính họ qua phương tiện giáo dục[3].

Sự thống trị âm thầm của quan điểm thứ hai khiến giáo dục được coi là một dịch vụ, và trong vòng hai thập kỷ qua đã làm hình thành nên một thị trường giáo dục ở Việt Nam, cho dù người ta có nhìn nhận sự tồn tại của thị trường giáo dục ấy hay không thì nó vẫn đang tồn tại như một thực tế. Đã là dịch vụ, thì có mua bán, và có quy luật tiền nào của ấy. Trường tư ra đời đã đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa nguồn cung dịch vụ giáo dục, để người học có nhiều cơ hội lựa chọn hơn giữa mong muốn và khả năng chi trả của mình. Trường tư, trường quốc tế với nguồn vốn đầu tư của tư nhân, cơ sở vật chất to đẹp đàng hoàng, thu học phí cao, dành cho con em nhà giàu.  Trường công với nguồn lực hạn hẹp của ngân sách công, điều kiện dạy và học hạn chế, học phí thấp, dành cho con em nhà nghèo. Đó là một thực tế bất bình đẳng, nhưng chưa thể xóa bỏ ngay, vì nguồn lực nhà nước không đủ để đảm bảo điều kiện giáo dục tốt cho tất cả mọi trẻ em. Nói là bất bình đẳng, vì thực tế đó tạo ra những điều kiện và cơ hội phát triển khác nhau cho trẻ em có nguồn gốc gia đình và nền tảng kinh tế khác nhau, khiến cho bất bình đẳng xã hội ngày càng thêm sâu sắc.

Vai trò của giáo dục đối với bình đẳng xã hội

 Trên đây chúng ta đã nói đến thực tế bất bình đẳng trong một xã hội mà sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Giáo dục có vai trò như thế nào trong bối cảnh ấy? Đã từ lâu, người Việt được biết đến như một dân tộc coi trọng sự học. Người Việt trong nước, cũng như kiều bào ở nước ngoài, hy sinh mọi nhu cầu của mình để con cái được đến trường và theo đuổi giáo dục bậc cao, là một hình ảnh rất thường thấy. Đàng sau sự quyết tâm và hy sinh đó là kỳ vọng xem giáo dục như một phương tiện thần kỳ làm thay đổi số phận. Đó là từ góc nhìn cá nhân, còn từ góc nhìn xã hội, giáo dục là phương tiện tạo ra bình đẳng bằng cách mang lại cơ hội công bằng cho mọi người. Thông qua cơ hội công bằng, giáo dục kích thích nỗ lực vươn lên của mọi cá nhân, thúc đẩy sự ưu tú, tài năng, sự sáng tạo, nhờ đó tạo ra tiến bộ và phát triển xã hội.

Chính vì lẽ đó, hệ thống giáo dục công lập phải nhằm vào mục tiêu làm giảm nhẹ chứ không phải làm tăng thêm khoảng cách bất bình đẳng xã hội. Các trường công lập, được chi trả bằng tiền ngân sách, tức là tiền thuế của mọi người dân, phải tạo cơ hội cho người nghèo thay vì phục vụ người giàu. Điều này củng cố sự ổn định và phát triển của xã hội, bởi vì khi người nghèo bị tước hết mọi cơ hội thay đổi số phận thông qua giáo dục, thì những mâu thuẫn xã hội sẽ dồn nén lại ngày càng căng thẳng và dẫn đến giải pháp cực đoan. Có câu nói thêm một trường học là bớt đi một nhà tù là vì thế.

Bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục là một nhân tố cơ bản tăng cường sự cố kết xã hội (Andy Green, John Preston, Ricardo Sabates, 2003). Chính vì lẽ đó mà ở nhiều nước, thụ hưởng giáo dục được xem là một quyền cơ bản của công dân. Nhưng từ chính sách đến thực tế vẫn còn khoảng cách lớn. Ấn Độ chẳng hạn từ  năm 1960 có quy định trong hiến pháp về giáo dục miễn phí đến năm 14 tuổi, nhưng thực tế chỉ 74% dân số biết đọc biết viết.[4] Hiến pháp Việt Nam 1992, Điều 59 có quy định “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí”, nhưng trong thực tế, số người chưa bao giờ đến trường đang có xu hướng tăng: 0,3% trong Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam năm 2003 tăng lên đến 2,4%  năm 2009[5]. Tỉ lệ bỏ học cũng đang ngày càng tăng: khảo sát 10.044 thanh thiếu niên 14-25 tuổi  tại tất cả 63 tỉnh/ thành phố năm 2009 cho thấy khoảng một nửa số người được hỏi hiện đã thôi học, 24% trong số đó đã thôi học khi chưa đến 15 tuổi. Tỷ lệ bỏ học chủ yếu ở nông thôn:  87%. Cấp bỏ học cao nhất là THCS chiếm 47,17%. Mặc dù vậy có đến 44% người thôi học cho biết họ muốn đi học tiếp. Trong bối cảnh đó, càng cần những chính sách chú trọng đến thành phần này thay vì những thành phần đang có ưu thế.

Trường công chất lượng cao và việc sử dụng ngân sách công cho giáo dục

Thông qua việc thành lập những trường công chất lượng cao (với học phí tương xứng), và lớp chất lượng cao (dĩ nhiên cũng với học phí cao)  trong trường công, chính sách này đang khoét sâu thêm cái khoảng cách bất bình đẳng ấy trong giáo dục phổ thông, và kèm theo sự bất bình đẳng đó là bất công, vô lý, bởi vì làm như vậy là lấy tiền của ngân sách để cho người giàu, thay vì phải hỗ trợ người nghèo để tăng cường cơ hội cho họ.

Trường công, ngay cả khi thu học phí cao, vẫn phải dùng nguồn lực công làm nền tảng. Học phí cao thực ra chỉ đủ để bù đắp chi phí hoạt động, còn cơ sở hạ tầng thì vẫn là từ nguồn lực công. Thực chất những lớp học được gọi là “chất lượng cao” này không khác gì những “kế hoạch B”, tức là tận dụng cơ sở vật chất hạ tầng của nhà nước để tạo nguồn thu, tăng thu nhập cho những người đang làm việc trong hệ thống nhà nước, và người ta xem đó là giải pháp tình thế để bù đắp những thiếu hụt của nguồn lực công. Tình trạng nhập nhằng công tư như vậy diễn ra không chỉ trong lĩnh vực giáo dục, nhưng trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông, thì nó tác động trực tiếp đến công bằng xã hội là một trong những giá trị nền tảng tạo ra tính chính danh cho nhà nước, cũng như tác động đến sự ổn định và phát triển của xã hội tương lai.

Vì sao? Bởi vì là giải pháp tình thế, nó có thể tháo gỡ những khó khăn trước mắt về nguồn lực tài chính cho một số trường. Nhờ nguồn thu cao hơn, họ có thể tạo ra một điều kiện dạy và học tốt hơn, tuy điều đó cũng không đảm bảo chất lượng giáo dục tốt hơn. Nói rõ hơn, so với các trường tư có cùng mức học phí, họ có thể cung ứng một điều kiện dạy và học tốt hơn do dựa vào cơ sở vật chất hạ tầng của nhà nước. Những lớp được gọi là “chất lượng cao” như thế đáp ứng nhu cầu của nhiều gia đình sẵn sàng trả cao hơn để con em được học trong những điều kiện tốt hơn, trong khi họ không đủ điều kiện cho con vào các trường quốc tế và cũng không muốn học trường tư, bởi lẽ không nhiều trường tư có sân chơi, hạ tầng tốt, và vì trường tư cũng có những vấn nạn khác. Vì vậy phương án “trường chất lượng cao” hay “lớp chất lượng cao”, dường như là một giải pháp “dung hòa”để giải quyết vấn nạn về mâu thuẫn giữa nguồn lực tài chính có hạn của nhà nước và những mong đợi ngày càng cao của phụ huynh, và sự mở rộng tầng lớp trung lưu trong xã hội. Ai có con đang học phổ thông ở các thành phố lớn đều hiểu tình trạng “phong bì” cho thầy cô giáo hiện nay cũng trầm trọng không thua kém bất cứ lĩnh vực dịch vụ công nào khác. Học phí cao cho các lớp chất lượng cao cũng có thể chỉ là cách chính thức hóa những khoản chi ấy.

Nhưng việc dùng nguồn lực nhà nước để đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng cho những trường công chất lượng cao để những trường này có thể thu học phí gấp ba lần mức lương tối thiểu của xã hội, là một việc không thể biện minh dưới góc độ công bằng xã hội, vì chỉ người giàu đủ tiền đóng học phí mới được hưởng những tiện ích dịch vụ này. Lẽ ra nhu cầu của người giàu phải do trường tư đáp ứng. Còn ngân sách công thì phải phục vụ lợi ích công và mục tiêu công.

Trở lại vấn đề hai tầm nhìn khác nhau về mục đích của giáo dục đã được đề cập ở phần đầu bài viết, mặc dù “mục đích công” và “lợi ích tư” không mâu thuẫn, nhưng khi xác lập ưu tiên, thì trường công, do sử dụng ngân sách công, phải đáp ứng những mục tiêu chung của xã hội chứ không thể phục vụ lợi ích tư của một tầng lớp vốn đã có ưu thế, vì như vậy là khoét sâu thêm khoảng cách bất bình đẳng trong xã hội.

Về “trường chất lượng cao”

Được gọi là “chất lượng cao”, nhưng thế nào là chất lượng cao, dựa trên những tiêu chuẩn và thước đo nào, và kết quả đầu ra của học sinh lớp “chất lượng cao” là gì? Liệu có thể định nghĩa chất lượng giáo dục phổ thông bằng mức độ hay giá tiền của các trang thiết bị phòng học, dạy học? bằng mức lương trả cho thầy cô giáo? bằng số giờ học thêm ngoại ngữ, vi tính, luyện thi? Nếu mục tiêu của giáo dục là “đào tạo nguồn nhân lực cao hội nhập quốc tế” thì thước đo của “chất lượng cao”, “hội nhập quốc tế” là gì? Ông Nguyễn Viết Cẩn, Trưởng phòng KH-TC của Sở GD Hà Nội đã nhấn mạnh, “những học sinh khi tham gia học tại các trường này sẽ đảm bảo được học tập trong một môi trường chất lượng cao cả về cơ sở vật chất lẫn chất lượng giảng dạy với chương trình giảng dạy đổi mới, xây dựng khác so với chương trình chuẩn của Bộ”. Cụ thể là tăng cường số tiết học, tăng cường kỹ năng rèn luyện về cả kiến thức và kỹ năng sống, có giáo viên nước ngoài tham gia giảng dạy. Theo ông Cẩn, thước đo đầu ra là “phải có học sinh giỏi cấp thành phố, cấp quốc gia. Học lực 90% là khá giỏi, không có yếu kém. Hạnh kiểm khá và tốt 100%, không có bỏ học. 100% học sinh đỗ tốt nghiệp, được tham gia hoạt động kỹ năng sống”[6].

Tuy thế những tiêu chí nói trên không thực sự biểu hiện “chất lượng cao” của giáo dục. Trang thiết bị, cơ sở hạ tầng dù có tốt, giáo viên dù có được huấn luyện chu đáo, chương trình dù có được bổ sung cải thiện, số tiết học dù có tăng, tất cả mới chỉ là một phần của những nhân tố đầu vào, và không đảm bảo chất lượng giáo dục, nếu ta định nghĩa chất lượng giáo dục là những phẩm chất, năng lực mà người học thụ đắc qua quá trình học tập, và do đó phải được đo chủ yếu ở kết quả đầu ra.

Bởi vậy, thay vì nâng cao điều kiện dạy và học ở một số trường công (là điều thị trường giáo dục đã và đang làm để phục vụ cho một tầng lớp giàu có), nhà nước cần đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục của số đông thông qua khâu trọng yếu nhất của giáo dục là năng lực, trình độ và phẩm chất của người thầy; cũng như đầu tư vào việc cải thiện nội dung chương trình giáo dục. Những vấn nạn của giáo dục hiện nay nằm ở chỗ đó chứ không phải nằm ở số lượng hay giá trị trang thiết bị hạ tầng.

Trở lại vấn đề giáo dục và bình đẳng xã hội

Chúng ta muốn nhà trường thực hiện lý tưởng của mình về bình đẳng xã hội, đồng thời đem lại cho chúng ta khả năng đạt đến tham vọng của mình với tư cách một cá nhân. Nhưng làm sao có thể tăng cường cơ hội cho tất cả mọi người trong lúc vẫn duy trì ưu thế của một số người? Làm sao có thể thúc đẩy sự bình đẳng trong lúc vẫn bảo vệ cho đặc quyền, vì đó là những thứ mâu thuẫn với nhau. Những người có học hành, bằng cấp cao có được ưu thế chính là vì nhiều người khác không được học. Nếu tất cả mọi người đều có bằng đại học thì bằng đại học không còn là một ưu thế nữa. Kết quả là giáo dục không ngừng mở rộng trong lúc sự tín nhiệm giá trị của giáo dục cũng không ngừng lạm phát. Đó là chưa kể đến sự gỉam sút thực sự của chất lượng giáo dục và sự yếu kém của hệ thống tổ chức nhân sự dựa vào tài năng.

Trong bối cảnh đó, nguồn lực công lại càng cần được dành cho việc mang lại cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận giáo dục. Chúng ta không tránh khỏi việc người giàu hơn thì được học trường tốt hơn, nhưng hãy để cho thị trường phục vụ họ, còn ngân sách công không thể góp phần vào việc làm giãn rộng khoảng cách ấy. Trái lại, ngân sách nhà nước cần được dùng vào việc tạo cơ hội cho người nghèo, nhất là ở bậc học phổ thông, bảo đảm rằng bất kỳ em nhỏ nào, dù hoàn cảnh xuất thân ra sao, cũng có thể tiếp cận giáo dục cơ bản và thay đổi số phận cá nhân mình nhờ vào giáo dục. Đó không chỉ là một lý tưởng mà còn là phương tiện cốt lõi bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội.

Phạm Thị Ly

Viện Đào tạo Quốc tế, ĐHQG-HCM

Tư liệu tham khảo

1. David Labaree (2011). Consuming the Public School. Nguồn: Educational Theory, Volum 61, Number 4, 2011

2. David Tyack and Larry Cuban (1995), Tinkering Toward Utopia: Reflections on a Century of School Reform (Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press,  1995).

3. Milton Friedman, “The role of government in education,” chương 6 trong Capitalism and Freedom (Unviersity of Chicago Press, 1962).

4. Robert A. Solo, Economics and the Public Interest (New Brunswick, New Jersey: Rutgers University Press, 1955).

5. Vũ Quang Việt (2008). Giáo dục tư hay công nhìn từ góc độ kinh tế. Tạo chí Thời đại mới  số 13 năm 2008.  Nguồn: http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai13/200813_VuQuangViet_4.htm

6. Andy Green, John Preston, Ricardo Sabates (2003) Education, Equality and Social Cohesion: A distributional approach. Journal of Comparative and International Education Volume 33, Issue 4, 2003


[1] Luật bang Massachusettes năm 1647 ủy thác cho giáo dục nhiệm vụ đem lại cho con người cảm nhận đích thực về ý nghĩa của Kinh Thánh nhờ đó cứu rỗi họ khỏi sự sai lầm của đời sống trần thế. Ở Trung Quốc và Việt Nam trước đây giáo dục có nhiệm vụ củng cố đạo quân thần, và sau này là ý thức hệ Marxist-Lenninist.

[2] David Labaree (2003). “Consuming the Public School”.

[3] Sđd.

[4] Sukanta Chaudhuri (2013). Education and Equality- India is marketing education primarily as a consumer product. Telegraph 17.6.2013.

[5] Nguồn: Tổng cục Dân số và Kế hoạch Gia đình. http://www.gopfp.gov.vn/

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Tiền cho giáo dục

5 phản hồi »

  1. Một trường thực hiện được việc dạy thật và dạy từ từ cho học sinh hiểu, thì đó có lẽ sẽ là “trường công chất lượng cao”. Thật tiếc mười mấy năm nay, nhiều cha mẹ học sinh có gắng giúp trẻ học thật, nhưng lại có hiện tượng một số trường tổ chức in phao và hội đồng thi tổ chức cho học sinh chép bài.

    Số lượt thích

  2. Tôi đã được đọc nhiều bài viết của TS Phạm Thj Ly về giáo dục. Bài viết này, TS đề cập đến bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục công – một lĩnh vực do tiền thuế của dân tạo nên. Theo tôi hiểu thì bài viết đề nghị không phát triển các lớp học “chất lượng cao” trong các trường công lập mà theo như tác giả là đã tạo thêm một sự bất bình đẳng cho tầng lớp trung lưu của nươc ta hiện nay (tất nhiên không phải là tất cả tầng lớp trung lưu) nhưng không thấy được cần phải làm thế nào để khắc phục những bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận. Nhìn ra cũng rất tốt rôi, nhưng chúng tôi muốn nghe ý kiến của TS Phạm Thị Ly cách thức để giảm bớt bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục ở Việt Nam hiện nay!

    HTN: Cám ơn thầy Hồng đã có ý kiến. Thực tế thì đề ra giải pháp khả thi mới khó, dù rằng chỉ ra cái sai, cái chưa được, cũng là một việc rất khó và cần phải làm rồi.

    Số lượt thích

    • Cảm ơn thầy Hồng đã nêu ý kiến. Tăng cường bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục là chuyện dài của nhiều nước. Dĩ nhiên ai cũng muốn nhà nước bao cấp cho giáo dục phổ thông, trường nào cũng chất lượng cao, em nào cũng được học không mất tiền. Nhưng trong thực tế VN hiện nay, đó chỉ là mơ ước. Một nước giàu và phát triển như nước Mỹ, những gia đình có điều kiện cũng cho con đi học trường tư thay vì trường công, vì trường tư có chất lượng tốt hơn nhiều.

      Vậy trong khi nguồn lực nhà nước chưa có đủ để đáp ứng cho TẤT CẢ mọi trẻ em một nền giáo dục miễn phí tốt nhất, thì cần phải tập trung cho một số mục tiêu, mà bài viết cũng đã có nêu rõ: Một là tập trung cho trẻ em nghèo thay vì cho người giàu: hãy để tư nhân lập ra “trường tư chất lượng cao” để phục vụ người giàu, còn ngân sách thì phải sử dụng cho những trường công lập bình thường, không thu học phí hoặc thu ở mức thấp phù hợp với thu nhập của người lao động, để không trẻ em nào phải bỏ học vì không tiền đóng học phí. Hai là ngân sách nhà nước cho các trường công phải tập trung chi cho đời sống người thầy và bảo đảm chất lượng giảng dạy, thông qua cải cách chương trình và phương pháp giảng dạy thay vì chi cho những hoạt động hình thức vô bổ. Trong khi chưa thể có bình đẳng hoàn toàn theo nghĩa mọi trẻ em đều được tiếp cận một nền giáo dục như nhau, thì ít nhất nhà nước phải bảo đảm rằng mọi trẻ em đều có cơ hội tiếp cận giáo dục với chất lượng tối thiểu. Cần biết rằng có những em dù không phải đóng học phí cũng không thể đến trường, là vì còn phải kiếm sống.

      Nguồn lực nhà nước như một chiếc chăn quá hẹp, chỗ này ấm thì chỗ kia phải lạnh. Dành để phục vụ người giàu, thì còn đâu nữa cho người nghèo. Trường công chất lượng cao thực chất là kinh doanh giáo dục dưới hình thức tựa như doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước có lãi thì còn nộp ngân sách, còn trường công chất lượng cao thì dĩ nhiên là không. Ai có lợi? Tất nhiên không phải nhà nước, không phải công chúng, càng không phải con em người nghèo. Tại sao không để khu vực tư lập ra trường tư chất lượng cao để phục vụ người giàu? Vì như thế sẽ không được hưởng lợi từ nguồn lực công. Mọi lý lẽ bênh vực cho trường công chất lượng cao đều là ngụy biện, và sự tồn tại của thứ trường như thế sẽ chỉ xói mòn tính chính đáng của nhà nước, vì nhà nước bao giờ cũng có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích công, chứ không phải lợi ích của một số người, nhất là người giàu.

      Vậy trong lúc chưa đủ nguồn lực vật chất để bảo đảm bình đẳng tuyệt đối, thì nhà nước đừng khoét sâu thêm cái hố bất bình đẳng. Còn làm sao để tăng cường bình đẳng ư? Phải dựa vào dân, vào hoạt động của xã hội dân sự. Đã biết không thể chỉ dựa vào nhà nước, thì phải dựa vào dân. Ví dụ, các trường tư dành một tỉ lệ suất học miễn phí cho học sinh nghèo. Các hội nghề nghiệp của giáo viên lập ra các quỹ học bổng, vận động cựu học sinh và các doanh nghiệp, các mạnh thường quân hỗ trợ áo quần, sách vở, chi phí cho con em gia đình nghèo được học,vân vân. Nhà nước chỉ cần khơi thông về mặt chính sách, rất nhiều vấn đề xã hội có thể tìm được hướng giải quyết. Nhà trường có thể làm được rất nhiều việc để tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục cho người nghèo. Vấn đề là họ có thực tâm muốn làm hay không mà thôi.

      Số lượt thích

  3. Xét chung, VN đã có rất nhiều nỗ lực và đạt được nhiều thành tựu trong việc nâng cao cơ hội tiếp cận giáo dục cơ bản cho nhân dân. Hệ thống trường công tại VN hiện nay đã tạo cơ hội học tập cho tất cả mọi người từ bậc mầm non đến bậc đại học.
    Vấn đề là chất lượng giáo dục trong hệ thống trường công của VN hiện không được đánh giá cao. VN thậm chí còn không so được với các nước trong khu vực chứ đừng nói đến các nước phát triển. Vì sao vậy? Yếu tố căn bản là do VN nghèo, nguồn lực mỏng, tiêu chí tuyển chọn giáo viên thấp, chất lượng nhân lực ngành giáo dục rất chênh lệch giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn, giữa khu vực công và tư.
    Để nâng cao chất lượng giáo dục trong điều kiện của 1 nước nghèo, huy động nguồn lực từ phía gia đình học sinh là giải pháp khả thi nhất nhưng lại đang bị cho là giải pháp có nhiều khiếm khuyết gây bất bình đẳng xã hội. Ngân sách công không thể tạo cơ hội cho tất cả mọi người trong tiếp cận giáo dục chất lượng cao. Để đảm bảo bình đẳng trong tiếp cân giáo dục công cho tất cả mọi người, không lẽ hệ thống giáo dục công chỉ được phép vận hành trong phạm vi ngân sách nhà nước cấp, vốn lúc nào cũng rất thiếu so với nhu cầu thực tế. Vậy giải pháp của các nhà phê bình hiện nay là gì?

    Số lượt thích

    • Chúng ta đang ở vào giai đoạn chỉ cần tôn trọng những giá tri phổ quát của xã hội phát triển, khắc tìm ra mô hình và cách giải quyết. Các nền giáo dục thành công, chung quy lại, có hai vai trò được phát huy song hành:
      Vai trò nhà nước, đặt ra tiêu chuẩn, bảo đảm công bằng, thật tâm áp dụng cơ chế thị trường mà biểu hiện cơ bản phải là tự do và cạnh tranh lành mạnh. Nguồn lực có hạn, phải được phân bổ hợp lý, công bằng, hiệu quả, chống tham nhũng. Dành nguồn thích đáng đầu tư cho GD, nếu ưu tiên phải ưu tiên cho các nơi còn khó khăn chứ không phải ưu tiên cho các thành phố lớn như ở ta. Tăng cường tự chủ và tự quản của các địa phương. Trường hợp TCCLC nêu trên, chắc là tuỳ hứng của ai đó, xem ra vi phạm cả đạo lý và luật vì đã dùng nguồn lực “toàn dân” làm một việc ” riêng “. Tiền(từ dân đóng thuế) nay không thiếu thốn như xưa nhưng tệ bất công, tham nhũng, lãng phí hơn bao giờ hết, kể cả trong giáo dục vì vậy cần xem lại vai trò nhà nước cả thực thi lẫn giám sát.
      Vai trò thị trường. Thị trường, thực chât là tư nhân làm những việc mà nhà nước làm thì trì trệ đồng thời còn tồn tại động lực.
      Nhà nước với luật và tiêu chuẩn, có thể khuyến khích, tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư Trường tư CLC. Trước hết có thể dùng mô hình PPP về vốn ( hợp tác công tư), cấp không đất đai và phi thuế dù là trường phi lợi nhuận hay không. Cách đấu thầu để chọn phải dựa trên các tiêu chí: tài sán ( ai bỏ ra nhiều vốn tư), quản trị, lương gv cao, học phí thấp, chương trình công phu ( đạt và vượt chuẩn), hoàn trả khả thi vốn vay từ nhà nước… Nếu làm công bằng, minh bạch, trung thực thì nhà nước cũng nên giành khoản đầu tư ban đầu, hỗ trỡ miễn lãi suất, tài trợ hàng năm theo đầu học trò…
      Cần rút ra bài học khi nhà nước tung quỹ đất vào thị trường thời gian vừa qua, cứ đấu giá ” ngược” tức là thi nhau “tố” lên hậu quả thị trường vỡ. Vì nhà nước quên mất trách nhiệm cân bằng thị trường và khuyến khích tạo nơi ở của dân chất lượng tốt với chi phí vừa túi tiền. Dù công hay tư, chất lượng dịch vụ GD phải cao nhưng chi phí phải thấp, thế mới cần lao động tận tâm, quản trị tốt, đó là điểm mạnh của khu vực tư mà khu vực công cũng cần học tập.

      Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: