How We Learn

Phụ lục 4 – Đề xuất hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

 

Phụ lục 4 – Đề án đổi mới giáo dục – Ban cán sự Đảng Bộ GD&ĐT.


ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN

CƠ CẤU HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN VIỆT NAM

 

I. Giáo dục mầm non

Giữ nguyên như hiện nay, gồm Nhà trẻ và Mẫu giáo; Phổ cập mẫu giáo 5 tuổi.

Đề xuất tuổi nhận vào Nhà trẻ là từ 7 tháng tuổi.

II. Giáo dục phổ thông

Hiện nay có hai luồng ý kiến khác nhau về số năm học của giáo dục phổ thông: 11 năm hay 12 năm.

1. Lý do đề xuất phương án 11 năm

– Kể từ sau cải cách giáo dục lần thứ nhất 1950-1956, đã có thời kỳ giáo dục phổ thông nước ta là 11 năm, thậm chí là 10 năm.

– Hiện nay, nếu chuyển sang phương án 11 năm sẽ giảm bớt chi phí kinh tế, đồng thời tạo cơ hội để học sinh sớm đi vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục học lên.

– Trên thế giới cũng có một số nước thực hiện giáo dục phổ thông 11 năm (Malaysia, Nga,… ). Khảo sát 206 quốc gia thì 36/206 nước (17,5%) giáo dục phổ thông là 11 năm.

– Học sinh Việt Nam hiện nay phát triển rất nhanh về các mặt sinh học, tâm lý, xã hội nên có thể tốt nghiệp trung học phổ thông ở độ tuổi 17; thời gian giáo dục phổ thông chỉ cần 11 năm.

2. Lý do đề xuất phương án 12 năm

a) Lịch sử các mô hình giáo dục phổ thông ở Việt Nam

Trong 4 mô hình (9, 10, 11 và 12 năm) của giáo dục phổ thông Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay thì mô hình 12 năm tồn tại lâu nhất, trong nhiều giai đoạn và ngày càng ổn định.

Cụ thể như sau: 9 năm hoặc 12 năm (từ năm 1945 – 50: 9 năm ở vùng kháng chiến với mô hình 4 năm tiểu học + 5 năm trung học; 12 năm ở vùng tạm chiếm với mô hình 4+3+3+2); 11 năm (năm 1950: CCGD lần 1 với mô hình 4+3+2+2 năm dự bị đại học); 10 năm (năm 1956: CCGD lần 2 ở miền Bắc và vùng giải phóng ở miền Nam với mô hình 4+3+3) và 12 năm ở vùng chưa được giải phóng; 12 năm (năm 1981: CCGD lần 3 với mô hình 5+4+3), đến nay đã tồn tại 32 năm trong phạm vi cả nước.

b) So sánh quốc tế về tuổi nhập học tiểu học, số năm học và số giờ học ở GDPT

206 nước trên thế giới: Độ tuổi học sinh nhập học tiểu học phổ biến là 6 tuổi (127 nước, chiếm 61,7%); Hệ thống GDPT từ 12 năm trở lên (12 – 14 năm) có 163 nước (79,1%), trong đó hệ thống GDPT 12 năm là phổ biến nhất (117 nước, 56,8%), nhiều nước ở Châu Á gần với Việt Nam (xem Bảng 1). Nhiều nước phát triển như Anh, Ý, Na uy, v.v… có hệ thống GDPT 13 năm.

Bảng 1. Số năm học phổ thông (206 quốc gia)

Số năm học phổ thông

Số nước

Tỷ lệ (%)

Ghi chú

(Một số quốc gia Châu Á)

10

7

3,4

Philippines

11

36

17,5

Singapore, Myanma

12

117

56,8

Lào; Campuchia; Indonesia; Malaysia; Thái Lan; Việt Nam; Trung Quốc; Hàn Quốc; Nhật Bản

13

44

21,4

Brunei

14

2

0,9

Tổng số

206

(100%)

 

Như vậy, trên thế giới hiện nay độ tuổi nhập học tiểu học là 6 tuổi, thời gian GDPT 12 năm, học sinh tốt nghiệp THPT ở độ tuổi 18 là phổ biến nhất.

Về số giờ dạy học phổ thông:

PL4-H1

Biểu đồ 1. Tổng số giờ dạy học của GDPT tại 21 quốc gia OECD và Việt Nam

Số giờ dạy học trung bình của 21 nước OECD là 8.984 giờ; cao nhất là 12.893 giờ (Hoa Kỳ) và thấp nhất là 6.128 giờ (Hy Lạp).

Mặc dù mô hình GDPT của Việt Nam 12 năm như phần lớn các nước trong khối OECD, nhưng do chỉ dạy học 1 buổi/ngày nên tổng số giờ của học sinh Việt Nam chỉ là 7.924h, ít hơn 16/21 quốc gia OECD.

Vì vậy, nếu Việt Nam áp dụng phương án 11 năm và tổ chức dạy học chủ yếu 1 buổi/ngày như hiện nay thì tổng số giờ học phổ thông sẽ giảm xuống mức rất thấp, ảnh hưởng lớn tới chất lượng giáo dục. Nếu tổ chức dạy học 2 buổi/ngày thì sẽ phải bổ sung rất nhiều điều kiện, như: tăng số lượng phòng học và các phương tiện dạy học… Thực tế ở nước ta hiện nay chỉ một số ít cơ sở giáo dục phổ thông có điều kiện dạy học 2 buổi/ngày.

Mặt khác, nếu áp dụng phương án 11 năm, học sinh ra trường ở độ tuổi 17 chưa trưởng thành thực sự về mặt tâm lý và nhân cách xã hội để thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của một công dân. Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực học sinh là xu thế quốc tế đã và đang được nhiều nước áp dụng. Định hướng này đòi hỏi phải gia tăng thời lượng cho việc tổ chức các hoạt động học tập, đặc biệt là hoạt động thực hành và vận dụng kiến thức. Vì vậy, rất cần có thời lượng lớn cho giáo dục phổ thông.

Đi đôi với giải pháp ổn định hệ thống GDPT 12 năm và đổi mới chương trình  GDPT cần phải chú ý đến giải pháp phân luồng và liên thông sau THCS và THPT, như: Tăng cường công tác giáo dục hướng nghiệp nhằm định hướng nghề nghiệp cho học sinh; tổ chức dạy học phân hóa theo hướng tăng các môn học và các hoạt động giáo dục tự chọn phù hợp với năng lực, sở trường của học sinh; nâng cao chất lượng đào tạo nghề và trung cấp chuyên nghiệp.v.v…

Với những lý do trên, Ban Soạn thảo kiến nghị trong những năm trước mắt, vẫn duy trì hệ thống GDPT 12 năm như hiện nay, trong đó tiểu học và trung học cơ sở là giai đoạn giáo dục cơ bản, bắt buộc (9 năm), còn trung học phổ thông là giai đoạn giáo dục nâng cao, phân hóa – định hướng nghề nghiệp (3 năm). Về lâu dài, vấn đề này vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu.

III. Giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học

Hiện nay, hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở nước ta gồm dạy nghề và trung cấp chuyên nghiệp có chức năng tương tự nhau, dẫn đến hạn chế hiệu quả trong quản lý, đầu tư và hội nhập quốc tế.

Vì vậy Ban soạn thảo Đề án đề xuất, rà soát, hoàn thiện hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng: thống nhất về tên gọi các trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra, chính sách, cơ chế và đối tượng áp dụng; bảo đảm liên thông trong hệ thống; bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ.

Theo các đề xuất nêu trên, cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam được minh họa bằng sơ đồ 1 dưới đây:

SƠ ĐỒ 1. ĐỀ XUẤT CƠ CẤU HỆ THÔNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN VIỆT NAM MỚI

PL4-SD1

SƠ ĐỒ 2.  CƠ CẤU HỆ THÔNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN VIỆT NAM

(Theo Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009)

PL4-SD2

Phụ lục 5 – Tích hợp và phân hóa trong giáo dục phổ thông

Phụ lục 6 – Đổi mới chương trình và sách giáo khoa

Phụ lục 7 – Đổi mới thi

Advertisements

Tagged as: ,

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Hướng cải cách

11 phản hồi »

  1. Can gi nghien cuu cho met.Minh xem chuong cua cac nuoc trong vung.Thay hop thi ap dung.Singapore lay giong het chuong trinh cua Anh quoc.Tu tieu den Dai hoc.Truoc 75 mien nam,sao chep chuong trinh cua Phap.Nuoc minh ,cai cach,roi cai cach, chang di den dau?ton nhieu tien khong hieu qua.

    Like

  2. Hien nay,nha tre va mau giao can chu y.Ton tien phu huynh nhieu qua.Truong cong lap ton giong nhu Truong tu.De nghi Bo giao duc chu y cap hoc nay.Nhieu phu huynh ngheo qua,khong du tien de dong chi phi.anh de con o nha.Toi nghiep dan ngheo.

    Like

  3. O My,tieu hoc 4 nam.Trung hoc co so 4 nam chia lam cap,Trung hoc pho thong 4 nam.Nen giu 12 nam,Kho nhat la vn chay theo chi tieu dat ti le len lop.Nen hoc sinh hoc khong can ban.Kien thuc pho thong rat han che.Nen giu 12 nam.

    HTN: Đề nghị viết tiếng Việt có dấu.

    Like

  4. Chém cái nhỉ! 😀
    Thứ nhất về hình thức trình bày, sơ đồ 2 gắn vào chỗ nào thế? Người xem ko hiểu sự trình bày này :D, thêm nữa cái sơ đồ 2 này chỉ khác sơ đồ 1 ở chỗ thêm bậc “giáo dục thường xuyên Postdoc”
    Thứ 2, thống kê thời lượng giảng dạy hoành tráng quá, vậy mấy ông thống kê giỏi có biết từng cấp học của các nước gần tiên tiến và tiên tiến người ta phân bổ thời lượng giảng dạy trong một ngày như thế nào không, cách phân bổ đó có ưu điểm gì so với cách phân bổ của VN hiện nay là liền tù tì từ 6h30 sáng tới 12h30 trưa chả hạn. Nếu có thì là cái gì, nếu ko thì là cái gì.
    Thứ 3, 11 năm hay 12 năm chỉ hơn nhau 1 năm, xét về vòng đời khoảng trung bình 70 tuổi thọ của người V thì ko có gì phải lăn tăn. Miễn đừng kéo tới 20 năm là được :))
    Thứ 4, trong sơ đồ 1:
    – Từ mần non, qui định gửi trẻ từ 7 tháng tuổi sẽ là cơ sở để các công ty, xí nghiệp, nhà máy bắt chẹt bà mẹ, trẻ em.
    – Từ tiểu học lên hết trung học cơ sở thì ok, ở đâu chả như vậy :D, quan trọng là học gì, ngày học mấy buổi, học kiểu ngồi thiền từ sáng sớm tới trưa muộn hay chia làm 2 buổi thời gian nhẹ nhàng tình cảm
    – Đến hết trung học cơ sở là có vấn đề, nếu vẫn tiếp bước lên trung học phổ thông rồi tuần tự theo các bước lên đến hết postdoc đỉnh cao thế giới dừng lại thì có khác gì chương trình cũ không ngoài cái giáo dục thường xuyên postdoc kia?
    – Cao đẳng nghề là cao đẳng nghề, ko thể liên thông lên đại học bằng cách học thêm 1.5 – 2 năm nữa.
    – Chương trình thạc sĩ quá cứng nhắc, bắt buộc 2 năm là ko cần thiết. Cần chia ra ít nhất 2 loại thạc sĩ, 1 loại học 12 tháng, cấp bằng thạc sĩ thực hành hoặc thạc sĩ quản trị kinh doanh (gọi nôm na như vậy), 1 loại học intensive ko nghỉ hè 18 tháng hoặc có nghỉ hè 24 tháng, full time, cấp bằng thạc sĩ khoa học (gọi nôm na như vậy), chỉ loại này mới đc học tiếp PhD.
    – cho cái postdoc vào làm người đọc thấy rõ sự ngu xuẩn của cán bộ chấp bút sửa đổi vì Postdoc không bao h là 1 bậc đào tạo.
    Nhận xét thế thôi, chứ kiến nghị thay đổi thì chắc là ko vì thay đổi thế nào được khi trường không đủ, lớp ko có, trình độ giáo viên/giảng viên kém cỏi thiển cận tới mức đáng ngạc nhiên. 😀

    Like

    • Bác HI HI thâm độc vừa vừa thôi chứ ! Coi Postdoc là giáo dục thường xuyên thì chắc là không đúng, nhưng mà cũng chả sao. Vì mấy anh Tiến sĩ mới ra ràng, các anh ấy còn non tay lắm, công trình nghiên cứu mới chỉ là cái luận văn nhỏ xíu à, cho nên người ta mới phải làm thêm một vài cái Postdocs để mà trở thành Người nghiên cứu có tay nghề (chercheur confirmé).

      Cao học nghề xong rồi thì học lên tiếp Cử nhân nghề, đâu có sao ? Bác đừng có tìm cách bắt chẹt chặn con đường học vấn của người ta nhé ! Nhà nào mà có cha mẹ, đặc biệt là mẹ, được học hành, thì nhà ấy mới trân trọng việc học và tạo điều kiện tốt cho việc học tập của con cái, bác ạ. Ai học được thì cứ để người ta học, học có dốt một tí thì rồi con cái họ sẽ giỏi.

      Tôi thì muốn khi dạy môn văn, giáo viên bớt chút giờ văn để dạy thêm một số giờ về Lịch sử nghệ thuật, nó rất có ích cho việc học văn, mà lại dễ học, thư giãn. Nhất là tôi thấy mấy cái môn khoa học tự nhiên nó khiến người ta căng thẳng quá, có khi khiến trẻ con phát điên lên ấy chứ, thì nghệ thuật sẽ làm cho chúng cân bằng lại. Với lại không quan tâm tới nghệ thuật, thì có tranh luận rát cổ bỏng họng cũng vẫn không biết đẹp là gì, bác lê báo phục nhỉ ?

      Like

      • Ôi xin lỗi, tôi định nói “Cao đẳng nghề xong rồi thì học lên tiếp Cử nhân nghề” mà viết nhầm thành “cao học nghề” ạ !

        Like

      • hi hi, hãy nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ lên cho ngang với thời đại, để ko còn những ý kiến kiểu: tiến sĩ là mới ra ràng :))

        Like

      • Tôi nghe bác HI HI nói thế là tôi biết ngay bác không có Tiến sĩ Tây, đúng không ạ ? Bác thú nhận đi xem nào ?

        Like

      • Tôi tốt nghiệp tiến sĩ ở Lào mà 😀

        Like

  5. Các độ tuổi ở trong sơ đồ 1 phải đc nới lỏng hơn nữa. Fix cứng như thế chỉ tổ làm cho cả nước chạy đua vũ trang. Nên hiểu con người ta sinh ra khác nhau về bộ óc, nhưng phải đc giống nhau ở chỗ quyền theo học hợp với năng lực của mình. Cho nên có khi 1 đứa trẻ 11 tuổi vẫn đi mẫu giáo với trẻ 5-6 tuổi. Ở 1 số nước ko gọi là mẫu giáo chung chung mà còn chia thêm pre-school

    Like

  6. – Có chỗ này tôi không rõ lắm về sơ đồ 1: chữ trong ô hình chữ nhật mô tả cái gì? Cấp học/trình độ đào tạo (hướng đến) hay bằng cấp? Văn bản không nói rõ, nhưng theo tôi hiểu từ đoạn “thống nhất về tên gọi các trình độ đào tạo…” thì cái này mô tả cấp học/trình độ đào tạo (hướng đến). Và như vậy thì hợp lý hơn, vì đây là bản mô tả “cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân”. Nếu vậy có lẽ dùng chữ Thạc sỹ, Tiến sỹ không ổn lắm, vì theo tôi hiểu những chữ này dùng cho tên bằng. Với trình độ đào tạo thạc sỹ thì tôi thấy người ta hay gọi cấp học này là cao học, còn tiến sỹ thì không rõ người ta thường gọi là gì? Nghiên cứu tiến sỹ?

    – Nếu hiểu như trên, có lẽ nên để thêm một số ghi chú bên cạnh sơ đồ, ví dụ bằng cấp cho từng cấp học (tú tài, cử nhân/kỹ sư, thạc sỹ, tiến sỹ…) và một số thông tin phân loại/phụ thêm khác. Có thể tham khảo cách trình bày của sơ đồ sau:
    http://en.wikipedia.org/wiki/File:Education_in_the_United_States.svg
    (Wikipedia, dẫn nguồn từ “Institute of Education Sciences (IES) within the U.S. Department of Education” – http://nces.ed.gov/programs/digest/d99/fig1.asp)

    @HI HI: Việc đưa mục “sau tiến sỹ” vào đây cũng không vấn đề gì, nếu hiểu đây là cơ cấu/mô hình của hệ thống giáo dục / đào tạo, không phải chỉ là hệ thống bằng cấp. Vả lại nếu nói về bằng cấp thì lại phải nói đến cử nhân/kỹ sư/tú tài cho các bằng cấp dưới đó. Có lẽ để khỏi gaap hiểu nhầm, nên ghi rõ thêm là “nghiên cứu sau tiến sỹ”.

    Tôi nghĩ việc thiếu các mô tả/ định nghĩa tường minh về sơ đồ này sẽ làm cho người đọc bị rối, thậm chí hiểu nhầm. Tôi đoán đây là bản tóm tắt chứ không phải toàn văn, nhưng kể cả tóm tắt thì cũng nên đảm bảo sự nhất quán/chính xác về tên gọi và diễn giải chính xác các khái niệm mà tác giả dùng. Ngoài ra nếu đây là bản tóm tắt thì nên có thêm báo cáo toàn văn nữa để người đọc có thêm cơ sở góp ý.

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: