How We Learn

Phụ lục 6 – Đổi mới chương trình và sách giáo khoa

 

ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA

GIÁO DỤC PHỔ THÔNG SAU 2015

 

I. Quá trình chuẩn bị

Việc chuẩn bị cho đổi mới chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK) giáo dục phổ thông (GDPT) thực chất đã được Bộ GDĐT khởi động sau khi có Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Trong thông báo này Bộ Chính trị đã nêu rõ một trong những nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục là: “Rà soát lại toàn bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Sớm khắc phục tình trạng quá tải, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa khuyến khích đúng mức tính sáng tạo của người học, chuẩn bị kỹ việc xây dựng và triển khai thực hiện bộ chương trình giáo dục phổ thông mới theo hướng hiện đại, phù hợp và có hiệu quả”.

Sau khi có Nghị quyết của Đảng lần thứ XI (2011) và Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam từ 2011-2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ GDĐT đã tiến hành nhiều nghiên cứu và tổng kết theo một quy trình ngày càng hoàn thiện và cập nhật với trình độ quốc tế.

a)    Đánh giá thực trạng giáo dục, ưu và nhược điểm của CT và SGK giáo dục phổ thông hiện hành; tổng kết kinh nghiệm xây dựng CT và SGK của Việt Nam;

b)    Nghiên cứu các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, Quốc hội về yêu cầu đổi mới CT và SGK;

c)    Nghiên cứu thực tiễn và yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới và bối cảnh quốc tế;

d)    Nghiên cứu, cập nhật, học hỏi kinh nghiệm quốc tế về giáo dục nói chung và xây dựng CT, SGK nói riêng.

Trong thời gian qua, song song với việc xây dựng Đề án Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam…, Bộ GDĐT cũng đã tiếp tục triển khai hàng loạt các nghiên cứu cụ thể nhằm xác định những định hướng lớn cho việc đổi mới CT và SGK sau 2015 như: Hệ thống GDPT trong hệ thống giáo dục quốc dân; Mục tiêu và Chuẩn GDPT; Tiếp cận và xây dựng CT theo định hướng phát triển năng lực người học; Cấu trúc nội dung và kế hoạch dạy học cho các bậc học phổ thông; Định hướng đánh giá kết quả giáo dục cho chương trình giáo dục phổ thông; Kinh nghiệm Quốc tế về phát triển CTGD và kinh nghiệm của một số nước tiêu biểu; Kinh nghiệm xây dựng CTGDPT của Việt Nam từ trước đến nay; Tích hợp và phân hóa trong CT GDPT – kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam; Tổng kết dạy học ở nhà trường phổ thông và hướng phát triển sau 2015 cho một số môn học…

Sau đây là những định hướng Đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015 được rút ra từ những kết quả nghiên cứu nêu trên.

II. Những đổi mới về chương trình và sách giáo khoa sau 2015

So với CT và SGK hiện hành, định hướng xây dựng chương trình và sách giáo khoa GDPT sau 2015 có những điểm mới sau đây:

1. Mới về cách tiếp cận: xây dựng chương trình phát triển năng lực người học

Chương trình hiện hành về cơ bản vẫn tiếp cận theo hướng nội dung, chạy theo khối lượng kiến thức, còn nặng tính hàn lâm… Có chú ý đến cả 3 phương diện kiến thức, kĩ năng và thái độ nhưng vẫn là những yêu cầu rời rạc riêng rẽ, chưa liên kết, thống nhất và vận dụng tổng hợp thành năng lực hành động, năng lực thực hiện… gắn với yêu cầu của cuộc sống.

Chương trình mới tiếp cận theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho người học; không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ… vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày.

Tiếp cận theo hướng năng lực đòi hỏi học sinh làm/vận dụng được gì hơn là học sinh biết những gì. Tránh được tình trạng biết rất nhiều nhưng làm/vận dụng không được bao nhiêu; biết những điều rất cao siêu, nhưng không làm được những việc rất thiết thực đơn giản trong cuộc sống thường nhật…

2. Đổi mới toàn bộ các thành tố của quá trình giáo dục

Do đổi mới cách tiếp cận nên toàn bộ các thành tố của quá trình giáo dục thay đổi:

– Mục tiêu giáo dục mới tiếp tục những định hướng đúng đắn của mục tiêu giáo dục hiện hành, nhưng cần điều chỉnh, khắc phục hạn chế “nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người”, đảm bảo phát triển toàn diện và phát huy tối đa tiềm năng riêng của mỗi học sinh; phát triển hài hòa con người cá nhân và con người xã hội; coi trọng giáo dục cả phẩm chất và năng lực của người học.

– Nội dung, cấu trúc của chương trình giáo dục đổi mới theo hướng xuất phát từ những yêu cầu hình thành các năng lực mà lựa chọn các nội dung dạy học; ưu tiên những kiến thức cơ bản, hiện đại nhưng gắn bó, thiết thực với những đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày, tránh hàn lâm/ kinh viện; ưu tiên thực hành/vận dụng, tránh lý thuyết suông; tăng cường hứng thú, hạn chế quá tải.

– Phương pháp dạy học thay đổi: dạy cách học, cách tìm kiếm và vận dụng, cách phát hiện và giải quyết vấn đề; đề cao sự hợp tác và sáng tạo…; không nhồi nhét, chạy theo khối lượngkiến thức.

– Kiểm tra – đánh giá thay đổi: xác nhận đúng năng lực của người học; đánh giá khả năng và hiệu quả vận dụng tổng hợp… do vậy phải coi trọng đánh giá trong suốt quá trình dạy – học và bằng nhiều hình thức; tập trung đổi mới thi – công nhận tốt nghiệp và tuyển sinh đại học.

3. Chương trình đảm bảo tính hệ thống và nhất quán

Chương trình hiện hành do nhiều nguyên nhân đã làm theo cách cắt khúc, tách rời ra 3 cấp. Tuy về sau (2006) có nối kết nhưng về cơ bản vẫn không khắc phục được sự trùng lặp khá nhiều trong một môn học và giữa các môn học. Vừa thừa, vừa thiếu là một hạn chế lớn của CT hiện hành.

Chương trình mới sẽ được thiết kế thành một hệ thống xuyên suốt và nhất quán từ lớp 1 đến lớp 12; tránh được những hạn chế của CT hiện hành: bớt được sự trùng lặp, thấy dược sự phát triển rõ từ thấp đến cao, bổ sung được những nội dung mới do cuộc sống yêu cầu… Góp phần hạn chế quá tải.

4. Chương trình bảo đảm nền tảng cơ bản, tích hợp cao và phân hóa sâu

Chương trình hiện hành bảo đảm nền tảng cơ bản của học vấn phổ thông nhưng tính phân hóa kém hiệu quả. Các nội dung dạy học tự chọn ở tiểu học và trung học cơ sở hầu như không thực hiện được; phân ban ở trung học phổ thông bằng CT cơ bản và CT nâng cao quá mờ nhạt; phương thức thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh đại học không đáp ứng, thậm chí còn trái với yêu cầu phân hóa…

Chương trình mới chủ trương tất cả học chung một mặt bằng tri thức, giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1- lớp 9) đủ trang bị nền tảng học vấn phổ thông để HS có thể học tiếp lên bậc cao hơn hoặc đi vào học nghề, lao động.

Tăng cường tích hợp một số một số môn học ở tiểu học và đầu cấp trung học cơ sở, nhằm hình thành năng lực tổng hợp và cách giải quyết các vấn đề; đồng thời tránh sự trùng lặp. Theo đó một số môn học như Lý, Hóa, Sinh được tích hợp thành môn Khoa học; tương tự các môn Sử, Địa, Giáo dục Đạo đức và công dân tích hợp thành môn Khoa học xã hội.

Yêu cầu phân hóa sâu được thực hiện ở trung học phổ thông bằng việc học ít các môn bắt buộc, dành nhiều thời gian cho học sinh tự chọn các môn học/ các chủ đề chuyên sâu/ nâng cao gắn với nghề nghiệp, cần cho định hướng nghề nghiệp.

5. Giảm gánh nặng học hành cho học sinh

Chương trình hiện hành yêu cầu học sinh cùng một thời điểm (trong 1 học kỳ) học quá nhiều môn học và các hoạt động. CT sau 2015 chủ trương giảm mạnh đầu các môn học để mỗi học kỳ học sinh không học cùng một lúc quá 8 môn học.

Cấp học

CT hiện hành

CT sau 2015 (dự kiến)

Tiểu học

11 môn học + 3 hoạt động 3 – 6 môn học + 4 hoạt động

THCS

13 môn học và 4 hoạt động 8 môn học + 4 hoạt động

THPT

13 môn học + 5 hoạt động 3 môn học bắt buộc, 3 môn tự chọn và 4 hoạt động  (Lớp 11& 12)

Chương trình hiện hành nghiêng nhiều về kiến thức hàn lâm, coi trọng tính hệ thống của khoa học chuyên ngành; môn học ở nhà trường như là thu nhỏ các môn học/giáo trình đại học…

Chương trình sau 2015 chủ trương chỉ lựa chọn một số nội dung cơ bản, thiết thực, gần gũi với cuộc sống nhằm hình thành năng lực, giúp HS biết giải quyết các vấn đề và tình huống trong cuộc sống thường nhật.

6. Cập nhật và hội nhập với xu thế quốc tế về phát triển CTGDPT

Cập nhật về cách tiếp cận: xây dựng CT theo hướng hình thành và phát triển năng lực (Competency based Curriculum) là xu hướng mà nhiều nước châu Âu , Hoa Kỳ, Canada, Newzeland, Hàn Quốc và các nước Bắc Âu đã bắt đầu vận dụng từ đầu thế kỉ 21 đến nay.

Cập nhật về quy trình xây dựng và phát triển CTGD: hầu hết các bước đi của một quy trình phát triển CTGD mà các nước thực hiện đã và đang được CT sau 2015 của Việt Nam chú ý vận dụng.

Cập nhật về phân cấp quản lý và phát triển CT: xu hướng phi tập trung hóa đã và đang ngày càng được vận dụng ở Việt Nam nhằm tạo ra sự thống nhất trong đa dạng, vận dụng mềm dẻo, linh hoạt phù hợp với các vùng miền và đối tượng khác nhau.

Cập nhật về lí luận xây dựng CT: mở, đa dạng hóa SGK, tài liệu dạy học; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin – truyền thông (ICT) nhằm đổi mới phương pháp và cải thiện hiệu quả dạy học.

7. Chú trọng tính khả thi và điều kiện thực hiện

Trước hết đó là định hướng coi trọng yêu cầu đào tạo – bồi dưỡng giáo viên sao cho bắt kịp và đáp ứng được những thay đổi của CTGDPT. Pháp chế hóa các hoạt động tổ chức, chỉ đạo và giám sát quá trình đổi mới CT và SGK; Chú trọng phát triển nguồn lực cho việc xây dựng CT và SGK; chú ý tới điều kiện cơ sở vật chất và các đối tượng vùng/ miền.

8. Đổi mới việc biên soạn SGK và cách thức thí điểm

Một trong những hạn chế của các lần thay đổi vừa qua là cách làm theo kiểu cuốn chiếu nên thời gian thí điểm CT và SGK quá dài. Định hướng đổi mới lần này chủ trương thực hiện cách biên soạn đồng thời và thí điểm đồng thời 3 cấp nhắm rút ngắn thời gian thí điểm khoảng 3 – 4 năm (từ 2016 – 2019).

9. Đặc biệt coi trọng tuyên truyền

Chương trình GD mới chỉ có thể thành công nếu được sự ủng hộ và thấu hiểu của mọi tầng lớp xã hội. Việc đổi mới CT và SGK lần này sẽ hết sức chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến, giải thích, trao đổi… để mọi đối tượng nắm được chủ trương và nội dung đổi mới. Thành lập các diễn đàn giáo dục, đặc biệt là xúc tiến chương trình phát thanh, truyền hình quốc gia để tuyên truyền về đổi mới giáo dục…

Trên đây là các nội dung cơ bản về việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa GDPT sau 2015 đã được nghiên cứu, trao đổi và tương đối thống nhất. Tuy nhiên cũng cần thấy theo mục tiêu, yêu cầu và định hướng nêu trên, việc đổi mới CT và SGK sau 2015 sẽ gặp không ít khó khăn, như: Đội ngũ xây dựng và phát triển CT và SGK yếu; Điều kiện vật chất có nhiều khó khăn; Nhiều giáo viên không đáp ứng được yêu cầu của CT mới; Chất lượng và trình độ quản lý giáo dục còn nhiều hạn chế; Công tác phân luồng giáo dục chưa có hiệu quả cao; Sự phát triển và thay đổi quá nhanh chóng của đời sống… Đó là những thách thức không nhỏ cho công cuộc đổi mới CT và SGK sắp tới.

Phụ lục 4 – Đề xuất hoàn thiện cơ cấu giáo dục quốc dân Việt Nam

Phụ lục 5 – Tích hợp và phân hóa trong giáo dục phổ thông

Phụ lục 7 – Đổi mới thi

Advertisements

Tagged as: ,

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Hướng cải cách

2 phản hồi »

  1. – Điểm hạn chế lớn nhất của cái phụ lục này chính là tư duy của những người làm đề án trong quá trình chuẩn bị. Nhìn vào mục này có thể thấy những người viết đề án không thèm đối hoài gì đến những ý kiến phản biện, trao đổi của các chuyên gia giáo dục, các nhà giáo tâm huyết thời gian qua. Trong 4 điểm a, b,c, d của mục này không thấy câu nào, chữ nào nhắc tới việc “tiếp thu ý kiến trao đổi phản biện của các nhân sĩ, trí thức” về vấn đề này cả. Vẫn cứ đóng cửa làm một mình, tinh thần cầu thị chỗ này rõ ràng rất kém.

    – Chính điều này đã đưa đến nhận định là 1 loạt thách thức khó khăn phía dưới. Nào là: “Đội ngũ xây dựng và phát triển CT và SGK yếu; Điều kiện vật chất có nhiều khó khăn; Nhiều giáo viên không đáp ứng được yêu cầu của CT mới; Chất lượng và trình độ quản lý giáo dục còn nhiều hạn chế; Công tác phân luồng giáo dục chưa có hiệu quả cao; Sự phát triển và thay đổi quá nhanh chóng của đời sống… Đó là những thách thức không nhỏ cho công cuộc đổi mới CT và SGK sắp tới.”

    – Xin khẳng định, những vấn đề trên hoàn toàn không phải là khó khăn, là trở ngại lớn của việc đổi mới CT và SGK (mà nếu có đi nữa cũng là chuyện đương nhiên vì có khó mới cần những người không ngại khó giải quyết, có khó thì thành công mới vinh quang). Đây là những hạn chế, khiếm khuyết trong tư duy quản lý nền gd hiện nay. Và chính vì điều này nên bây giờ chúng ta phải tiến hành “đổi mới căn bản và toàn diện”. Còn nếu nói khó khăn thực sự của vấn đề đó chính là những người soạn thảo đề án đã không biết huy động và tận dụng trí tuệ, chất xám của rất nhiều chuyên gia, nhà giáo tâm huyết trong lẫn ngoài nước hiện nay để thực hiện vấn đề này. Cứ tự tiến cử lẫn nhau theo ban bệ, bè phái mà không quan tâm gì đến những góp ý, kiến nghị của dư luận thì hỏi sao “”Đội ngũ xây dựng và phát triển CT và SGK” không yếu cho được?

    – Ngoài ra, trong 8 mục liên quan đến việc định hướng đổi mới CT và SGK lại không thấy nhấn mạnh đến vấn đề xác định Mục tiêu giáo dụccần đạt được ở từng cấp học một cách rõ ràng cụ thể. Vấn đề này tuy có đề cập ở mục thứ 2 (Đổi mới toàn bộ các thành tố của quá trình giáo dục) nhưng cũng chỉ vài dòng ngắn ngủi và rất chung chung. Lẽ ra, nên đặt ra thành một vấn đề, một mục lớn hẳn hoi để mọi người cùng tham gia bàn luận, trao đổi, góp ý. Anh định hướng đổi mới chương trình, đổi mới nội dung SGK cho từng môn, từng cấp mà anh không xác định mục tiêu giáo dục phải nhắm tới, phải đạt được thì định hướng còn ý nghĩa gì? Làm sao mọi người hiểu mà ủng hộ?

    – Bên cạnh đó, vấn đề ở mục số 6 (Cập nhật và hội nhập với xu thế quốc tế về phát triển CTGDPT) cần lưu ý rằng, CT nội dung SGK về cơ bản là phải đảm bảo tính ổn định. Và GD nhìn chung là như vậy chứ không thể lúc nào cũng cập nhật, cũng “chạy theo” ai đó. Đó là chưa nói, nếu không khéo sẽ lại mâu thuẫn với định hướng ở mục thứ 3 là “Chương trình đảm bảo tính hệ thống và nhất quán”. Làm Gd mà hôm nay anh “chạy theo” xu thế này mai lại chạy theo “xu thế” nọ thì làm sao đảm bảo được sự nhất quán?

    – Tóm lại, về tổng thể cái phụ lục này nhìn vào thấy có nhiều “điểm mới” đáng trân trọng nhưng rất tiếc phải nói rằng đây cũng chỉ là mớ “lý thuyết suông”, chung chung. Vì “mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ có cây đời là mãi mãi xanh tươi”. Hi vọng là vài năm nữa mớ lý thuyết này sẽ chuyển thành cây đời mãi xanh.

    Like

  2. – Đổi mới GD không phải là thay SGK cũ, mặc dù SGK cũ có khá nhiều lỗi do cẩu thả (SGK Sinh học 12 ban cơ bản, bài 22 có mục I, III không có II) mà chủ yếu là đổi mới căm bản chương trình
    – Chỉ nên đưa vào chương trình các kiển thức thực sự phổ thông, thiết thực cho cuộc sống, thiếu kiến thức này ai cũng thấy là không thể được, còn kiến thức nào thiếu nó vẫn có thể được thì nên bỏ (VD: Cấu tạo giải phẫu và sinh lý người là phải học, DTH phân tử không cần học ở cấp phổ thông)
    – Đổi mới PPDH thành PP tự học có hướng dẫn, bỏ khái niệm Giáo án thay bằng khái niệm Thiết kế bài học, giảm tối đa học lí thuyết trên lớp (giảm phòng học) tăng tối đa học tthí nghiệm-thực hành trong phòng bộ môn, phòng thực hành, xưởng trường, vườn trường hoặc dã ngoại (VD: Trong sinh học chuyên khoa phần thực vật, HS có thể học hoàn toàn ngoài vườn trường hay dã ngoại vài ngày, HS quan sát hình thái, cấu tạo giải phẫu, các đặc điểm thích nghi, kể cả sinh lí dưới sự gợi ý hướng dẫn của GV khi trở về tự thảo luận nhóm (Group work) và viết báo cáo chuyên đề.
    – SGK cũ cứ để cho HS dùng tham khảo (Bộ GD-ĐT không viết lại), cho phép các nhà GD có tâm huyết tự do soạn SGK để bán rộng rãi cho bất cứ ai cẩn (tất nhiên có kiểm duyệt), SGK nào giúp ích nhiều hơn cho người học thì sẽ bán được nhiều, cá nhân và NXB có lợi nhuận (theo cơ chế thị trường), SGK nào (kể cả SGK hiện hành) không được “chào đón” sẽ bị đào thải. Như vậy Nhà nước không tốn tiền, HS có nhiều hơn “một” sự lựa chọn, XH hóa viết SGK có hiệu quả.
    – Đổi mới KTĐG theo Chương, phần kiến thức bào gồm cả thực hành và lí thuyết, cả TNKQ và TNTL (VD: GV thu thập một số cây điển hình ở địa phương hoặc đặc trưng cho một HST nào đó. GV đưa ra y/c và mục tiêu, HS thực hiện và viết thu hoạch). Phần kiến thức cần tư duy logic thì TNTL (VD: Căn cứ vào đặc điểm sinh học, để tạo được giống lúa chịu được độ mặn cao hơn (do nước biển dâng) chúng ta có thể làm gì?). Phần kiến thực kết nối, nhiều lựa chọn,… thì TNKQ.

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: