How We Learn

Phụ lục 7 – Đổi mới thi

ĐỔI MỚI THI – CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC

Một trong những vấn đề bức xúc của giáo dục phổ thông (GDPT) nước ta là phải đổi mới 2 kỳ thi Tốt nghiệp THPT và Tuyển sinh đại học sao cho gọn nhẹ, hiệu quả, phản ánh trung thực kết quả học tập của học sinh. Việc này chỉ có thể thành công trên cơ sở đổi mới đồng bộ chương trình, nhất là đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá trong cả quá trình dạy học ở tất cả các cấp học phổ thông.

I. Xu thế quốc tế về đánh giá, thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh đại học

1. Xu thế chung của thế giới về đánh giá kết quả học tập là đề cao tính khách quan, công bằng, minh bạch nhằm xác nhận được chính xác phẩm chất và năng lực của người học. Mỗi hình thức, phương pháp đánh giá đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Do đó để đánh giá một cách toàn diện cần kết hợp nhiều hình thức đánh giá khác nhau: Đánh giá trong quá trình học tập kết hợp với đánh giá qua các bài kiểm tra, bài thi cuối kỳ, cuối năm; đánh giá kết quả hoạt động của cá nhân và kết quả hoạt động theo nhóm, đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò, đánh giá của nhà trường, của gia đình và của xã hội;…

Sự xác nhận trong đánh giá thường được biểu hiện bằng hai dạng: a) Định lượng bằng điểm, ví dụ: 8/10, hoặc làm được 50 %, trả lời đúng được 2/3 b) Định tính bằng nhận xét, bình giá, ví dụ: “thông minh, nhanh nhẹn, có lòng nhân ái, khoan dung”, “kết quả học tập này là do…”.v.v…

Để đánh giá kết quả học tập của học sinh (HS), các nước đều sử dụng nhiều phương pháp như: Vấn đáp, Quan sát; Kiểm tra, thi viết (bằng trắc nghiệm khách quan hoặc tự luận); Đánh giá sản phẩm thông qua hồ sơ HS; Tự đánh giá; Lấy ý kiến chuyên gia… Và một số phương pháp đặc biệt hữu ích để đánh giá năng lực người học là các phương pháp thực hành, thực hiện, trình diễn, dự án học tập…

2. Xu thế chung về kì thi – công nhận tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học của nhiều nước là tập trung quản lý kỳ thi tốt nghiệp phổ thông nhằm xác nhận chất lượng và hiệu quả đầu tư quốc gia; còn tuyển sinh đại học, cao đẳng thường giao quyền tự chủ cho các nhà trường. Theo Helms, các hệ thống tuyển sinh đại học trên thế giới có thể chia thành 5 loại, dựa vào sự có mặt hay không của 3 kỳ thi: Tốt nghiệp THPT, tuyển sinh đầu vào và thi năng lực chuẩn hóa:

Loại 1: Thi tốt nghiệp THPT: chủ yếu là thi quốc gia (Pháp, Áo, Ireland, Ai Cập) hoặc thi quốc gia kết hợp với xét học bạ/hồ sơ xin học (Tanzania;  Anh…). Cũng có nước thi theo bang/khu vực và xét học bạ THPT (Úc).

Loại 2: Thi tuyển sinh đầu vào chủ yếu ở các hình thức thi quốc gia  hoặc thi quốc gia kết hợp với xét học bạ THPT ( Trung Quốc, Iran, Cộng hòa Gruzia; Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha); cũng có nước thi tuyển sinh theo trường kết hợp với xét học bạ (Argentina, Paraguay; Bulgaria, Serbia).

Loại 3: Kiểm tra năng lực chuẩn hóa: Dựa vào kết quả kiểm tra năng lực chuẩn hóa, hoặc xét học bạ / hồ sơ xin học: Thụy Điển, Hàn Quốc Mỹ, Hàn Quốc).

Loại 4: Sử dụng nhiều kỳ thi: Thi tuyển sinh quốc gia và thi tuyển sinh theo trường (Nhật, Nga, Pháp…) hoặc thi tuyển sinh quốc gia + thi tuyển sinh theo trường và/hoặc xét học bạ hoặc thi tốt nghiệp và xét điểm kiểm tra năng lực.

Loại 5: Không tổ chức thi: Chỉ xét học bạ THPT (Na Uy, Canada); hoặc hồ sơ xin học như một số trường của Hoa Kỳ.

Phần lớn các nước đều tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT (ở Mỹ, số lượng các bang tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT đang ngày càng tăng lên: năm 2005 chỉ có 22 bang, đến năm 2010 đã có 28 bang). Tuy nhiên cách thức và mục đích của kỳ thi này có thể khác nhau.

– Hầu hết các nước Châu Âu sử dụng kỳ thi tốt nghiệp với hai mục đích: xác nhận kết quả học tập THPT và làm cơ sở  tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng.

– Một số nước không sử dụng kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT để xét vào đại học, cao đẳng mà phải tổ chức kỳ thi tuyển sinh riêng.

– Một số nước kết hợp xét kết quả thi tốt nghiệp và kết quả thi tuyển vào đại học, cao đẳng theo yêu cầu riêng của mỗi trường.

Quá trình học sinh được lựa chọn để nhập học đại học được gọi là quá trình tuyển sinh và quá trình cụ thể này không giống nhau giữa các nước. Thông thường, sinh viên đại học hoặc cao đẳng trong tương lai sẽ phải nộp đơn tuyển sinh ở năm cuối trung học phổ thông. Ở một số nước, các cơ quan chính phủ hoặc các cơ sở giáo dục độc lập sẽ quản lý các kỳ thi tuyển sinh. Chỉ tiêu đầu vào của các cơ sở và các ngành học cụ thể có thể được phân bổ tập trung bởi các chính phủ hoặc bởi chính các cơ sở giáo dục. Một số hệ thống tuyển sinh chỉ xem xét điểm trong kỳ thi tuyển sinh. Một số khác kết hợp xem xét toàn bộ các điểm thi, kết quả học tập, học bạ, giấy chứng nhận và các hoạt động ngoại khóa của thí sinh.

II. Hiện trạng các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng ở Việt Nam

1. Hệ thống kiểm tra, thi và đánh giá kết quả học tập của Việt Nam

Hệ thống đánh giá kết quả học tập ở nước ta gồm ba thành tố:

a) Đánh giá trên lớp: Giáo viên thu thập thông tin hàng ngày về việc học sinh đã học thế nào, từ đó điều chỉnh hoạt động dạy và học. Các hình thức đánh giá là quan sát, kiểm tra miệng, kiểm tra viết, kiểm tra thực hành theo hai loại: Kiểm tra thường xuyên Kiểm tra định kỳ. Thời gian các bài kiểm tra từ vài phút, 15 phút, 1 tiết hoặc hơn 1 tiết. Một số môn học như Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục, Đạo đức chỉ đánh giá kết quả thông qua quan sát và nhận xét, góp ý.

b) Các kỳ thi: Hiện hành đang có các kỳ Thi tuyển sinh lớp 10; Thi tốt nghiệp THPT; Thi tuyển sinh cao đẳng, đại học; Thi học sinh giỏi các cấp.

c) Đánh giá quốc gia, quốc tế: Thực hiện (có tính chất làm thí điểm) đánh giá quốc gia ở các lớp 5, 6, 9 và 11; tham gia chương trình đánh giá quốc tế là PISA và chương trình đánh giá khu vực là PASEC.

2. Những hạn chế về kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng của Việt Nam

– Tuy đã có nhiều cải tiến nhưng nhìn chung các kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng vẫn còn cồng kềnh, nặng nề, tốn kém; chưa có hiệu quả cao và có nhiều điều bất cập, gây bức xúc trong xã hội.

– Đề thi vẫn chủ yếu coi trọng ghi nhớ kiến thức, ít chú ý đến đánh giá năng lực vận dụng. Việc đề thi chỉ chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức đã là nguyên nhân của tình trạng dạy học theo lối “đọc-chép”, mở “lò luyện thi”, học tập đối phó…

– Không coi trọng việc kết hợp kết quả đánh giá quá trình với kết quả thi tốt nghiệp THPT và với tuyển sinh đại học, cao đẳng; kết quả tốt nghiệp THPT và trúng tuyển vào trường đại học, cao đẳng chỉ phụ thuộc vào kết quả thi nên chưa đảm bảo khách quan, công bằng với người học.

– Kết quả thi còn bị chi phối nhiều yếu tố chủ quan, cảm tính, nhất là đối với các môn khoa học xã hội; tình trạng học sinh quay cóp tài liệu, đặc biệt là chép bài của nhau trong khi thi vẫn còn khá phổ biến, dẫn đến kết quả đánh giá còn phiến diện, thiên lệch, thiếu khách quan.

Xét một cách tổng quát, đánh giá nói chung và thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh đại học, cao đẳng nói riêng ở Việt Nam còn lạc hậu từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến quy trình, cách thức xử lí, sử dụng kết quả; coi việc đánh giá kết quả học tập chỉ là việc cho điểm các bài thi, bài kiểm tra.

III. Đề xuất định hướng đổi mới thi – công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng ở nước ta

Theo kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới thì thi- công nhận tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học phải gắn bó chặt chẽ với các đặc điểm của chương trình, sách giáo khoa, nhất là phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá ở nhà trường phổ thông.

1. Đề xuất hướng đổi mới thi – công nhận tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng cho giai đoạn tới

Trong điều kiện và hoàn cảnh nước ta, có thể đề xuất hướng đổi mới thi – công nhận tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng như sau:

– Đề thi không chỉ tập trung vào việc đánh giá HS biết cái gì mà quan trọng hơn là đánh giá HS làm được gì từ những điều đã biết, tức là tập trung đánh giá năng lực người học. Định hướng này buộc đề thi không thể chỉ kiểm tra trí nhớ mà phải yêu cầu vận dụng tổng hợp, thực hành, kiểm tra năng lực sáng tạo… của HS.

– Việc thi – công nhận tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng cần kết hợp kết quả đánh giá trong quá trình học tập (chủ yếu ở cấp THPT) và kết quả thi, kiểm tra kết thúc (để tốt nghiệp), kết quả thi, kiểm tra đầu vào (để tuyển sinh).

– Cùng với việc đổi mới chương trình giáo dục THPT theo hướng tăng cường phân hóa, định hướng nghề nghiệp và chuẩn bị tốt cho học sinh học tiếp sau giáo dục phổ thông bằng cách có ít môn học bắt buộc, có nhiều môn học hoặc chủ đề để HS tự chọn; đồng thời triển khai phong phú các hình thức kiểm tra, thi và đánh giá trong quá trình dạy học, việc công nhận tốt nghiệp THPT, phải dựa trên kết quả đánh giá trong quá trình giáo dục về phẩm chất và năng lực của học sinh và kết quả đánh giá cuối cấp học. Trong đó, đánh giá kết quả học tập theo hướng học xong môn/lĩnh vực học tập nào thì đánh giá kết quả đạt chuẩn đầu ra môn/lĩnh vực đó; kì thi cuối cùng (thi tốt nghiệp) đề thi sẽ yêu cầu vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều lĩnh vực/ môn học để giải quyết một vấn đề chung theo 02 lĩnh vực lớn là khoa học xã hội- nhân văn và khoa học tự nhiên hoặc cũng có thể chỉ thi 2 môn Toán và Ngữ văn.

– Về tuyển sinh đại học, cao đẳng, các trường tổ chức tuyển sinh theo hướng: dựa vào kết quả công nhận tốt nghiệp THPT và có thể kiếm tra/ thi thêm một vài môn hoặc chuyên đề theo yêu cầu đào tạo của mỗi ngành, mỗi trường.

2. Nhận xét ưu, nhược điểm của định hướng đổi mới thi – công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng

– Việc đổi mới như trình bày ở trên sẽ khắc phục được cơ bản những hạn chế về kiểm tra, đánh giá và thi cử hiện hành. Kết quả kiểm tra, đánh giá thực chất hơn, công bằng, khách quan và trung thực hơn; giảm bớt sự cồng kềnh, tốn kém của một số kỳ thi; tác động tích cực trở lại việc dạy và học.

– Tuy nhiên trong giáo dục phổ thông nước ta: khoa học đánh giá còn lạc hậu, trình độ tổ chức đánh giá và quản lý, sử dụng kết quả còn thấp; năng lực giáo viên và cán bộ nghiên cứu về đánh giá còn hạn chế; thói quen và tâm lý học ứng thí, trọng bằng cấp còn nặng nề… Do đó cần phải có quyết tâm và các giải pháp phù hợp của các cấp quản lí và các cơ sở giáo dục, của cán bộ quản lí giáo dục và giáo viên thì việc đổi mới thi, kiểm tra và đánh giá theo định hướng trên mới có hiệu quả.

Phụ lục 4 – Đề xuất hoàn thiện cơ cấu giáo dục quốc dân Việt Nam

Phụ lục 5 – Tích hợp và phân hóa trong giáo dục phổ thông

Phụ lục 6 – Đổi mới chương trình và sách giáo khoa

 

Advertisements

Tagged as: ,

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Hướng cải cách

19 phản hồi »

  1. Nên tổ chức thi Tú tài và có thể bỏ thi tuyển sinh đại học

    Học sinh và phụ huynh mong muốn có được kỳ thi công bằng, đánh giá đúng kết quả, năng lực học tập của học sinh đối với Tú tài hay tuyển sinh đại học. Những năm qua việc thi cử gặp nhiều phức tạp, dư luận xã hội cũng lắm điều tiếng. Tại sao ta không làm như thế này?

    – Thi Tú tài: Tất cả các môn có học ở lớp 12 đều được thi trắc nghiệm. Bộ dành sức lực tập trung ra đề thi cho tốt, các Sở GD và trường phổ thông tổ chức coi thi cho nghiêm túcc. Chấm thi thì dùng máy, bảo đảm chính xác, khách quan. Đề thi cần ra nhiều câu, trải khắp chương trình học, phần lớn nhằm đánh giá được những kiến thức tối thiểu của chương trình phổ thông. Học sinh phải nắm được kiến thức này để đạt điểm trung bình.

    – Thi đại học: Dành cho các trường đại học tự tổ chức. Trường nào, ngành nào mang tính đặc thù hoặc nhiều học sinh chọn thì tổ chức thi để tuyển các em giỏi. Các môn thi có thể do trường tự chọn kết hợp với kết quả thi phổ thông. Ví dụ: Đối với trường ĐH Bách khoa có thể yêu cầu tốt nghiệp phổ thông loại khá trở lên; điểm toán, lý, hóa phải từ 7 điểm trở lên mới được nộp hồ sơ dự thi. Trường ĐH Y cũng có các yêu cầu tương tự,…

    Các trường khác có thể không cần thi mà chỉ cần xét tuyển. Ví dụ vào ngành Báo chí chỉ cần kết quả phổ thông trung bình nhưng môn Văn phải 8 điểm trở lên; có thể yêu cầu làm một bài kiểm tra về nhận định tình hình xã hội trong nước, thế giới,… Ngành Sư phạm Toán yêu cầu môn toán, lý phải 8 điểm trở lên, đồng thời tổ chức thi vấn đáp để kiểm tra thể hình, cách diễn đạt ngôn ngữ và phải làm một bài luận nhận định về ý thức nghề nghiệp, tình hình giáo dục của đất nước,…

    Các trường ĐH dân lập ưa thi hay tuyển tùy theo các trường ấy chọn.
    —————-
    Việc thi Tú tài bằng trắc nghiệm: Ở miền nam Việt Nam, năm 1974 là năm đầu tiên (và cũng là năm duy nhất cho đến nay) được tổ chức thi Tú tài bằng trắc nghiệm cho tất cả các môn học. Tôi nhớ ban B (ban Toán) phải thi 8 môn: Toán (5), Lý-Hóa (4), Sử-Địa(2), Ngoại ngữ 1(2), Ngoại ngữ 2(1), Sinh vật(1), Công dân giáo dục(1), Triết (2), (các con số trong ngoặc là hệ số của môn thi). Mặc dù hồi đó máy móc, phương tiện còn khó khăn (tất cả bài thi mang vào Sài gòn chấm bằng máy IBM to đùng chiếm cả tòa nhà lớn). Dù mới thực hiện lần đầu, còn vấp phải một số khiếm khuyết nhưng theo đánh giá của xã hội là chấp nhận được, học sinh phấn khởi, yên tâm về kết quả thi mang tính khách quan cao.

    Nội dung thi từng môn như sau (ví dụ cho ban B là ban Toán): môn Toán gồm 100 câu, làm trong 100 phút, Lý-Hóa 80 câu trong 80 phút,… có 5 phương án chọn lựa là A,B,C,D và E. Mặc dù thi nhiều môn như vậy nhưng chỉ trong 3 buổi là xong. Đề ra ở mức độ để những học sinh giỏi làm vừa đủ giờ. Còn những học sinh không chịu học, dù có mang tài liệu vào thì cũng không kịp xem.

    Đối với kỳ thi Tú tài, yêu cầu lượng giá trình độ kiến thức phổ thông cùng với số lượng học sinh đông như hiện nay và chuyện quay cóp, tiêu cực thường xảy ra thì việc tổ chức thi trắc nghiệm là tối ưu. Phụ huynh hay những kẻ gây rối bên ngoài cũng không làm gì được vì do sự xáo trộn các câu hỏi, các phương án trả lời, thí sinh không thể chép nhau, ở ngoài không ném bài vào được vì khó biết được đề thi.

    Xong chuyện thi Tú tài, việc thi vào đại học để cho các trường chủ động tuyển. Lúc đó trường nào thích thi trắc nghiệm, thi tự luận hoặc không thi mà chỉ tuyển là vừa. Mỗi trường có một chiến lược riêng để nâng cao uy tín, học hiệu của trường mình. Xã hội không kêu ca, học sinh bớt căng thẳng, Bộ đỡ vất vả, dành thời gian và sức lực làm những việc vĩ mô khác.

    Thi trắc nghiệm là chuyện cũ của thế giới (có thể người ta không dùng nữa) nhưng vẫn mới đối với ta và tỏ ra phù hợp trong giai đoạn này.

    Like

  2. Về cơ bản cá nhân tôi thấy, định hướng đề xuất thay đổi thi cử của đề án này là tiến bộ, tích cực. Vấn đề còn lại là vấn đề cách thức, triển khai, tổ chức thực hiện cụ thể như thế nào thôi. Tuy vậy, tôi cũng xin được góp vài ý kiến nhỏ là:

    – Những người xây dựng đề án hãy cầu thị tranh thủ ý kiến phản biện của các chuyên gia giáo dục, các nhà giáo tâm huyết để từ đó cân nhắc đi đến quyết định rõ ràng dứt khoát vấn đề bỏ 1 trong hai kỳ thi PTTH và tuyển sinh đại học (theo quy chế 3 chung) hiện nay càng sớm càng tốt. Có như thế mới xây dựng lộ trình thực hiện cho những vấn đề có liên quan tiếp theo. Ví dụ, nếu bỏ 1 trong hai kỳ thi thì cần có quy chế như thế nào để cho các trường cao đẳng, đại học tự chủ trong quá trình tuyển sinh của họ sau này. Ngoài ra, trong trường hợp bỏ kỳ thi tuyển sinh Đại học duy trì kỳ thi PT thì cũng nên mạnh dạng tiến đến để cho các Sở GD địa phương tự quyết chứ không nên quá ôm đồm. Vì rõ ràng, mỗi địa phương do điều kiện, vị trí, vùng miền khác nhau việc để họ tự chủ vấn đề này là tốt nhất. Ở đây, Bộ GD chỉ nên đóng vai trò kiểm tra giám sát mà thôi.

    – Dù tổ chức thi cử đánh giá dưới hình thức nào thì nhất định cũng phải xây dựng quy chế công nhận tốt nghiệp, cấp bằng trên nguyên tắc: việc kiểm tra đánh giá học sinh trong suốt quá trình học là quan trọng nhất phải ưu tiên hàng đầu (nếu phải quy ra điểm số để xếp lại học sinh thì điểm quá trình này phải nhân hệ số 2); tiếp theo mới cộng vào kết quả đánh giá ở những kì thi cuối cấp (hệ số 1). Vì sao như vậy? Bởi vì việc đánh giá quá trình học của học sinh là vấn đề được thực hiện thường xuyên, định kỳ vì thế nó sẽ có kết quả tương đối chính xác và trung thực hơn kết quả đánh giá chỉ căn căn vào 1 lần thi cuối cùng (vì lần thi cuối cùng có khi do “tác động” của nhiều yếu tố, kết quả của nó có khi rất không khách quan trung thực. Điều này đã được chứng minh qua thực tế tỉ lệ thi tốt nghiệp PTTH thời gian qua mà ai cũng biết). Hơn nữa, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá năng lực học sinh trong suốt quá trình học về lâu dài sẽ làm thay đổi nhận thức của cả thầy và trò trong giảng dạy và học tập. Đến đây, hẳn có người sẽ lo ngại, sẽ phát sinh tiêu cực vì trong quá trình học, phụ huynh có thể “chạy chọt xin điểm” cho con em mình từ giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm chẳng hạn. Điều lo ngại này theo tôi là có cơ sở. Tuy vậy, theo tôi, chúng ta cũng cần nên rạch ròi ở chỗ này: bất kỳ một phương án nào cũng có những mặt ưu và khuyết, vậy thì chúng ta phải lựa chọn phương án mà cái tối ưu nhất, có lợi nhiều nhất để thực hiện thôi. Hơn nữa, nếu chúng ta có mộ cơ chế giám sát, phân quyền, phân cấp rõ ràng cụ thể cho các sở GD địa phương, cho các hiệu trưởng thì việc kiểm soát khả năng tiêu cực này là không khó.

    Like

    • Câu kết của Bác rất chuẩn ạ! Em cũng nhận thấy Thái độ tích cực của các cấp lãnh đạo Trung ương trong khi đưa ra quyết định đổi mới toàn diện này, mặc dù là hơi muộn một chút. Vấn đề Cần quan tâm lưu ý là Thực Hiện như thế nào cho hiệu quả, vì nếu có TƯ có ra quyết định hay đến mấy mà ở cơ sở không có được thi hành, không có ai đứng ra chịu trách nhiệm giám sát và đánh giá kết quả thì công dã tràng.
      Em thấy các Bác lãnh đạo nên nhìn nhận một cách thực tế rằng khó khăn trong việc Huy động nguồn vốn cho cải cách giáo dục, đào tạo giáo viên, xây đựng cơ sở vật chất trường lớp… là rất lớn. Bộ Tài Chính, Kinh Tế phải có kế hoạch rõ ràng để Hỗ trợ bộ GD, chứ không đến cuối năm lại nhận báo cáo là “Do nguồn kinh phí hạn hẹp nên …dự án không thể thực hiện được” thì buồn lắm ạ!
      Đọc tin về một trường THCS học sinh lớp 5 phải nhoài người trên bàn học mới chỉ vì được cấp hàng loạt bàn học chiều cao có 50 cm, dành cho mẫu giáo, vỡ lòng, thì em không hiểu ai chịu trách nhiệm cho vụ việc này. Tiền thuế của dân được lấy ra đầu tư vào giáo dục, mà các cấp ở cơ sở làm ăn vô trách nhiệm, thiếu lương tâm, ngoảnh mặt Làm ngơ, coi như việc nhỏ không thèm giải quyết. Vậy thì các Bác lãnh đạo TƯ phải triệt để giữ kỷ cương, ngoài việc giao trách nhiệm, quy trách nhiệm, còn có hình thức kỷ luật, xử phạt nghiêm minh những cán bộ làm sai quy định (vô tình hay cố ý), thì may ra mới thực hiện được công cuộc đổi mới ạ!
      Em có vài ý nữa về những trở ngại lớn, mai sẽ tranh thủ viết thêm ạ!

      Like

  3. Hai cái comments của hai bác văn nguyên và Rất Là Buồn ở đây tôi thấy hay khủng khiếp! Tôi đặc biệt thích cái đề nghị của bác văn nguyên yêu cầu cho thi Tú tài bằng trắc nghiệm, cho thi như thế học sinh dốt và lười có mà khóc thét, hihi. Nhưng tôi thấy cũng nên có thêm một phần tự luận, rất là quan trọng ạ, vì đấy là cái khả năng suy luận, trình bày của học sinh (lại còn môn văn nữa chứ), chứ còn trắc nghiệm thì mới trắc nghiệm được kiến thức thôi ạ. Tôi nghĩ là mỗi môn nên làm hai đề, một phần đề tự luận phát trước, để học sinh làm trước, làm trong 2-3h chẳng hạn, sau đó phát tiếp phần đề trắc nghiệm.

    Tôi thấy Cái đề án đổi mới giáo dục này vẫn đang đi đúng hướng đấy ạ, mời các bác cứ nghiên cứu phản biện tiếp. Tôi cũng nhấn mạnh mong các bác xem xét bỏ kỳ thi quốc gia tuyển sinh Đại học, tôi tin việc này sẽ đem đến một sự cải cách rất sâu rộng và tích cực trong cách học và thi, đặc biệt là mở rộng cơ hội nâng cao dân trí cho toàn xã hội.

    Like

  4. Thi trắc nghiệm, tại sao?

    Việc đo lường kết quả một kỳ thi thường phải dựa vào các yếu tố chính như sau:
    1. Đề thi
    2. Chấm thi
    3. Cách tổ chức thi
    Phần lớn dư luận tập trung quan tâm đến đề thi và cách tổ chức thi vì ai cũng có thể nhìn thấy được. Riêng việc chấm thi (được xem là lao động nặng nhọc), được dành riêng cho thầy giáo, giảng viên. Lực lượng này ít khi lên tiếng trên các tờ báo hay diễn đàn. Chỉ có những nhà quản lý, những người “có tiếng nói trong xã hội” mới lớn tiếng về các vấn đề giáo dục, thi cử. Tuy nhiên số này hình như chưa từng chấm thi hoặc chấm thi đã lâu nay đã quên rồi. Nhiều người phản đối thi trắc nghiệm, cho rằng phải thi tự luận mới đánh giá được trí thông minh, sáng tạo, năng lực của học sinh,… Cứ cho như thế đi nhưng nếu tìm hiểu kỹ tình hình chấm thi, có lẽ họ không mạnh miệng quả quyết như vậy. Đối với các kỳ thi đại học những năm qua, kỳ thi mà toàn xã hội đánh giá là thực chất, nghiêm túc,… ta thử nhìn lại một số khiếm khuyết khó khắc phục trong công tác chấm thi để từ đó thấy rằng việc tổ chức thi trắc nghiệm là hợp lý trong thời gian trước mắt, đó là:
    – Việc chấm thi đại học thường diễn ra vào tháng 7. Đây là thời điểm nóng bức nhất trong năm. Có mấy nơi được chấm thi trong phòng máy lạnh?
    – Số lượng bài thi rất lớn, việc chấm thi kéo dài nhiều ngày.
    – Thầy giáo đã mệt nhoài sau 1 năm học vì phải giảng dạy quá tải: không chỉ dạy chính quy mà còn đủ loại hình khác như tại chức, từ xa,… nay đâu còn tâm trí để làm một công việc đơn điệu, nhàm chán!
    – Việc chấm thi theo quy trình 2 vòng độc lập như quy chế tuyển sinh dẫn đến áp lực công việc cao, căng thẳng.
    – Tiền bồi dưỡng chấm thi thấp.
    – Nhiều trường không có khoa cơ bản, phải mời giáo viên nơi khác chấm, đôi khi phải “lụy” các thầy.

    Với cách thi tự luận, dù đáp án có làm chi tiết đến mấy, việc chấm thi vẫn mang cảm tính, chủ quan. Một bài văn do một người chấm vào 2 thời điểm khác nhau có thể lệch đến 1 điểm. Việc lệch 0,5 điểm giữa 2 nguời chấm các môn tự nhiên cũng không hiếm. Nếu nghiêm túc, 2 người sẽ trao đổi để đi đến con điểm thống nhất nhưng điểm này có hợp lý hay không là vấn đề, chưa kể có người chặc lưỡi cho qua, thôi thì bạn thích điểm gì thì ghi vào điểm đó.

    Năm 2008, ở kỳ thi THPT, chỉ 1 câu trắc nghiệm môn Lý có đáp án không hợp lý, giá trị là 0,25 điểm nhưng có bao nhiêu tờ báo, nhà giáo tranh luận. Trong lúc đó việc chấm tự luận như thế nào, chẳng ai rõ nên chẳng có câu bình luận gì và tưởng rằng thi tự luận mọi chuyện êm thấm, tốt đẹp.

    Không phải là cực đoan nhưng tôi cho rằng, tất cả các môn kể cả môn Văn cũng có thể thi trắc nghiệm và kết quả không tồi hơn cách thi tự luận như hiện nay. Lý do, đề thi tự luận hằng năm vẫn quanh quẩn với các tác phẩm, chủ đề quen thuộc. Sách tham khảo, văn mẫu thì nhiều vô kể. Các em học luyện thi hay ôn tập theo tài liệu luyện thi sẽ học tủ các bài văn mẫu. Nhớ năm 2006, có một học sinh ở Đà Nẵng làm môn văn đạt điểm 10, ban đầu nhiều tờ báo tung hô thí sinh này nhưng sau đó bài văn được công bố, người ta mới biết đó là một bài văn mẫu! (xem http://dantri.com.vn/giaoduc-khuyenhoc/2006/8/134747.vip ) Như thế điểm 10 này dành cho TS may mắn trúng tủ và khả năng học thuộc lòng tốt. Do đó, cũng dễ xảy ra chuyện các thầy phải chấm nhiều bài văn mẫu khác chỉ có điều hoặc các bài văn mẫu không xuất sắc, hoặc các em không nhớ trọn vẹn thành thử chỉ đạt 7,8 điểm chẳng hạn nên không ai đưa ra bình luận trên báo chí.Thi tự luận môn văn như thế này thì thật ra chỉ kiểm tra năng lực học thuộc bài của thí sinh là chính, có đâu dành cho việc “cảm thụ văn học”, trình bày “tư duy độc lập”, “tư duy sáng tạo”, “cách hành văn”,… Nếu vậy, đánh giá trình độ môn văn của thí sinh chỉ bằng cách kiểm tra trí nhớ, học thuộc lòng thì dùng phương pháp trắc nghiệm có lẽ tốt hơn thi tự luận! Chấm thi đại học hàng ngàn bài văn, không ai chấm từng câu văn, cách diễn đạt của thí sinh. Các giám khảo lướt qua, tìm những ý chính có trong đáp án rồi bằng cảm nhận và kinh nghiệm của mình để cho một con điểm. Mấy ai ngồi đọc nhẩn nha bài làm của thí sinh để thấm định câu cú, từ ngữ, ý tứ văn vẻ của bài thi.

    Rõ ràng, trong tình hình kỳ thi đại trà với số lượng thí sinh đông khủng khiếp như hiện nay, việc tổ chức thi trắc nghiệm là tối ưu. Thi tự luận hay vấn đáp hiển nhiên có nhiều ưu điểm nếu số lượng thí sinh không lớn và giám khảo công minh, thảnh thơi không bị áp lực về công việc và những vấn đề khác.

    (Bài viết hơi cũ nhưng thấy còn tính thời sự; có hơi dài, mong quý vị thông cảm)

    Like

    • Bác văn nguyên, vấn đề là, nếu biết thi Tốt nghiệp PTTH chỉ có thi trắc nghiệm mà thôi, thì lập tức thày cô trò sẽ ngày đêm chỉ ra sức luyện thi trắc nghiệm, bỏ hết mọi loại tự luận, bác ạ, và như thế thì không được đâu. Rồi lại còn môn ngoại ngữ nữa. Hồi xưa tôi có ông thầy rất phản đối thi trắc nghiệm môn ngoại ngữ, ông ấy nói : “Thế thì ra đề thế nào ? Chẳng lẽ để chữ “le chien” rồi cho chọn “con dê”, “con bò”, “con chó”, “con khỉ” à ?”

      HTN: Có phải thầy nào cũng hiểu biết giỏi giang đâu.

      Like

      • bạn LH ơi, thực ra thi trắc nghiệm được áp dụng rất nhiều trong môn ngoại ngữ đấy, nhưng không phải là câu hỏi như thầy bạn nhắc đến đâu, hihihi. Lấy Thí dụ đơn giản là TOEFL! Về ngoại ngữ thì nên có thêm cả vấn đáp vì như vậy mới thực sự biết học sinh có biết dùng ngoại ngữ, tư duy bằng ngoại ngữ hay chỉ là học thuộc các đề tủ. Mà theo mình nghĩ, thì các môn KHTN cũng như KHXH Cần có thi vấn đáp với hình thức bốc thăm câu hỏi để xét đúng trình độ hiểu biết của học sinh. Thi như vậy sẽ mất thời gian và tiền của, nhưng với những giáo viên Trung thực và Trung lập Làm ban giám khảo thì sẽ chọn lựa được học sinh thực sự có năng lực!

        Like

      • Thực ra nên thi trắc nghiệm tùy từng môn học thôi. Chứ môn nào cũng trắc nghiệm thì rất đáng sợ. Ngoài ra có thể mixed up câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi tự luận trong 1 bài thi/kiểm tra. Mình từng làm như thế rồi, sinh viên chỉ có khóc hu hu 😀

        Like

      • A a, bạn HTN hiểu biết giỏi giang định xúc phạm thày tôi đấy à ? Nhưng mà ông ấy lại là môt ông thày giỏi mới chết chứ, sinh viên rất thích ổng. Tất nhiên đó là ông ấy nói đùa thôi, và lúc đó chúng tôi nói về môn dịch xuôi, tức là dịch Pháp-Việt. Nhưng mà tôi cảm thấy là ổng có lý, và ngay cả kỳ thi TOEFL mà Thanh Hải nói, thì cũng đâu có so sánh nó với môn thi ngoại ngữ của kỳ thi Tốt nghiệp được ? Thi tốt nghiệp thì đâu có thi cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, và tổ chức rầm rộ như kỳ thi TOEFL ? Phải liệu cơm gắp mắm, các bác ạ !

        Like

      • Kiều rất thích thi kiểu trắc nghiệm vì thường thì câu trả lời đã nằm trong đầu đề câu hỏi nếu đọc kỉ 1 chút. Và làm ra những câu hỏi trắc nghiệm không phải là chuyện dể.
        Nhớ lần K thi usmle step 1 ,2 bằng multiple choice question, có những câu hỏi rất là thông minh làm mình tự thắc mắc là tại sao mình chưa bao giờ tự hỏi về điếu đó.

        Có ông thày chỉ K là khi không biết chọn câu trả lời nào thì nên chọn câu dài nhất hehe.

        Nói chung là những câu hỏi trắc nghiệm thường phản ảnh tư duy giáo viên.
        Vì có những câu hỏi mà sinh viên phải chặc lưởi lắc đầu tự hỏi ai đã đặc ra câu hỏi thật …ngu.

        Like

      • bạn lan hương ơi, ở bên Châu Âu thi trắc nghiệm được áp dụng phổ biến và có hiệu quả ở tất cả các môn học nhờ những câu hỏi và đáp án vô cùng hắc búa. Mình lấy 1 thí dụ đơn giản TOEFL vì vụ trắc nghiệm, chứ không phải ở vụ 4 kỹ năng nghe nói đọc viết như bạn nói 😉

        Còn về thi vấn đáp như mình đề cập đến (không phải như bạn hiểu nhầm chỉ là thi bốn kỹ năng trong môn ngoại ngữ đâu!) liên quan đến thi miệng (khác với thi viết). Nhiều bang bên Đức cũng áp dụng bên cạnh thi viết cho các môn học trong kỳ thi tốt nghiệp PT (Abitur) và phần này được coi là không dễ chút nào. Theo như mình biết thì thi vấn đáp dưới dạng trắc nghiệm cũng khá hiểm vì ban giám khảo ra đề rồi ra câu trả lời kha khá giống nhau, học sinh nào không học kỹ là không biết phải chọn câu trả lời nào là chuẩn nhất! Thi vấn đáp quyết định kết quả của thi miệng vì sau khi học sinh được thời gian chuẩn bị cho câu trả lời và tự diễn giải 1/2 thời gian cho phép, thì 1/2 thời gian còn lại sẽ là bị thầy (không phải thầy của mình) chất vấn! Thi vấn đáp sẽ đánh giá được trình độ của học sinh khách quan nhất (nếu như không có sự gian lận của thầy)!

        Like

  5. Mặc dù vẫn đang đánh vật với cụm từ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” nhung cũng xin tạm ngừng để bàn về thi cử với một ý đơn giản ngắn gọn. Tháng năm vừa qua cô giáo B Th phố Bà Triệu có mở lớp dạy tiếng Anh cho các trò mới thi đậu THPT (lớp 10). Tiếng là kiểm tra nhưng cách làm có phần nghiêm túc hơn kỳ thi của Bộ tổ chức. Tổ chức thi miễn phí vì cô muốn lựa học trò tốt theo tiêu chuẩn của cô. Học sinh đông đảo nhất là các cháu đậu trường Am có kế hoạch đi du học. Nhưng những cháu có khả năng học giỏi không ở trong trường này cũng được tuyển. Cô B Th tuyên bố “Các cháu học ở đây giỏi là vì các cháu…giỏi” chứ cô không có khả năng biến một cháu không giỏi thành giỏi. Thầy mà tự tuyển trò thì có thiên vị lắm cũng chỉ một vài cháu. Học sinh không giỏi lại ngọng nghịu thì cũng tự bỏ vì không theo kịp.
    Không có cách thi nào nghiêm túc bằng việc để cho thầy tự tuyển trò và trò tìm thầy. Khó khăn nhất của nền GD Việt nam là trò không gặp được thầy, thầy không được chọn trường, trường không chọn ( không có) được đất. Nhưng cái khó nghìn lần là giải quyết cho Bộ một công việc gì khác để …quản lý.

    Like

    • Bác namviet, em sẽ thấy phục Cô giáo đó nếu Cô có thể giúp các em học yếu thành học giỏi ạ, hihihi. Mà tốt hơn hết là Cô dạy từ thiện đối với các em không có được bố mẹ chuẩn bị cho du học. Dạy mấy em trường Am thì chuyện đơn giản như Cô giáo đó phát biểu ạ!
      Em có đọc tin một thầy chưa tốt nghiệp ĐH do ngày trẻ rời trường ĐH để nhập ngũ, sau giúp con em trong làng học thi cấp 3 và ĐH. Thầy giáo này dạy các em từng thi trượt ĐH mà nhiều khi không lấy tiền đấy ạ!

      Like

    • Rất tán thành quan điểm của bạn Thanh Hải và tôi kính trọng tấm lòng của bạn dành cho các em học sinh. Cũng như việc bạn thần thánh hóa con người đang ở giai đoạn định hướng XHCN.
      Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tên gọi một hệ thống kinh tế được Đảng Cộng sản Việt Nam sáng tạo và chủ trương triển khai tại Việt Nam từ thập niên 1990.(Nghị quyết 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X). trích Wikipedia.
      Câu chuyện có thật ở trên có cái nét của kinh tế thị trường cho cả trò và thầy. Còn một xã hội coi kinh tiền bạc, ai nghe cũng thích (nhất là người không có tiền) như bạn Thanh Hải mong?. Đã có nhà lãnh đạo vì nôn nóng muốn tiến nhanh hơn các nước anh em XHCN khác, nên đã làm một việc hơi quá đà là xóa bỏ tiền tệ.
      XHCN là những thứ tôi được học sơ sơ, nhưng cũng hình dung và nếm láp nó một chút (bạn Hải lại càng biết rõ vì đã từng học ở DDR trong trường học quốc tế). Đinh hướng hiểu nôm na là ta đang ở trong có nhảy ra nhưng vấn hướng về đó để khi thuận tiện lại …nhảy vào?.
      Còn quy luật khách quan của thị trường trong đời sống xã hội, trong thương mại, tài chính và hành chính công, thậm chí là trong ngành tội phạm học, giáo dục, xã hội học, luật học và nhiều ngành khoa học khác lại có sức mạnh khủng khiếp, nó cuốn phăng cả ý chí của vĩ nhân
      Cầm liềm cắt lúa thích hơn, nên tôi chỉ có bấy nhiêu ý kiến.

      Like

  6. Muốn chống gian lận trong thi cử dễ ấy mà. Cứ làm 1 quyển bài thi kiểu dân UK dùng thì thánh cũng chịu ko ăn gian được.

    Like

  7. Trước hết, về đề xuất trong dự thảo, tôi tán thành việc giữ nguyên kì thi tốt nghiệp THPT; nhưng những đánh giá kiểm tra trong suốt quá trình học ở cấp THPT chỉ nên được xem là “tham khảo”, không có trọng số trong quá trình xét tốt nghiệp và vào đại học. Sở dĩ có việc này bởi “thang đánh giá” rất không đồng đều nhất quán giữa các thầy cô giáo trong một trường, trong nhiều trường, ở các địa phương khác nhau… Việc cần làm là cải tiến đề thi tốt nghiệp THPT như Văn Nguyên đã nêu ra đây, hướng tới trắc nghiệm trên một phổ kiến thức rộng tránh học tủ, hoặc may rủi. Học cách làm như Toefl, vẫn có trắc nghiệm là chính và một phần tự luận ngắn gọn súc tích có ba-rem chấm rõ ràng cụ thể.

    Kì thi vào đại học thì căn cứ vào điểm tốt nghiệp THPT là một phần trọng số, phần thứ hai có thể thi tự luận/trắc nghiệm theo đặc thù của trường ĐH đó, và phần thứ ba là phỏng vấn hoặc thi năng khiếu cần thiết (ở những trường đặc trưng như khối nghệ thuật, hoặc trường có điều kiện tổ chức).

    Like

  8. Tôi hoàn toàn ủng hộ ý kiến của Minh Kim: 1/ giữ nguyên kỳ thi tốt nghiệp THPT và cải tiến việc ra đề dạng trắc nghiệm để kiểm tra được tổng thể kiến thức môn học (theo chiều rộng) và một phần tự luận để đánh giá khả năng phân tích, tổng hợp, vận dụng kiến thức (theo chiều sâu)
    2/ Đánh giá quá trình chỉ nên được xem là tham khảo và không có trọng số trong quá trình xét tốt nghiệp và vào đại học: một phần vì sự không nhất quán giữa các thầy cô giáo khác nhau, trường học hay địa phương khác nhau. Nhưng ngoài ra theo tôi, quá trình học và đánh giá quá trình là cơ hội để người học khám phá, có quyền thử và sai và rút kinh nghiệm điều chỉnh. Nói cách khác, đánh giá quá trình chính là một phương pháp dạy-học.

    Về kỳ thi vào đại học, tôi ủng hộ việc trao tự chủ cho các trường, cách làm của cô B Th ở trên là một ví dụ rất hay. Cô đã dựa vào năng lực đào tạo của mình để chọn một chuẩn đầu vào phù hợp, để cô và trò kết hợp với nhau tạo ra kết quả cao nhất. Đó chính là tính hiệu quả!

    Like

  9. Tôi xin phép copy phần ý kiến của GS.Nguyễn Văn Tuấn (Australia) từ link facebook của Ông như một tư liệu tham khảo cho việc học hỏi về kì thi tốt nghiệp phổ thông ở Úc : Nguồn: https://www.facebook.com/drtuannguyen?fref=ts:

    “Thi tốt nghiệp trung học: kinh nghiệm ở Úc

    Hôm qua, tôi có chỉ ra rằng bài báo nói rằng ở Úc không có thi tốt nghiệp trung học phổ thông là sai. Ở Úc có thi tốt nghiệp trung học phổ thông (tháng 10 hàng năm), và kì thi này RẤT quan trọng. Hôm nay, tôi muốn chia sẻ vài thông tin và kinh nghiệm thi cử ở Úc và “hoài niệm” thời xa xưa của tôi bên nhà.

    Thời xa xưa của tôi có quá nhiều thi cử. Nào là phải thi tốt nghiệp tiểu học, rồi đệ tứ lên đệ tam, tú tài I, tú tài II, và thi tuyển đại học. Tôi không bao giờ ủng hộ những kì thi này, vì nó làm hao tổn trí lực của học trò và có khi cũng chẳng cần thiết. Thành ra, sau này khi thấy mấy em học sinh thi hết kì thi này đến kì thi khác tôi thấy tội nghiệp cho họ quá. Những năm gần đây thì thi cử trung học ở VN gần như chẳng có giá trị gì nữa. Thú thật, nhiều khi tôi phải xét đơn học từ VN và khi thấy có em nào đỗ 90-95% là tôi cảm thấy nghi ngờ. Có thể oan cho người ta, nhưng trong cái môi trường dối trá như hiện nay thì ai mà không nghi ngờ.

    Khi ra nước ngoài, tôi ngạc nhiên thấy học trò bên này học thật là thoải mái, thi cử ít nhưng phản ảnh đúng trình độ học vấn. Chẳng hạn như ở Úc, học sinh xong tiểu học thì lên trung học (nếu em nào khá thì thi vào trường tuyển), và họ chỉ thi một kì thi duy nhất gọi là HSC — higher school certificate (tùy tiểu bang mà họ có tên gọi khác), tương đương với tú tài II hồi xưa và tốt nghiệp lớp 12 bây giờ. Đây là kì thi rất quan trọng vì nó có thể quyết định sự nghiệp tương lai của một cá nhân. Không có học trò nào dám xem thường kì thi này.

    Xong kì thi HSC, mỗi học sinh có một điểm tốt nghiệp từ 0 đến 100. Trường đại học căn cứ vào nhu cầu họ công bố điểm vào (chắc là như “điểm sàng” gì đó ở trong nước) để tuyển học sinh, chứ họ không có thi tuyển. Chẳng hạn như muốn vào học ngành thương mại của trường UNSW thì thí sinh phải có ít nhất là 95 điểm, còn trường “mickey mouse” nào đó cũng ngành thương mại nhưng chỉ đòi hỏi 80 điểm. Làng nhàng cỡ 70-80 thì có thể học khoa học xã hội, kĩ thuật, toán. Quyết định ghi danh trường nào là quyết định của thí sinh. Thí sinh có quyền ghi danh 5 trường khác nhau, và trường nào tuyển thì họ thông báo. Tôi thấy cách tuyển sinh này rất nhẹ nhàng, công bằng, và minh bạch.

    Cấu trúc đề thi HSC cũng đáng để tham khảo. Khi theo học 2 năm cuối chương trình trung học (lớp 11 và 12), mỗi học sinh phải chọn các môn học phù hợp với khả năng của mình. Có rất nhiều môn học (hàng trăm môn), nhưng chủ yếu vẫn là toán, vật lí, hóa học, sinh học, Anh ngữ, và một ngoại ngữ. Mỗi môn học có bậc tính theo units. Môn lí, hóa, sinh, và Anh ngữ chỉ có 2 bậc, riêng môn toán có 4 bậc. Ví dụ như môn toán có 4 bậc như sau:

    • Toán phổ thông: dành cho các thí sinh không có khiếu làm toán, khi đi thi họ được phép dùng máy tính;

    • Toán 2 unit: dành cho các em khá hơn, biết giải phương trình bậc hai, bậc ba, ứng dụng toán trong thực tế;

    • Toán 3 unit: dành cho các em có trình độ toán trên trung bình, và chương trình học đi sâu vào lượng giác, đạo hàm, tích phân, v.v.

    • Toán 4 unit: dành cho các em giỏi toán, chương học học khá nặng nề như số phức (complex number), hình học không gian, tích phân và ứng dụng tích phân, v.v. Học sinh theo học môn này tương đương với toán năm thứ nhất đại học.

    Theo tiêu chuẩn HSC, thí sinh phải thi đủ 12 units (tín chỉ). Chẳng hạn như nếu học sinh không giỏi về toán, nhưng giỏi về sinh học, thì em ấy sẽ chọn sinh 3 units + hóa 2 units + lí 2 units + toán 2 units + Anh văn 2 units + linh tinh 1 unit = 12. Học sinh phải chọn sao cho có đủ 12 units.

    Một khi đã chọn thì thí sinh chỉ thi HSC mấy môn ở bậc mình chọn. Chẳng hạn như nếu học sinh chọn toán 2 units thì em ấy không thi toán 3 units và 4 units. Tuy nhiên, nếu chọn toán 3 units thì phải thi hai bậc toán (2 units và 3 units); hay nếu chọn toán 4 units thì bắt buộc phải thi 2 bậc toán (3 units và 4 units). Cách thi này nhằm đảm bảo thí sinh thật sự giỏi chứ không phải chỉ tập trung toán bậc cao mà không biết gì bậc thấp.

    Tính trung bình, mỗi môn thi đều có khoảng 40 câu hỏi, từ dễ nhất đến khó nhất. Chẳng hạn như thi môn toán 2 units thí sinh có thể gặp những câu hỏi dễ như … cách tính phân số! Người ta lí giải rằng cách ra đề thi như thế công bằng hơn là tập trung vào 5, 6 câu khó như ở Việt Nam hay làm. Thật ra, tôi nghĩ các đề thi ở Việt Nam là đánh đố, chứ không phải nhằm kiểm tra trình độ của học sinh. Các bạn có thể xem qua các đề thi ở trang web của Cục giáo dục bang NSW. Còn ai muốn xem đề thi toán của họ ra sao thì xem ở đây: môn toán, vật lí, hóa học, sinh học, Anh ngữ, và môn … tiếng Việt.

    Không biết ở Việt Nam thì sao, nhưng ở bên này mỗi thí sinh được 3 người chấm điểm một cách độc lập. Nếu có khác biệt (hiếm, nhưng có) thì phải có người đứng ra dàn xếp. Do đó, điểm từng môn của thí sinh có thể nói là chính xác và công bằng.

    Nhưng điểm tổng số HSC không chỉ đơn thuần là điểm thi, mà là tổng số 3 điểm:

    (A) Điểm thi HSC.

    (B) Điểm lúc theo học 2 năm cuối trung học, tức là điểm trong các kì test mỗi kì học trong năm;

    (C) Điểm trong kì thi thử. Ở Úc, trước khi thi HSC thật, thí sinh phải qua một kì thi thử (gọi là trial examination) mà theo đó thí sinh thi như thật, nhưng chỉ thi tại trường, với đề thi do một nhóm thầy cô độc lập ra đề.

    Ba điểm thi này có trọng số khác nhau. Hình như (tôi không nhớ, vì trọng số thay đổi theo thời gian) điểm A chiếm 50%, điểm B 25%, và điểm C 25%.

    Ba điểm trên phải qua một mô hình phân tích thống kê để tính điểm tổng số. Điểm tổng số này rất phức tạp vì mô hình còn xem xét trường mà thí sinh xuất thân. Chẳng hạn như thí sinh có thể có điểm B tốt nhưng vì điểm trung bình của trường mà em theo học thấp thì hệ số sẽ bị giảm xuống thấp hơn so với thí sinh có điểm B tốt và điểm trung bình của trường cũng tốt. Nói tóm lại, điểm của thí sinh còn phải phân tích với điểm trung bình của trường mà họ theo học để đánh giá thực tài của thí sinh.

    Nói tóm lại, tôi thấy Việt Nam chúng ta cần phải cải cách chương trình thi cử trung học cho thật tốt, để tránh không phải thi tuyển đại học. Nhưng cải cách phải bắt đầu từ việc phân chia môn học từ dễ đến khó để đáp ứng khả năng của học sinh. Chẳng hạn như tôi dở về toán, nhưng tôi khá về sinh học, thì chương trình học phải cho tôi cơ hội phát huy khả năng về sinh học của tôi. Nói đến đây tôi nhớ đến ngày xưa người ta xem trọng môn toán đến nỗi ai không giỏi môn này bị mang tiếng là “đồ dốt”, “ngu như heo”, “ngu như bò”, v.v… Bây giờ có tuổi một chút tôi thấy cái lối cho nhãn hiệu như thế thật là bậy bạ và … ấu trĩ. Một xã hội mà dồn ép học sinh chỉ lo học toán thì xã hội đó không khá nổi. Tôi vẫn không hiểu tại sao có người nói phân môn học cao thấp như thế là không khả thi ở Việt Nam.

    Ngoài ra, tôi nghĩ còn phải cải cách về cách thức ra đề thi, cách tính điểm, cách đánh giá thành tích học hành, v.v… Nhưng tất cả cải cách này đòi hỏi nghiên cứu, phân tích dữ liệu, và suy nghĩ. Tất nhiên, nói mấy thứ này ra thì các vị “nghiên cứu giáo dục” sẽ nói họ đều làm cả rồi, biết hết rồi, không có gì mới … nhưng tôi dám cam đoan là họ chưa làm, chưa biết, và họ cũng không biết cái mới. Thành ra, muốn cải cách thì có lẽ phải bắt đầu với con người mới, tư duy mới, và quan trọng nhất là có thực tài. Nước ta không cần những công chức với đủ thứ học vị hoa lá cành mà ngồi ì và không làm được việc.”

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: