How We Learn

Câu chuyện về một bộ sách giáo khoa – Thư Hiên

Câu chuyện từ một bộ sách đã trải qua 35 năm những thăng trầm không chỉ có ý nghĩa với bản thân tác giả bộ sách, mà còn là một bài học đầy thấm thía cho những nhà hoạch định chính sách GD&ĐT nước nhà…

Lào Cai là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, từng chịu nhiều đau thương trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Sau chiến tranh cho đến năm 1990 là giai đoạn đời sống kinh tế – xã hội ở Lào Cai đặc biệt khó khăn trong bối cảnh khó khăn chung của cả nước. “Sau sự kiện 17-2-1979, cơ sở giáo dục ở Lào Cai gần như không còn gì. Khi tái lập tỉnh (tháng 10-1991), tỉnh không có trường sư phạm, không có trường dân tộc nội trú, 14 xã trắng trường lớp học.

Hầu hết xã vùng cao không có cấp tiểu học hoàn chỉnh, nghĩa là không có tới lớp 5, thậm chí nhiều nơi không có cả lớp 4. Cả tỉnh chỉ khoảng 1/3 trẻ trong độ tuổi đi học tiểu học. Vậy mà chúng tôi phải làm một nhiệm vụ vô cùng nan giải hồi ấy là phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ” – ông Trương Kim Minh, nguyên giám đốc Sở GD-ĐT Lào Cai, nhớ lại.

Phổ cập tiểu học, xóa mù chữ nhờ có nhiều bộ SGK

Trầy trật mãi, tháng 5-2000 Lào Cai mới đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, là một trong những tỉnh cuối cùng của cả nước chạm đích phổ cập. Cũng như hầu hết tỉnh còn khó khăn về giáo dục hồi đó, Lào Cai chủ trương áp dụng một cơ chế phổ cập – xóa mù chữ hết sức linh hoạt, theo kiểu “ai có gậy dùng gậy, ai có mai dùng mai”.

Hồi ấy Lào Cai cùng một lúc dùng nhiều chương trình, nhiều bộ sách khác nhau. Ngoài bộ sách giáo khoa (SGK) cải cách (biên soạn từ năm 1981) còn có bộ SGK công nghệ giáo dục (viết tắt là CGD) của GS Hồ Ngọc Đại. Ngoài ra Lào Cai còn ứng dụng các chương trình 120 tuần, 100 tuần.

“Chúng tôi có hơn 74% là người dân tộc thiểu số, nếu cứ bắt các cháu học cùng chương trình với các cháu người Kinh thì khả năng năm 2000 đạt chuẩn phổ cập tiểu học và xóa mù chữ là không thể thực hiện được. Sau khi các nhà khoa học ở Trung tâm Nghiên cứu giáo dục dân tộc lên nghiên cứu khoảng năm năm ở xã Xín Chéng, Simacai, Lào Cai về thì Bộ GD-ĐT phê duyệt chương trình 120 tuần. Chương trình được rút gọn, bỏ bớt những nội dung không cần thiết với học sinh dân tộc thiểu số, tập trung vào kỹ năng tiếng Việt và toán” – ông Minh kể.

PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào, nguyên vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học – Bộ GD-ĐT, cũng xác nhận: “Năm 1981, khi bắt đầu thực hiện chương trình cải cách giáo dục ở cấp tiểu học, chúng ta chỉ có một bộ sách (nếu không tính bộ CGD của GS Hồ Ngọc Đại lúc đó chỉ dùng ở Trường Thực nghiệm). Nhưng qua thực tiễn nhiều nơi giáo viên và học sinh không dạy học được từ một bộ sách đó, Bộ GD-ĐT đã tổ chức biên soạn và cho sử dụng bốn bộ SGK tương ứng các đối tượng học tập khác nhau.

Sách 165 tuần dạy học sinh ở các vùng kinh tế – xã hội bình thường; sách 100 tuần dạy cho trẻ lang thang cơ nhỡ, vừa đi học vừa kiếm sống; sách 120 tuần dành cho học sinh miền núi; sách theo chương trình CGD của GS Hồ Ngọc Đại. Sở dĩ thập niên 1990 chúng ta đạt được mục tiêu phổ cập giáo dục, xóa mù chữ là nhờ đa dạng hóa các loại hình, phương thức dạy học, đa dạng hóa SGK”.

Bước thụt lùi

Theo GS Nguyễn Minh Thuyết, đến nay ta đã trải qua bốn lần thay SGK. Việc thay sách ba lần trước gắn với công cuộc cải cách giáo dục. Lần thứ tư thì không có cải cách mà chỉ là đổi mới chương trình.

“Lần cải cách thứ nhất là năm 1950, trong kháng chiến chống Pháp. Lần thứ hai là năm 1956 sau khi giải phóng miền Bắc, chúng ta tiến hành cải cách giáo dục để thống nhất lại nền giáo dục trong kháng chiến với nền giáo dục trong vùng bị tạm chiếm. Chúng ta xây dựng nền giáo dục phổ thông 10 năm thay vì 9 năm như thời kháng chiến. Năm 1979 chúng ta lại tiến hành một cuộc cải cách giáo dục mới, thống nhất lại nền giáo dục chung cho cả đất nước, thực hiện hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm. Đến năm 2002 ta chỉ thay đổi chương trình và SGK thông thường chứ không phải cải cách giáo dục” – ông cho biết.

Cũng theo GS Thuyết, so với những lần trước đây thì lần đổi mới SGK năm 2002 là “bài bản nhất”. Những lần trước đây không hề có quyết định của Quốc hội hay Chính phủ, cũng không có bất kỳ chương trình nào được thông qua bởi các quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Các nhà khoa học, nhà giáo vừa viết sách vừa hình thành chương trình giáo dục.

Còn năm 2002, ngành giáo dục xây dựng chương trình trước, biên soạn tài liệu dạy thử nghiệm bốn năm mới hoàn thành chương trình, rồi mới làm SGK chính thức. Nếu tính cả người viết sách, người thẩm định của cả ba cấp thì có tới 500 nhà khoa học tham gia biên soạn, thẩm định SGK.

Tuy nhiên bộ sách được xem là công phu đó đã khiến nhiều lãnh đạo ngành GD-ĐT các tỉnh miền núi phía Bắc đau đầu khi nghĩ cách duy trì được kết quả phổ cập – xóa mù chữ.

“SGK Tiếng Việt chương trình 2000 là viết cho người Kinh, tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của các em. Còn học sinh của chúng tôi là người dân tộc thiểu số, tiếng mẹ đẻ của các em không phải là tiếng Việt. Làm sao để các em nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt tốt thì mới không bị rơi vào nguy cơ tái mù chữ. Tôi bỗng nhớ ra là những năm 1990 có bộ SGK của GS Hồ Ngọc Đại. Lúc đó cả nước chỉ dùng thống nhất một bộ SGK nên không ai dùng bộ sách của GS Hồ Ngọc Đại nữa. Nhưng Lào Cai vẫn quyết định dùng” – ông Minh kể lại.

Còn ông Nguyễn Anh Ninh, người kế nhiệm ông Minh làm giám đốc Sở GD-ĐT Lào Cai, cho biết: “Ban đầu chúng tôi đưa Tiếng Việt CGD vào bốn huyện Mường Khương, Simacai, Bảo Yên, Bảo Thắng, không ngờ thay đổi hẳn chất lượng môn tiếng Việt ở tiểu học. Rõ ràng giải pháp này đã giải quyết được một vấn đề rất quan trọng trong giáo dục tiểu học ở Lào Cai. Ở vùng cao, không giải quyết được vấn đề tiếng Việt thì đừng nói gì đến việc chất lượng giáo dục tiểu học!”.

Ông Minh thẳng thắn đánh giá việc năm 2002 cả nước chỉ sử dụng thống nhất một chương trình – một bộ SGK là bước thụt lùi về tư duy giáo dục.

Việc thay SGK không phải vì bộ này tốt hơn bộ kia mà đơn giản là để thực hiện nhiệm vụ chính trị: “Về căn bản chúng ta không theo kịp xu thế của tư tưởng giáo dục cho mọi người mà các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đang thực hiện. Ở những nước tiên tiến, Bộ giáo dục của họ chỉ đưa ra chương trình khung, thậm chí chương trình cụ thể sẽ do từng vùng miền khảo nghiệm và lựa chọn. Ngoài chương trình bắt buộc, họ còn tăng cường chương trình tự chọn. Một nền giáo dục mà số môn tự chọn càng cao càng đáp ứng tốt nhu cầu học tập của từng cá nhân học sinh”.

Năm 2001, PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào từ chức vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học để phản đối việc Bộ GD-ĐT quyết định triển khai đại trà chương trình 2000.

Theo ông, bộ SGK cải cách năm 1981 không phải là một bộ sách tốt. Ông Hào lý giải ông chỉ nêu và cảnh báo những bất cập để cuộc đổi mới của Bộ GD-ĐT không lặp lại vết xe đổ của cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba vào năm 1981, vốn đã để lại nhiều bài học đắt giá do thiếu một tổng chỉ huy, thiếu một kế hoạch thiết kế chương trình ngay từ đầu nên nhiều cuốn SGK được viết theo ý tác giả và đã khiến học sinh bị quá tải.

Đặc biệt, việc chỉ đạo cả nước chỉ dùng một bộ SGK đã làm nhiều học sinh ở vùng sâu vùng xa không thể học tập đạt kết quả, dẫn đến tình trạng học sinh lưu ban, bỏ học nhiều… Về sau ngành GD-ĐT đã thực hiện điều chỉnh cải cách giáo dục bằng nhiều giải pháp, trong đó có việc ban hành và cho phép thực hiện nhiều chương trình cùng lúc để đáp ứng từng đối tượng.

“Có thể nói sau 20 năm vừa điều chỉnh, sửa chữa, bổ sung thì đến tận năm 2000, chương trình và SGK bậc tiểu học mới bắt đầu ổn định và bước đầu cải thiện về chất lượng. Nhưng 2000-2001 cũng là năm học đầu tiên thực hiện chương trình giảm tải thì bộ lại chủ trương bỏ tất cả chương trình hiện hành để triển khai một chương trình mới với rất nhiều bất cập” – PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào nhận xét.

Sự hồi sinh của một bộ SGK

Không nhiều người biết bộ SGK “cứu” chất lượng dạy học môn tiếng Việt ở Lào Cai mà nhà giáo Trương Kim Minh và ông Nguyễn Anh Ninh nhắc đến ở trên có một số phận trầm luân trong 35 năm qua. Tác giả của bộ sách là GS Hồ Ngọc Đại, nguyên giám đốc Trung tâm Công nghệ giáo dục, Bộ GD-ĐT.

GS Hồ Ngọc Đại kể: “Tôi sang Nga từ cuối năm 1968 để nghiên cứu tâm lý giáo dục bằng thực nghiệm. Về nước năm 1977 thì năm 1978 tôi mở Trường Thực nghiệm ở Hà Nội. Suy nghĩ của tôi lúc ấy là phải làm sao để trẻ con Việt Nam tiếp cận với thành tựu cuối cùng đã được xác lập, đã được khoa học công nhận. Thời điểm đó, giới nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam tổ chức tổng kết 300 năm nghiên cứu ngữ âm, tài liệu này được làm giáo trình chính thức cho sinh viên năm 3 chuyên ngành ngôn ngữ Trường ĐH Tổng hợp (nay là ĐH Khoa học xã hội & nhân văn – ĐH Quốc gia Hà Nội).

Tôi đã sử dụng thành tựu nghiên cứu đó để đưa vào SGK dạy tiếng Việt cho trẻ lớp 1. Chuyên môn của tôi là tâm lý giáo dục, không phải là ngôn ngữ học nên ban đầu tôi có nhờ một số cộng sự về ngôn ngữ biên soạn sách. Vì sách chưa đạt yêu cầu nên cuối cùng tôi phải tự biên soạn lấy”.

Với môn tiếng Việt lớp 1, GS Hồ Ngọc Đại đặt ra ba mục tiêu: đọc thông viết thạo, viết đúng chính tả và không bao giờ tái mù. Đọc thông viết thạo nghĩa là “nghe được, nhắc lại được, viết ra được và đọc được”. Nhưng trong suốt tám năm đầu giai đoạn thực nghiệm, chương trình tiếng Việt CGD chỉ được ứng dụng tại Trường Thực nghiệm. Năm 1986, sự thất bại của chương trình cải cách giáo dục khiến chương trình CGD vượt khỏi phạm vi thực nghiệm.

Trước kết quả học tiếng Việt quá tệ của cả nước hồi đó (có năm có tới 650.000 học sinh lớp 1 lưu ban trên tổng số gần 2 triệu học sinh), Bộ trưởng Bộ Giáo dục lúc đó là bà Nguyễn Thị Bình đã quyết định khuyến khích các địa phương dùng bộ sách của GS Hồ Ngọc Đại.

GS Hồ Ngọc Đại kể: “Phản hồi từ các giám đốc sở hồi ấy với bộ sách khá tích cực, nhưng nhiều người còn ngại vì phải chờ ý kiến chỉ đạo của địa phương. Lần ấy tôi gặp vị bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh, ông ấy hỏi tôi về ưu điểm của phương pháp CGD. Tôi trả lời nếu học theo phương pháp của tôi, học sinh có thể đọc được một phút 60 chữ trong khi phương pháp hiện thời là một phút 25 chữ mà học sinh vẫn không học nổi, non một nửa số em lưu ban.

Ông ấy nói vui: “Tôi không cần một phút 60 chữ. Tôi chỉ cần một chữ 60 phút nhưng chữ nào cũng phải đọc được” và giải thích cháu ông ấy học hết lớp 1 nhưng không đánh vần nổi chữ “Nhân dân” trên tờ báo ông ấy vẫn đọc hằng ngày do trong SGK không có hai chữ đó. Chuyện vui nhưng phản ánh một thực tế là học trò của chúng ta vẫn được dạy học theo kiểu học vẹt, chữ nào có hình dạng giống như trong SGK thì mới “đọc” được”.

Ban đầu 12 tỉnh tham gia. Hơn chục năm sau số tỉnh tham gia chương trình CGD là 43. Thầy Nguyễn Đức Trường, nguyên hiệu trưởng một trường tiểu học ở thị trấn Phúc Yên (Vĩnh Phúc), cho biết: “Hồi ấy tất cả các trường tiểu học của Phúc Yên đều tham gia dạy chương trình CGD. Trường tôi còn là trường được ghi hình các tiết dạy để làm mẫu. Qua trải nghiệm thực tế chúng tôi thấy rõ hiệu quả của chương trình tiếng Việt 1 CGD. Học sinh nắm luật chính tả rất tốt, trong khi chương trình bình thường thì các em học mãi vẫn không nắm chắc được. Nhưng môn toán thì nhìn chung là khó dạy vì nhiều vấn đề trừu tượng bác Đại đưa vào sớm quá”.

Tuy nhiên, năm 2002, Bộ GD-ĐT bắt đầu triển khai việc đổi mới chương trình và chỉ cho phép sử dụng một bộ SGK duy nhất do bộ tổ chức biên soạn.

Việc Lào Cai quyết định thử nghiệm việc dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số của mình bằng sách của GS Hồ Ngọc Đại đã tạo cơ hội để cuốn sách thể hiện được giá trị của mình. Điều để hai bên gặp nhau là nghị quyết 40 của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình – SGK.

“Hôm ấy tôi làm việc với Tỉnh ủy Lào Cai, tiếp tôi là anh Sùng Chúng, phó bí thư thường trực kiêm chủ tịch HĐND tỉnh. Anh ấy rất quan tâm việc tôi hứa sẽ dạy cho con em các dân tộc Lào Cai đọc thông viết thạo tiếng Việt chỉ sau một năm. Khi tôi bày tỏ lo ngại về việc Quốc hội đã thông qua Luật giáo dục, trong đó quy định cả nước thống nhất dùng một bộ SGK thì anh Sùng Chúng hỏi: Con em của Quốc hội hay con em của chúng tôi?” – GS Hồ Ngọc Đại nhớ lại.

Sau khi Lào Cai thí điểm thành công sử dụng sách tiếng Việt 1 CGD của GS Hồ Ngọc Đại, năm 2008 Bộ GD-ĐT đã cho phép năm địa phương khác thí điểm: Tây Ninh, Kon Tum, Kiên Giang, Đắk Lắk, An Giang. Số tỉnh sử dụng tiếng Việt 1 CGD tăng dần. Năm ngoái, hai tỉnh đồng bằng và có mặt bằng giáo dục phổ thông cao bậc nhất là Nam Định và Hải Dương cũng dùng bộ sách này. Năm học này, 37 tỉnh thành dùng sách tiếng Việt 1 CGD.

“Khi chương trình của tôi phải ngừng lại nhường chỗ cho chương trình 2002, tôi tin rằng bộ sách của mình “thất thế” không phải về mặt khoa học mà là do những toan tính vụ lợi, mà đã vụ lợi thì một lúc nào đó sẽ hết lợi, bộ sách của tôi sẽ được ghi nhận. Sự thật đã là như thế” – GS Hồ Ngọc Đại chia sẻ.

Theo nhiều chuyên gia, thực tế đã xác quyết cho việc biên soạn, áp dụng SGK linh hoạt trong các trường học mà mục tiêu cao nhất là giúp mọi học sinh có thể học được và học tốt. Vì thế, một quyết định cởi mở thật sự trong vấn đề này là điều cần làm sớm và làm thực chất.

Cần nhắc lại là, điều 29 Luật giáo dục quy định: Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành chương trình giáo dục phổ thông, duyệt SGK để sử dụng chính thức ổn định, thống nhất giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và SGK.

“Như vậy luật chỉ yêu cầu SGK được dùng trên cả nước là thống nhất chứ không phải duy nhất” – PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào nói.

 

“Tôi dạy tiếng Việt 1 CGD từ năm 2009. Học sinh của tôi nghe hiểu rất nhanh, nói thành câu rõ ràng tự tin, nhiều em đọc lưu loát, khi viết thì nắm chắc luật chính tả, viết chữ rất đẹp. Các em cũng hiểu rõ ngữ âm tiếng Việt, cảm nhận nó rất rõ ràng, được thảo luận nhiều nên không khí lớp học rất tích cực. Cá nhân tôi khi dạy cũng rất hứng thú mà không phải giảng nhiều như chương trình hiện hành”.

Cô Nguyễn Thị Hằng (giáo viên chủ nhiệm lớp 1A Trường tiểu học số 1 Trịnh Tường, huyện Bát Xát, Lào Cai)

“Lớp cháu có 24 bạn, trong đó 10 bạn dân tộc Dao, 4 bạn dân tộc Giáy. Các bạn dân tộc nói tiếng Việt rất giỏi. Bạn Giềng Ngọc Ly năm ngoái tham gia thi viết chữ đẹp của trường được giải ba. Còn cháu năm ngoái được giải nhì cuộc thi chữ đẹp tỉnh Lào Cai”.

Em Nguyễn Hồng Ngọc(học sinh lớp 5A Trường tiểu học số 1 Trịnh Tường, Bát Xát, Lào Cai)

Thư Hiên

Nguồn: http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/571280/cau-chuyen-ve-mot-bo-sach-giao-khoa.html#ad-image-0

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Hướng cải cách, Tiếng nói giáo viên

39 phản hồi »

  1. Bài viết rât hay, cần phải suy nghĩ thêm về chương trình sách GK.

    Số lượt thích

  2. Gửi chị Hiên: sau 35 năm và qua biết bao nhiêu bộ Trưởng bộ GD, em nhận thấy bài học này vẫn chỉ được thấm thía một phần thôi ạ! Việc 37 tỉnh thành trong năm học này dùng sách Tiếng Việt CGD chỉ là bước đầu của một sự chuyển biến chậm chạp!
    GS Hồ Ngọc Đại đã chỉ ra một sự thật phũ phàng: “Khi chương trình của tôi phải ngừng lại nhường chỗ cho chương trình 2002, tôi tin rằng bộ sách của mình “thất thế” không phải về mặt khoa học mà là do những toan tính vụ lợi, mà đã vụ lợi thì một lúc nào đó sẽ hết lợi, bộ sách của tôi sẽ được ghi nhận. Sự thật đã là như thế”.
    Em có cảm giác, những người lãnh đạo đương chức đôi khi sợ mất quyền lực tối cao nên hạn chế việc phân quyền cho các cấp ở cơ sở, chưa nói đến các toan tính vụ lợi khác. Phải đến khi nghỉ hưu thì Họ mới có tư duy đổi mới, mạnh dạn “đấu tranh” cho lợi ích thực sự của người dân như một sự sám hối muộn màng, hic!
    Mong sao các em học sinh sớm có được những cuốn sách GK phù hợp với môi trường XH nơi các em sống. Mong sao VN sớm có những nhà XB chuyên phát hành SGK chất lượng cao do các nhà giáo giỏi soạn, phục vụ đông đảo các em học sinh. Mong có sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà xuất bản để giá thành sách GK không quá cao, có điều kiện đến tay các em học sinh nhà nghèo. Mong các Bác lãnh đạo rút kinh nghiệm triệt để, tạo chưong trình khung để các nhà XB SGK dựa vào đó làm căn cứ soạn Sách, cho phép các trường có sự lựa chọn tự do trong việc Sử dụng những cuốn sách GK đó phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh dạy và học.

    Số lượt thích

    • Chị Hiên khi nào qua bên này công tác, sẽ thấy sách GK cũng như sách tham khảo của rất nhiều nhà XB, đa dạng và phong phú về Nội dung, không có cuốn nào giống cuốn nào. Ngay cả môn Toán, cũng một chủ đề, nhưng mỗi cuốn sách có cách tiếp cận vấn để khác nhau, có cả cách giải cũng khác nhau. Các môn khác thì vô cùng hấp dẫn về trình bày và nội dung. Do vậy nên mỗi trường, mỗi thầy cô ở đây đều dạy theo cách khác nhau, thứ tự các bài giảng khác nhau, ra bài kiểm tra hàng tuần hay thi học kỳ cũng khác nhau. Duy chỉ có chương trình khung của bộ GD từng bang là chung, nhưng trong đó cũng chứa đựng tư tưởng “thoáng”, khuyến khích giáo viên tự chọn sách và cách thức giảng dạy sao cho hợp lý.

      Số lượt thích

  3. Có một số ý kiến (trên Facebook) về sách giáo khoa của GS Hồ Ngọc Đại. Chúng tôi copy vào đây để quý bạn đọc có thể tham khảo thêm.

    Jade Hang

    a) Khái niệm, thuật ngữ khoa học

    Một số khái niệm được tác giả đặt ra nhưng tự thân tên của các khái niệm đó cần được xem xét, cân nhắc và nghiên cứu thêm hoặc được nêu rõ kết quả nghiên cứu khoa học được công nhận.

    – Vật thật: được dùng để chỉ cả sự vật, hành động, tính chất. (trong cả 2 tập sách). Xem lại khái niệm này. Vì theo Từ điển Hoàng Phê (được tác giả tham khảo và giới thiệu trong bản thảo), vật: cái có hình khối, tồn tại trong không gian, có thể nhận biết được, mà trong bản thảo, tác giả lại coi hành động, tính chất cũng là Vật?

    – Vật thay thế: ảnh, hình vẽ, tiếng nói, chữ viết được coi là vật thay thế cho Vật thật.
    Tác giả viết: “Cách dùng vật thật là cách hiểu nghĩa của nó. VD Cái cốc làm chặn giấy, Cái cốc để cắm hoa, Cái cốc để uống

    Phải xem lại: Thực tế, cái cốc vẫn là cái cốc. Còn việc dùng nó vào mục đích gì là do người dùng, một phần do sự linh hoạt (1 vật cũng có thể có nhiều chức năng, công dụng). VD: cái điện thoại bây giờ ngoài chức năng nghe – gọi điện thông thường thì bao gồm rất nhiều chức năng khác như nghe nhạc, chụp ảnh, gõ văn bản, máy tính,… Như vậy thì đâu phải người dùng dùng sai nghĩa của cái điện thoại?

    Tác giả viết: “Tiếng không chứa Nghĩa. Nếu Tiếng nào chứa Nghĩa thì Tiếng ấy biến thành Từ. Lúc đó, Tiếng là một thành phần của Từ, gọi ước lệ là hình thức.” Trong đoạn này, câu 1 mâu thuẫn với câu 2, câu 2 mâu thuẫn với câu 3. Tiếng không chứa nghĩa thì sao còn có Nếu? Tiếng đã biến thành từ thì sao lại còn là một thành phần của từ? lẫn lộn khái niệm?

    Về cuốn TV 1 đã xuất bản của HNĐ, có 1 ví dụ nhỏ về âm và chữ thế này: theo tác giả, âm /chờ/ là một âm, một phụ âm, do đó chữ “ch” là 1 chữ có 2 nét, chứ ko phải do hai chữ ghép lại, gồm có 1 nét như chữ “c” và thêm một nét mới giống như chữ “h”. Tương tự, các chữ “gi, ng, kh, th, tr, nh…” cũng được coi là 1 chữ. Quan niệm mỗi âm là 1 chữ dẫn đến nhận định bảng chữ cái tiếng Việt không phải gồm 29 chữ cái mà gồm là 36 chữ cái. — Thực chất,hình thức chữ viết “nh” trong “nhỏ” và “nh” trong “anh”, “inh” là giống nhau; nhưng về mặt ngữ âm thì “nh” trong “nhỏ” là âm /nh/; còn “nh” trong “anh”; “inh” là âm “ng”. Tương tự chữ viết “ch” trong “chị” thể hiện âm /ch/; còn “ch” trong “ich”, “ach” thể hiện âm /k/. Còn chữ viết “a” trong “anh”, “ách” lại thể hiện âm /e ngắn/ chứ không phải âm /a/ trong “la đà”.

    Hien

    Đoạn mà bạn Jade Hang trích dẫn phía trên (âm là vật thật, chữ là vật thay thế…) nằm ở trang 17 cuốn Tiếng Việt CGD tập ba với chú giải kèm theo là “Tự học” nên em đoán sách dành cho GV. Còn sách dành cho HS có hai tập: Âm, Chữ (tập I) và Vần (tập II). Bài 1 Tập I là bài “Tiếng”, theo em hiểu là cung cấp cho HS kỹ năng nhận diện tiếng (tách lời ra từng tiếng, tiếng giống nhau…), cách đánh vấn tiếng. Bài 2 Tập II là “Âm”: nhận diện âm, đánh vần âm… Để em chụp ảnh cái mục lục đưa lên luôn cho anh Châu tạm hình dung.

    Tác giả bài viết không có ý cho rằng sách thầy Đại là nhất. Điều quan trọng là phải có nhiều bộ SGK, và người học (hoặc đại diện của người học) phải được tự do lựa chọn. Việc hiện nay các tỉnh chỉ mới dùng sách thầy Đại cuốn Tiếng Việt lớp 1 cũng là thận trọng. Sách toán của thầy Đại thì nhiều người chê rồi.

    Chau Ngo

    Những gì thầy Đại nói về tiếng, từ và nghĩa gần như hiển nhiên. Chỉ tội diễn đạt hơi tối nghĩa. Tiếng là vỏ (form hình thức) của từ, ở trong có nghĩa hoặc là vô nghĩa. Đa số tiếng người ở trong chẳng có cái gì cả.

    Về chuyện vật thật hay vật giả vờ, mình nghĩ như thế này. Mỗi quyển sách có thể có thuật ngữ riêng của mình, miễn là được định nghĩa và sử dụng nhất quán. Không nhất thiết lúc nào cũng phải quay về với từ điển (Hoàng Phê).

    Đối với mình thì vật là một khái niệm tương đối. Vật trong một phạm trù nào đó, phạm trù của HNĐ rộng hơn phạm trù quy định trong từ điển của Hoàng Phê. Tiếng, chính xác hơn là âm, là vật thay thế cho vật thật. Ví dụ như âm thơm, thối, thay thế cho tính chất mùi mà mũi chúng ta chịu đưng. Viết là động tác ghi âm thành chữ, ở đây âm trở thành vật thật, chữ thành vật thay thế.

    Trong câu chuyện này, trọng tâm là mối quan hệ giữa vật thật và vật thay thế. Tuỳ theo động tác, mà phạm trù này lúc đầu là phạm trù các vật thay thế, sau lại trở thành phạm trù vật thật. Trọng tâm không phải nằm ở chỗ quy ước Hoàng Phê về khái niệm vật là gì. Chích dẫn Hoàng Phê chỉ làm cho diễn giải trở nên rối rắm, vì nằm ngoài trọng tâm.

    Mình chỉ băn khoăn tại sao lại phải diễn giải ngần ấy khái niệm trong sách Tiếng Việt 1. Mình vẫn nghĩ rằng, không thể diễn giải hết mọi thứ ngay lần đầu mà phải hiểu rằng diễn giải đến hết là bất khả. Lúc nào cũng phải để dành chỗ cho (Xu) đốn ngộ. Chỉ lạ là học sinh Lao Cai vẫn tiêu hoá được.

    Số lượt thích

    • Nếu đúng như bạn Jade Hang phản ánh, thì phần phụ lục trong sách GK CGD của GS Đại có vấn đề lớn ạ. Ai theo học ngành ngôn ngữ thì thấy ngay phụ âm kép digraph “ch” do 2 chữ c và h ghép lại (chứ không phải 1 chứ 2 nét) tạo ra âm mới là “ch” khi đứng đầu từ và “k” khi đứng cuối từ. Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_phonology
      Em chỉ đồng ý với Gs Châu ý cuối thôi, còn phần trên thì không ạ.
      Ở lớp 1 chỉ nên dạy học sinh cầm bút và tập viết theo bảng chữ cái với các từ Làm Thí dụ. Trong đó có cả phụ âm đơn như “c” và phụ âm kép là “ch” với thí dụ cá chép, có cách mà không Cần giải thích kỹ…Học sinh lớp 1 và 2 chưa Cần “kiến thức chuyên ngành” mà chỉ cần được đọc và viết những từ mà chính các em đang nói hàng ngày. Ở bên này sang cuối học kỳ 2 của lớp 2 hoặc tận lớp 3 mới có điểm chính thức. Trước đó thầy Cô chỉ vẽ hình smiley mặt cười và có đội Vương miện khi học sinh không mắc lỗi nào, còn không thì mặt buồn hay mếu. Cũng có thêm phần nhận xét “cố lên”, “giỏi” vv… Việc này các Bác bên Bộ GD đang bàn đấy ạ http://vnexpress.net/tin-tuc/xa-hoi/giao-duc/khuyen-khich-khong-cham-diem-hoc-sinh-lop-1-2871405.html

      Em cũng thấy bài viết của chị Hiên gợi ý việc để các nhÀ XB cạnh tranh nhau trong việc biên soạn SGK và phát hành, nhằm mục đích nâng cao chất lượng SGK. Chứ chỉ có 1 hay 2 cuốn SGK thì không thể so sánh hay đánh giá chất lượng. Các thầy Cô được giao Phó trách nhiệm tìm sách GK phù hợp với việc giảng dạy.

      Số lượt thích

    • Nhân đọc bài này, tôi xin chia sẻ đôi ba điều tôi đang dạy cho các em lớp Việt ngữ ngày thứ Bảy ở đây:

      1. Chữ (letter) như chữ a, b, c, …
      2. Tiếng (word) như căm, cằm, cẵm, … Có tiếng có nghĩa có tiếng không.
      3. Từ (vocabulary) là tiếng có nghĩa rõ ràng.
      4. Âm (sound) thường là nguyên âm (vowel), đơn hoặc kép. Dù đơn hay kép cũng chỉ có một âm. Td. AI chỉ có một âm “ai”, chứ không đọc là a-i.
      5. Phụ Âm (Consonant) là cách thức phát âm. Nếu không có âm (ờ), ta không thể đọc được chữ Ch, tức là Ch(ờ).
      6. Vần (rhyme) là âm cuối của một tiếng như -àng trong tiếng LÀNG.
      7. Vận (rhyme with), tức là hợp với vần đứng phía trước.

      Số lượt thích

  4. Trích kiến nghị của Vụ Tiểu học, Bộ GD&ĐT gửi Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển và Thứ trưởng Lê Vũ Hùng hồi năm 2001:

    Kính thưa Bộ trưởng và Thứ trưởng,

    Hiện nay, nền giáo dục nói chung, trong đó có giáo dục tiểu học, đang đứng trước vận hội mới và cũng đang đứng trước thử thách lớn, nếu không biết xử lý thoả đáng, đúng đắn sẽ dẫn đến hậu quả khó lường. Vụ Tiểu học xin đề xuất một số ý kiến sau:

    1- Chương trình và sách giáo khoa (CT-SGK) tiểu học hiện hành cần được giữ ổn định một số năm (đến 2004), bởi lẽ: SGK tiểu học đã được đa dạng hoá, được điều chỉnh và hoàn thiện trong thập niên 80 và 90. Chính vì vậy, trẻ em trong những điều kiện còn khác nhau nhiều đều có thể đạt trình độ phổ cập giáo dục tiểu học (PCGDTH). Từ năm học 1995-1996, Bộ đã ban hành văn bản Yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng các môn ở bậc tiểu học, đây có thể coi là chuẩn chung của 4 CT- SGK hiện hành. – Cho đến năm 1998 mới có đủ SGK 9 môn cho các lớp của bậc tiểu học. Tháng 6.2000 đã có quyết định của Bộ trưởng quy định giảm tải nội dung học tập dành cho học sinh tiểu học (từ 15-20%); việc giảm tải cũng là một đợt điều chỉnh và hoàn thiện SGK; SGK giảm tải được sử dụng trên phạm vi cả nước từ năm học 2000-2001. – Đến tháng 7.2000, nước ta mới đạt chuẩn Quốc gia về PCGDTH-chống mù chữ, tuy nhiên ở nhiều nơi, kết quả đó chưa thật vững chắc, cần giữ ổn định để củng cố cho vững chắc hơn. – CT- SGK tiểu học chưa bộc lộ những điểm lỗi thời, lạc hậu, đòi hỏi phải thay đổi ngay mà cần được giữ ổn định một số năm, vì nó đang phát huy được tác dụng.

    Trong số 340.000 giáo viên tiểu học, còn 20% chưa đạt chuẩn đào tạo tối thiểu. Số đã đạt chuẩn cũng còn nhiều giáo viên trình độ chưa vững vàng. Hầu hết giáo viên tiểu học hiện nay mới bắt đầu quen và sử dụng ngày càng có kết quả tốt hơn CT- SGK hiện hành, chất lượng giáo dục tiểu học ở tất cả các tỉnh đang được cải thiện hơn. – Cơ sở vật chất- thiết bị của đa số các trường tiểu học còn nghèo nàn, thiếu thốn; bộ máy quản lý tiểu học và việc phân cấp quản lý giáo dục chưa rõ ràng, chưa bài bản, kém hiệu lực nên trước bất cứ một thay đổi cơ bản nào trong giáo dục cũng cần được chuẩn bị kỹ lưỡng,nếu làm vội vàng thì cả giáo viên và cán bộ quản lý bậc học đều khó có thể thực hiện được. Trước tình hình như vậy, Vụ Tiểu học ý thức sâu sắc và tha thiết đề nghị cấp trên chưa nên vội vã tiến hành thay CT- SGK tiểu học.

    CT- SGK 2000 đã và đang được xây dựng trong khuôn khổ một dự án, sức mạnh của nó là Tiền+ Quyền lực và theo cơ chế Dự án. CT- SGK mới này theo những gì mà Vụ Tiểu học được biết thì còn rất nhiều vấn đề chưa sáng tỏ, chưa rõ ràng, mạch lạc, kể cả trong nhận thức của chính tác giả và SGK. Theo đánh giá của Vụ thì CT-SGK mới xây dựng được làm theo cách chủ quan, tuỳ tiện, chưa thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của CT – SGK mới cần đảm nhận, đó là sứ mệnh thay thế CT-SGK lạc hậu hơn. Chính vì vậy, Vụ Tiểu học xin đề xuất như sau:

    – Xem xét, đánh giá về mục tiêu, kế hoạch giáo dục, CT-SGK tiểu học hiện hành…-Trong những năm trước mắt, cần tập trung vào việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và xây dựng cơ sở vật chất thiết bị trường tiểu học để có thể sẵn sàng tiếp nhận CT-SGK mới.

    – Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về Mục tiêu, kế hoạch giáo dục tiểu học thay cho văn bản hiện áp dụng được ban hành từ năm 1994. – Xây dựng CT theo mục tiêu, kế hoạch giáo dục mới, căn cứ vào đó mà viết SGK , đưa thử nghiệm để tiến tới hoàn thiện và phải đổi mới đào tạo sư phạm, tập huấn cán bộ giáo viên rồi mới đưa ra sử dụng đại trà. Những việc này không thể làm trong 1-2 năm mà cần nhiều thời gian hơn (khoảng 3-4 năm). Về CT-SGK năm 2000…, nếu đưa ra theo lịch trình đã công bố sẽ gây lộn xộn, làm mất ổn định và thất bại là đã thấy rõ, sẽ để lại hậu quả nặng nề hơn cuộc cải cách giáo dục được triển khai từ năm 1981…

    Vụ Tiểu học tha thiết đề nghị và kính mong Bộ trưởng và Thứ trưởng xem xét thận trọng và có quyết định sáng suốt.
    Nguồn: http://www1.laodong.com.vn/pls/bld/display$.htnoidung%2846,1353%29

    Số lượt thích

  5. Do lâu không được cập nhật thông tin nên tôi có thể nhầm. Xin hỏi chị Thư Hiên:

    1. Không hiểu nói GS Hồ Ngọc Đại là tác giả (duy nhất) của bộ SGK Công nghệ giáo dục thì có đúng không? Nếu tôi nhớ không nhầm thì tinh thần/tư tưởng công nghệ giáo dục là do GS khởi xướng và chủ đạo nhưng trung tâm Thực Nghiệm có một đội ngũ cán bộ (không là giáo viên) khá đông chuyên tham gia xây dựng chương trình và viết bài giảng (sau thành sách GK). Ngoài ra, trung tâm còn mời rất nhiều các chuyên gia có tiếng về các môn tham gia (thường xuyên). Vậy, có lẽ đây là công trình tập thể, đúng hơn là chỉ của GS HNĐ?

    2. Xin hỏi chị hiện bộ SGK Công nghệ giáo dục có đến những lớp nào, và có đủ các môn hay không?

    3. Nói về trung tâm thực nghiệm Giảng Võ (TTTN GV) qua quan sát (trước đây) tôi thấy có khá nhiều điều tích cực, tốt hơn các trường phổ thông khác, chẳng hạn như rèn luyện, tạo cho trẻ một phong cách “thực nghiệm”, tự tin, cởi mở; dạy học ngoại ngữ, và đặc biệt là ở cấp 1 (Tiểu học). Tuy nhiên, cũng phải lưu ý là môi trường của TTTN GV nó đặc biệt và được đầu tư nhiều hơn rẩt nhiều so với trường bình thường (ngay cả với Hà Nội):
    – Giáo viên được tuyển chọn. Ngoài đội ngũ GV còn có đội ngũ cán bộ nghiên cứu. Tức là tỉ lệ đầu tư giáo viên trên đầu học sinh cao hơn rất nhiều so với trường thường.
    – Học sinh phần đông là con gia đinh trí thức, có tinh thần tiên tiến,chấp nhận cái mới.

    Do vậy, chất lượng giáo dục nếu có hơn thì cũng chưa thể kết luận được chính xác nguyên nhân.

    4. Điều quan trọng hơn là ở chỗ: SGK cần phải được nhìn trong sự TỔNG THỂ và ĐỒNG BỘ của hệ thống giáo dục. Theo cảm nhận chủ quan, và theo đánh giá của nhiều người thì Công nghệ giáo dục mạnh ở cấp 1 (Tiểu học), đến cấp 2 (THCS) thì hụt hơi, đến cấp 3 (TTPT) thì hụt hẳn. Cứ cho ý tưởng CNGD là rất hay,tiên tiến (cái này còn có thể bàn cãi) nhưng khả năng triển khai ý tưởng giáo dục, cụ thể hóa thành SGK tốt cho các môn học thì ít ra với đội ngũ cán bộ nghiên cứu (khi còn tồn tại như một cơ sở thực nghiệm) như đã có là không khả thi, Sách tiếng Việt cho tiểu học (CNGD) có thể tốt, bộ SGK có thể ok cho bậc tiểu học nhưng không phát triển tiếp (với chất lượng tốt) lên các bậc học tiếp theo thì khi chuyển sang những bộ SGK với cách tiếp cận khác học sinh sẽ rất khó khăn. Đây có lẽ sẽ là một trong những yếu điểm lớn nhất của SGK CNGD và nguyên nhân khiến nó sẽ khó đứng vững lâu dài.

    P.S Quan điểm của tôi là trong HOÀN CẢNH CỤ THỂ ở VN thì nên có nhiều bộ SGK (với một chương trình khung thống nhất). Hy vọng sẽ trình bày trong một dịp khác.

    Số lượt thích

    • Cảm ơn bác Tam Phong đã vào trang Học Thế Nào, và đã đọc bài của tôi. (Không rõ bác Tam Phong này có phải là bác Tam Phong trên diễn đàn edu.net của anh Quách Tuấn Ngọc dạo nào không?)

      Xin phép trả lời các câu hỏi của bác.

      1. Về tác giả của bộ sách, tôi cũng có nghe một số dị nghị. Chẳng hạn có ý kiến cho rằng nhà giáo Phạm Toàn mới đích thực là tác giả của bộ sách Tiếng Việt; ý kiến khác cho rằng bác Toàn tham gia với tư cách đồng tác giả… Tôi đã đem vấn đề này hỏi GS Hồ Ngọc Đại, GS Hồ Ngọc Đại khẳng định GS là tác giả của bộ sách. Tôi có hỏi nhà giáo Phạm Toàn thì bác Toàn nói rằng đây là một câu chuyện phức tạp… Hiện tại tôi chưa có bất kỳ bằng chứng nào để chứng minh tác giả bộ sách không phải là GS Hồ Ngọc Đại. Tôi cho rằng làm rõ được điều này cũng là một việc rất nên.

      2. Tôi không biết cụ thể sách Công nghệ GD có những môn nào, đến lớp nào. GS Hồ Ngọc Đại có nói, nhưng tôi chưa tận mắt nhìn thấy những cuốn sách đó nên chỉ trả lời bác được như thế. Hiện tại trong tay tôi chỉ có một bộ Tiếng Việt lớp 1 gồm 3 cuốn: Âm – Chữ; Vần; Tự học. Tôi được biết, hiện nay Bộ GD&ĐT mới chỉ chính thức cho phép bộ Tiếng Việt lớp 1 đưa vào trong nhà trường.

      3. Tôi chưa tìm hiểu kỹ về tổng thể mô hình Công nghệ GD của GS Hồ Ngọc Đại nên không thể nhận xét gì về mô hình này.

      Tôi thấy một số phụ huynh đánh giá rất cao trường Thực Nghiệm vì đơn giản trường đó từng có một học trò cũ là GS Ngô Bảo Châu. Tôi đồng ý, học trò cũ của trường Thực nghiệm có nhiều người thành danh, thậm chí có người hiện giờ là danh nhân (GS Ngô Bảo Châu là một ví dụ tiêu biểu). Nhưng tôi không cho rằng điều đó chứng tỏ trường Thực Nghiệm làm giáo dục tốt hơn những trường khác, mà đúng như bác nói, sản phẩm giáo dục còn do nhiều yếu tố tác động và tác động trong một quá trình dài chứ không hẳn ở môi trường xuất phát. Trong các câu chuyện mà GS Ngô Bảo Châu kể trên báo, tôi thấy ông ấy nói nhiều đến những kỷ niệm ở trường Trưng Vương (cấp 2), hoặc A0 (cấp 3)… Có thể do mảng trí nhớ những giai đoạn ấy của GS Châu hoạt động tích cực hơn. Nhưng rõ ràng không thể vì Ngô Bảo Châu từng học trường đó mà ta có thể xem đó là dữ liệu đủ để chứng minh môi trường giáo dục ở đó ưu việt hơn nơi khác.

      4. Tôi cũng từng nghe nhiều học giả thể hiện quan điểm giống bác. Qua câu chuyện liên quan tới bộ sách của thầy Đại tôi cũng nhận thấy, nếu có nhiều bộ SGK, chưa chắc ta đã chọn được bộ sách tốt nhất (khi mà bộ nào cũng dở như nhau) nhưng chắc chắn thể nào cũng chọn được một cuốn sách phù hợp với mình nhất.

      Rất mong bác Tam Phong ghé Học Thế Nào thường xuyên, và có những đóng góp cụ thể cho Học Thế nào qua việc gửi bài hoặc đưa ra những bình luận hữu ích.

      Thư Hiên.

      Số lượt thích

      • Nếu Gs Châu từng là Hs của trường thực nghiệm, chị Hiên có thể hỏi giúp trường dạy thế nào, về sách, về các môn học,… ?

        Số lượt thích

      • Bạn trực tiếp hỏi GS Châu thì hơn. Hiện tại tôi chưa tìm hiểu được trường Thực nghiệm dạy những gì, thế nào (nhưng chắc rồi cũng sẽ tìm hiểu).

        HTN: Chau Ngo nhắn là không hiểu câu hỏi, nghĩ mãi không hiểu, mệt quá đi ngủ rồi.

        Số lượt thích

      • Câu hỏi này chỉ rộng hơn câu hỏi thứ 2 của bác Tam Phong một tí thôi mà, nhà em cũng mệt quá, không hỏi nữa. Thực ra, câu hỏi về sách, về môn học,… cũng đã đặt ra nhiều lần với Gs Đại, nhưng luôn không có câu trả lời, Gs thưowngf lảng sang các vấn đề khác.

        Số lượt thích

      • Tốt rồi! Hơi mệt mệt chút sẽ ngủ ngon đấy. Bạn Jade cũng ngủ ngon nhé! Hẹn mai gặp lại. 😀

        Số lượt thích

    • Tôi chỉ đọc những bài phỏng vấn ông Hồ Ngọc Đại thôi, thì tôi thấy ngay là tư tưởng lớn của ông ấy là lấy trẻ em làm trung tâm (thực ra cũng rất là rousseauiste thôi, và cũng là nền tảng của hệ thống GD Pháp), là tôi cảm thấy rất đúng, và nhân hậu. Một thái độ dạy học tôn trọng trẻ em như vậy là rất quan trọng đối với bậc tiểu học, để các em ấy có được tự do phát triển và sáng tạo, có thể là khi lớn hơn thì các em sẽ cần nhiều kỷ luật hơn. Còn những chuyện khác, xung quanh bộ SGK chẳng hạn, thì tôi cũng nghĩ là chắc không ai một mình mà viết được một bộ SGK. Và thậm chí là nếu ông HNĐ có là người xấu tính (tôi không rõ), thì cũng không vì thế mà tôi thấy ý tưởng của ông ấy dở. Trước ông ấy và cho đến tận bây giờ, ở VN, tôi vẫn chưa thấy có quan niệm giáo dục như của ông ấy, cũng là quan niệm giáo dục của tôi. Cái trường Thực nghiệm của ông ấy xứng đáng được tiếp tục, dù sao thì nó không thể tệ hơn các trường Tiểu học hiện nay được, và nếu nó tiếp tục tạo ra được nhân tài cho chúng ta, thì các bác sẽ nói sao?

      Số lượt thích

  6. Tôi hy vọng sẽ tìm được một cuốn SGK hay. (Tôi nên viết là “hi vọng”, nhưng vì quen rồi …). Ở Cali, các trường đã nhập học hơn tháng nay. Và học sinh bắt đầu học rất nhanh. Cũng có nhiều em bắt đầu “bơi”.

    Khi nói về Sách Giáo Khoa, dường như quý thầy cô muốn nói về SGK tiếng Việt. Tôi không có dịp học hỏi về SGK tiếng Việt hiện nay ở VN, nhưng nhìn lại những năm tôi học tiếng Việt từ lớp Mẫu giáo đến lớp 12, cách nay vài thập niên, thì tôi thấy trường lớp của mình chưa khai triển đủ về khoa Việt ngữ.

    Kinh nghiệm ở đây. Học sinh Cali bắt buộc phải học Anh ngữ từ lớp MG chí lớp 12. Trường gọi là môn Language Arts. Ở các lớp nhỏ (từ MG đến lớp 6), các em còn học thêm hai cuốn, reading và writing, đọc từ sách mỏng cho đến sách dày, học cách cấu tạo một câu chuyện. Sang đến lớp lớn (7 đến 12), các em học một bộ Language Arts I – VI, bên cạnh là bộ Handbook I – VI (một loại văn phạm). Mỗi lớp, tiêu đề tổng quát giống nhau. Càng lên cao, càng nhiều chi tiết, càng khó hơn.

    Nhìn lại mình. 1. Việt ngữ là môn học rất hay. Dường như mình hơi coi thường môn học này. Ngôn ngữ học phải là môn học đầu tiên trong khoa nhân văn và xã hội học. 2. Ngôn ngữ học không phải là khuôn mẫu chết, nhưng nó sống động và nẩy nở. Không có vấn đề đúng hay sai, mà chỉ là hợp hay không hợp mà thôi. Thí dụ. Ngày xưa tôi viết là “hy vọng”, bây giờ nhiều người viết là “hi vọng”. Tôi thấy có lý, tôi thấy quen mắt, nên viết theo. 3. Một điều nữa, có liên quan đến chính trị. Có người còn phân biệt là dùng từ “ngụy” hay dùng từ “việt cộng”. Điều này không còn hợp thời nữa. Tất cả sẽ theo luật đào thải, và những cái tốt đẹp sẽ tồn tại với thời gian.

    Tóm lại, ngôn ngữ là môn học rất hay, học về mình, học về nguồn gốc của mình. Ngôn ngữ còn là nơi để nghệ thuật và các môn văn hóa khác phát triển. Vì thế, chúng ta cần chú trọng nhiều hơn nữa về môn học này.

    Số lượt thích

  7. Tôi quan tâm đến nhận xét của Chau Ngo: “Những gì thầy Đại nói về tiếng, từ và nghĩa gần như hiển nhiên. Chỉ tội diễn đạt hơi tối nghĩa. ” và “Mình chỉ băn khoăn tại sao lại phải diễn giải ngần ấy khái niệm trong sách Tiếng Việt 1. Mình vẫn nghĩ rằng, không thể diễn giải hết mọi thứ ngay lần đầu mà phải hiểu rằng diễn giải đến hết là bất khả.”

    Tôi thấy rằng là một cựu học sinh trường thực nghiệm, Chau Ngo chắc hẳn là người “trong cuộc”, rất hiểu rõ và thẳng thắn, khi là một đối tượng học, rồi sau này trưởng thành soi chiếu lại cơ sở phương pháp của người Thầy sáng lập. Vì vậy những gì Chau Ngo nói trên đây khiến tôi suy nghĩ rằng, nếu phương pháp này tuyệt vời như vậy, thì có cách nào kế thừa và “cải tiến” nó tốt hơn cho gần gũi và dễ hiểu hơn, để mỗi phụ huynh chẳng hạn, trong điều kiện không gửi con được ở trường thực nghiệm, có thể hướng dẫn con ở nhà. (Thú thực tôi cũng đã đọc “CÁI và CÁCH” của GS Hồ Ngọc Đại nhưng có thể do nhận thức và tiếp xúc thực tiễn còn ít nên cũng không hiểu được mấy). Câu trả lời có thể như nhóm Cánh Buồm, khi họ nêu ra thế này: “Hồ Ngọc Đại thâu tóm trong hai chữ: CÁI và CÁCH. Nhóm Cánh Buồm kế thừa cơ sở lý luận của Công nghệ Giáo dục Hồ Ngọc Đại và phát triển, nâng cao cả Cách lẫn Cái, về căn bản là để cho học sinh dễ học hơn và giáo viên dễ dạy hơn.” (nguồn: http://goo.gl/Q3gtsG) Mong là nhóm Cánh Buồm bền chí và làm được một hơi theo một hệ thống xuyên qua các lớp. Tất nhiên lại là câu chuyện kế thừa, lớp đi trước như Thầy Đại, Thầy Toàn truyền xuống lớp “hậu sinh” và hài lòng ở việc lĩnh hội của lớp đi sau chưa, và lớp đi sau có sẵn sàng tiếp thu và tiếp tục đổi mới cải tiến để ngày một tốt hơn, dễ áp dụng hơn?

    Số lượt thích

  8. Tôi không nói công nghệ giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại là tuyệt vời. Trong mỗi phương pháp là những sự lựa chọn, mà mọi lựa chọn đi cùng với cái giá của nó.

    Nhưng phương pháp của GS Hồ Ngọc Đại thực sự là cách mạng giáo dục, ít nhất ở trong môi trường Việt Nam. Thay bằng học đánh vần bờ a ba, mờ ô mô, lờ e le, ông dạy về nguyên âm, phụ âm. Đấy là lựa chọn diên giải (deductive reasonning) thay cho đốn ngộ (inductive reasonning).

    Lựa chọn “diễn giải” làm nên một giáo trình có hệ thống, sáng sủa ngược với những giáo trình “đốn ngộ” mà người ta không tài nào làm được cái mục lục.

    Khác với máy tính, hoạt động trên cơ sở “diễn giải”, con người suy nghĩ nhiều bằng đốn ngộ, ngộ ra bằng đốn ngộ, chứ không phải bằng diễn giải. Vì vậy dạy học không thể thuần tuý diễn giải, vẫn phải dành chỗ cho đốn ngộ. Lúc nào giải, lúc nào ngộ, đó chính là nghệ thuật.

    Tôi không tin rằng bạn sẽ thành công trong việc dạy con bạn theo phương pháp của GS Đại. Phương pháp của GS Đại được thiết kế cho số đông, để tối đa số trẻ đến được với kiến thức, đạt được năng lực. Tôi tin rằng đối với bạn, con bạn luôn là duy nhất, không phải số đông.

    Có lẽ vai trò của bố mẹ là dạy con khác với nhà trường. Khi nào trường diễn giải thì ta đốn ngộ và ngược lại.

    HTN: Trong việc dạy trẻ con, thậm chí là dạy người lớn, thay vì dùng từ “đốn ngộ” các thầy giáo hay dùng từ “vỡ ra”. Ví dụ: Học môn quang hình mấy buổi rồi, trò đã vỡ ra được chút nào chưa?

    Số lượt thích

    • Theo em thì gia đình cố gắng làm những điều mà trẻ chỉ ở trường thôi là không đủ.

      Số lượt thích

    • Có lẽ chỉ trong Phật học mới hay dùng từ “đốn ngộ”.
      Em không biết các độc giả khác ở đây có hiểu hết ý của Phần diễn giải ở trên của GS Châu về inductive reasoning vs. deductive reasoning hay không.
      Cá nhân em thì hiểu ngắn gọn theo nghĩa sau:
      – inductive reasoning (logic quy nạp) – reasoning from detailed facts to general principles
      – deductive reasoning (logic diễn dịch) – reasoning from the general to the particular (or from cause to effect)

      HTN: Các thầy giáo phổ thông thì hay dùng từ “suy diễn” (deductive) thay cho “diễn dịch”. Từ cái này suy ra cái kia, nghe nó dễ hiểu và gần gũi hơn.

      Số lượt thích

    • Đốn ngộ theo tôi hiểu đó là cách hiểu theo người đã mất công tìm tòi, nghiên cứu, phân tích, lý luận…. Nôm na như người đi rừng đi theo người chặt cây mở lối tìm đường (giác ngộ) vậy. Một cách đốn ngộ khác như cách anh nông dân hiểu rất đơn giản là …”trời sinh ra thế” dùng để giải thích cho mọi sự việc. Nó khác với cách ngộ để giải thích cho người đi học là, học với mục tiêu đinh hướng… (cái hướng đấy đang tìm hiểu, chưa giải thích vào thời điểm này).

      Số lượt thích

      • cám ơn các Bác diễn giải giúp, thực sự là em chỉ học có mấy năm trời ở VN nên hạn chế về vốn từ Việt. Qua Trang HTN em mới được biết thêm sự phong phú của tiếng Việt.
        @bác namviet: em cứ tưởng Bác bị tường lửa chặn, may quá Bác chỉ bận thôi, phải không ạ!

        Số lượt thích

      • Cảm ơn bạn TH nhớ tới tôi. Tự chặn thôi, vì người tạo tường lửa là thiểu số. Những người tạo ra tường lửa cũng ngoa ngôn lắm. Đúng ra họ phải nhận là những người “dùng giấy bọc lửa”. Bàn về việc học thế nào thì có dốt tôi cũng lao vào bàn ngay. Nhưng những vấn đề GD này dù nói có hay như TT phát biểu tại diễn đàn LHQ, thì mình dành thời gian nghe đọc thôi.

        Số lượt thích

  9. Em thấy bác jade viết rất hay nhưng mà những e ngắn với gì gì ấy chắc học sinh lớp một ngất xỉu mất.
    Em chỉ biết về sách tiếng Việt của cụ Đại, sách toán thì không biết.
    Cách nói trong sách của cụ Đại rất là tối nghĩa nhưng có khi học sinh lớp một lại thấy dễ chịu thì sao? Ai từng chơi với trẻ thì cũng có thể gặp kiểu nói chuyện của anh trả lời em : con bò là cái con có cái sừng bò ấy.
    Theo em hiểu thì cái mà cụ Đại muốn là tập cho các em dần quen với việc cần diễn giải chứ không hề có ý diễn giải trong sách lớp một. Nghĩa là diễn giải để không bỏ qua diễn giải mà thôi (không phải kiểu trả lời cho qua chuyện), là để trẻ tập nhận thức lồng vào trong việc học đọc. (Kể cả nhận thức sai cũng là một sự nhận thức. Con đường của nhân loại chẳng là vậy sao?) Chứ nếu thực sự diễn giải cho đúng thì đến bố mẹ các cháu cũng chả mấy ai hiểu gì với ch ở đầu, k ở cuối và e ngắn cả đâu (chứ đừng nói đến hứng thú).
    Em có đọc sách giáo khoa toán của singapore một đoạn, đại loại họ nhắc về lũy thừa mũ tự nhiên, nhắc về căn và liên hệ nó với mũ phân sô rồi hỏi là có ba mũ căn hai không, yêu cầu học sinh bấm máy cho ra con số rồi vẽ đồ thị gì gì đó một hồi và bảo học sinh là có cái a mũ x với x là số thực. Thế mà bọn trẻ vẫn cảm thấy có lý, có liên hệ. Còn ở ta sách giáo khoa trình bày tỉ mỉ từ giới hạn rồi áp dụng vào lũy thừa cho ra hàm mũ (Chắc là rất chính xác!) nhưng một hồi trừ mấy cháu rất khá và chịu khó là tiếp thu còn thì có vẻ nản lắm.
    Em không biết cái nào hay. Có lẽ tùy số đông học sinh và mục đích nhà trường mà chọn sách.

    Số lượt thích

    • Bạn đoc kĩ lại chút sẽ thấy không phải là chuyện dạy cho hs lớp 1 về các kiến thức chuyên môn sâu như e ngắn hay ch, k… mà là ở phía tác giả, đến giờ vẫn đang được cho là Gs Đại. Ví dụ, bảng chữ cái tiếng Việt, theo cách giảng của tác giả thì nó lên đến 36 chữ cái, chư không phải 29.
      Thêm nữa, mình nhắc lại, đấy chỉ là 1 vài ví dụ nhỏ trong cả tổng thể.

      Số lượt thích

      • 36 hay 50 chữ cái cũng có sao đâu? Quả thật là bạn hỏi những người quanh bạn rằng có bao nhiêu chữ cái cũng không mấy người biết và a chờ ách hay e (ngắn) k ách cũng càng ít người biết. (Họ vẫn có thể giỏi ở nhiều lĩnh vực.) Cũng như giải thích mấy cái vết mờ mờ trên mặt trăng là cung điện chị Hằng hay cây đa chú Cuội vậy. Miễn là việc làm ấy là một sự giải thích mà trẻ bị hấp dẫn.
        Mục đích là biết đọc, biết viết và làm quen với nhận thức qua diễn giải.
        Nếu bạn cho là GS thì không được trả lời kiểu ấy thì tôi không tán thành. Dù là GS thì khi được cháu hỏi vẫn có thể trả lời với tư cách là ông. Có lẽ theo cách làm trong sách ấy tác giả mong các thầy cô giáo ở trường nên dần giảng dạy cho các trò với tư cách anh chị đối với em hay cha mẹ đối với con?
        Xem phim biên niên sử Narnia, có đoạn đầu vị giáo sư trả lời vô cùng thú vị:
        Đại khái là em gái út kể chuyện về một thế giới trong tủ quần áo, mấy anh chị thì cứ bảo em nói dối vì theo khoa học trong tủ không thể có cái thể giới ấy. Vị GS bảo rằng nếu em cháu không nói dối (vì em ấy không nói dối) thì theo logic những điều em ấy nói ra là đáng tin.
        Và thế giới trong cái tủ quần áo mở ra với bao hấp dẫn.
        Cũng thế, thầy cô giáo không nói dối (có thể nói chưa đúng) thì các trò có thể tin để đi vào một thế giới hấp dẫn.
        Quyết định nhất là sự hấp dẫn. Nếu không có nó thì không ai đủ kiên nhẫn để biết điều mình học là đúng hay sai.

        Số lượt thích

      • Bạn Thu Cúc thân mến, mình rất cảm kích sự đón nhận nồng nhiệt của bạn một mô hình giáo dục mới, khác với giáo dục chính thống. Tuy nhiên mình phải đồng ý với bạn Jade rằng một khi đã có giáo trình, giáo án hướng dẫn cho giáo viên thì việc sử dụng các thuật ngữ, khái niệm và định nghĩa phải rõ ràng và mạch lạc. Chỉ có như vậy giáo viên mới có cơ sở tốt để đưa kiến thức mới đến cho các em học sinh. Đối với học sinh lớp 1 ở một trường thực nghiệm, việc giảng giải sao cho hấp dẫn lại càng phải rõ ràng, dễ hiểu để các em còn có thể từ đó phát triển thêm về tư duy, có những ý tưởng hay.

        Theo những quan sát và trải nghiệm của mình khi tiếp xúc với nền giáo dục trẻ em ở phương Tây, thì hầu như người lớn đều coi trọng những nhu cầu tình cảm và vật chất của trẻ, chứ không phải chỉ áp đặt đòi hỏi của người lớn vào đứa trẻ. Do vậy, mình thấy các phụ huynh cũng như thầy cô từ ngay trong nhà trẻ và mẫu giáo đều phải học cách nói chuyện với trẻ, tập đặt mình vào địa vị đứa trẻ để hiểu về tâm lý trẻ thơ, giúp trẻ có một môi trường sống và học phù hợp với lứa tuổi.

        Một em bé mới chập chững biết đi và bập bẹ vài âm, khi nhìn một vật lạ hay làm gì đó gây sự ngạc nhiên, thì bố mẹ, ông bà hay thầy cô ở nhà trẻ và mẫu giáo đều ngồi hẳn xuống ngang tầm nhìn với trẻ, rồi giải thích rất rõ ràng, bằng lời lẽ giản dị, ngắn gọn để trẻ có thể hiểu phần nào sự việc. Mình chưa thấy có ai đó giải thích như kiểu “con bò là cái con có sừng bò ấy!” ngoài ở VN ta ra. Mình thấy nếu là trẻ giải thích cho trẻ, thì là chuyện bình thường. Nhưng nếu là ông bà, cha mẹ hay thầy cô mà giải thích như vậy cho trẻ, thì sẽ không thể hấp dẫn qua viec giup trẻ hiểu ra sự việc. Cá nhân mình coi đó là sự giải thích qua loa, nói đúng hơn là hơi thiếu trách nhiệm.

        Một câu chuyện hấp dẫn trẻ phải giúp trẻ hiểu ra tại sao, do đâu có sự việc hay để làm gì vv… Nếu bạn là trẻ, bạn sẽ không thể vui vẻ với những câu trả lời qua loa, nghĩ kỹ thì không có một nội dung gì nhu vay.

        Để trẻ em, nhất là ở lứa tuổi mẫu giáo hay lớp 1 co the kiên trì nghe người lớn hay thầy cô giải thích, thì chung ta phải có nghệ thuật giải thích sao cho dễ hiểu, có thông tin mới lạ, nhưng không được phóng đại hay vòng vo không rõ ràng.

        Mình có nhiều dịp chuyện trò với các thầy cô do mình từng kèm học sinh các cấp ở bên này, thì họ bao giờ cũng tỏ rõ trách nhiệm làm thầy, nghĩa là truyền đạt kỹ năng GIẢI THÍCH sự vật và hiện tượng thật dễ hiểu, ngoài ra gợi ý thêm cho các em để các em tự suy diễn một cách logic. Mà để các em có thể suy diễn một cách logic thì phải cung cấp cho các em các thông tin thực và đáng tin cậy. Điều này cần thiết không phải chỉ cho học sinh đến trường mà còn cả ở nhà trẻ và mẫu giáo.

        Số lượt thích

  10. Ngoài một số thắc mắc về Nội dung phụ lục dành cho giáo viên lớp 1 thì em tán thành ý tưởng của GS Hồ Ngọc Đại:

    Phóng Viên: -Không cho điểm, không xếp hạng, không thi lên lớp, được phép chơi theo ý thích- mô hình trường học của GS chắc đã khiến nhiều bậc phụ huynh quen với cách GD truyền thống bị hoang mang. Vậy trẻ con sẽ được học gì từ CGD?

    GS Hồ Ngọc Đại: GD cũ lấy chữ làm chuẩn, nhưng chữ chỉ là một yếu tố. Trẻ con cần phải được học cả kỹ năng sống, sự chân thật tử tế, lòng yêu đất nước, tinh thần trách nhiệm và biết chia sẻ với cộng đồng. Tình yêu với Tổ Quốc rất quan trọng, mọi tình yêu đều phải dồn về tình yêu lớn là Đất nước. Đứa trẻ lớn lên phải biết xúc động trước những biến đổi và tai họa của Đất nước, trách nhiệm với từng việc mình làm, biết tôn trọng và nghĩ đến người khác. thật tử tế, lòngđất nước, tinh thần trách nhiệm và biết chia sẻ với cộng đồng. Tình yêu với Tổ Quốc rất quan trọng, mọi tình yêu đều phải dồn về tình yêu lớn là Đất nước. Đứa trẻ lớn lên phải biết xúc động trước những biến đổi và tai họa của Đất nước, trách nhiệm với từng việc mình làm, biết tôn trọng và nghĩ đến người khác.
    (trích từ http://cgd.edu.vn/thu-vien/ho-ngoc-dai-noi-ve-giao-duc/87-giao-duc-thoi-khung-hoang-tan-day.html )
    Em nghĩ, theo tiêu chí trên thì những ai tham dự vào diễn đàn này tuy lúc nhỏ không được học trường Thực Nghiệm, nhưng chứng tỏ đã có ý thức công dân, xúc động trước những biến đổi của quê hương. Vậy trường thực nghiệm là một mô hình giáo dục tốt, nhưng mỗi gia đình mỗi cá nhân phải biết tìm cho chính mình một cách giáo dục hợp lý nhất. Em trải qua kinh nghiệm trường Xô Viết XHCN, rồi trường tư bản CN, thấy ở đâu cũng có mặt mạnh, mạnh yếu, nên em nghĩ tốt nhất là mỗi người tự tìm cho mình một hướng đi tích cực (không cực đoan), phù hợp với Hoàn cảnh, khả năng, điều kiện sống riêng, sống có ích cho xã hội!

    Điều quan trọng là con người phải có quyền được lựa chọn các mô hình giáo dục nào cho phù hợp với mỗi cá nhân. Vì VN chưa có được nhiều mô hình GD nên mới có chuyện các phụ huynh chen chúc Làm đổ cả cổng trường thực nghiệm chỉ để lấy đơn xin học cho con!

    Số lượt thích

    • Theo tôi, vụ phụ huynh chen chúc làm đổ cả cổng trường Thực nghiệm thật ra là để kiếm một chỗ học cho con trong khu vực nội thành mà ở đó 35 học sinh/lớp chứ không phải 60 HS/lớp như hầu hết những trường lân cận. Tất nhiên danh tiếng GS Châu cũng làm cho nó càng nổi tiếng nhưng cũng nhiều người đã biết trường Thực nghiệm bây giờ không phải là trường Thực nghiệm ngày xưa rồi.

      Số lượt thích

    • Hehe, nếu bác Hồ Ngọc Đại nói thế thật, thì tôi thấy bác ấy vẫn còn chưa đạt NGỘ thật, còn thiếu một chút, bác Đại ơi. Tình yêu lớn nhất, là tình yêu con người, yêu vạn vật, cây cỏ…

      HTN: Chúng ta nên tập trung đánh giá, phân tích, bình luận công trình của Hồ Ngọc Đại, tránh lạc đề qua bình luận cá nhân Hồ Ngọc Đại.

      Số lượt thích

    • Theo tôi, (có lẽ là) mọi tình yêu nên trở về với tình yêu bản thân.
      Yêu người thân, yêu quê hương, yêu tổ quốc nhưng là người thân của ta, quê hương của ta, tổ quốc của ta. Nếu là của người khác ta có yêu không? Nếu không thì tức là yêu vì nó là của ta, tức là yêu ta. Nếu không thì ấy là yêu cả thế giới rồi (thành thánh rồi).

      Số lượt thích

  11. Chúng ta đang so sánh vài bộ Sách Giáo Khoa, mà không có nội dung hoặc bài bản ở đây. Cho nên, đối với tôi, như là chuyện trên trời.

    Nhưng nói tới deductive và inductive, tôi cũng muốn tham gia cho vui. Chau Ngo thì gọi là diễn dịch và đốn ngộ, HTN thì nói là suy diễn và vỡ ra, TH thì cho là diễn dịch và quy nạp. Tôi thì bình thường dịch là suy diễn và quy nạp. Tôi nhớ là khi dạy Hình học ở đây, họ chấp nhận cách thức inductive logic, mà coi deductive như là một lối đoán mò.

    Ngoài ra, đốn ngộ là một từ rất hay trong Phật giáo mà tôi muốn nói thêm. Xin nói trước, tôi không phải là người Phật giáo, mà chỉ thích nghiên cứu Phật học thôi. Chung chung, trong Phật giáo có hai lối tu: niệm Phật (tiệm tu) và thiền đốn ngộ (bỗng nhiên mà ngộ). Sách nói rằng: kinh là lời Phật, thiền là tâm Phật.

    Có câu chuyện sau đây. Hương Nghiêm là đệ tử của Bách Trượng. Khi Bách Trượng tịch thì ông vẫn chưa ngộ, nên ông đi học cùng Quy Sơn.
    Quy Sơn hỏi: Hãy nói cho ta về lẽ sinh tử khi ông chưa sinh ra.
    Hương Nghiêm âm thầm về phòng tìm lại sách học. Quy Sơn nói: Không không, tôi không hỏi ông về sở đạt của trí thức, mà về sở đắc của tâm linh.
    Hương Nghiêm bực mình vất hết sách vở, trở về tu như một vị sư tầm thường. Ông lằm bằm: Thông Phật lý mà làm chi. Rồi một hôm cuốc đất, ông cuốc nhằm một viên sỏi. Viên sỏi văng trúng gốc tre, đánh một tiếng “cốc”. Thế là ông NGỘ.

    Đốn ngộ là bỗng nhiên mà hiểu được. Ta học hoài không thuộc, không hiểu, nhưng bỗng một ngày ta hiểu được. Đó là do thiền, không đạt tới được bằng trí năng, giả định, phân tích, hay tổng hợp; mà do định lực đưa ta đến tuệ giác.

    HTN: về deductive và đoán mò, có thể tham khảo thêm bài nói chuyện của Dương Chấn Ninh: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=4501

    Số lượt thích

    • Theo em, không thể tách tiệm tu với đốn ngộ. Nếu ông ấy không đọc sách, không suy tư thì nghe cái cốc ấy chả chắc đã ngộ. Như cả triệu người thấy táo rơi, xoài rơi, mít rơi mà có ai làm được như niu tơn?

      Số lượt thích

  12. Nói chuyện với Thanh Hải một tí.
    cái cách nói “con bò là con có cái sừng bò” là rất có thông tin đấy, nó nếu ra một đặc điểm của con bò là cái sừng.
    Nhận thức của con người là thế. Gặp một điều gì đó người ta thường quan sát đặc điểm nổi bật, khác biệt. Và mỗi lần người ta nhận thức thêm ở sự việc hay vật một nét mới cho dù có quan sát vật ấy nhiều lần cũng không ai quan sát hết mọi chi tiết. (Chính vì thế vẽ tranh nhân vật chỉ vẽ một số nét là đủ). Trong trường hợp ở đây, giúp con bò khác với lợn gà chó mèo là cặp sừng ấy.
    Về chuyện bạn sợ câu nói không logic vì nó định nghĩa nó thì đó lại là một điều quan trọng. Logic là của người lớn, Trẻ vốn không quá để ý những điều ấy.
    Đó là hai lý do để tôi nêu “còn bò có cái sừng bò” làm ví dụ. Và đó là ví dụ.
    Còn thế nào là trả lời qua loa, không qua loa? Cái đó còn tùy vào trẻ.
    Bạn trả lời thế nào về mấy cái vết mờ mờ trên mặt trăng cho trẻ 4 tuổi? ấy là núi lửa, là vực sâu trên mặt trăng nhé.
    thế núi lửa, vực sâu là gì? sao mặt trăng có núi lửa và vực sâu? trong một chốc lát có thể làm thỏa mãn hết được bấy nhiêu thắc mắc không? Nếu không thì mọi trả lời đều là qua loa cả thôi.
    Quan trọng là bạn trả lời để làm gì? để cung cấp tri thức chăng? Theo tôi thì với trẻ lớp một trở xuống là chưa phải vậy. Trả lời là để trẻ nhận thấy là mọi thứ đều có lí do, cần được giải thích và đều có giải thích.
    Ngoài ra nếu trả lời rằng : mấy cái vết mờ mờ ấy là cây đa chú Cuội hay cung điện chị Hằng nào có gì sai? Lớn lên nó mang lại cho trẻ một trí tưởng phong phú, tâm hồn dịu mát, yếu tố căn bản của mọi sáng tạo.
    Hơn nữa bạn có chắc trả lời rằng vết mờ ấy là núi lửa, vực sâu là đúng hơn không? Bạn thấy chưa hay là nghe người ta đồn thế? hi hi. Bạn được xem ảnh, xem phim về nó nhưng có đúng là phim, ảnh ấy chụp mặt trăng thật không hay họ chụp mấy cái viên xỉ rồi phóng to lên? hi hi.
    Bạn vẫn phải sống bằng niềm tin cho dù bạn là nhà khoa học ở bất kì quốc gia nào.
    Việc viết SGK hay sách GV theo tôi chỉ là một gợi ý, định hướng về dạy học, nếu coi nó là chuẩn thì thành áp cứng rồi. Khi ấy có cả ngàn bộ sách thì vẫn cứng. Mà cứng tức là chết.

    Số lượt thích

    • cám ơn bạn Cúc đã dành thời gian trả lời rất dài.

      Tuy nhiên mình vẫn băn khoăn, và có lẽ nhiều người khác cũng vậy, rằng tại sao bạn lại không tính đến trường hợp học sinh lớp 1 hay cả lớp mẫu giáo sẽ hỏi ngay lại: Con trâu cũng có sừng, sao lại không được gọi là bò, hả Cô?
      Nói rộng hơn thì con dê, con hươu, hay con tê giác cũng đều có cái gọi là sừng, khác nhau là ở số lượng và hình dạng. Vậy để có thể trả lời các câu hỏi tiếp theo của trẻ, thì người lớn phải biết cách diễn đạt dễ hiểu, nhưng đầy đủ về thông tin. Đó mới là nghệ thuật giải thích cho trẻ, bạn ạ!

      Bạn không thể coi trẻ nhỏ không có tư duy logic. Ví dụ, khi một bé vịn thành giường đi men, nhưng trong lần đầu giẫm phải đồ chơi té ngã, thì vài lần sau bé cũng sẽ cố giơ chân cao để tránh, cho dù có thể mất thăng bằng lại ngã nữa. Nhưng hành động giơ chân bước qua chướng ngại vật là có chủ ý và là kết quả của sự quan sát rồi bắt chước mọi người xung quanh khi gặp trường hợp tương tự. Vậy để giúp trẻ phát huy tư duy logic và sáng tạo thì người lớn không thể giải thích chỉ để có giải thích. Một mô hình giáo dục coi sự phát triển tâm lý của trẻ là tiền đề để dựa vào đó tạo ra một phương pháp giáo dục tốt nhất phù hợp với trẻ thì càng không thể coi thường tư duy của trẻ.

      Nếu bạn vẫn còn nhớ các câu truyện cổ tích, những mẩu đối thoại của các nhân vật không đơn thuần chỉ là đối thoại cho có …đối thoại đâu. Đơn giản nhất là Thí dụ đoạn Cô bé quàng khăn đỏ thắc mắc sói giả Làm bà đang đắp chăn nằm trên giường:

      “Bà ơi, sao tai bà to thế?”

      “Tai bà to để bà nghe cháu nói rõ hơn.”

      “Bà ơi, sao mắt bà to thế?”

      “Mắt bà to để bà nhìn cháu rõ hơn”.

      “Bà ơi, sao tay bà to thế?”

      “Tay bà to để bà ôm cháu chặt hơn”

      “Nhưng bà ơi, sao mồm bà to thế?”

      “Mồm ta to để ăn thịt mi dễ hơn”

      Qua đó bạn sẽ thấy kho tàng truyện cổ tích hấp dẫn trẻ vì trong đó đều chứa đựng logic, câu chuyện nghe mới có lý, rồi lại được diễn đạt bằng ngôn ngữ của trẻ nhỏ, nên đọc mãi, nghe mãi vẫn không chán. Ngay cả Harry Potter, trẻ biết là không có thế giới mầu nhiệm đó thật, nhưng vẫn thấy gần gũi, hấp dẫn. Mà cả người lớn cũng nghiện đọc ấy chứ 😉

      Mà thời nay trẻ học lớp 1 biết hơn chúng ta ngày xưa rất nhiều. Do điều kiện sống đầy đủ và tiện nghi hơn, do sự phát triển thể chất nhanh hơn, cộng với sự phong phú của sinh hoạt tinh thần nhờ công nghệ thông tin, nên các em không chỉ thụ động ngồi im nghe chuyện, mà còn biết lắng nghe, suy nghĩ rồi đưa ra những câu hỏi Liên tiếp, rất thú vị. Nếu như người lớn chỉ biết nhắc lại rằng “Con bò là con có sừng bò” hay “Chị Hằng, chứ không phải Cô Hằng vì ….chuyện kể lại là như thế!” thì sẽ Làm trẻ hoàn toàn hụt hẫng, chứ Làm sao khơi dậy trí tò mò, khuyến khích sự sáng tạo của trẻ được hả bạn!

      Số lượt thích

      • Nếu cho là luôn trả lời thế thì thật buồn cười.
        Vấn đề cũng không hẳn là trả lời thế nào, khoa học hay văn học mà mục đích là gì?
        Là để trẻ thích thú, và để tập nhận thức.
        Cho nên không nhất thiết phải đúng.
        Nếu bạn muốn trả lời đúng thì không bao giờ bạn trả lời được đúng vì mọi thứ đều sai trừ toán học và tư tưởng cá nhân.

        Số lượt thích

  13. bạn không thấy “và đó là ví dụ” trong comment trên? và “kiểu (để ý chữ kiểu): con bò là con có cái sừng bò”?
    Ấy là kiểu, là ví dụ, tức là một gợi ý.

    Số lượt thích

  14. Giờ mới có thời gian nói nốt với TH. Có lẽ bạn không để ý đoạn comment này:
    “Nhận thức của con người là thế. Gặp một điều gì đó người ta thường quan sát đặc điểm nổi bật, khác biệt. Và mỗi lần người ta nhận thức thêm ở sự việc hay vật một nét mới cho dù có quan sát vật ấy nhiều lần cũng không ai quan sát hết mọi chi tiết. (Chính vì thế vẽ tranh nhân vật chỉ vẽ một số nét là đủ). Trong trường hợp ở đây, giúp con bò khác với lợn gà chó mèo là cặp sừng ấy.”
    Còn nếu lần khác gặp cả bò và trâu rất có thể màu da là điều quan tâm: “con bò màu vàng và con trâu màu đen”
    lần khác lại con bò màu khác thì câu trả lời lại khác.
    Hoặc trẻ lớn hơn thì “bò bừa ruộng cạn trâu cày ruộng sâu” Hay “trâu sợ gió bò sợ nước”.
    Cứ vậy mỗi lần một chút, không nặng nề.
    Cho đến già chắc gì TH đã học hết, hiểu hết về con bò. Vậy thì sao phải sớm nhồi nhét vào đầu trẻ con quá nhiều làm mất đi tuổi thơ của chúng? Để được gì? Oai hơn vì con tôi giỏi hơn con anh ư? Trò của tôi giỏi hơn trò của anh ư? Ích kỉ thế sao?

    Số lượt thích

  15. bạn thu cúc thân mến, bạn không phải “viết nốt” đâu vì bạn có thể viết nữa cũng đâu có sao, miễn là không đi quá xa ngoài vấn đề và không vi phạm quy định của trang thôi. Mình chỉ không hiểu tại sao bạn lại viết ra những câu như trên “…Vậy thì sao phải sớm nhồi nhét vào đầu trẻ con quá nhiều làm mất đi tuổi thơ của chúng? Để được gì? Oai hơn vì con tôi giỏi hơn con anh ư? Trò của tôi giỏi hơn trò của anh ư? Ích kỉ thế sao?” Mình chỉ trình bày quan điểm của mình về vấn đề, không có liên hệ quá xa chủ đề thảo luận. Cụ thể trong cuộc thảo luận với bạn về vấn đề giải thích cho trẻ như thế nào để phù hợp với tâm lý của trẻ thời đại ngày nay, thì mình nhắc đến việc giải thích rõ ràng, tránh hiểu lầm, tránh dẫn đến rắc rối về sau. Thí dụ, mình sẽ không lấy cái sừng làm đặc điểm nổi bật, mà lấy tiếng kêu của bò, để phân biệt với tiếng kêu của trâu, ngựa, dê, lợn, mèo, cho gà, vv… Giờ bạn cũng thừa nhận kiểu giải thích của bạn “Bò là cái con có sừng bò” CHỈ là MỘT trong số nhiều kiểu giải thích. Vậy là ổn một chút rồi! Còn bạn lại nhắc đến khái niệm “oai” và “ích kỷ”. Vậy là bạn tự suy diễn, chứ không phải vấn đề mình nêu ra. Nếu cứ tiếp tục đi lạc đề và đậm cảm tính như vậy thì sẽ mất tính hết tính khách quan của cuộc thảo luận, bạn ạ!

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: