How We Learn

Xếp hạng đại học toàn cầu: Những xu hướng mới – Phạm Thị Ly

TTCT: Việc xếp hạng đại học (ĐH) đã có từ lâu (thực hiện lần đầu tiên trên thế giới từ năm 1870, được biết đến rộng rãi từ năm 1983 với Bảng xếp hạng của US News và US World Report). Gần đây, các bảng xếp hạng ĐH trở thành một hiện tượng có ảnh hưởng mạnh mẽ, không ngừng gây tranh cãi và cũng không ngừng biến đổi.

Với khủng hoảng tài chính, ngân sách nhà nước cấp cho các trường ĐH công đang giảm sút ngày càng nghiêm trọng. Ở Hoa Kỳ, ngân sách nhà nước cấp chỉ còn chiếm 10% tổng kinh phí hoạt động của trường công. Ngân sách suy giảm nghiêm trọng đã thúc đẩy sự dịch chuyển của giới hàn lâm, chẳng những từ trường này sang trường khác, từ khu vực công sang khu vực tư, mà còn từ nước này sang nước khác. Do vậy, cuộc cạnh tranh nguồn lực và tranh giành tài năng ngày càng khốc liệt, diễn ra trên quy mô toàn cầu, khiến bức tranh GDĐH toàn cầu khác đi rất nhiều so với 5, 10 năm trước.

Xu hướng đặt gánh nặng tài chính lên vai người học ngày càng tăng, thay vì do nhà nước chi trả phần lớn như trước. Ở Mỹ, học phí đã tăng gấp 5 lần trong vòng 30 năm qua. Số tiền nợ mà sinh viên Mỹ đang gánh chịu hiện nay đã lên đến hàng ngàn tỷ đô la. Điều này đặt ra hai vấn đề: một là “lợi ích công” của GDĐH phải được định nghĩa lại như thế nào khi gánh nặng học phí và nợ nần khiến GDĐH trở thành chủ yếu là đầu tư của cá nhân cho lợi ích riêng; hai là câu hỏi về tính thiết thực của việc học được đặt ra gay gắt hơn bao giờ hết.

Chính trong xu hướng đó, ngày càng nhiều các tổ chức GDĐH vì lợi nhuận xuất hiện, tăng trưởng vô cùng mạnh mẽ, với mô hình quản trị như một doanh nghiệp, nhanh chóng thích ứng với tiến bộ kỹ thuật cũng như đáp ứng những đòi hỏi của thị trường. Bối cảnh này khiến tiếng nói của giới hàn lâm bị coi nhẹ, và tự do học thuật đang ngày càng phải chịu thỏa hiệp nhiều hơn. Những biến đổi đó khiến ngay cả những trường đang ngự trị trên đỉnh hình tháp của thang bậc học thuật cũng phải chịu đựng sự đe dọa không còn giữ vững được vị trí và phẩm chất của mình (Philip Altbach, Boston College, Hoa Kỳ).

Trong lúc đó, các nước mới nổi và giành được một số thành tựu về kinh tế thì nhìn các trường ĐH đẳng cấp quốc tế (ĐCQT) như biểu tượng cho sự thành công về kinh tế và là nguồn lực cho nền kinh tế tri thức. Nhiều nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, v.v. trong thập kỷ qua đã và đang dành những nguồn lực to lớn của quốc gia cho việc xây dựng những trường ĐH nghiên cứu ĐCQT.

Liệu các nước nhỏ có cần, hay có nên xây dựng những trường ĐH ĐCQT trong điều kiện nguồn lực hạn hẹp của mình hay không? Câu trả lời là có, bởi vì trường ĐH là nơi tốt nhất để thực hiện hoạt động nghiên cứu và đào tạo thế hệ làm khoa học kế thừa. Các nước nhỏ và đang phát triển cần một nơi như thế để duy trì mối quan hệ tương tác với giới hàn lâm quốc tế, và hiểu biết về những tiến bộ mới nhất trong khoa học. Thứ hạng trên bảng xếp hạng không phải là vấn đề, càng không phải là mục tiêu. Điều chính yếu là những trường ĐH nghiên cứu hàng đầu của những nước này phải gắn với đời sống học thuật trên thế giới và phục vụ cho những ưu tiên của quốc gia, đồng thời là nơi đào tạo những người tài trở thành tầng lớp tinh hoa cả trong giới khoa học lẫn giới chính trị.

Ảnh hưởng của các bảng xếp hạng

Tác động của các bảng xếp hạng lên chiến lược và hành vi của các chính phủ, các trường là điều khá dễ thấy: các trường ẢRập Saudi tuyển dụng những giáo sư có tỉ lệ trích dẫn cao từ khắp thế giới đến làm việc cho họ với mức lương hấp dẫn. Các trường ĐH Australia tuyển dụng các nhà quản lý chuyên trách việc nâng hạng trường mình. Ở Anh, 70% các hiệu trưởng ĐH muốn trường mình phải nằm trong top 10% trong nước và 25% trên bảng xếp hạng quốc tế.

Tuy nhiên, có một thực tế là tất cả các trường đang bị xem xét và đánh giá bằng những tiêu chí chỉ thích hợp cho một số rất ít trường tinh hoa (chiếm khoảng 4-6% trên toàn cầu). Việc xếp hạng đã tạo ra một mô hình khiếm khuyết dẫn tới cuộc chạy đua cải thiện thứ hạng của hầu hết các trường… Các bảng xếp hạng còn tác động mạnh mẽ đến chính phủ các nước, ảnh hưởng đến những quyết định về phân bổ nguồn lực cũng như xác định ưu tiên của quốc gia. Sinh viên, cha mẹ học sinh, các nhà lãnh đạo và quản lý ĐH, giảng viên, giới doanh nghiệp, tất cả đều đang bị thứ hạng của trường ám ảnh, chi phối.

Ý nghĩa tích cực của các bảng xếp hạng là không thể phủ nhận. Nó cung cấp thông tin cho người học, cho các chính phủ, kích thích việc thu thập dữ liệu vốn rất cần cho việc quản lý hệ thống; và quan trọng hơn, nâng cao ý thức của các trường trong việc cải thiện hoạt động. Tuy thế, khiếm khuyết của các bảng xếp hạng và tác động tiêu cực của nó cũng ngày càng bộc lộ rõ. Phát biểu của GS.  Alison Richard, nguyên Hiệu Trưởng trường ĐH Cambridge cho thấy rõ điều này: “Các bảng xếp hạng có nhiều khiếm khuyết sai lầm và không thể miêu tả đầy đủ các trường, cũng không thể cho thấy trường này có thực sự tốt hơn trường kia hay không” .

Tác động tiêu cực rõ rệt nhất của các bảng xếp hạng, là nó kích thích các trường chạy đuổi theo vị trí xếp hạng và coi nhẹ những sứ mạng quan trọng khác của nhà trường đối với người học và đối với xã hội. Xét về mặt hệ thống, việc đầu tư một nguồn lực khổng lồ cho một số ít các trường tinh hoa nhằm tạo ra sự xuất sắc đã lấy đi những khoản đầu tư đáng lẽ có thể dành cho việc cải thiện chất lượng đào tạo của số đông.

Do vậy, không có gì ngạc nhiên khi một bộ phận giới hàn lâm, kể cả lãnh đạo ĐH, có thái độ phản kháng đối với việc xếp hạng. Đã có một hội nghị bàn tròn các lãnh đạo ĐH ở Pháp năm 2010 với tiêu đề “Quên đi Thượng Hải”. James Cook University ở Australia đang tẩy chay ARWU. Ở Hoa Kỳ, Annapolis Group đang tẩy chay US News và World Report Ranking. Một số trường ĐH ở  Canada từ chối tham gia bảng xếp hạng Maclean. Ở Đức, nhiều tổ chức nghề nghiệp như Sociologists, Historians, Chemists, Educationists đã kiến nghị tẩy chay CHE Ranking. Bốn trường ĐH Đức (Hamburg, Leipzig, Cologne, Hagen) tuyên bố từ nay sẽ không nộp bất cứ dữ liệu nào cho mục đích xếp hạng.

Hellen Hazerlkorn nhấn mạnh rằng việc xếp hạng ĐH ngày nay đang xa dần mục tiêu ban đầu của nó: ngày càng ít nhằm vào cung cấp thông tin giúp sinh viên lựa chọn trường, mà tập trung chủ yếu vào việc khẳng định vị trí địa chính trị. Trong quá trình đó, cả một ngành công nghiệp xếp hạng đã được tạo ra.

Bởi vậy, giới nghiên cứu GDĐH cần nhiều nghiên cứu sâu hơn về những tác động ấy để giúp các trường, các nhà làm chính sách, và tất cả các bên có những hiểu biết đúng và đáp ứng tích cực với hiện tượng ấy.

Những xu hướng mới của việc xếp hạng ĐH toàn cầu

Do những hạn chế đã nêu trên, các hệ thống xếp hạng đều đang nỗ lực cải thiện phương pháp của mình, từ xây dựng tiêu chí đến thu thập và xử lý dữ liệu. Có thể ghi nhận một số xu hướng mới trong việc xếp hạng ĐH toàn cầu:

Một là, bổ sung những tiêu chí và trọng tâm đang thiếu hay khiếm khuyết trong các bảng xếp hạng hiện nay, chẳng hạn những tiêu chí nhằm đo lường giá trị gia tăng mà nhà trường mang lại cho sinh viên – điều này đặc biệt quan trọng khi tính thích đáng, hay thiết yếu của GDĐH đang bị nhiều người ngờ vực, trong bối cảnh chi phí cho việc học không ngừng tăng. Ngoài ra, sẽ có thêm các bảng xếp hạng theo vùng, chẳng hạn giữa các trường Châu Á, hay giữa các nước BRICS.

Hai là, Hướng tới đối sánh hơn là xếp hạng. thứ hạng cao thấp đã kích thích các trường chạy đua theo các chỉ báo (thường là phiến diện) của các bảng xếp hạng mà quên đi những hoạt động trọng yếu khác của nhà trường. Điều đó không giúp cho các trường tốt hơn, có ích hơn đối với người học và xã hội. Xu hướng về đối sánh (benchmarking) đang hình thành nhằm so sánh hoạt động của các trường với những “đối thủ” cạnh tranh cùng loại, hay với những kinh nghiệm tốt của trường khác, với mục đích hiểu rõ chỗ yếu của mình nhằm cải thiện hoạt động.

Ba là, Xếp hạng đa chiều. Đây là một xu hướng đặc biệt quan trọng, phản ánh năm khía cạnh chính của đời sống ĐH. Cách tiếp cận này giúp phản ánh được đặc điểm các trường theo sứ mạng và đặc điểm đa dạng của họ. Các chỉ báo được đề nghị là: 1) Về dạy và học (Tỉ lệ chi tiêu dành cho hoạt động giảng dạy; tỉ lệ tốt nghiệp; các chương trình liên ngành; tỉ lệ sinh viên tìm được việc làm…); 2) Về nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu; chi phí cho nghiên cứu; tỉ lệ trích dẫn; số lượng công bố quốc tế, giải thưởng quốc tế, khả năng cạnh tranh các quỹ tài trợ nghiên cứu…; 3) Về chuyển giao tri thức và công nghệ (chính sách khích lệ hoạt động chuyển giao tri thức; tài trợ nghiên cứu do các tổ chức, doanh nghiệp đem lại; số bằng sáng chế; quy mô của các tổ chức chuyển giao công nghệ…); 4) Về định hướng quốc tế hóa (số chương trình dạy bằng tiếng nước ngoài; số giảng viên/nghiên cứu viên là người nước ngoài/được đào tạo ở nước ngoài, các chương trình liên kết quốc tế…); 5) Sự gắn kết với khu vực: có sinh viên trong khu vực đến học và thực tập, các hợp đồng, hợp tác nghiên cứu trong khu vực…).

Dự án này đã được khởi động từ Hội thảo Dublin 2009, dự kiến đến năm 2014 sẽ công bố bảng xếp hạng đầu tiên gồm 500 trường, do Trung tâm GDĐH và Trung tâm Nghiên cứu Chính sách GDĐH của Đại học Dublin thực hiện.

Bốn là, Xếp hạng hệ thống, không chỉ xếp hạng từng trường. Một kết quả nghiên cứu đăng trên The Economist tháng 4-2013 cho thấy số sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm, hoặc trong tình trạng bị động, đang tăng một cách đáng ngại, nhất là ở Đông Á. Trong lúc đó, các bảng xếp hạng hiện nay chỉ tập trung vào một số rất ít các trường tinh hoa (khoảng 500 trường/ khoảng 16.000 trường ĐH trên thế giới), tạo ra một hiệu ứng không có lợi cho người học, khi số lớn các trường này theo đuổi mục tiêu nâng hạng thay vì tập trung cho cải thiện chất lượng dạy và học, gắn kết nhà trường với thế giới việc làm và mang lại những giá trị gia tăng tích cực hơn cho người học.

Bảng xếp hạng đối sánh hệ thống GDĐH đầu tiên ra đời năm 2012 do Đại học Melbourne (Úc) thực hiện, dựa trên 4 bộ tiêu chí để đánh giá: nguồn lực, môi trường, sự nối kết và kết quả hoạt động.

Có 50 nước được đánh giá và xếp hạng trong bảng đối sánh hệ thống GDĐH 2013, đứng đầu là Hoa Kỳ, chót bảng là Indonesia, Trung Quốc đứng thứ 42 trong khi Malaysia hạng 27, Hàn Quốc hạng 24 và Nhật Bản hạng 21, Singapore đứng thứ 9.

Do mục đích đối sánh hơn là xếp hạng, ta sẽ thấy nhìn vào danh sách các trường hàng đầu trong danh sách top 500 của ARWU, Hoa Kỳ dẫn đầu về số lượng, nhưng nếu so sánh với tương quan dân số, thì mật độ trường được xếp hạng của Hoa Kỳ còn thua xa nhiều nước. Lấy đơn vị đo mật độ là số trường được xếp hạng trong top 500 trên một triệu dân, thì đứng đầu là Phần Lan, theo đó là Thụy Điển, New Zealand, Switzerland…với mật độ tương ứng là 18,3; 17,9; 16,0; 14,6… trong lúc Hoa Kỳ là 6,8 và Trung Quốc là 0,3 còn chót bảng là Ấn Độ với mật độ 0,02 (Benoit Millot, Salmi, World Bank).

Một ý tưởng xuyên suốt của giới hàn lâm, giới lãnh đạo ĐH và giới làm chính sách hiện nay là cần thay đổi mô hình trường ĐHĐCQT, đưa nó trở thành những trường ĐH hoa tiêu của hệ thống, và thay đổi mục tiêu giành vị trí trên bảng xếp hạng thành mục tiêu trở thành một tổ chức thiết yếu cho quốc gia –đặt nền tảng trên việc phục vụ những nhu cầu của quốc gia, bao gồm những trách nhiệm và đặc điểm khó mà xếp hạng.

Phạm Thị Ly

Viện Đào tạo Quốc tế, ĐHQG-HCM

Advertisements

Tagged as:

5 phản hồi »

  1. Cảm ơn tác giả có bài rất hay. Chỉ cần đừng ngăn cản người muốn học (học đại học) tới được nơi họ muốn và thế là đủ. Một người có khả năng học sẽ tự biết họ cần gì và khả năng đáp ứng điều kiện của họ tới đâu. Trường đại học được xếp hạng do tổ chức nào đó dù tổ chức này có uy tín đến mấy, cũng chỉ như một món hàng hiệu. Món hàng hiệu chủ yếu chỉ để chưng diện và nâng cao giá trị thương hiệu. Khi một thương hiệu nổi tiếng người ta nhắc đến giá tiền món hàng và giá cái thương hiệu là chính. Một món hàng hiệu chất lượng chưa chắc đã bằng món hàng thủ công. Việc học không như món hàng hiệu vì danh tiếng của trường đại học là do cả GS và SV tạo nên. Nếu không có những sinh viên xuất sắc đến học, nếu không có những trường giảng dạy nội dung đúng đắn đã tồn tại lâu đời làm sao tạo nên danh tiếng để đánh giá. Trường (Học viện) Акаде́мия обще́ственных нау́к при ЦК КПСС nổi tiếng một thời, nhưng người Nga giờ cũng quên tên.

    Like

  2. Bao giờ thì Việt Nam tự có một bảng xếp hạng cho mình? Hầu như không có bảng xếp hạng quốc tế nào ghi tên đại học Việt Nam (cách đây ít lâu BKHN mới được xếp hạng, khoe rối rít) mà học sinh Việt Nam vẫn cần chọn trường, cá trường vẫn cần cạnh tranh. Tình hình đs dẫn đến việc học sinh chọn trường theo kinh nghiệm, cảm tính còn các trường tập trung quá mức vào một số cuộc thi để lấy danh tiếng như Robocon chẳng hạn.

    Like

  3. Ở Mỹ, trừ những đại học top, đại học nào muốn nổi tiếng phải có những đội banh nổi tiếng. Đại học nổi tiếng mà không có đội football giỏi là chuyện khó tin.

    Like

    • Mình chưa thấy tâm điểm của nền GD Việt nam ở đâu. Vậy nên cái Pisa được lên TV mấy ngày liền chưa thôi. Cảm thấy việc xếp hạng Pisa và VN được bầu vào Hội đồng Nhân quyền là hai điều vinh dự, được nhắc đi nhắc lại nhiều nhất. Những nhận xét của thế giới dành cho VN chỉ có hai cái này là được ta…nhất trí cao. Nếu không vì thành tích này, thì biết làm gì để không bị vướng vào vấn đề “chệch (tìm) hướng”?

      Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: