How We Learn

Học đại học như thế nào? – Trần Thanh Ái

Tóm tắt: Có lẽ đó là câu hỏi mà đa số tân sinh viên đều tự hỏi khi bước vào ngưỡng cửa đại học. Trong bài viết này, trước hết tôi sẽ điểm lại một số biến động sâu sắc của khoa học có tác động trực tiếp đến cách thức đào tạo đại học và cách học của sinh viên. Sau đó, tôi sẽ trình bày những nét cơ bản của đào tạo đại học. Cuối cùng, tôi sẽ nêu những đặc điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay để các tân sinh viên có được những khái niệm tổng quát về việc học của mình sắp tới.

Học đại học như thế nào? có lẽ là một trong những băn khoăn hàng đầu của các em tân sinh viên, khi các em vừa trải qua hành trình ở phổ thông với nhiều bất cập mà báo chí đã đề cập đến rất nhiều trong những năm qua. Các từ và cụm từ “học vẹt”, “hư học”, “học thụ động”, “học để lấy bằng”… thường được dùng để phê phán lề lối học tập mà nhiều em vẫn áp dụng, ngay cả khi đã bước chân vào trường đại học. Điều đó hàm ý rằng học sinh và sinh viên cần thay đổi cách thức học tập, nhất là khi nước ta đang hội nhập sâu rộng vào các mặt hoạt động của thế giới. Trong bài viết này, tôi muốn trình bày một số vấn đề liên quan đến việc học ở đại học trong thời đại ngày nay. Tôi sẽ bắt đầu từ những sự thay đổi trong quan niệm về kiến thức khoa học, vì đó chính là đối tượng của việc học của sinh viên.

1. Về kiến thức khoa học

1.1. Kiến thức khoa học là tạm thời vì luôn thay đổi

Khoa học càng phát triển thì loài người càng trở nên khiêm tốn hơn. Thật vậy, cho đến cuối thế kỷ XIX, nhân loại đã hả hê tự mãn về những thành quả khoa học đã có trong các thế kỷ trước, cho rằng thế giới là hữu hạn, và chỉ cần thời gian là con người sẽ hiểu hết mọi bí ẩn của vũ trụ. Từ khi thuyết lượng tử của Planck và thuyết tương đối của Einstein ra đời, người ta biết được rằng vũ trụ là bao la vô tận, và kiến thức của con người chỉ có thể tiệm cận với thế giới khách quan mà thôi. Hơn thế nữa, kiến thức không còn được xem là bất di bất dịch, mà nó luôn thay đổi tương ứng với trình độ nhận thức của loài người. Theo Thomas Kuhn, nhà khoa học luận nổi tiếng người Mỹ, khoa học phát triển theo hai cách : tích lũy dần dần và đột phá cách mạng. Theo cách thứ nhất, kiến thức cũ luôn luôn được bổ sung cho chi tiết hơn, được điều chỉnh cho chính xác hơn : đó là sự tiến bộ của khoa học bình thường (normal science). Cách thứ hai là sự phát triển mang tính cách mạng, khi khoa học bình thường ấy không còn đủ khả năng giải thích những phản thí dụ, mà Kuhn gọi là anomalies, và sẽ rơi vào khủng hoảng. Lúc ấy sẽ xảy ra một cuộc cách mạng khoa học, vì nó biến đổi sâu sắc nền tảng của kiến thức khoa học.

Từ những nhận thức trên đây, người ta đi đến kết luận là kiến thức khoa học luôn biến đổi, khi thì để bổ khuyết, lúc lại phủ định kiến thức cũ: cái mà hôm qua ta cho là chân lý khoa học thì có thể hôm nay đã trở thành lạc hậu. Điều này có ý nghĩa to lớn đến thái độ của chúng ta đối với kiến thức khoa học cũng như đến cách thức mà chúng ta tiếp thu hay sản sinh kiến thức khoa học.

1.2. Kiến thức khoa học phát triển theo cấp số mũ

Thế kỷ XX là thế kỷ mà thế giới biến đổi sâu sắc hơn bất kỳ thế kỷ nào trước đó, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học – kỹ thuật. Về tốc độ phát triển kiến thức, theo ước tính của các nhà khoa học, cứ 7 năm thì vốn kiến thức khoa học của nhân loại tăng lên gấp đôi, nên người ta nói là kiến thức gia tăng theo cấp số mũ (Nguyễn Hoàng, 2010). Về khối lượng kiến thức, trong khoảng 20 năm cuối cùng của thế kỷ XX, các nhà khoa học đã công bố số lượng tài liệu khoa học bằng với số tài liệu khoa học mà nhân loại đã công bố trong suốt chiều dài lịch sử hơn hai thiên niên kỷ của mình. Có thể nói không ngoa rằng nhân loại đang chìm ngập trong biển kiến thức mà mình đã tạo ra. Chính vì thế mà trong thời đại ngày nay không còn những cái đầu “bách khoa”, không ai có thể “biết tất cả”, ngay cả các nhà bác học đối với kiến thức chuyên ngành hẹp của mình. Và cũng chính vì thế mà người ta cần phải thay đổi cách tiếp cận với kiến thức khoa học, sao cho con người không bị bấn loạn trong thế giới tri thức của mình, cũng như thay đổi phương thức giáo dục, biến đào tạo thành tự đào tạo, với phương châm “học tập suốt đời”.

2. Học đại học là chuẩn bị du hành vào thế giới khoa học 

Nếu giáo dục phổ thông chỉ nhằm cung cấp những kiến thức sơ đẳng về thế giới quanh ta, thì giáo dục đại học vừa cung cấp kiến thức cần thiết cho nghề nghiệp sau này, vừa kích thích sinh viên làm cuộc du hành vào thế giới khoa học. Thật vậy, việc học ở đại học không chỉ đơn thuần là để tích lũy kiến thức, mà còn là để khám phá cơ chế sản sinh ra kiến thức, để từ đó sinh viên có thể dấn thân vào con đường khoa học.

Thế nhưng, như đã nói ở trên, kiến thức khoa học phát triển như vũ bảo, còn thời gian học đại học gần như là không thay đổi (cử nhân là 4 năm, thậm chí có nơi rút ngăn chỉ còn 3 năm). Vì thế, nếu vẫn giữ cách học truyền thống thầy truyền đạt kiến thức và trò tiếp nhận thụ động (cách tiếp cận nội dung) thì chắc chắn rằng khi tốt nghiệp, sinh viên sẽ có rất nhiều lổ hổng kiến thức, và sẽ gặp nhiều khó khăn để thích nghi với hoạt động nghề nghiệp, cũng như sẽ không thể nào tiến xa trên con đường khoa học. Thực tế đó khiến các hệ thống giáo dục trên thế giới phải thay đổi phương thức đào tạo cho phù hợp với thời đại thông tin bùng nổ, để gia tăng hiệu suất của việc học của sinh viên, theo kiểu học một biết mười. Đó chính là phương thức dạy cho người học cách tự học, cách thiết kế chìa khóa riêng cho chính mình, để họ tự mở cánh cửa tri thức và tự trang bị những kiến thức phù hợp với sở thích và thiên hướng của mình. Nói cách khác, mục tiêu đào tạo ngày nay không còn là kiến thức nữa, mà hướng đến đào tạo năng lực cho người học.

Hơn 400 năm trước, triết gia người Pháp và cũng là nhà giáo dục Montaigne (1533-1593) đã nói: “Mieux vaut une tête bien faite que bien pleine”. Một cái đầu biết suy nghĩ tốt hơn là một cái đầu đầy kiến thức. Ý tưởng này vẫn còn nguyên giá trị của nó trong thời đại ngày nay; nó hóa thân vào trong phương châm giáo dục hiện hành là “học cách tự học”, “học cách khám phá”.

Thế nào là một cái đầu “biết suy nghĩ”? GS. Cao Huy Thuần cho rằng “một cái đầu biết suy nghĩ là một cái đầu có khả năng tổng quát hóa, biết đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, biết nối kết những kiến thức với nhau để làm bật ra ý nghĩa” (Cao Huy Thuần, 2006). Nói cách khác, cái đầu biết suy nghĩ là cái đầu biết chắc lọc từ những thông tin tản mạn thành những quy luật và học là chỉ lưu trữ những phương pháp chắc lọc đó. Nói cách khác, đó chính là học cách chế tạo công cụ tư duy khoa học. Có như thế thì cái đầu không bị “đầy”, không bị bảo hòa trong quá trình học tập. Và đó cũng chính là điều kiện thuận lợi cơ bản cho việc tự học của sinh viên.

GS. Tạ Quang Bửu, nguyên Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, trong một buổi nói chuyện trước sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội năm 1970 đã nhấn mạnh: “Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo, đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng trí sáng tạo. Ai giỏi tự học khi đang ở trường, người đó sẽ tiến xa” (dẫn lại từ Ngô Tứ Thành, 2008, tr.106-107). Còn đối với GS. Phan Đình Diệu, chỉ có những người biết tự học mới học thực sự:

“Học là để hiểu biết. Học có thầy có lớp thì sẽ thu được những hiểu biết mà người khác nghĩ là mình cần được biết. Tự học thì tức là tự mình đi tìm những gì mà mình thấy là cần biết. Cho nên, tự học đòi hỏi tính chủ động, tự mình phải biết là mình biết gì, chưa biết gì và muốn biết gì, rồi mới tìm học cái mà mình muốn biết đó” (Phan Đình Diệu, 2013).

Đối với các nhà khoa học, tự học rất quan trọng và không thể thiếu được, vì nó nhằm lắp đầy khoảng trống giữa tri thức của cá nhân nhà khoa học và kho tàng tri thức của nhân loại về một vấn đề nào đó. Vì thế, nhà khoa học trước hết là người có kỹ năng giỏi về tự học. Nói cách khác, tự học chính là bước đi đầu tiên trên con đường khám phá khoa học.

3. Học đại học theo học chế tín chỉ

Trên lý thuyết, phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ là một giải pháp nhằm phát huy cao nhất ý thức tự chủ của sinh viên trong quá trình đào tạo, và nhằm kích hoạt quá trình tự đào tạo của họ. Vì thế, nó hướng đến việc phát triển tính năng động của sinh viên trong mọi hoạt động đào tạo. Trong từng môn học, sinh viên được yêu cầu phải dành gấp đôi thời gian lên lớp để tự học, tự nghiên cứu tài liệu… Do đó, nếu không biết tự học, hoặc không có cách tự học đúng đắn, sinh viên sẽ dễ mất phương hướng và sẽ dễ bỏ cuộc. Đó chính là điều kiện then chốt của học tập tích cực.

3.1. Học tập tích cực là có thể chủ động vạch ra lộ trình kiến thức của mình để tự đào tạo

Như đã nói ở trên, đại dương kiến thức ngày càng mênh mông, và do đó, không một trường lớp nào có thể cung cấp cho người học đủ kiến thức để vào đời. Vì thế, sinh viên cần phải thích nghi với thời đại, tức là phải thích nghi với lối học tập tích cực. Khác với đào tạo niên chế, đào tạo theo hệ thống tín chỉ khuyến khích sinh viên tự vạch ra lộ trình tiếp cận kiến thức của mình cho phù hợp với định hướng nghề nghiệp và phát triển cá nhân của mỗi người. Trong khuôn khổ quy định của chương trình đào tạo của nhà trường, sinh viên có thể “tự thiết kế chương trình đào tạo” và lập “kế hoạch đào tạo” cho chính mình. Điều đó có nghĩa là sinh viên cần phải “nhìn xa trông rộng” về chân trời kiến thức của ngành học của mình thì mới tận dụng được ưu điểm của hệ thống tín chỉ. Nghĩa là phải thăm dò những mảng kiến thức trực thuộc chuyên ngành của mình, để tự tìm hiểu và khám phá, để bổ sung vào chương trình đào tạo của nhà trường, theo kiểu “vết dầu loang”. Việc thăm dò này nhằm mục đích xác định những điều mình chưa biết và muốn biết: nói như GS. Phan Đình Diệu: “Biết mình không biết là khởi đầu của việc học và tự học, nó cũng là khởi đầu của mọi sáng tạo, đặc biệt là sáng tạo khoa học” (2013). Đó chính là tự đào tạo. Tự đào tạo sẽ càng ngày càng phát triển, đến mức nó sẽ dần trở thành phương thức đào tạo chủ đạo, như ở cấp đào tạo tiến sĩ, hay duy nhất, như đối với các nhà khoa học, và trong xã hội học tập với phương châm “học tập suốt đời”. Không có tự đào tạo, người sinh viên sẽ không bao giờ trưởng thành về mặt tri thức khoa học.

Để tự học tốt, người học cần phải có một số kỹ năng sau đây:

– Biết mình chưa biết điều gì để học.

– Biết tìm kiếm thông tin mình cần chứ không chỉ chờ đợi nhà trường cung cấp.

– Biết tư duy độc lập, nghĩa là biết phân tích, đánh giá và đưa ra nhận xét của cá nhân chứ không chờ đợi kết luận của người khác.

– Biết nhận ra những cái mới, và chấp nhận nó ngay khi nó không có lợi cho bản thân.

3.2. Học tập tích cực là biết nâng cao nấc thang nhận thức của mình

B. Bloom, nhà giáo dục người Mỹ đã chia thang nhận thức thành 6 bậc sau đây, từ đơn giản đến phức tạp:

– Biết: ghi nhớ những điều đã được học. Biểu hiện của khả năng nhớ là có thể hồi tưởng lại sau một thời gian tương đối dài.

– Hiểu: tức là nắm bắt được các nguyên nhân, nguồn gốc, quá trình… của kiến thức đã được học. Bằng chứng của sự hiểu là sinh viên phải có khả năng phân tích, diễn giải, mô tả tóm tắt thông tin thu nhận được.

– Vận dụng: sử dụng một cách thích hợp các thông tin, kiến thức vào những tình huống khác nhau trong cuộc sống.

– Phân tích: biết chia nhỏ kiến thức thành nhiều phần nhỏ và biết tìm ra mối liên hệ giữa các thành phần đó với nhau. Biểu hiện của khả năng phân tích là người học có thể chỉ ra các yếu tố tham gia vào một quá trình hay sự kiện nào đó, đồng thời chỉ ra những sự tương đồng và dị biệt giữa chúng với nhau.

-Tổng hợp: biết liên kết các chi tiết, thành phần thành một tổng thể để có cái nhìn khái quát hơn và toàn diện hơn.

– Đánh giá: biết nhận xét, so sánh, phê phán, và gán một giá trị tương ứng, trên cơ sở các tiêu chí đã được xác định trước.

Năm 1999, L. Anderson cùng những đồng nghiệp của mình đã bổ sung kỹ năng “sáng tạo” vào các nấc thang tư duy của Bloom. Sáng tạo là khả năng tạo ra cái mới từ những cái đã biết, do đó nó là nấc thang cao nhất mà con người có thể đạt đến. Năng lực sáng tạo trước hết tùy thuộc vào khả năng phát hiện “vấn đề bất cập” của mỗi người, và năng lực giải quyết vấn đề bất cập. Thế mà để có thể phát hiện vấn đề bất cập, sinh viên cần phải học quan sát thực tế và tạo thói quen đối chiếu thường xuyên với kiến thức đã học, vì sự đối chiếu đó chính là bà đỡ của các phát hiện.

Dựa theo các nấc thang nhận thức trên đây, ta có thể thấy rằng những người “học vẹt” chỉ dừng lại ở cấp độ thứ nhất, tức là “biết”, hoặc ở cấp độ thứ hai, là “hiểu” mà thôi. Điều đó lý giải vì sao những sinh viên học vẹt thường gặp vô vàn khó khăn khi tham gia vào thị trường lao động, và có thể nói chắc chắn rằng không một sinh viên học vẹt nào có thể tiến xa trên con đường chinh phục kiến thức khoa học.

3.3. Học tập tích cực là xây dựng tư duy khoa học

Tư duy khoa học là yếu tố then chốt trong mọi hoạt động liên quan đến khoa học, dù cho đó chỉ là việc học tập của sinh viên hay là nghiên cứu khoa học của nhà khoa học. Đó cũng chính là chiếc chìa khóa vàng của tự học và học tập tích cực. Tư duy khoa học được thể hiện trong khái niệm phương pháp khoa học mà mọi nhà khoa học đều phải áp dụng. Trong số các định nghĩa của nhiều tác giả, thì định nghĩa của Lê Thành Khôi là súc tích nhất và bao quát nhất:

“Phương pháp khoa học chủ yếu không đưa ra kết luận nào mà không có chứng cứ; phải dựa trên những kết quả cụ thể, được kiểm soát một cách khách quan chứ không phải dựa trên những ý kiến cá nhân thường xuất phát từ kinh nghiệm hạn hẹp; phải phân biệt những dữ liệu và sự diễn dịch những dữ liệu đó, không gò các sự việc vào lý thuyết mà phải điều chinh lý thuyết cho phù hợp với sự việc ; phải có tính phê phán, nghĩa là phải chấp nhận việc xem xét lại lý thuyết, dù cho nó đã hoàn chỉnh đến đâu chăng nữa” (Lê Thành Khôi, 1981, dẫn lại từ Tsafak G., 2001, tr.77).

Định nghĩa này có ba nội hàm quan trọng sau đây :

– Mọi kết luận phải dựa trên chứng cứ được kiểm chứng khách quan chứ không phải dựa trên ý kiến cá nhân mang tính chủ quan: đây là cơ sở của tính khách quan, một trong những đặc điểm của khoa học.

– Không gò các sự việc vào lý thuyết, mà phải điều chỉnh lý thuyết cho phù hợp với sự việc: vì lý thuyết luôn lạc hậu so với thực tế, nên thực tế là nguồn dữ liệu sinh động để nhà nghiên cứu chắc lọc và bổ sung vào lý thuyết, để làm cho lý thuyết luôn phát triển, và để đem lại cái mới cho cộng đồng khoa học. Vì thế, khi lý thuyết và thực tế mâu thuẩn nhau, cần phải chấp nhận việc xem xét lại lý thuyết để bổ sung và tiếp tục hoàn chỉnh lý thuyết, chứ không bảo thủ bám lấy những gì đang có.

– Phải có đầu óc phê phán: khi tiếp cận một tài liệu hay một lập luận, phải biết phân biệt những yếu tố chủ quan và khách quan, thực và ảo, biết xây dựng ý kiến cá nhân và cũng biết xét lại ý kiến cá nhân của mình, biết xem xét vấn đề trên nhiều khía cạnh khác nhau để tránh ý kiến một chiều, phiến diện. Đây chính là tiền đề cho việc tiếp nhận cái mới.

4. Kết luận

Hơn 400 năm trước, F. Bacon (1561-1626) đã từng tuyên bố “Tri thức là sức mạnh”. Thời ấy, câu nói này đã được xem là thái độ ngông nghênh của “kẻ sĩ”, vì thời bấy giờ, sức mạnh được xây dựng trên quyền lực của nhà thờ và thanh gươm của giới quý tộc và một phần nào đó trên sức mạnh của đồng tiền của giai cấp tư sản đang phát triển. Ngày nay, tuyên bố ấy của F. Bacon đã trở nên hiện thực: người mạnh ngày nay không còn là những hiệp sĩ hay những hảo hán như thời xưa, mà “là người có thể khám phá ra những cái mới lạ, những vấn đề mới, những giải pháp mới, và nhất là con đường mới mà nhân loại sẽ phải theo như nhà thông thái Nguyễn Trường Tộ  […] là người nắm được cái nguồn của tri thức, nắm được quy luật của thế giới, của vũ trụ” (Trần Văn Đoàn, 2002).

Để khám phá ra những cái mới lạ, những con đường mới, những giải pháp mới,… người ta không thể không tự học, không thể không rèn luyện những năng lực, đặc biệt là năng lực sáng tạo, là phương pháp tư duy khoa học. Đó chính là những đóng góp tuy thầm lặng, nhưng căn bản nhất, có ý nghĩa nhất vào sự phát triển bền vững của đất nước, của dân tộc. Để kết thúc bài này, tôi xin mượn câu nói trích từ một bài diễn văn năm 1876 của Charles William Eliot, người có công đưa đại học Harvard từ một trường tỉnh lẻ thành một đại học danh tiếng:

“Sự vĩ đại đích thực của một quốc gia không nằm ở lãnh thổ, thu nhập, dân số, thương mại, hoa màu hay hàng chế biến, mà chính ở các giá trị tinh thần và phi vật chất; ở sự tinh khiết, sự dũng cảm và tính chính trực của dân tộc đó, ở thi ca, văn chương, khoa học và nghệ thuật mà dân tộc đó đã tạo ra, ở giá trị đạo đức của lịch sử và đời sống của họ” (dẫn lại từ Nguyễn Xuân Xanh, 2012b).

PGS.TS. Trần Thanh Ái – Nhà giáo ưu tú, Đại học Cần Thơ.

(Bài đã đăng trên tạp chí Dạy và học ngày nay, số 11/2013)

Tài liệu tham khảo:

Cao Huy Thuần, 2006. Kiến thức: Văn hoá và chuyên môn, trên tạp chí Thời đại mới, số 9, tháng 11/2006, bản điện tử http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai9/200609_CHThuan.htm, truy cập ngày 21/9/2013.

Ngô Tứ Thành, 2008. Một số giải pháp tự học của sinh viên ngành công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trên nền tảng ICT – lý luận dựa trên thực tiễn. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn, số 24 (2008), tr. 106-118.

Nguyễn Hoàng, 2010. Hội thảo quốc tế “Các tương lai của giáo dục”, báo Giáo dục Việt Nam, http://gdtd.vn/channel/2741/201003/Tuong-lai-giao-duc-VN-se-ra-sao-1924207/  22/9/2013

Nguyễn Xuân Xanh, 2012, Khoa học, Đại học và Lý tưởng tuổi trẻ, http://nguyenvantuan.net/education/3-edu/1569-khoa-hoc-dai-hoc-va-ly-tuong-tuoi-tre- truy cập ngày 29/10/2012.

Phan Đình Diệu, 2013. Học để biết mình không biết, http://chungta.com/tulieu/tu-lieu-tra-cuu/de_biet_la_minh_khong_biet/default.aspx  9/9/2013

Trần Văn Đoàn, 2002. Sự thiết yếu của tự do nghiên cứu, tham luận đọc tại Hội Nghị Quốc Gia về Liên Kết Hợp Tác Để Phát Triển Giáo Dục Đại Học Việt Nam, Đại học KHXH-NV TP Hồ Chí Minh, 10.10.2002. Có thể đọc tại http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/TRIETHOC/TuDoNghienCuu01.htm truy cập ngày 11/12/2012.

Tsafak G., 2001. Comprendre les sciences de l’éducation, L’Harmattan, Paris.

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Giáo dục đại học, Nghĩ về việc học và dạy, Tiếng nói giáo viên

16 phản hồi »

  1. Có cụ kia thường hay nói chuyện với chúng tôi và truyền cho nhà tôi một bài thơ. Cụ mất cách nay cả chục năm. Nhưng bài thơ nghe lóm thì tôi vẫn còn thuộc, bởi vì đó là câu chuyện đời cụ, mà khi nhắc lại cụ rất lấy làm hãnh diện. Khi nói chuyện lại, chính con cụ cũng không biết cụ có bài thơ như thế. Đây là bài thơ, có lẽ làm thời còn ở ngoài Bắc, về một món quà cụ cho một người bạn, không phải là thân thiết lắm:

    “Khi xưa tôi có hai quần (của mẹ cho),
    Cho đi một cái chẳng ngần ngại chi,
    Còn lại một cái cần gì !
    Sáng mặc đi chợ, tối về giặt phơi.
    Nghèo mà đến thế thì thôi,
    Tôi nghèo, tôi lại thương người nghèo hơn…

    Cô kia được một cái quần,
    Mặc vào đi lại ung dung trong nhà.”

    Điều cụ vui sướng nhất, là mỗi lần thấy bạn mình vui thì cụ lại vui. Có thể, cụ chẳng bao giờ học đại học, nhưng cách hành xử của cụ thì hơn người có học.

    Like

    • Dạ hình như trong truyện “Hoàng tử tí hon và chú bé nghèo khổ” có đoạn hoàng tử rất ngạc nhiên hỏi bạn mình rằng bạn chỉ có một bộ quần áo thôi hay sao, chú bé Tom Kenty trả lời đại khái là : Cần nhiều làm gì ? Vì mỗi người chỉ có một tấm thân mà thôi !

      Liked by 1 person

  2. Nếu ở trung học và tiểu học, cô thầy có trách nhiệm dạy dỗ và uốn nắn các em, thì ở đại học, trách nhiệm là của học viên. Học viên, được kể như những người đã trưởng thành, tìm học những điều mình muốn học và có khả năng học. Trừ những trường chuyên khoa, cánh cửa đại học luôn luôn mở rộng để chờ đón học viên.

    Ở HK, đại học có khắp nơi, đúng là mọc lên như nấm! Ngoài phần giảng dạy chuyên môn hoặc hướng nghiệp, dường như, đại học còn có một trách nhiệm nữa là giáo dục quần chúng hay nâng đỡ quần chúng, thí dụ, dậy thêm Anh văn cho người lớn, dậy điền mẫu thuế hằng năm, dậy và cung cấp những thú tiêu khiển thanh tao cho người già, như đánh cờ, khiêu vũ, thể thao, vv.

    Thế là, mọi người học và tập suốt đời. Hơn nữa, nếu bạn là một thiên tài, nếu bạn giàu kinh nghiệm trong lãnh vực chuyên môn ư? Ồ, nhiều trường đại học ở HK đang chờ bạn đó !

    Like

    • Tôi lại cho rằng ở cấp nào thì thầy cô cũng nên có trách nhiệm với trò và trò cần có trách nhiệm với chính mình.

      Like

  3. “Phương pháp khoa học chủ yếu không đưa ra kết luận nào mà không có chứng cứ; phải dựa trên những kết quả cụ thể, được kiểm soát một cách khách quan chứ không phải dựa trên những ý kiến cá nhân thường xuất phát từ kinh nghiệm hạn hẹp; phải phân biệt những dữ liệu và sự diễn dịch những dữ liệu đó, không gò các sự việc vào lý thuyết mà phải điều chinh lý thuyết cho phù hợp với sự việc ; phải có tính phê phán, nghĩa là phải chấp nhận việc xem xét lại lý thuyết, dù cho nó đã hoàn chỉnh đến đâu chăng nữa” (Lê Thành Khôi, 1981, dẫn lại từ Tsafak G., 2001, tr.77).
    Đoạn này không phải định nghĩa mà là phát biểu cảm nhận cá nhân. Xét về câu chữ:
    “Phương pháp khoa học chủ yếu…” Có cái chủ yếu thì có cái thứ yếu, nên đây chỉ là một mô tả về một phần của “phương pháp khoa học”.
    Cấu trúc một phát biểu định nghĩa của khái niệm A phải như sau: “A là cái có những tiêu chí …”, hay “những cái có các tiêu chí … gọi là A”.
    Vậy tác giả bài viết có vẻ không nắm chắc về định nghĩa chăng khi bảo đoạn ấy là một định nghĩa?

    Like

    • Một điều này cần lưu tâm:
      quy luật làm việc, tư duy của người ta là cố găng giải thích sự việc bằng các lý thuyết đã biết, tức là cố gắng gò sự việc vào lý thuyết đấy. Chỉ khi đã cố gắng gò vào mà nó vẫn không vào thì người ta mới buộc phải chấp nhận lý thuyết có thiếu sót và mới phải phát triển lý thuyết. Cho nên hoặc là đoạn trên dịch sai ý tác giả hoặc chính tác giả Tsafak G hiểu biết chưa tốt.

      Like

  4. Học lấy tinh, không cần nhiều
    Hiểu cần nhiều, nhưng luyện ít
    Học lõi không học vỏ, học vỏ để chứa lõi
    Giác đầu thành tay, thành chân
    Cần chí hơn lý ở đầu.
    Trên đây là cách học võ Nhất Nam, có lẽ đáng để tham khảo.

    Like

    • Về tự học thì cái học của Khổng Tử cũng đáng để ý: Học từ tuổi 15… cho đến tri thiên mệnh… cho đến nhi nhĩ thuận… tiếp tục cho đến 60+.

      Tết năm nay, các bạn ăn tết thế nào? Ở đây, họ dựng lều bán hàng Tết cả tuần nay rồi. Chung quanh Tết cũng có những điều mê tín dị đoan, nhưng tôi gọi đó là những niềm tin dễ thương. Thí dụ, người ta ăn khổ qua, cho cái khổ nó qua hết đi. Có người dọn dẹp cúng ông Táo sớm, để ổng đừng quên. Mua mảng cầu với bất cứ giá nào… 8, 9, 10 đồng một pound (450g)… Tôi nhớ, Lão tử gọi những người hoang phí là những kẻ “ăn cắp”, …

      Cái văn hóa bác học, cái văn hóa dân gian, … dồn hết cả vào ngày Tết !!

      Like

      • “Thí dụ, người ta ăn khổ qua, cho cái khổ nó quá hết đi.” Bác Huyên kể ra Làm em cười suốt từ vừa nãy đến giờ!
        Trước kia ở XH VN ta vẫn tuyên truyền “Tiết kiệm là quốc sách!”, mà hình như bây giờ vẫn còn khẩu hiệu này. Nhưng thực tế thì có những kẻ cứ thản nhiên lấy Tiền công quỹ để biếu xén lẫn nhau. Biếu nhau cả chục ngàn, rồi còn cả triệu ngàn US Dollar để tỏ sự biết ơn đã che chở cho nhau việc lấy Tiền nhà nước. Trong khi một comment mới nhất của một thầy giáo miền xa, kể chuyện phải trích từ đồng lương hạn hẹp của mình để biếu Thanh tra, để Làm từ thiện với người dân vùng đó. Những nghịch lý này bao giờ mới kết thúc ạ? Giải quyết vấn đề từ đâu nếu không phải từ đây?!

        Like

  5. Hôm trước, tôi coi lớp Arts, học sinh 9 – 12. Trong lớp, có một em len lét nhìn tôi, như muốn hỏi điều gì. Em có gương mặt trái soan, dễ nhìn, xin tôi ra ngoài. Khi trở vô, em hỏi: Are you Vietnamese or something?

    Tôi không trả lời… nhưng khi sắp hết giờ, tôi lại gần, hỏi:
    – Thày người Việt, còn em người gì?
    – Bố em VN, mẹ em Mexican.
    – Em nói tiếng Việt hay Spanish?
    – Spanish, vì em gần với mẹ.

    Tôi lỡ lời:
    – Bố mẹ em có hòa thuận không (getting along well)?
    – Bố bỏ đi khi em còn nhỏ (He left when I was young).

    Đã hết giờ học, nhưng em ở lại sắp ghế, như muốn níu kéo câu chuyện. Tôi hỏi tiếp:
    – Như vậy em có tí dòng máu VN đấy.
    – Một nửa lận, và em sẽ học tiếng Việt Nam, có thể em sẽ nói 3 ngôn ngữ nữa.

    Tôi vẫn nghĩ người VN và Mễ rất khó hòa hợp vì dị biệt văn hóa, nhưng không phải ai cũng vậy. Bỗng dưng tôi cảm thấy ghét những người gây cho trẻ em một sự mồ côi bất đắc dĩ. Câu hát của PD lại đến: Nước chảy bon bon, con vượn ôm con, lên non hát trái, tôi cảm thương nàng, cô gái mồ côi…

    Tôi hơi tình cảm một tí… Có tấm poster với câu nói của em Cynthia Nguyen, treo trên tường: All true artists, whether they know it or not, create from a place of non-mind, from inner stillness. (Mọi nghệ nhân thực sự, dù biết hay không, họ đang làm công việc sáng tạo, từ một nơi tĩnh lặng vô tư.)

    Tôi cho rằng: Cuộc đời là một nghệ thuật, life itself is an art !

    Like

    • Vâng, đúng vậy, cuộc đời là thử thách lớn nhất của con người. Cuộc sống thật muôn màu muôn vẻ, nhưng chính thế mới phức tạp và chúng ta dễ bị mất phương hướng khi sống ở đời này. Những ai thực sự thành công trong cuộc đời là biết cân bằng cuộc sống. Đừng quá coi trọng sự nghiệp để bỏ rơi gia đình, đừng quá coi trọng giá trị vật chất để từ bỏ giá trị tinh thần và đạo đức. Học là một khái niệm quá rộng. Học để làm người theo đúng nghĩa của nó (khác với loài động vật), học để sống với những người khác hoà thuận, học cách nhìn một sự vật và hiện tượng một cách khách quan. Rút kinh nghiệm là một cách học tốt nhất, nhưng cũng khó khăn nhất bởi không phải lúc nào con người cũng tự nhận mình đã mắc sai lầm. Đôi dòng tâm sự với các Bác cuối năm con Rắn. Chúc các Bác và các bạn ăn Tết Nguyên Đan đón chào năm con Ngựa thật đầm ấm bên gia đình và người thân!

      Like

  6. Hôm kia, tôi đi dạy lớp 8, đa số là học sinh Mễ. Đang đi quanh lớp, thì có một em hỏi:
    – Thầy biết tiếng Mễ không?
    – Tôi không trả lời, nhưng hỏi lại: Como te llamas? Em tên gì?
    – Chưa chịu, em đố tiếp: Thưa thầy, “pôdồ” là gì?
    – Tôi ngẩn tò te một tí. A, pôdồ lôcồ, pollo loco, là con gà điên, là tên một quán ăn nổi tiếng của Mễ.
    – Vậy, con chó là gì?
    – Perro.
    – Rồi, con chó cái là gì?
    – Perra !… có đúng không? Mà nãy giờ, các em hỏi thầy nhiều rồi. Bây giờ, thầy hỏi lại các em. Nghe đây: Làm thế nào em biết nó là con chó cái? How do you know she is a female dog?… Tôi cho các em suy nghĩ 5 phút.

    Một lát sau, tôi quay lại:
    – Em có câu trả lời chưa?
    – Thầy bảo mấy đứa kia bịt tai lại, thì em sẽ nói …
    – Như vậy, thầy cũng không muốn nghe đâu !

    Trước khi tan lớp, tôi đến bật mí cho các em câu trả lời của tôi… Bốn đứa bụm miệng cười, còn một đứa thì chưa hiểu tới…

    Nói chung, các em học sinh ở đâu cũng dễ thương như nhau. Nhưng văn hóa Mễ thì hơi khác với văn hóa VN. Nếu hỏi học sinh Mễ, mộng ước của các em là gì? Đa số sẽ trả lời là lập gia đình và có con. Còn học đại học thì sao? Học vấn là hạng thứ, có thì tốt, không có cũng chẳng sao !

    Like

  7. Giáo dục tốt dạy ta biết tìm học và tiếp tục học, sau khi đã rời bỏ chiếc ghế nhà trường. Vì học thêm, mà tôi biết được những điều sau đây:

    1. Việc giáo dục thời xưa thường đi đôi với chữ viết, cách nay cả nhiều ngàn năm.

    2. Ở phương Đông từ đời nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, các vua đã mở khoa thi 3 năm một lần để tuyển người giỏi ra làm quan. Việt Nam ta cũng đã biết làm như vậy.

    2. Con đường tơ lụa Á – Âu cũng đã có từ thời nhà Hán.

    3. Tôi tin là Giatô (Jesus) đã học được những tư tưởng đông phương từ nhỏ qua con đường tơ lụa này. Đúng ra, tư tưởng Giatô và của Bụt rất gần nhau.

    4. Kitô giáo được thừa hưởng cái tổ chức chặt chẽ của đế quốc La mã, khi đế quốc này sụp đổ.

    5. Sau đó, ảnh hưởng Kitô giáo lớn mạnh do việc giáo hội tự cho mình quyền nắm giữ chìa khóa nước Trời, mở trường huấn luyện tu sĩ, giáo sĩ. Phải công nhận, nhiều công trình, như niên lịch, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, thơ phú, khoa học, đã phát triển rất tốt trong lâu đài giáo hội.

    6. Bên cạnh đó, có nhiều sai lầm trong giáo hội, nhưng không ai dám phản đối, vì quyền hành của giáo hội quá lớn, gây ra những cuộc ly khai với Chính thống giáo, Lutheran, Anh giáo, vv.

    7. Gần đây, giáo hội đã thú nhận những sai lầm của mình, nhưng sự thay đổi quá chậm chạp, để khi có sự đổ bể hoặc ly khai, rồi giáo hội mới đặt vấn đề. Giáo hội phải can đảm chấp nhận, điều gì biết nói biết, điều gì không biết nói không biết, điều gì về đức tin thì để cho cá nhân có quyền tin hay không tin.

    8. Tôi tin là khi quyền hạn của các tôn giáo giảm thiểu – tôn giáo làm nhiệm vụ giúp đỡ thay vì control – thì bấy giờ thế giới sẽ tốt đẹp hơn. Các tôn giáo chấp nhận nhau thay vì muốn loại trừ nhau, thì thế giới sẽ có hòa bình.

    9. Thánh Augustinô nói một điều rất hay: Ama et fac quod vis. (Yêu đi rồi làm gì cũng được)

    Like

  8. Bài viết rất hay và tổng quát cho biết các tính chất của tự học, học tích cực và học suốt đời. Mong rằng tác giả có thể phân tích sâu hơn các khía cạnh sau:
    – Đối với những em sinh viên mới vào trường ĐH, chưa biết rành về tự học, nghiên cứu khoa học thì các em bắt đầu từ chỗ nào để có một nền tảng vững chắc về tự học?
    – Phương pháp tự học gồm có bao nhiêu thành tố? Mạn phép định nghĩa “Phương pháp”, đó là cách thức để đạt được kết quả một cách hiệu quả nhất. Nói cách khác, tự học như thế nào cho hiệu quả nhất? Trong các thành tố, có thể sắp xếp theo thứ tự từ khó đến dễ, từ ưu tiên đến không ưu tiên hơn, cái nào cần thực hiện trước, cái nào cần thực hiện sau?

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: