How We Learn

Bàn về chữ “Thực” hay tản mạn về giáo dục – Đàm Quang Minh

Hôm nay tôi muốn bàn về chữ Thực, theo nghĩa thực chất chứ không liên quan đến nghĩa là ăn cho dù người đời sẽ nghĩ đến ăn uống nhiều hơn.

Rất nhiều người bàn rằng cần làm cái này, cần làm cái kia. Thực trạng xã hội, rồi thực trạng giáo dục,… đang có vấn đề. Nhưng thực trạng là thế nào thì lại rất khó nói một cách rạch ròi, tường minh.

Ngay từ khi tôi còn làm khoa học thì những tài liệu như bản đồ hay số liệu thường vẫn được coi là tài liệu bí mật quốc gia. Sau nhiều lần liên hệ không thể tiếp cận được, cuối cùng tôi tìm thấy nó trong một thư viện của một trường đại học tại Châu Âu. Khi mà những số liệu nền như vậy không được cung cấp thì các nghiên cứu trở nên vô nghĩa. Nhà nước cần đóng vai trò cung cấp số liệu nền tảng một cách miễn phí cho các nghiên cứu của quốc gia.

Về khía cạnh khái niệm cũng bị làm cho mơ hồ và thiếu chính xác. Đơn giản nhất như khái niệm Tiến sĩ. Theo bậc học xưa có 3 bậc: Khôi nguyên, Hoàng giáp và đồng tiến sĩ xuất thân sau thêm Phó bảng. Nếu đối chiếu như vậy thì anh Thạc sĩ nên gọi là Phó bảng và anh Tiến sĩ khoa học gọi là Hoàng Giáp chăng? Nay chúng ta gọi các anh nghiên cứu là Tiến sĩ nên mới có chuyện làm danh mục hay bia giấy cho các Tiến sĩ đời nay để xứng với bia đá đời xưa. Rồi mới có chuyện các quan chức cũng đua nhau làm Tiến sĩ dù chẳng hề có ý định nghiên cứu gì cả.

Có lần trao đổi về giáo dục, có anh bạn hỏi tôi làm thế nào để cạnh tranh được với các trường dạy nghề mang tên đại học như các Đại học sư phạm kỹ thuật hay Đại học công nghiệp. Quả đúng vậy, rất nhiều trường bản chất là dạy nghề nhưng vẫn dùng từ “đại học” và rồi dịch sang Tiếng Anh là university. Khách khứa đến thăm băn khoăn tại sao chỗ như vậy lại gọi là university? Ngay cả các trường chuyên ngành như Đại học Y, Dược hay Xây dựng, Kiến trúc, Thủy lợi cũng chẳng nên gọi là university. Thế nên mới có chuyện tại Việt Nam, university này có thể nằm trong university khác mà không chịu làm school hay college (cũng có nghĩa là trường). Cũng chẳng trường nào không nhận mình là university vì ko nhận nghĩa là tự loại mình khỏi cuộc chơi chung. Từ đó dẫn tới việc, trên danh nghĩa trường đại học thì rất nhiều. Tỷ lệ học đại học ngày càng cao nhưng cả năng lực làm việc theo hướng nghề nghiệp và cả năng lực nghiên cứu đều rất thấp một cách đáng báo động.

Khi khái niệm dùng sai nên các tranh luận trong xã hội và cả định hướng cũng bị sai theo. Vì mang danh university nên những câu hỏi về nghiên cứu luôn được đặt ra. Mà nghiên cứu thì không dễ, thế nên lại làm bừa. Những đề tài tiến sĩ với những cái tên cười không nổi, khóc không xong ra đời thường xuyên. Những tuyển tập, tạp chí nghiên cứu dạng “tự sướng” chẳng theo chuẩn mực nào của các đòi hỏi về tính hàn lâm trong nghiên cứu. Những tài liệu tốn công, tốn sức chẳng bao giờ trở thành giá trị tri thức của nhân loại và cũng chẳng bao giờ quan tâm xem có ai trích dẫn hay không. Một sự lãng phí và lừa dối ngọt ngào dưới danh nghĩa các nhà khoa học.

Thực tế thì công việc đòi hỏi năng lực cao vẫn chưa nhiều nên vẫn thấy thạc sĩ, cử nhân ngành ngân hàng đi đếm tiền quầy thu ngân hay kỹ sư công nghệ phần mềm chỉ lọ mọ gõ code. Tất cả vì chúng ta đang tự lừa dối nhau bằng những khái niệm không có thật. Một môi trường và các khái niệm không rõ ràng khiến cho chúng ta chẳng thể có thể có được hành xử một cách đúng đắn. Nếu được gọi lại tôi sẽ coi Đại học Ngoại thương như Trường Kinh doanh Hà Nội (School of Business), Đại học Luật sẽ là Trường Luật Hà Nội (Hanoi School of Law),… chỉ có các trường đại học vùng với đầy đủ các khoa ngành và có nghiên cứu khoa học với hàm lượng tri thức cao thì gọi là Trường đại học (bỏ việc Đại học và Trường Đại học  là hai khái niệm khác nhau như hiện nay). Cũng không nên gọi bằng cấp hiện nay là bằng đại học mà gọi là bằng cử nhân hoặc/và bằng kỹ sư. Các trường đều có thể cấp nếu đủ tiêu chuẩn (giống tiêu chuẩn đại học hiện tại). Hệ cao đẳng thì thành bằng cử nhân theo hệ 3 năm. Tất nhiên nếu đổi tất các trường khác với tên Đại học sẽ gây phản ứng lớn trong xã hội, do đó các trường này cần được đổi thành các trường Đại học ứng dụng và chỉ sử dụng từ college cho các trường này. Các trường đại học (university) cần có đủ các khoa ngành và chỉ dạy chương trình 4 năm trở lên.

Từ đó các câu hỏi về việc trách nhiệm tự động được trả lời một cách mạch lạc. Theo đó các mức đào tạo của bậc sau phổ thông gồm kỹ năng, nghề nghiệp và nghiên cứu được tách bạch theo định hướng. Việc đào tạo kỹ năng và chính trị cần đưa ra khỏi bậc đào tạo cử nhân. Việc dạy Tiếng Anh không phải nhiệm vụ của bậc cử nhân, nếu coi là điều kiện thì thành lập các đơn vị đào tạo dự bị để đảm bảo yêu cầu đầu vào cho các ngành nghề được coi là cần thiết. Đào tạo dự bị cần được thực hiện trước khi vào bậc học chính thức. Đào tạo chính trị, hành chính là nhiệm vụ của các nhân lực làm việc cho hệ thống chính trị. Vậy nên chỉ các trường chính trị mới đào tạo các đối tượng này và nếu cần có thể coi đây là các tiến sĩ hiện đại. Còn học vị doctor có thể gọi là bác sĩ hoặc bác học để nhấn mạnh tính học thuật vốn dĩ không liên quan đến việc quan trường.

Nói chung các trường đại học ứng dụng chỉ cần đào tạo 3 năm cử nhân để có thể đi làm. Ai làm các việc liên quan đến nghiên cứu phát triển thì cần phải biết Tiếng Anh và học sâu về hàn lâm hơn theo hệ cử nhân 4 năm hoặc kỹ sư 4 năm. Như vậy các trường đại học ứng dụng có thể đào tạo cử nhân/kỹ sư 3 năm và cũng có thể có hệ đào tạo 4 năm. Nhưng các Trường đại học chỉ đào tạo hệ  4 năm và bằng Tiếng Anh tập trung vào nguồn nhân lực chất lượng cao.

Xét về khía cạnh luật và quản lý nhà nước, Tổng cục dạy nghề nên được hợp nhất với Bộ giáo dục và đào tạo. Luật giáo dục và luật dạy nghề cũng cần hợp nhất để tránh chồng chéo. Từ đó, các nhiệm vụ quản lý nhà nước  của Bộ tập trung vào quản lý các trường Đại học hướng tới các nhiệm vụ nghiên cứu phát triển, còn các trường Đại học ứng dụng do Sở quản lý hướng tới việc đáp ứng nguồn nhân lực cho các địa phương. Các trường đại học được tự do học thuật nhưng tất cả giảng viên cần có học vị bác sĩ (tiến sĩ) để đảm bảo tính học thuật cao. Không chấp nhận việc đào tạo chất lượng kém mở rộng tràn lan như hiện nay tại các trường khối công lập.

Quay trở lại tiền đề của bài này, nếu muốn có chất lượng đầu tiên cần trung thực với chính mình. Đi vào thực chất tránh hư danh.  Các trường muốn là đại học đẳng cấp thì phải thật sự đẳng cấp và không làm việc tầm thường. Các trường đại chúng cần tập trung vào nhiệm vụ làm sao sinh viên có được kiến thức, kỹ năng ra trường đảm bảo làm được việc xã hội cần. Không cần thiết gây tốn kém xã hội bằng những kỳ thi tốn kém, ít ý nghĩa. Nếu các trường thực sự thực học thì sinh viên không dại gì mà cố theo.  Khi mà ranh giới giữa tốt xấu mờ nhạt, các giá trị không được phân định rõ ràng thì chính là lúc tất cả chỉ chạy theo hư danh mà không có thực chất.

Vài ý kiến đầu xuân là ý kiến cá nhân và chỉ đại diện cho những suy nghĩ cá nhân và không có mục đích gì khác.

Hà Nội, Khai bút Xuân, mùng 1 Tết Giáp Ngọ 2014.

Về tác giả: TS. Đàm Quang Minh là Giám đốc Văn phòng FPT Polytechnic Việt Nam. FPT Polytechnic là hệ Cao đẳng thực hành FPT thuộc Đại học FPT. Bài viết này đã được TS Minh đăng trên Facebook của mình.

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Giáo dục đại học, Nghĩ về việc học và dạy, Tiếng nói giáo viên

3 phản hồi »

  1. Rất hay. Chữ thực còn có nghĩa là tồn tại, hiển nhiên. Tôi xin trình bày bốn điều chân thật sau đây.

    Điều chân thật thứ nhất là cái lực trong vũ trụ. Khoa học gia nói có bốn lực, nhưng cái lực tôi thấy rõ nhất là trọng lực, vạn vật thu hút lẫn nhau.

    Điều chân thật thứ hai là qui luật trong vũ trụ. Người ta có thể tìm ra bằng xét nghiệm và dùng toán học để viết những qui luật này.

    Điều chân thật thứ ba là vô thường. Vạn vật luôn biết hóa, chỉ một cơn sóng thần, cả trăm ngàn người biến mất.

    Điều chân thật thứ tư là hạnh phúc. Hạnh phúc là điều có thật; người ta có thể trao tặng nhau, mà chẳng hề mất mát. Cái thực trong giáo dục nằm ở đây.

    Bóng Chiều
    Chẳng là gì, chẳng là chi,
    Người người đến đến… người đi qua đồi.
    Chẳng là đất, chẳng là trời,
    Ngày ngày tháng tháng, cuộc đời qua mau.
    Chẳng là dài, chẳng là lâu,
    Còn ai đứng đó mà câu chung tình.
    Chẳng là thiền, chẳng là kinh,
    Chỉ là … chuông mõ, lặng thinh, bóng chiều.

    Số lượt thích

  2. Người ta sinh ra trong đời để làm gì? Có phải để phấn đấu làm thần thánh, làm vĩ nhân, làm danh nhân, hay chỉ để hưởng thụ? Đâu là câu trả lời chung?
    Theo tôi cuộc sống có ý nghĩa là sống để tạo ra giá trị – ấy chính là cái thực. (Để những thứ chảy qua mình có giá trị với cuộc đời hơn. Nếu không thế thì chỉ còn cái vỏ mà không có cái thực nữa.)
    Người ta phấn đấu làm thần thánh, làm vĩ nhân, làm danh nhân cũng là tạo ra giá trị cho cuộc đời. Mà người ta chỉ làm một người bình thường cũng là tạo ra giá trị cho cuộc đời. Thậm chí là người ta hưởng thụ cũng là tạo ra giá trị cho cuộc đời.
    Giá trị của thánh nhân, vĩ nhân hay danh nhân thì dễ nhận thấy bởi công trạng to lớn. Người thường tạo ra giá trị gì? Người thường sống cuộc đời bình thường, không làm nên công trạng gì to tát thì giá trị ở đâu? Người thường tạo ra giá trị chính bởi cuộc đời bình thường của họ. Một cuộc đời bình thường của họ góp phần tạo ra mặt bằng xã hội nơi mà những quả núi thánh nhân, vĩ nhân đặt lên đó. Không có họ thì thánh nhân, vĩ nhân đặt ở đâu? Một cuộc đời bình thường như một giọt nước trong một dòng chảy lớn. Không có một giọt nước thì làm gì có dòng chảy lớn? Những cuộc đời bình thường góp lại thành một cộng đồng. Những cuộc đời bình thường nối nhau thành truyền thống. Đó là cái giá trị của người bình thường. Người Việt từ xưa tới nay luôn trọng cái giá trị của người bình thường. Hãy xem ông Tô Lịch, không đánh giặc, không xây dựng công trình nổi tiếng, chỉ giữ cho gia đình yên ấm mà được phong làm thần trong tâm trí người dân, tên ông được đặt cho một con sông từ cách nay cả mấy ngàn năm. Ôi! Ước gì sông Tô Lịch lại xanh sạch để người ta trọng cái giá trị của sự bình thường.
    Còn hưởng thụ tạo ra giá trị gì? Hưởng thụ là tiêu thụ các sản phẩm, các giá trị chứ sao lại là tạo ra giá trị? Không hẳn vậy. Hưởng thụ cho đến nơi thực sự tạo ra giá trị. Hưởng thụ không phải là tiêu thụ cho nhiều sản phẩm, cho nhiều dịch vụ! Hãy xem một bạn sinh viên vừa ăn bát mì, vừa xem phim, vừa tranh thủ chat. Anh ta có hưởng thụ nhiều chăng? Xin thưa là không. Anh ta thực hưởng thụ quá ít: ăn chỉ là đầy bụng mà không biết mùi vị; xem phim chỉ là biết tình tiết mà không cảm nhận, suy ngẫm; chat mà hầu như không nghĩ ngợi gì chỉ là chuyện phiếm, không đọng lại gì, không ảnh hưởng tốt gì tới bạn bè, không nâng tâm hồn mình lên. Hãy so sánh với một cụ già uống một bát chè xanh. Chậm rãi, thong thả hưởng cái hương vị cùng cái khoan khoái trong tâm trí. Chắc không đến 500 VNĐ. Bên nào hưởng thụ nhiều? Bên nào tạo ra giá trị. Người Việt từ xưa đến nay đều trọng sự hưởng thụ. Những sản vật không hề đắt đỏ mà quá ư phổ biến như bát nước chè, miếng trầu, các loại bánh chủ yếu từ sản phẩm nông nghiệp quanh vườn ruộng. Nhưng tất cả đều mang giá trị sâu sắc đến mức tồn tại được qua bao biến động của lịch sử.
    Cuộc sống trong xã hội VN ngày nay bấp bênh, bất ổn vì chúng ta làm khá nhiều việc nhưng giá trị tạo ra được cả trong sản xuất xây dựng và hưởng thụ đều quá ít.
    Về lương thực thực phẩm: Gạo sản xuất nhiều nhưng không có chất lượng cao. Lợn gà vịt nhiều, thịt quanh năm mà toàn tăng trọng. Rau xanh ngắt mà vừa ăn vừa sợ.
    Về giải trí: Ca khúc ra đời nhiều như lá rừng mà chỉ đọng được vài tháng. Các chương trình văn hoá nhan nhản mà vừa thấy đã lo. Các giải thể thao quy mô hơn, hoành tráng hơn mà vừa xem vừa than vãn. Nhiều lễ hội truyền thống biến tướng khiến người có tâm chẳng dám tham gia. Sách truyện bán ngập vỉa hè (Thủ đô) mà hiếm thấy những tác phẩm được tái bản lần 3. Phim ảnh trên truyền hình thì toàn là Tầu với Hàn còn phim ta xem đến phát ngán …
    Về xây dựng: Vật liệu ngày nay tốt hơn thời xưa quá và cũng phổ biến quá chứ. Thế mà có công trình nào trong thời kì quá độ lên XHCN ở ta tồn tại được 20 năm chưa lỗi thời? Cả trăm tỷ đổ lên mặt cầu 3 tháng để gọi là nghiên cứu khoa học? Để xây chợ nuôi bò hay để đẻ ra những đình cổ, chùa cổ vài năm tuổi à? Ai cũng biết thế giới 3 chiều mà không có cái quy hoạch nào trên không cũng như trong lòng đất để đến mức các túi nước ngầm bị móng nhà đóng nát bét, nhiều ngôi nhà chỉ thấy mặt trời đúng giữa trưa tháng 6.
    Về con người: Ra đường không thấy ai khen “anh kia nghèo mà sạch”, nhà nọ thiếu thốn mà hoà thuận, hiếm thấy ai đói mà ham học; chỉ thấy người ta khen giàu khoe sang những là chị ấy nhà to, anh ấy có xe hơi, nó thu nhập mấy ngàn/ tháng. Chuyện giàu có thì rất đáng khuyến khích rồi nhưng cái tâm lý cộng đồng chỉ trọng giàu sang thì tai hại kinh khủng. Rồi người ta cố gắng sưu tầm lấy nhiều bằng cấp, nhiều danh vị mà quá ít người cố gắng làm cho tấm bằng của mình giá trị hơn. Nếu cần nhiều bằng, nhiều danh vị đến vậy thì mỗi loại tự in lấy mấy cái treo ở nhà mà đuổi muỗi sao phải lạy lục kẻ khác mà mua những mấy trăm triệu?
    Nhiều quá kể ra không hết. Đó là bằng chứng về việc ngày nay người ta chấp nhận cái giả làm cái thực.
    Cũng may mà đâu đó còn chút ánh sáng khiến ta chưa hết hy vọng.

    Số lượt thích

  3. Tiến sĩ Giáp Văn Dương khuyên sinh viên hay là những người học đại học một cách thông thái.
    http://vtv.vn/video-clip/131/Su-kien-binh-luan-15022014/video30806.vtv

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: