How We Learn

Thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH: Cần một giải pháp khác – Nguyễn Tấn Đại

Học Thế Nào: Bài viết của tác giả Nguyễn Tấn Đại gửi tới Học Thế Nào trước thời điểm Bộ GD&ĐT công bố phương án thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ 2014, do đó một số phân tích của tác giả căn cứ vào dự thảo phương án hiện không còn phù hợp. Do đó khi đăng bài này, chúng tôi đã bỏ bớt một số đoạn. Một số phân tích khác tuy không còn thời sự nhưng do một vài lý do khách quan, chúng tôi vẫn giữ nguyên theo diễn đạt ban đầu của tác giả. 

Theo dự thảo “Một số điều chỉnh phương án thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông trong những năm trước mắt” ngày 02/01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có hai nội dung lớn là việc miễn thi tốt nghiệp dựa theo điểm trung bình cả năm lớp 12 của học sinh, và việc tổ chức 4-5 môn thi tốt nghiệp với 2 môn tự chọn. Nếu thích trò chơi của những con số, hẳn nhiều người sẽ hài lòng với kết quả khảo sát rằng có hơn 80 % số người được hỏi đồng ý với hướng “đổi mới” này. Tuy nhiên, bỏ qua bước phân tích độ xác tín về khoa học và giáo dục của kiểu khảo sát đó, chúng ta có thể đi thẳng vào trọng tâm vấn đề: những hệ luỵ nào có thể xảy ra khi áp dụng hai nội dung trên vào thực tế? Và liệu có giải pháp nào khác phù hợp hơn cả với thực tế hiện tại và xu thế phát triển trong tương lai hay không?

Về việc miễn thi tốt nghiệp THPT

(Đã lược bỏ – Học Thế Nào)

Về việc tổ chức 2 môn thi tự chọn

Trong cả hai phương án tổ chức môn thi tốt nghiệp THPT nêu ra trong dự thảo, có 2 môn thi chắc chắn bắt buộc là Toán và Ngữ văn, 2 môn thi do học sinh tự chọn từ danh sách chắc chắn gồm 5 môn là Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí và Lịch sử. Riêng môn Ngoại ngữ, trong phương án 2 là bắt buộc, còn phương án 1 là tự do, chỉ dùng để cộng điểm khuyến khích. Tất nhiên, với triển vọng bớt được 1 hoặc 2 môn thi tốt nghiệp so với cách thi 6 môn bắt buộc từ nhiều năm nay, không có gì ngạc nhiên khi đa số học sinh hồ hởi, phần lớn phụ huynh phấn khởi, một bộ phận xã hội với sự tiếp sức của giới truyền thông nhiệt tình ủng hộ. Nhưng sau khi mọi sự hưng phấn nhất thời qua đi, suy nghĩ thật kĩ về vấn đề này sẽ thấy có nhiều điểm cần cân nhắc thận trọng.

Trước tiên, bản dự thảo này cho ta cảm giác là giảm số môn thi, nhưng thực chất là số môn thi sẽ tăng lên. Vì sao? Khi cho học sinh tự chọn 2 môn thi, số môn thi chỉ giảm đối với từng học sinh, nhưng theo nguyên tắc phân phối ngẫu nhiên thì tổng số môn có khả năng được học sinh chọn thi sẽ tăng lên, tức là sẽ có tất cả 8 môn thi: 2 môn bắt buộc (Toán, Ngữ văn), 5 môn tuỳ chọn (Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí, Lịch sử), 1 môn tự do hoặc bắt buộc (Ngoại ngữ). Chỉ có một trường hợp duy nhất để có ít hơn 8 môn thi, đó là khi tất cả các Sở GD&ĐT cùng thoả thuận với nhau theo một cách nào đó để hướng toàn bộ học sinh của địa phương mình lựa chọn các môn thi giống nhau. Nhưng khi đó, bản chất ý định cho học sinh tự chọn môn thi sẽ phá sản.

Thứ hai, về nguyên tắc tổ chức thi cử, khi đã có học sinh chọn thi thì dù ít hay nhiều vẫn phải có đề thi và ngày thi riêng. Như vậy từ 3 ngày như hiện nay (6 buổi cho 6 môn thi), tổng thời gian tổ chức thisẽ phải kéo dài lên ít nhất 4 ngày (8 buổi cho 8 môn thi). Các hội đồng thi sẽ phải làm việc cật lực hơn, với hiệu suất chắc chắn thấp hơn. Đơn giản là vì khi thi tất cả các môn bắt buộc, việc bố trí phòng thi và giám thị sẽ tương đối thuận tiện và dễ có được phương án tối ưu về con người và cơ sở vật chất. Khi có các môn thi tuỳ chọn và tự do, sẽ có môn được chọn nhiều, tức cần nhiều phòng thi hơn thông thường, và có môn được chọn ít nhưng vẫn cần phải có phòng thi riêng. Như thế, mỗi hội đồng thi sẽ cần có thêm một số lượng đáng kể phòng thi và giám thị. Diễn biến thực tế kì thi tốt nghiệp THPT từ nhiều năm nay cho thấy nếu tổ chức thi theo cách nói trên sẽ còn làm nảy sinh nhiều điều phức tạp khó lường trước hết được.

Thứ ba, có ý kiến nói rằng cho học sinh tự chọn môn thi là tốt để các em tự lựa chọn định hướng nghề nghiệp cho mình. Đó là quan niệm chưa chính xác, nếu không muốn nói là sai. Công tác định hướng nghề nghiệp hay phân luồng học sinh nếu muốn làm phải làm ngay từ đầu vào, và cần phải có một hệ thống đồng bộ từ mục đích giáo dục, chương trình và nội dung dạy-học, phương pháp và công cụ dạy-học cũng như phương thức kiểm tra đánh giá và thi cử trong toàn bộ cấp học (ít nhất 3 năm THPT). Riêng một kì thi tốt nghiệp và một động tác lựa chọn 2 trong 5 môn thi không thể nào đảm bảo được mục đích hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Điểm cần lưu ý thứ tư, đó là công thức tính điểm xét tốt nghiệp và xếp loại tốt nghiệp THPT, với tỉ lệ 50 % cho tổng điểm các bài thi tốt nghiệp, và 50 % cho điểm trung bình cả năm học lớp 12 (ở đây tạm bỏ qua phần điểm khuyến khích). Cách tính này có ba nhược điểm cơ bản: vừa không đảm bảo tính công bằng về chất lượng giáo dục ở cấp độ quốc gia, vừa giảm nhẹ vai trò đánh giá của một kì thi bị làm phức tạp lên (như đã nói ở trên), vừa tạo thêm cơ hội cho “căn bệnh nan y” dạy thêm-học thêm hoành hành. Thực tế là từ nhiều năm nay, mặc cho bao nhiêu văn bản hành chính được ban ra, tình trạng dạy thêm-học thêm tràn lan vẫn mãi không giải quyết được tận gốc. Đối với việc thầy cô dạy thêm, trò đi học thêm, tự thân hành động ấy không có lỗi. Lỗi nằm ở chỗ hành động ấy bị lạm dụng vô lối, biến từ nhu cầu học hỏi và tinh thần cầu tiến của người học thành phương tiện cải thiện thu nhập của người dạy. Trong thực tế trường lớp, có không ít thầy cô giáo dạy hay, được học trò yêu mến, mong muốn, mời mọc thậm chí cả năn nỉ dạy thêm để các em có cơ hội rèn luyện thêm để học tốt hơn hoặc chuẩn bị đi thi đại học. Nhưng bên cạnh đó, ở những nơi mà dạy thêm-học thêm trở thành vấn nạn hay nỗi bức xúc của cộng đồng, rất dễ dàng thấy có nhiều thầy cô giáo đã lạm dụng quyền đánh giá, cho điểm học sinh để ép các em đi học thêm môn của mình, mà không có bất cứ công cụ kiểm soát hữu hiệu nào để giới hạn tình trạng lạm quyền này, từ gia đình học sinh cho đến đồng nghiệp, từ tổ chuyên môn cho đến ban giám hiệu rồi thanh tra giáo dục các cấp… Đó là chỉ mới nói đến điểm số của từng bài kiểm tra qua từng học kì. Nếu quyền “sinh sát” ấy còn góp phần vào đến 50 % cơ may tốt nghiệp của học sinh, tình trạng lạm quyền vô kiểm soát ấy sẽ còn đi đến đâu? Rồi nhân lên với sự dị biệt vùng miền giữa các tỉnh thành trong cả nước, cả về mức độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ nhận thức chung của cộng đồng và mặt bằng chất lượng giáo dục phổ thông của từng địa phương trong cả nước, ta sẽ thấy rằng cái hố sâu mất công bằng sẽ ngày càng được đào sâu và nới rộng.

Thứ năm, giải pháp thi 2 môn tự chọn không cho thấy sự đồng bộ trong xu hướng cải cách thi cử, cụ thể là hai kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đầy căng thẳng và tốn kém liền kề nhau trong vòng hai tháng. Bằng chứng là dù các trường đại học đã được “bật đèn xanh” trong việc tự chủ phương án tuyển sinh, nhưng hầu hết đều rất dè dặt và thận trọng, đặc biệt là trong việc xét tuyển hàng loạt dựa trên học bạ. Nguyên nhân chính, một mặt có thể nói là vì thiếu chuẩn mực quốc gia về mục tiêu giáo dục cũng như về kiến thức, kĩ năng của học sinh, mặt khác là do sự cách biệt nhiều khi quá lớn giữa các địa phương trong việc quản lí chất lượng giáo dục phổ thông. Hơn thế nữa, học bạ là do trực tiếp từng giáo viên bộ môn ghi điểm, giáo viên chủ nhiệm nhận xét, hiệu trưởng các trường THPT kí tên đóng dấu xác nhận. Bất cứ ai đã từng đứng lớp ở trường phổ thông đều biết rằng sửa học bạ của học sinh là việc khá dễ dàng và đây đó vẫn có những trường hợp học sinh được làm lại học bạ cho “đẹp” hơn với những lí do không nói ai cũng biết. Nay, nếu thi tự chọn 2 môn và dùng điểm trung bình năm học lớp 12 để xét tốt nghiệp, nhu cầu sửa học bạ tăng lên là điều tất yếu, và đây sẽ lại là một cái “ổ” lí tưởng cho tình trạng nhũng nhiễu nhân lên tràn lan ở khắp hơn 2.700 trường THPT trong cả nước. Điều đó sẽ càng làm cho kì thi tốt nghiệp THPT đánh mất vai trò kiểm soát mức sàn chất lượng đầu ra của giáo dục phổ thông, và càng là lí do để phải duy trì kì thi tuyển sinh đại học hàng năm. Không chỉ vậy, thi tốt nghiệp tự chọn 2 môn còn có nguy cơ “làm khó” học sinh và các trường đại học có chủ trương tuyển sinh dựa trên kết quả thi tốt nghiệp: mỗi ngành đào tạo có thể phải tuyển theo kết quả của những môn thi khác nhau, học sinh đã chọn thi môn này sẽ không còn cơ hội thi lại môn khác nếu muốn thay đổi nguyện vọng về ngành học. Kết quả sẽ là, một kì thi vốn đã yếu thì ngày càng yếu, và một kì thi cần thay đổi lại càng có nhiều lí do để tiếp tục tồn tại.

Và cuối cùng, mọi sự thay đổi phương thức thi cử cuối khoá phải được áp dụng theo hình thức “cuốn chiếu”, ứng với tinh thần chung (quy định chính thức hay “thoả thuận ngầm”) ở đầu vào. Học sinh lớp 12 năm nay đã vào cấp III từ ba năm trước, cũng như bắt đầu năm học này với tinh thần thi tốt nghiệp 6 môn. Áp dụng một sự thay đổi lớn một cách đột ngột “giữa dòng”, không có kế hoạch không phải là cách tốt trong giáo dục. Xét ở góc độ nào đó, thay đổi như vậy là không công bằng với chính các em học sinh lớp 12 năm nay, và không công bằng giữa niên khoá này với các niên khoá khác, trước đây hay cả về sau. Cho dù áp lực của xã hội về chất lượng kì thi tốt nghiệp THPT nói riêng và chất lượng giáo dục phổ thông nói chung là rất lớn, mọi sự thay đổi phải được tiến hành một cách cẩn trọng, có cơ sở khoa học chặt chẽ, có lộ trình chuyển tiếp hợp lí, vì liên quan đến từng cá nhân học sinh, “nguyên liệu” cho toàn bộ nền giáo dục đại học và thị trường lao động trong tương lai, đến và từng gia đình, “tế bào” cơ bản cấu thành nên toàn bộ xã hội.

Một giải pháp khác cho kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học

Ngoài những điểm bất ổn về nguyên tắc khoa học và giáo dục như đã bàn ở trên, bản dự thảo vẫn có một vài điểm tích cực, trong đó đáng kể nhất là tinh thần quyết tâm thay đổi và chấp nhận “mạo hiểm”. Nếu chấp nhận tinh thần đó, nhất là qua một vài điểm đáng chú ý như tổ chức thi tốt nghiệp nhiều môn trong nhiều ngày, chú trọng sử dụng kết quả học tập hàng năm của học sinh, giao quyền tự chủ và khoán trách nhiệm cho các Sở GD&ĐT,… thì hoàn toàn có thể nghĩ đến một giải pháp khác, có lộ trình và phương thức tổ chức hợp lí hơn, kết hợp đồng bộ hơn giữa quá trình dạy-học và kiểm tra đánh giá ở bậc phổ thông với công tác tuyển sinh đại học, tạo một bước chuyển tiếp cần thiết cho việc thực hiện đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Nguyên tắc đầu tiên và thiết yếu của giải pháp này, đó tổ chức thi tốt nghiệp THPT với tất cả 8 môn văn hoá cơ bản: Toán, Ngữ văn, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí, Lịch sử, Ngoại ngữ. Áp dụng nguyên tắc này sẽ có hai tác dụng lớn: 1. đưa tiến trình dạy-học và kiểm tra đánh giá ở bậc phổ thông về lại quy trình bình thường vốn có và cần thiết trong giáo dục, phân biệt rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm ở cả ba cấp độ cơ sở, địa phương và quốc gia; 2. tạo tiền đề cho những chủ trương tự chủ tuyển sinh đại học bao gồm cả các phương án xét tuyển thông qua kết quả thi tốt nghiệp THPT hoặc tổ chức thi riêng theo trường hay nhóm trường.

Ở điểm thứ nhất, nền giáo dục phổ thông nước ta hiện nay là kết quả lai tạp của nhiều mô hình và hệ thống tổ chức giáo dục khác nhau trong lịch sử. Ở mỗi một giai đoạn, mỗi cuộc “cải cách” thường được thực hiện theo một chủ đích hay tầm nhìn ngắn hạn mà thiếu hẳn một tư duy xuyên suốt lâu dài, gắn kết với lịch sử hình thành trong quá khứ, thực tiễn các dòng chảy giáo dục hiện tại trên thế giới và xu hướng phát triển trong tương lai. Đã từng có nhiều ý kiến, kể cả của những người nổi tiếng trong lĩnh vực khoa học và giáo dục, rằng kì thi tốt nghiệp THPT không đảm bảo chất lượng nên tốt nhất là bỏ đi. Nhưng nếu tham khảo kĩ lưỡng các mô hình giáo dục phổ thông phổ biến trên thế giới, ta sẽ thấy đa số các nước có nền giáo dục phát triển vẫn có kì thi kết thúc chương trình giáo dục phổ thông, theo cách này hay cách khác. Các nước này đều có chương trình giáo dục quốc gia, trong đó nêu rõ các tiêu chuẩn kiến thức, kĩ năng mà học sinh cần đạt được qua từng lớp, từng cấp học cho đến hết bậc giáo dục phổ thông. Đó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động xác định nội dung giáo dục, lựa chọn phương pháp giáo dục, tổ chức quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá, thi cử, cấp phát văn bằng,… dù cơ chế phân cấp quản lí và quyền tự chủ trong lĩnh vực giáo dục có nhiều điểm khác biệt. Trên cơ sở đó, có hai xu hướng thi cử, kiểm tra đánh giá chủ đạo là giảm số kì thi chính thức đồng thời tăng cường kiểm soát hoạt động đánh giá liên tục trong suốt quá trình học tập (như các nước Bắc Âu), và tăng cường kiểm tra chính thức ở các giai đoạn học tập khác nhau (mỗi 1-3 năm) thông qua các bài thi chuẩn hoá (standardized tests) như các nước khối Anh-Mĩ. Riêng nước Pháp lại duy trì cả hai kì thi cuối cấp trung học cơ sở (thi một số môn chính) và trung học phổ thông (thi trên 10 môn bắt buộc cùng với một số môn tự chọn trong hai năm học). Nhưng không có nước nào bỏ hay giảm nhẹ vai trò kì thi tốt nghiệp THPT khi không có chương trình giáo dục quốc gia và khi chưa xây dựng được một hệ thống đánh giá liên tục chặt chẽ, hoặc đánh giá độc lập thông qua các bài thi chuẩn hoá.

Việt Nam chưa có chương trình giáo dục quốc gia, chưa có hệ thống đánh giá độc lập, cơ cấu tổ chức hành chính chưa phù hợp với mô hình phân cấp toàn quyền tự chủ về giáo dục phổ thông cho các địa phương, cơ chế và công cụ thanh tra giám sát quá trình dạy-học vừa thiếu vừa yếu vừa kém hiệu quả… Do đó việc duy trì kì thi tốt nghiệp THPT là thiết yếu, nhưng phải thay đổi cách làm để kì thi này không còn là “trò chơi may rủi”, để thực sự trở thành cột mốc quan trọng thiết lập trở lại mặt bằng tối thiểu về chất lượng giáo dục phổ thông ở cấp độ quốc gia. Thi tốt nghiệp bắt buộc 8 môn văn hoá cơ bản rất gần với mô hình “học gì thi nấy” của Pháp, vốn là nguồn gốc hình thành hệ thống giáo dục nước ta hiện nay. Trở ngại đầu tiên có thể gặp phải, đó là việc tăng thêm 1 ngày thi so với hiện nay. Nhưng so với việc tổ chức 4 ngày thi với 5-6 môn tự chọn (như đã nói ở trên) thì hiệu suất tổ chức sẽ tăng cao hơn khi tất cả các môn thi đều bắt buộc. Cái “nút thắt” căn bản nhất là “trò chơi rút thăm may mắn” để chọn môn thi tốt nghiệp hàng năm sẽ được tháo gỡ. Sẽ không còn cảnh thầy cô và học trò ngóng trông về Bộ mỗi độ tháng 3 để xem “vận rủi” sẽ rơi vào môn nào, để rồi “đua nước rút” kết thúc sớm chương trình những “môn không thi” và dành trọn thời gian còn lại để ôn luyện các “môn thi”. Bộ và các Sở GD&ĐT sẽ không còn phải cứ “làm bộ” kí các loại văn bản quy định cấm cắt xén, rút ngắn chương trình, mà trong thực tế nhắm mắt làm ngơ cho tất cả các trường tổ chức thi học kì II cho học sinh lớp 12 sớm hơn một tháng nhằm dồn sức chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp. Sẽ không còn cảnh phân biệt “môn chính” và “môn phụ” để đưa tất cả các môn văn hoá cơ bản về đúng vị trí của mình trong nhà trường phổ thông. Không có điều kiện này mọi nỗ lực cải cách giáo dục, đổi mới thi cử sẽ chỉ dừng lại ở hình thức mà không thể đạt kết quả như mong muốn.

Khi vai trò các môn học được đưa trở về trạng thái bình thường và ngang bằng nhau, hai điểm tồn tại lớn nhất là chất lượng coi thi và sự khách quan khi chấm thi tốt nghiệp THPT sẽ có sự cải thiện theo thời gian. Tổ chức 4 ngày thi so với 3 ngày thi thực ra không phải là điều gì quá khó. Một số địa phương vốn đã có kinh nghiệm tổ chức thi học kì các môn theo đề chung của Sở GD&ĐT, với sự phân cấp trách nhiệm về chất lượng thi cử về cho từng cơ sở giáo dục. Nâng cấp những kinh nghiệm này thêm một bậc, với đề thi chung của Bộ GD&ĐT, thiết nghĩ là một bước chuyển hợp lí và hoàn toàn khả thi. Độ khó của đề thi là việc hoàn toàn kiểm soát được, để cân đối lợi ích của những vùng miền khó khăn, nơi cần một mức chuẩn mực tối thiểu để học sinh có thể bước vào cuộc đời nghề nghiệp hoặc đi học tiếp, và những địa phương có trình độ phát triển cao hơn, nơi cần sự “phân tầng” trên mức sàn tối thiểu, để có thể lựa chọn cho mình những nhóm người học hay người lao động có chất lượng cao hơn, phù hợp với nhu cầu và năng lực đào tạo-sử dụng của mình. Sự khách quan trong quá trình chấm thi cũng là việc không khó để giải quyết, nhất là khi có được quyết tâm chính trị cao độ của các vị lãnh đạo ngành và địa phương, với sự đồng thuận của công luận.

Kì thi tốt nghiệp THPT như thế tưởng là khó, nhưng về bản chất lâu dài lại hoá thành một hoạt động bình thường trong tiến trình giáo dục; với học sinh ban đầu tất nhiên sẽ thấy nhiều áp lực, nhưng thi tất cả các môn có lợi ích là điều hoà trở lại toàn bộ hoạt động học tập ngay từ những năm đầu cấp III, không học lệch, không chạy đua thành tích, dần đưa kết quả thi cử trở lại tương xứng với năng lực học tập. Khi kì thi tốt nghiệp THPT đảm bảo được chất lượng và độ tin cậy, một cách bình thường, không chịu quá nhiều áp lực căng thẳng, thiết lập được một mặt bằng tối thiểu và những nhóm “phân tầng” khác nhau, việc bãi bỏ kì thi tuyển sinh đại học để sử dụng kết quả thi tốt nghiệp THPT chỉ còn là một bước đi tất yếu, thuận lợi, phù hợp không chỉ với xu thế phân cấp quyền tự chủ tuyển sinh mà cả về mục tiêu phân tầng đại học. Trường nhỏ hay chất lượng trung bình sẽ ưu tiên xét tuyển bằng điểm thi tốt nghiệp THPT trung bình kết hợp đánh giá qua học bạ (theo các môn học tương ứng với ngành đào tạo cần tuyển); trường vừa hay chất lượng khá có thể yêu cầu xét tuyển với mức điểm thi tốt nghiệp cao hơn; trường lớn hay chất lượng cao có thể tổ chức thi riêng đối với các thí sinh đã đậu kì thi tốt nghiệp THPT. Vai trò chính của Bộ GD&ĐT khi đó không còn là những việc sự vụ trong tổ chức thi tuyển sinh với “nhiều chung” phức tạp, mà là cầm trịch đảm bảo chất lượng giáo dục phổ thông, điều tiết tổng thể quá trình chuyển tiếp giáo dục từ trung học lên đại học.

Trong quá trình chuyển tiếp đó, có một quy trình “một chung” mà chỉ duy nhất Bộ GD&ĐT mới có thể đảm trách: xây dựng hệ thống hồ sơ tuyển sinh đại học chung trong toàn quốc. Thực vậy, không thể phủ nhận những ưu điểm của mô hình “ba chung” áp dụng như nhiều năm nay, khi mà chất lượng kì thi tốt nghiệp THPT còn nhiều vấn đề, và khi quay trở lại tự tổ chức thi riêng theo từng trường như hai mươi năm trước cũng không phải giải pháp phù hợp. Nhưng điểm trở ngại lớn nhất của mô hình này chính là số lượng hồ sơ “ảo” quá cao, không thể kiểm soát được. Nguyên nhân chính là mỗi trường tự quản lí hồ sơ thí sinh một cách riêng rẽ, do đó dù Bộ GD&ĐT có phối hợp trao đổi dữ liệu thường xuyên với các trường thì cũng không có cách nào xác định được có chính xác bao nhiêu thí sinh thực sự, mỗi thí sinh nộp bao nhiêu hồ sơ, đăng kí những nguyện vọng nào, đi thi ở đâu, kết quả ra sao… Tham khảo mô hình tuyển sinh của nước Pháp, ta sẽ thấy một hướng đi khắc phục được những nhược điểm của “ba chung” bấy lâu nay, kết hợp hài hoà với lộ trình đổi mới giáo dục, cải cách thi cử mà chúng ta đang muốn đi theo. Một cách ngắn gọn, mô hình tuyển sinh “một chung” ở Pháp được tổ chức như sau:

  1. Bộ Giáo dục đại học và Nghiên cứu xây dựng một hệ thống đăng kí hồ sơ tuyển sinh trực tuyến thống nhất trong toàn quốc. Tất cả các trường đào tạo sau trung học cung cấp thông tin tuyển sinh của mình bên trong hệ thống này.
  2. Mỗi thí sinh tạo một tài khoản cá nhân duy nhất trên hệ thống; sau đó tự tìm hiểu và đăng kí dự thi vào các trường và ngành khác nhau, từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm, hoàn toàn qua Internet. Lãnh đạo và giáo viên các trường THPT có thể kết nối vào hệ thống để theo dõi và hỗ trợ học sinh trong suốt tiến trình đăng kí hồ sơ tuyển sinh.
  3. Các trường tuyển sinh sử dụng dữ liệu đăng kí dự thi từ hệ thống để chuẩn bị công tác tổ chức xét tuyển. Nếu trường có yêu cầu hồ sơ giấy, thí sinh sẽ in hồ sơ từ hệ thống và gửi kèm các giấy tờ chứng thực qua bưu điện. (Ở điểm này, quy trình nhập liệu ngược hẳn với cách làm ở Việt Nam vốn tốn kém nhiều công sức, tiền của, hiệu quả khai thác thấp mà tỉ lệ sai sót rất lớn.)
  4. Mỗi thí sinh có quyền đăng kí đến 36 hồ sơ dự thi, với tối đa 12 hồ sơ cho mỗi bậc đào tạo sau trung học (dự bị đại học, trung cấp kĩ thuật, cao đẳng cộng nghệ, cử nhân…), tự xếp thứ tự ưu tiên các nguyện vọng của mình và có quyền thay đổi cho đến trước khi diễn ra kì thi tú tài vào đầu tháng 6. Trong thực tế, trung bình mỗi học sinh chỉ đăng kí 10 nguyện vọng.
  5. Sau khi có kết quả thi tú tài, điểm được nhập vào hệ thống làm điều kiện ràng buộc (có khoảng 15 % thí sinh bị loại ở giai đoạn này), và các trường chuyển sang giai đoạn phê duyệt hồ sơ, gồm ba vòng, mỗi vòng kéo dài một tuần và giãn cách nhau một tuần. Hệ thống có những thuật toán đặc biệt để xếp hạng thứ tự ưu tiên dựa trên khả năng tuyển sinh của mỗi cơ sở đào tạo, danh sách hồ sơ thí sinh được hội đồng tuyển sinh mỗi trường quyết định phê duyệt ở mỗi vòng và danh sách các nguyện vọng của thí sinh.
  6. Ở vòng 1, hội đồng tuyển sinh của các trường phê duyệt hồ sơ đăng kí dựa trên các tiêu chí học thuật mà không biết rõ thứ tự nguyện vọng ưu tiên của thí sinh. Sau khi các trường phê duyệt, thí sinh nhận thông báo qua điện thư và có một tuần để trả lời (chấp nhận hoặc không), cũng qua Internet. Thí sinh nào không đạt nguyện vọng ở vòng 1 sẽ chờ thêm một tuần để hội đồng xét tuyển của các trường duyệt hồ sơ vòng 2 dựa trên số hồ sơ đăng kí còn lại. Sau đó họ lại có một tuần để quyết định chấp nhận hay không. Số không đạt nguyện vọng ở vòng 2 lại chờ thêm một tuần để có kết quả xét duyệt vòng 3. Tất cả những trường hợp còn lại, không đạt nguyện vọng ở vòng 3, sẽ còn một cơ hội cuối cùng là quy trình đăng kí bổ sung, vẫn qua Internet, vào những chương trình đào tạo còn khả năng tiếp nhận.
  7. Sau khi thí sinh được chọn và trả lời chấp nhận theo học tại một chương trình đào tạo nào đó (qua hệ thống trực tuyến), họ chỉ còn cần chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ chứng thực để đến làm thủ tục đăng kí nhập học theo lịch của trường trúng tuyển. Qua thực tế gần 10 năm triển khai hệ thống này tại Pháp, tỉ lệ đạt được nguyện vọng 1 của thí sinh ở ngay vòng phê duyệt đầu lên đến trên 90 %.

Xét về các điều kiện xã hội, kinh tế và kĩ thuật hiện thời, cũng như qua mọi kinh nghiệm tích luỹ được từ nhiều năm tổ chức thi “ba chung”, Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi nước Pháp để xây dựng hệ thống tuyển sinh “một chung”, với một số điều chỉnh nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh giáo dục hiện thời cũng như lộ trình đổi mới vừa mở ra. Hệ thống này sẽ không chỉ giúp giải quyết câu chuyện thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh, mà còn có thể tạo ra tiền đề cho nhiều bước cải cách mới cho toàn bộ nền giáo dục nước nhà, như cấp mã số sinh viên quốc gia; chuẩn hoá đặc tả sinh viên và chương trình đào tạo; nâng cao hiệu quả phân luồng, hướng nghiệp cho học sinh phổ thông; v.v.

Như vậy, trên tổng thể, giải pháp mới cho kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học có thể được triển khai theo một tiến độ hợp lí hơn như sau:

– Năm học 2013-2014: không thay đổi phương thức thi (tốt nghiệp THPT 6 môn, tuyển sinh “ba chung” với một số thí điểm tự chủ tuyển sinh); chuẩn bị dự án khả thi chi tiết cho giải pháp mới.

– Năm học 2014-2015: thi tốt nghiệp bắt buộc 8 môn văn hoá cơ bản; duy trì thi tuyển sinh “ba chung”; tiếp tục thí điểm tự chủ tuyển sinh; tập trung nguồn lực xây dựng hệ thống tuyển sinh “một chung”.

– Năm học 2015-2016: cải thiện quy trình và chất lượng thi tốt nghiệp bắt buộc 8 môn văn hoá cơ bản; triển khai hệ thống đăng kí hồ sơ tuyển sinh “một chung” nhưng vẫn duy trì kì thi tuyển sinh (bao gồm đề thi chung theo ba đợt như hiện nay, và các hình thức thí điểm tự chủ tuyển sinh) song song với kì thi tốt nghiệp THPT.

– Năm học 2016-2017: hoàn thiện quy trình thi tốt nghiệp bắt buộc 8 môn văn hoá cơ bản (với khoá tuyển sinh lớp 10 vào năm học 2014-2015); bãi bỏ kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; hoàn thiện và áp dụng hệ thống tuyển sinh “một chung” để xét tuyển đại trà theo kết quả thi tốt nghiệp THPT, cho phép các trường đặc thù tự chủ tuyển sinh để “phân tầng” đại học.

Một mặt, lộ trình này có thể giúp giải quyết được các vấn đề nổi cộm trước mắt, mặt khác vẫn đảm bảo tính đồng bộ giữa nhiều nhóm giải pháp khác nhau về trung hạn và dài hạn như xây dựng chương trình giáo dục quốc gia; đổi mới phương thức biên soạn và sử dụng sách giáo khoa; cơ cấu lại hệ thống phân ban, hướng nghiệp, dạy nghề; tăng cường liên thông giữa các cấp học và hình thức giáo dục, đào tạo; v.v. để thực sự đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà./.

Nguyễn Tấn Đại

Nghiên cứu sinh, ngành Khoa học Giáo dục, Đại học Strasbourg, Pháp

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Hướng cải cách

32 phản hồi »

  1. Đây là một bài phản biện nghiêm túc, nhiều công sức, sưu tầm tư liệu tốt, phân tích khá, khi lập luận không dùng đến phép so sánh, tổng hợp kém và kết luận phù hợp với giả thuyết ban đầu.

    Giả thuyết ban đầu ở đây là : 1- học sinh Việt Nam có một bộ phận (quan trọng) không đủ trình độ học Đại học và làm thế nào để loại họ ra, không cho vào ĐH. 2- Thày cô ở Việt Nam phẩm chất đạo đức kém và trong tương lai sẽ vẫn tiếp tục kém như vậy nên phải có biện pháp ngăn chặn sự tha hoá của họ (gian dối sửa học bạ, dạy thêm ép trò học, vv.). 3- Hệ thống GD của Pháp là hoàn hảo, ta chỉ có việc bắt chước họ mà thôi.

    Tôi sẽ tiếp tục bình luận về những giả thuyết này, và về một số lập luận trong bài.

    Số lượt thích

  2. Về phần tôi, giả thuyết của tôi là : 1- Học sinh Việt Nam rất giỏi, đủ khả năng học ĐH nếu muốn học (hai kỳ thi PISA và PASEC là những bằng chứng đáng kể, khi ra nước ngoài học, họ cũng học rất giỏi). 2- Thày cô Việt Nam có nhiều người rất tử tế và tâm huyết, còn những người xấu tính thì ta phải tìm cách loại ra khỏi ngành GD chứ không đổ tiền xây dựng cả một hệ thống để đối phó với họ. 3- Bạn Nguyễn Tấn Đại phải tìm hiểu thêm xem dân Pháp có hài lòng với hệ thống GD của họ không, các thày cô có hài lòng không, và ông Bộ trưởng Bộ GD Pháp có vất vả không ?

    Số lượt thích

  3. Tôi bắt đầu bằng cách trả lời câu hỏi trong giả thuyết thứ 3 của tôi (là GD Pháp cũng chưa ổn đâu, đang khủng hoảng). Ông Vincent Peillon bị 62% dân Pháp đánh giá là Bộ trưởng GD tồi (theo báo Le Point ngày 02/02/2014, hehe). Giáo viên Pháp nhiều người bị vấn đề về sức khoẻ tâm thần do trầm cảm (vì học sinh hư và dốt). GD Đại học thì có vẻ tốt nhưng sinh viên Pháp thì ít mà sinh viên nước ngoài thì nhiều. Các bậc phụ huynh rất đau đầu về việc học của con vì chúng không muốn học, và họ than phiền là con họ học ngoại ngữ kém.

    Số lượt thích

  4. Mở đầu, bạn Nguyễn Tấn Đại cho rằng mọi người hài lòng với phương án thi Tốt nghiệp mới (chỉ)) là vì giảm bớt môn thi. Nhưng nếu bạn ấy lắng nghe ý kiến của học sinh, thì sẽ thấy các em ấy nói là các em ấy rất vui mừng vì được tập trung học những môn mà các em ấy thi ĐH. Hai điều này có khác nhau không ạ ? Thưa có, khác nhau rất lớn. Một em lười thì sẽ mừng vì ít phải học đi, còn em chăm thì mừng vì được dồn sức học nhiều hơn nữa (vào môn mình chọn). Tôi cho rằng sự khác nhau lớn nhất về trình độ giữa hai người là ở sự chăm học. Người ta thích học, chăm học thì người ta sẽ học bền, chứ nếu đã lười, cứ bắt nó học để thi cho cố, thì thi xong nó cũng quăng sách luôn.

    Bạn Nguyễn Tấn Đại cho rằng việc chọn môn không có giá trị định hướng nghề nghiệp (tôi gọi là định hướng ngành học phù hợp), mà muốn trường phải phân luồng sẵn ngay từ đầu vào, vv. (đây mới chính là “học lệch” đây, cả một hệ thống phân luồng sẵn rồi bắt người ta học không cho chọn lựa thay đổi gì nữa!), đấy là bằng chứng rõ nhất về việc bạn ấy coi thường khả năng của cá nhân. Tôi cho rằng đây chính là sự khác nhau lớn giữa GD Việt Nam và GD phương Tây (Pháp chẳng hạn), phương Tây họ coi trọng năng lực cá nhân, hệ thống của họ nhằm vào nâng đỡ sự phát triển của cá nhân, chính vì thế mà họ đào tạo ra những nhân tài chói sáng khiến ta phải liếm mép thèm thuồng (GS NBC chẳng hạn).

    Tôi xin tạm dừng ở đây kẻo tôi lên tăng-xông.

    Số lượt thích

  5. Theo tôi, việc đầu tiên Bộ GD&ĐT đã làm được, là giảm gánh nặng cho học sinh. Nói chung, xã hội hiện nay và tuổi trẻ hôm nay, thay đổi quá nhanh. Nếu ta không theo kịp họ là ta mất họ… Ai cũng có thể học, nhưng ta cần tạo ra cho họ cái thú vị để học. Sau đó, ta nâng đỡ tất cả mọi em.

    Có lẽ, ta nên hãnh diện với phương án của mình, hơn là so sánh với ai khác…

    Số lượt thích

    • Bác Huyên, ở VN thường là “Thi gì Học nấy,” nên em coi đó là Học lệch. Nó chỉ phục vụ mục đích thi, do vậy việc chọn môn thi với cách học và ra đề thi như hiện nay thì không thể đạt được mục đích giảm tải thật sự.
      Còn “Học gì Thi nấy” thì mới có lý và hợp lý vì việc thi cử sẽ là thước đo trình độ kiến thức thực sự, chứ không phải là sự may rủi hay đánh đố học sinh. Vậy thì các nhà quản lý phải làm sao có được những ban bệ ra đề thi phù hợp với chương trình học, với khả năng của học sinh PT. Ngày xưa em nhớ là thi TNPTTH 92, có 3 môn chính là Toán Văn Ngoại Ngữ, rồi trước đó khoảng một tháng (em không nhớ kỹ) bộ GD mới tiết lộ là thêm môn LỊch Sử. Trong vòng thời gian rất ngắn tất cả hs mới học lịch sử, thi xong là quên hết. Vậy việc học đồng đều các môn, thi các môn với Nội dung phù hợp với Nội dung chương trình học cũng có cái hay là ai cũng phải Học. Giảm tải là giảm Nội dung kiến thức hàn lâm trong các chương trình học PT (đỡ tốn thời gian và công sức của học sinh) và đề thi tốt nghiệp THPT phải phù hợp với chương trình học PT đó. Chứ những kiến thức cơ bản thực sự thì ở PT Học sinh nào cũng nên biết, nếu không có thì muốn làm phiên dịch thì cũng sẽ dịch sai, học về IT nhưng lại không biết viết đơn xin việc chẳng hạn…

      Số lượt thích

    • Theo những gì tôi thấy, việc giảm gánh nặng cho học sinh của bộ GD vẫn chưa thật hiệu quả. Bộ quả đã có tâm huyết thực hiện giảm tải, nhưng vẫn còn quá nhiều môn học, bài học không mang tính chất thực tiễn và không cần thiết. Khi đã phân ra trong trường phổ thông các ban A,B,C,D…, tại sao vẫn cứ nhồi cho học sinh ban C,D những kiến thức về Từ Cảm, Lực Lorentz trong Vật Lý; các danh pháp và công thức của đầy đủ các loại chất hữu cơ trong Hóa học. Tại sao vẫn cứ bắt học sinh ban A,B học thuộc Sử, Địa, Văn làu làu như máy khâu để qua các kì thi rồi không nhớ bất kì thứ gì.
      Tôi thấy trong học sinh, những người đã đi học 12 năm trời, hỏi có mấy người nhớ nổi thứ tự các triều đại Việt Nam.
      Những gì chúng ta đạt được là những bước tiến lớn so với các thời kì trước, nhưng những bước của ta vẫn chẳng thấm vào đâu với nhịp chạy của xã hội, của thế giới. Tôi thấy ta không cần các đề xuất nhiều làm gì cho rối rắm, khi ta vẫn chỉ biết phác thảo giữa các quan chức với nhau, toàn lí thuyết rồi áp vào thực tế?

      Cái tôi đề xuất, là một giáo dục cho thực tế.

      Số lượt thích

      • Cho nên ở bên Pháp, khi phân ban học sinh, thì người ta khuyên là em nào cứ hỏi học để làm gì ( không thì nó không muốn học), thì không bắt nó học nữa, mà cho đi làm thôi, hihi. Vấn đề là, tri thức thì mênh mang, nếu ta không muốn học, thì làm sao nắm bắt được nó ? Tôi thì thấy là, được học với các thày cô giỏi, thật là một niềm vui lớn. Tất nhiên sự thông thái của họ làm ta choáng ngợp, nhưng chính là cách họ tiếp cận tri thức mới thật là thú vị. Mỗi người có một cách rất khác nhau. Tôi nhớ hồi đầu được học hai ông khác nhau về môn “Lý thuyết phê bình” (Les théories critiques), tôi hết sức kinh ngạc. Một ông (là ông trưởng khoa), giảng tất cả các lý thuyết từ hồi mới khai sinh ngành này cho đến những lý thuyết mới nhất (lúc đầu tôi cứ tưởng tôi phải học tất cả những lý thuyết ấy làm tôi lo quá!). Ông ấy vừa ra khỏi lớp thì ông kia bước vào, ông này vốn là nhà thơ. Ông ấy tỏ vẻ khinh thường tất cả mọi lý thuyết văn học, và nói rằng điều duy nhất chúng ta cần làm khi nghiên cứu một nhân vật văn học, là hãy tưởng tượng xem nếu chính mình là nhân vật ấy, thì mình cảm thấy thế nào ? Tất nhiên là mỗi ông đều phân tích một tác phẩm trong lĩnh vực nghiên cứu của ông ấy để minh hoạ cho phương pháp của mình, mà tôi phải công nhận là cái ông nhà thơ thì bài của ông ấy bay bổng hơn nhiều. Và tôi cho là hai ông đều không muốn học trò phải học tất cả những kiến thức của họ đâu. Họ chỉ cho sinh viên xem họ làm như thế nào, hay như thế nào, còn sinh viên thì phải cố mà làm cho hay bằng (hoặc hay hơn thế).

        Số lượt thích

      • Giáo dục thực tế mà Miley Duong đề nghị, thực ra là thuộc về lĩnh vực đào tạo nghề. Học nghề thì nhanh thôi, nghề đơn giản đào tạo chừng 3 – 6 tháng là làm nghề được, nghề phức tạp như lập trình viên tin học thì 3 năm. Nhưng đào tạo nghề thì phải tốn tiền, tốn nhiều tiền, so với giáo dục, đặc biệt là cơ sở vật chất, máy móc thực hành, tiền lương cho giáo viên nữa. Thường là giáo dục không kham nổi và như tôi nói, ở bên Pháp, phải có sự đóng góp rất lớn từ phía các doanh nghiệp. Các bác mà thấy tiền họ đổ vào thì các bác choáng váng luôn, hehe. Ví dụ mỗi năm, trong một khoa của một trường đào tạo nghề tin học trình độ cao, họ làm vài cái dự án mà mỗi cái tiền đổ vào cũng gần bằng cái dự án 10 năm của Viện toán cao cấp của GS NBC 🙂

        Số lượt thích

      • Hehe, nói lại, kẻo sợ tôi làm toán sai, tức là mỗi dự án khoảng 2-3 triệu euros, kéo dài 3 năm.

        Số lượt thích

      • Ah ! Mỗi lần tôi nghe ai hỏi tại sao ban A lại bắt học thuộc lòng sử địa làm gì, tôi chán quá !!
        Thứ nhất là, thưa các bác, học thuộc lòng để luyện trí nhớ ạ! Người nọ hơn người kia chủ yếu là ở cái trí nhớ tốt. Học xong thì quên đi, nhưng đến khi gặp lại nó ta sẽ nhớ lại. Một trong những bí quyết của việc học, chính là “học lại”. Khi còn bé, ta học càng nhiều thứ, thì lớn lên, khi đọc sách lại những vấn đề đó, ta sẽ nhớ ra và hiểu nhanh hơn. Khi còn bé, nếu các bác để ý, trẻ con ghi nhớ rất tốt. Tất cả những bài thơ tôi học thuộc lòng khi còn bé, bây giờ tôi vẫn nhớ. Các bác đánh giá quá thấp đầu óc của trẻ con. Tất nhiên là không nên ép buộc, ta có thể trình bày, giới thiệu cho trẻ con nhiều thứ, và để cho nó chọn (hoan hô Bộ GD về hai môn tự chọn!)

        Thứ hai là, những thứ mà các bác tưởng là vô dụng đối với ban A, thực ra nó không hề vô dụng. Bản chất trái ngược của các môn ấy nó giúp cho ta thư giãn. Khi các bác học toán căng thẳng quá, các bác có thể phát điên lên, nhưng nếu lúc đó các bác học một cái gì ngược hẳn lại, thì các bác sẽ thư giãn để rồi sau đó lại học tiếp môn toán của các bác. Nếu các bác để ý, sẽ thấy là ông NBC thích văn, ông VHV thích Sử, ông ĐTS thích Sinh vật (thú vật), ông NTD thích bói toán, ông Đông A thích Haiku, là những thứ chẳng liên quan gì đến nghề của họ cả, nhưng mà (có thể chính là vì vậy) họ rất giỏi trong nghề của họ.

        Số lượt thích

      • Tôi muốn nói thêm về học Sử. Tại sao học Sử?

        Lịch sử không những tiết lộ, ta từ đâu đến, mà còn buộc ta lại nữa; ngược lại, xa cách có thể biến ta thành thù địch. Thí dụ, sau nhiều ngàn năm xa cách, con người gọi nhau là quỷ hay thú, rồi hành hạ, bắt nhau làm nô lệ; trong khi, một đất nước bị chia cắt quá lâu không khỏi đưa đến bất đồng, lạnh lùng, vô cảm, trước sự đau khổ của anh em.

        Trong thế giới hôm nay, có khi cận kề, mà con tim thì xa xôi, như trường hợp chúng ta cho là mình khác nhau, là người khác, do tôn giáo, do chính trị, hay đảng phái bất đồng; có khi xa xôi, mà như thật gần, như khi chúng ta biết nhau thuộc về cùng một cái gì đó… lịch sử hay văn hóa.

        Hôm trước, tôi nói tôi có họ hàng với NBC, Tao. Hôm nay, tôi lại nói tôi là bà con với LH, TH, pham thang, Miley, … Không phải là vớ vẩn đâu nhá ! Tôi có cái lý do của nó. Tôi ghét đánh nhau, tôi ghét cả boxing. Tôi thà làm Clinton dan díu với Monica rồi xin lỗi Hillary, hơn làm Nixon đem B52 đi bỏ bom người khác. Hôm qua, tôi đọc lại mấy câu thơ của LH, hay quá, “Nhớ trong kỷ niệm tuổi hoa, Thương là đồng cảm như ta với người…”

        Anyway, Sử là như vậy, là những “kỷ niệm,” có khi ngọt ngào, có khi cay đắng, nhưng lúc nào cũng đáng yêu …

        Số lượt thích

      • Em thấy Bác Huyên nói những điều hơi mâu thuẫn với nhau. Bác nói về tình yêu thương và lên án sự vô cảm, nhưng bác lại coi nỗi đau tinh thần của bà Hillary không bằng nỗi đau thể xác. Cũng như có lần Bác nói về Biển Đông, của chung không phải của riêng ai, lúc trước ta sử dụng thì nay đến lượt TQ sử dụng… Vậy thì sao ở XH có nhiều VP luật sư chỉ cần sống bằng những vụ tranh chấp Tài sản giữa các thành viên gia đình, ruột thịt máu mủ, các vụ ly hôn với những đền bù lên đến hàng tỷ dollar…Tất cả các cuộc chiến tranh, xung đột cũng chỉ vì miếng cơm, manh áo, những vụ scandals ngoại tình cũng chỉ vì lòng tham, dục vọng của con người. Nếu nói về tình người, thì có lẽ nên bắt đầu từ lời ăn, tiếng nói hàng ngày, chứ không chỉ văn hay, chữ tốt. Nếu nói về đạo đức thì bắt đầu từ việc giúp đỡ người ngay bên cạnh, chứ không phải nhắc đến các nạn nhân của B52. Em có người Bác ruột giờ đã gần 90, cả tuổi Thanh Xuân làm Thanh niên xung phong, phụ trách cả một đội toàn chị em phụ nữ làm đường ở Tây Bắc. Chiến tranh đã cướp đi tất cả! Họ từng là các cô gái trẻ xinh đẹp, giờ về già không chồng con, phải nương tựa vào họ hàng. Vậy mà sau Chiến Tranh bác em không bao giờ tỏ ý hận thù với người Mỹ, còn giúp em làm nem để mời một gia đình giáo sư Mỹ đến Giảng dạy ở trường ĐH ở HN mà em quen. Ông giáo sư này trước kia còn làm cho CIA thời chiến. Nếu bác em nghe chuyện Clinton dan díu ở ngay phòng làm việc với cô Lewinsky, sau lưng bà Hillary, chắc bác em mới ghét thực sự 😉

        Số lượt thích

      • Ông Montesquieu ông ấy nói là, khi đàn ông họ thề chung thuỷ mãi mãi với một phụ nữ, đấy là vì họ tin rằng phụ nữ cũng thề rằng cô ấy sẽ mãi mãi dễ thương như thế. Cho nên là, nếu cô ấy không giữ lời, thì các ông ấy cũng cho là mình không có nghĩa vụ phải giữ lời !?

        Số lượt thích

      • Đàn ông hay phụ nữ khi đi ngoại tình bao giờ cũng có ít nhất một lý do …mà họ cho là thích đáng, chứ không phải nhờ cậy đến câu nói nổi tiếng của những người nổi tiếng, LH ạ. Bản chất con người là khi bị bắt lỗi thường đẩy lỗi do ngoại cảnh, sợ trách nhiệm, sợ bị mọi người lên án. Nếu tất cả những hành động xấu được che bởi tấm màn đen kịt, không ai nhìn thấy được, thì những hành động đó vẫn tiếp diễn. Con người vẫn không bị day dứt lương tâm vì lúc nào cũng tự Thanh minh được cho những hành động xấu của bản thân. Con người chỉ sợ BỊ PHÁT HIỆN thôi. Ông Clinton xin lỗi bà Hillary là không thể nào thành thật. Bác Huyên còn thật hơn ông ấy, hihihi, nghĩa là sẽ nói toạc ra với Bà Hillary là mình thích sự trẻ trung, tươi mát (young and fresh) cơ. Rồi đến kỳ nghỉ Bác Huyên cũng sẽ dũng cảm thông báo với toàn dân (theo gương ông linh mục của Bác) rằng Bác sẽ đi nghỉ với cô Lewinsky và cha mẹ cô ấy 🙂

        Số lượt thích

      • Phóng lao thì phải theo lao. Đã nói chuyện Clinton, thì phải nói cho trót… Xin lỗi đã đưa ra một vấn đề nhạy cảm, nhưng tôi không kêu gọi cuộc sống bừa bãi hay ngoại tình tùm lum đâu. Tôi đồng ý với các bạn, mình cần có phẩm hơn lượng. Việc học cũng thế, mà cuộc đời này cũng vậy.

        Ở Mỹ, “cheating on marriage” hay “gay” là những chuyện khó ăn nói. Vì sợ nó thái quá, mà người ta phản ứng ngược lại, rồi thì ở với nhau mà không kết hôn, hay đi đến việc hôn nhân đồng tính… Tôi không cho “chợ tình” của người Yao ở VN mình là xấu, nhưng chính ta đã làm cho nó trở thành xấu. Tôi kêu gọi sống hòa bình bác ái với nhau, mà nếu lỡ “ngoại tình” xẩy ra, thì cũng là chuyện có thể tha thứ được. Chiến tranh VN là chuyện đau thương, nhưng nếu học hỏi, sẽ làm ta xích lại với nhau hơn. Tại sao ta không biến negatives thành positives được nhỉ? Có lẽ, tôi cũng có mâu thuẫn đâu đó và tôi cần những người trẻ, như TH, correct lại cho tôi.

        Thứ Tư này bắt đầu mùa Chay. Cũng vui lắm ! Có nhà thờ tổ chức lễ tro, có nhà thờ, như Baptist, thì bỏ hết mọi lễ nghi. Giáo hội CG bảo thủ hơn vẫn còn xức tro lên trán và LM nói rằng: Homme, souviens-toi que tu es poussière et que tu retourneras en poussière. (Hỡi người, hãy nhớ mình là tro bụi, sẽ trở về bụi tro). Ở Âu châu, chắc chẳng còn mấy ai đi dự lễ này nữa. Trái lại, trước lễ một ngày, họ còn có Mardi Gras, ăn chơi cho thỏa thích. (Quy luật nó tự tìm đường mà đi, cái đạo nó sẽ tự chỉnh đốn lại đời sống con người)

        Số lượt thích

        • Tôi thấy vấn nạn ngay lúc này là chủ đề được chuyển quá nhanh và quá sắc sảo 😀 Chuyện tình cảm, chuyện gia đình đương nhiên là chuyện mỗi nhà mỗi cảnh, mỗi người mỗi khác. Đối với quan niệm của tôi, một cuộc hôn nhân hạnh phúc không phải là ngày ngày cơm lành canh ngọt, mà là việc những thành viên trong tổ ấm ấy cùng nhau vượt qua gian khó của cuộc sống gia đình. Ngoại tình không hẳn là đã hết yêu người bạn đời của mình, và những người gặp tình huống này, tôi nghĩ, là luôn cần bình tĩnh và khôn ngoan :3 Không có khó khăn, thì sẽ nhạt lắm.

          Số lượt thích

  6. Có lẽ tác giả không có những ý như bạn lan hưong comment ở trên. Tác giả cũng có một số ý đồng quan điểm với bạn đấy.
    Tác giả không khen hệ thống GD của Pháp là hoàn hảo, mà chỉ nói đến hệ thống tuyển sinh “một chung”. Ngoài ra ở ngay phần đầu tác giả cũng nhắc đến “trong thực tế trường lớp, có không ít thầy cô dạy hay, được học trò yêu mến, mong muốn… ” , vậy tác giả không nói giáo viên ai cũng kém và phẩm chất xấu đâu. Về vấn đề định hướng nghề nghiệp qua việc chọn môn Thi mà bộ GD nhận định cũng không thực tế cho lắm. Tác giả nói có phần đúng vì thực tế, không phải học sinh nào chọn môn Hoá và Sinh là theo ngành Hoá, Dược, hay chọn Sử, Địa là theo ngành khoa học XH. Những người xung quanh mình, học một ngành, làm một ngành khác. Hồi học PT và ĐH không có ai chuyên ngữ, nhưng giờ phải làm việc với các đồng nghiệp trên toàn TG thì ai cũng phải nói và viết bằng tiếng Anh. Học qua thực hành là nhanh nhất, hiệu quả nhất. Học PT là học kỹ năng tiếp thu và vận dụng kiến thức cơ bản vào cuộc sống thôi. Vấn đề Cần quan tâm theo cá nhân mình là làm sao các cán bộ quản lý của bộ GDVN làm quen được với phương pháp quản lý và tổ chức mới phù hợp với kỳ thi TN PTTH mới này. Còn nếu quản lý lỏng lẻo, tổ chức kém thì làm sao đạt được mục đích.

    Số lượt thích

  7. Tôi tôn trọng quan điểm của tác giả trong bài viết này. Nhưng cá nhân tôi có suy nghĩ khác một chút về vấn đề thi cử này.

    Trước hết, phải nói rằng cá nhân tôi không đồng tình với quan điểm xem việc cải tiến thi cử là khâu đột phá trong việc tiến hành “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục” của Bộ GD hiện nay. Có 3 lý do tôi không đồng tình là:

    – Một, cá nhân tôi nghĩ có 3 yếu tố quan trọng nhất của công việc dạy học là: Người Thầy giáo (xin hiểu ở nghĩa rộng bao gồm cả người Thầy trực tiếp giảng dạy và người Thầy làm công tác quản lý); quyển sách, cái thư viện trong một cơ sở đào tạo (đối với bậc đại học quan trọng là giáo trình, sách tham khảo; ở bậc phổ thông là sách giáo khoa….); và phương pháp dạy học (phương tiện, kỹ năng dạy học (phương pháp cơ học) và phương pháp tư duy…). Vì thế, nếu muốn đổi mới toàn diện nền gd VN hiện nay lẽ ra cần xuất phát từ 3 khâu quan trọng này, vì hiện nay 3 khâu này rất yếu nếu không muốn nói là khủng hoảng rất nghiêm trọng.

    – Hai, dẫu biết rằng việc tổ chức thi, kiểm tra như thế nào cho phù hợp cũng là điều rất đáng bàn nhưng nếu xác định đây là khâu đột phá cho việc đổi mới toàn diện nền giáo dục thì e rằng hơi ảo tưởng. Vì lẽ, như mọi người đã nói thật ra đã học thì phải thi để kiểm tra năng lực là chuyện đương nhiên nên có gì đâu mà phải ồn ào và ầm ĩ lên trong khi những cái mấu chốt, tối quan trọng thì chúng ta không chịu “đụng” đến. Ngoài ra, cũng nên nhớ rằng kết quả mọi kỳ thi đều mang ý nghĩa của sự chứng nhận hơn là một sự đảm bảo chắc chắn về năng lực của người dự thi (đó cũng là lý do tại sao các trường đại học hàng đầu thế thế họ tổ chức thi, xét tuyển rất chặt chẽ “đầu vào” nhưng họ còn làm chặt chẽ hơn nhiều ở “đầu ra”. Đơn giản thôi, vì theo họ cái quan trọng là năng lực của người học trong suốt quá trình học – cái mà họ thường xuyên và trực tiếp nhìn thấy). Ở VN, hẳn mọi người đều biết học sinh phổ thông ngoài 2 kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học còn có 2 kỳ thi khác nữa đó là thi học kỳ 1 và học kỳ 2 trong 1 năm học (thậm chí có nơi còn tổ chức thi giữa kỳ nữa) đó là chưa nói những bài kiểm tra miệng, kiểm tra 1 tiết…Cho nên, cá nhân tôi nghĩ lẽ ra nên quan tâm đến chất lượng của các kỳ thi này của học sinh trong suốt quá trình học hơn là kỳ thi tốt nghiệp cuối cấp. Chúng ta thử hình dung các em học sinh vừa thì xong học kỳ 2 ở lớp 12 (thường đề thi do Sở giáo dục địa phương ra chung) thì phải lao vào thi tốt nghiệp và sau đó là thi đại học. Vì thế, dù ở đây chúng ta có giảm bớt môn thi đi nữa thì áp lực vẫn còn đó. Không những vậy, khi nào chúng ta còn quá đề cao đến kỳ thi tốt nghiệp phổ thông này thì tâm lý dạy và học để đối phó của thầy và trò ở phổ thông sẽ vẫn còn.

    – Ba, cho nên trong hoàn cảnh của VN hiện nay, trong trường hợp nếu buộc/phải xem việc đổi mới thi cử là trọng tâm, là khâu đột phá của cuộc “đổi mới toàn diện nền gd” thì cá nhân tôi cho rằng hãy để việc quyết định thi hay không thi tốt nghiệp phổ thông cho các Sở đào tạo ở địa phương tự quyết. Bộ giáo dục chỉ nên tập trung sức lực vào 1 kỳ thi chung là thi đại học, cao đẳng…. (Tuy vậy, việc xét tuyển đại học cũng nên giao lại cho các trường đại học tự quyết trên cơ sở kết quả kỳ thi này cùng với kết quả trong 3 năm học phổ thông, – dĩ nhiên tùy vào quan điểm của mỗi trường). Việc để cho các Sở giáo dục tự quyết vấn đề thi tốt nghiệp phổ thông có những thuận lợi sau đây:

    + Thật sự giảm tải áp lực thi cử cho thầy và trò ở phổ thông. Thầy và trò sẽ có trách nhiệm và cố gắng hơn để chuẩn bị cho kỳ thi đại học, cao đẳng với một tính chất sàn lọc ở “đẳng cấp” cao hơn.
    + Có cơ hội thủ tiêu “bệnh thành tích” giữa các địa phương (một sự cạnh tranh ngầm qua tỉ lệ thi tốt nghiệp do Bộ tổ chức lâu nay).
    + Phù hợp với tình hình, điều kiện đại lý vùng miền của mỗi địa phương ( ví dụ hiện nay có địa phương hàng năm bị thiên tai bão lũ nên buộc phải cho học sinh ngưng học tạm thời nhưng vì để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp chung của Bộ họ phải tăng ca, dạy thêm, dạy trước chương trình trong dịp hè…rất mệt mỏi).
    + Nâng cao trách nhiệm và tính chủ động của Bộ ở khâu thanh tra và hậu kiểm, phân loại và đánh giá chất lượng giáo dục ở các địa phương. Có cái nhìn khách quan hơn về vấn đề này để kịp thời chấn chỉnh. (Ví dụ Bộ sẽ thông qua tỉ lệ học sinh ở địa phương đó đỗ vào các trường đại học nhất là những trường đại học có chất lượng có uy tín trong và ngoài nước… như 1 tiêu chí để đánh giá. Từ đó sẽ biết địa phương nào thật sự quan tâm đến chất lượng giáo dục…). Thậm chí có quyền đề nghị cách chức giám đốc Sở địa phương nếu xảy ra tiêu cực; báo cáo lên cấp trên về trách nhiệm liên đới của những lãnh đạo địa phương (Bí thư, Chủ tịch tỉnh)… về những tiêu cực và sự sa sút về chất lượng giáo dục ở địa phương do họ quản lý đó (dựa trên những tiêu chí mà Bộ đã dùng để phân loại đánh giá)…
    + Cũng xin nói thêm, có ý kiến cho rằng bỏ thi tốt nghiệp thì học sinh sẽ không học. Chuyện này đúng không? Theo tôi, suy nghĩ như vậy là phiến diện và chưa thấu đáo. Thật ra nguyên nhân chính của việc học sinh không học hay có tâm lý chán học là do 3 yêu tố quan trọng trong giáo dục mà tôi vừa nêu ở trên “có vấn đề” hơn là do thi hay không thi. Hơn nữa, không thi tốt nghiệp phổ thông nhưng còn kỳ thi đại học kia mà. Nếu Bộ tổ chức tốt kỳ thi này làm cơ sở để các trường đại học tự chủ trong tuyển sinh đại học thì chúng ta cũng không lo gì học sinh phổ thông không học. Vì tôi tin là phụ huynh của các em và các em hiểu và ý thức được với tấm bằng tốt nghiệp phổ thông trong tay hay giấy chứng nhận đã xong 12 năm phổ thông (trường hợp địa phương nào không tổ chức thi) thì các em cũng không đủ trình độ và năng lực để lập thân về sau. (ở đây xin hiểu là tôi nói trên tinh thần chung chứ không phải nói với suy nghĩ gây áp lực để các em phải nhất định vào đại học, hay đại học là con đường duy nhất).

    Số lượt thích

  8. Tôi nghe như có tiếng khóc của các em bé,
    tiếng gào thét tủi nhục của thanh niên:
    Hãy trả lại cho chúng tôi, bàn ghế, sách vở, bút mầu.
    Cho chúng tôi quyền đi học và quyền sống.
    Chúng tôi không cần thi cử,
    hay đỗ đạt làm quan.
    Hãy trả lại cho chúng tôi, tuổi thơ cùng tuổi học trò,
    để trên những con đường gập ghềnh sỏi đá,
    chúng tôi có thể đi lại chào hỏi và thăm nhau.

    The Peak from Christian Mulhauser

    Số lượt thích

    • Em Sandra còn nói với tôi:
      Con quen viết tay trái, mà bà nội cứ bắt con viết tay phải. Nếu không nghe, bà nội sẽ tát con sưng miệng. Bây giờ, con có thể viết được cả hai tay, nhưng bình thường thì con viết tay trái, vì khi viết tay phải, con cảm thấy cái gì, không phải là của con.

      Số lượt thích

  9. Thưa mọi người, liệu mọi người có nghĩ đến những thứ vô nghĩa không cần thiết mà học sinh THPT đang phải nhồi nhét vào đầu hàng ngày để đáp ứng nhu cầu thi ĐH hay không? Liệu với chương trình học không hề có ý nghĩa gì với cuộc sống thực tế như thế thì việc thi 1 môn cũng đã là quá đáng rồi. Mọi người hỏi ý kiến giáo viên, ý kiến phụ huynh, ý kiến các ban ngành, có ai hỏi học sinh không? Chưa kể nước ta còn phân ra trường Chuyên/Năng Khiếu, trường công lập và trường dân lập. Mỗi học sinh có một định hướng nghề nghiệp riêng, một lí tưởng và hoài bão riêng. Để cho học sinh thi 8 môn thì thực sự tôi thấy, đỗ tốt nghiệp rồi sẽ trượt Đại Học.

    Đúng là phải để bác Bộ trưởng đi học thì mới thấy cái bất lực của học sinh như thế nào, khi mà cứ ngày ngày hứng mặt lên để chịu cải cách, chịu chủ trương này đường lối nọ. Học sinh cũng là con người mà thôi. Liệu con người không có quyền quyết định mình học gì sao?

    Giáo dục là vấn đề của cả văn hóa, nền nếp, tư tưởng, tài chính, định kiến, …?
    Đến bao giờ thì giáo dục mới là vấn đề của người đi học?
    Đến bao giờ thì nền giáo dục mới đủ sức giữ chân các nhân tài?

    HIện trạng to lớn hơn cả những lỗ hổng giáo dục, là ước mơ của một phần nhiều (và đang nhiều thêm) học sinh có hoài bão và lí tưởng, không hướng tới nước nhà?

    Mong mọi người xem xét

    Số lượt thích

    • Suy cho cùng bạn nói có lý! Hồi thi ĐH cách đây hơn 20 năm, tụi mình cũng học ngày học đêm để cùng nhau vượt qua ngưỡng cửa ấy mà không dám lên tiếng với Bác Bộ Trưởng bộ GD như bạn hôm nay. Lúc đó thi Tốt nghiệp PTTH chỉ là phụ, còn ĐH mới là cái đích. Vào ĐH mới thấy vô lý vì những kiến thức ở lớp luyện thi đúng là chỉ để thi, chứ học ĐH có gì cao siêu đâu. Khó với nhiều bạn là khó ở vấn đề lấy tiền đâu để đi Học ĐH và học ĐH ở đâu cho có chất lượng.
      Sau 20 năm, các bạn học sinh ngày nay đã có nhận thức sắc sảo hơn học sinh ngày xưa, biết nói lên bức xúc, biết cái gì bất hợp lý và Cần thiết phải sửa, biết nhắc nhở XH rằng Học Sinh là đối tượng cần quan tâm. Vậy những nguyện vọng chính đáng của Học sinh phải được quan tâm, nghiên cứu và đưa vào thực hiện. Chỉ có điều nếu bộ GD chỉ đổi mới là để đối phó với tình hình trước mắt, chứ không phải thực hiện theo nguyện vọng chính đáng của học sinh một cách dài lâu, thì sẽ tốn tiền của nhà nước, tốn sức lực và thời gian của học sinh, giáo viên.
      Mình vẫn coi việc thay đổi cách dạy và học, cũng như cách quản lý mới quan trọng. Nếu học đối phó mãi cho các cuộc thi thì sẽ sức sẽ cạn kiệt và kiến thức thì vẫn hổng!

      Số lượt thích

    • Cứ đọc những comment như vầy mà bảo mình không sùng lên thì chẳng hoá mình là tiên à ?
      Dân mình rất mâu thuẫn, vừa đòi cải cách, vì không chịu nổi nữa, vừa kêu gào “ngày ngày hứng mặt lên chịu cải cách”! Muốn gì thì phải nói to nói rõ lên thì người ta mới hiểu được chứ ? Sống trong xã hội thì cũng phải chịu ràng buộc của xã hội chứ, muốn thích gì làm nấy thì cứ sống cá nhân riêng rẽ ra thôi.
      Mà tôi cứ nghe những người chỉ trích thay đổi, mà tôi ngạc nhiên luôn. Quanh ta mọi thứ thay đổi không ngừng, thế giới thay đổi, xã hội thay đổi, thiên nhiên thay đổi, chính mình cũng thay đổi, thế mà họ lại không muốn thay đổi (biện chứng, biện chứng?). GS Văn Như Cương còn hăm doạ Bộ GD là đừng có thay đổi thường xuyên (việc ông ấy đòi cam kết 3 năm mới thay đổi một lần thì tôi thấy tạm được), chắc là ông ấy muốn tắm hoài trên một dòng sông. Cho nên học sinh mới phải tắm liền 15 năm hay hơn nữa tôi không rõ, trong cái ao tù toán học của ông ấy! (Tôi còn muốn thêm vào vài câu văn vẻ, về hậu quả của việc tắm ao tù, mà sợ bị nói là khích bác, hoặc là bị xoá comment).

      Số lượt thích

    • Còn việc học sinh mình muốn đi du học, rồi không về nữa, thì tôi cũng muốn nhân tiện trả lời luôn cả bác namviet, mà hồi này chẳng thấy bác ấy đâu nữa, bác admin có tin tức gì không ạ ?
      Tôi thấy việc ấy RẤT TỐT !!! Sao các bác lại nghĩ rằng sinh viên du học ở lại nước ngoài là lãng phí cơ chứ ? Trước tiên các bác phải biết là đóng góp cho nhân loại cũng là đóng góp cho xã hội của chúng ta. Chúng ta học hành, trước là cho bản thân, rồi cho cha mẹ, cộng đồng, đất nước, rồi cho thế giới, nhân loại, tất cả nó phải theo một dòng chảy như vậy chứ ? Đấy là chưa kể, Việt kiều họ đóng góp cho đất nước rất là nhiều (10% GDP, nếu tôi không nhầm), và mạng lưới giáo sư người Việt trong các trường ĐH nước ngoài họ phát huy tác dụng như thế nào, các bác có biết không ? Tại sao lại cứ phải về Việt Nam ôm nhau thì mới là yêu nước ? Tôi chỉ mong Bộ GD và nhà nước có chính sách gửi sinh viên xuất sắc đi du học, sau đó tụi nó muốn làm gì thì làm.
      Các bác tưởng ở nước ngoài sướng lắm à ? Lạnh lẽo, làm việc căng thẳng, ăn toàn mấy thứ rau tây toàn là củ quả không à. Muốn ăn một bó rau muống, trả 8 euros, chắc khoảng hơn 200000 VNĐ. Nhà thì không có nhà riêng như ở VN đâu nhé, đi thuê thôi, mất việc là ra đường ngay, tiền thì cũng chẳng có dư mà mua vàng cất như thày cô nghèo ở VN đâu nhé. Nhưng mà ở Tây văn minh, điều kiện học hành, làm việc tốt, nên cuộc sống có chất lượng cao. Nhìn bọn trẻ con sung sướng sởn sơ, học hành giỏi giang, thì mình cũng không mong gì hơn nữa.

      Số lượt thích

      • Trào lưu thế giới hôm nay là hoạch định và cạnh tranh. Hoạch định có nghĩa là huấn luyện và học hành. Cạnh tranh đồng nghĩa với làm việc và phục vụ. Nếu bạn không hoạch định sẽ có người khác hoạch định cho bạn. Nếu bạn không cạnh tranh, sẽ có người khác cạnh tranh giúp bạn. Bởi vì, sẽ không còn ai lên thiên đàng một mình. Bởi vì, sống là sống cùng, và tu là tu chung…

        Việc bạn hãnh diện là người VN sẽ chẳng làm hao hụt đi việc tôi hãnh diện là người Ái nhĩ lan. Cùng một đời, nhưng chỉ khác nhau, ta sống nhiều hay ít, và ta biết mình làm gì và đang đi về đâu !

        Số lượt thích

    • Lát nữa tôi sẽ nói tiếp cho các bác nghe về việc giáo dục ở bên Tây nó thay đổi liên tục như thế nào, với lại việc “học những thứ vô dụng” để làm gì ?

      Số lượt thích

  10. GS Văn Như Cương chắc là đồng ý với bạn Lê Tấn Đại. Ông ấy đang sợ thi Tốt nghiệp sẽ đậu 99,9%, thế thì thi để làm gì ? Tôi thì thấy là có cho đậu luôn 100% cũng chẳng sao. So với việc thi đậu 98% thì cũng không có gì khác mấy. Vấn đề là, ta cứ tìm cách thi cử làm sao để phân loại được ra một phần trăm nhỏ những học sinh ngu ngốc nhất (các em thi rớt), trong khi mà, theo tôi, đã mất công phân loại thì phải phân loại ra những người giỏi nhất, giỏi nhì… chứ còn bọn ngốc nhất thì cứ để cho chúng yên, chứ tốn tiền nhận diện chúng để làm gì ? Không chừng có khi đó lại là những người đặc biệt, suy nghĩ khác với cả xã hội nên bị ghét.

    Và tôi cho là cách thi mới của Bộ Giáo Dục sẽ cho chúng ta một loạt tiêu chí để phân loại những học sinh giỏi nhất, giỏi ngành nào, giỏi bền hay là không, không những thế còn phân loại cả giáo viên lẫn các trường ĐH 🙂

    Trường của GS Văn Như Cương, và nghe nói nhiều trường khác, không có ai chọn thi môn Sử, điều này khá lý thú. Lịch sử là một môn học rất hay, đó là quá khứ của chúng ta, các nhà lãnh đạo không thể lãnh đạo tốt nếu không nắm vững lịch sử. Bossuet nói rằng ngay cả khi dân chúng không còn có ai học lịch sử nữa, thì lịch sử vẫn phải được dạy cho những ông hoàng. Tôi nghĩ rằng không vì học sinh không chọn thi Sử mà Sử chết, hay là “bị một đòn chí mạng”, như báo chí nói. Chúng ta vẫn phải tiếp tục đầu tư cho môn Lịch sử như nó xứng đáng được vậy, và cuối cùng tôi sẽ thích được thấy một môn học sẽ được người ta học vì nó quan trọng, vì nó hay, chứ không phải học để đi thi. Bạn TH chắc sẽ không phiền vì việc “thi gì học nấy nữa”, có phải không ạ ? (Tôi còn muốn nói vài điều về việc học ngành này đi làm ngành khác, với lại “học qua thực hành là nhanh nhất, hiệu quả nhất”, nhưng mà sợ bạn ấy giận, nên tôi phải nhịn).

    Số lượt thích

    • Ôi “Nguyễn Tấn Đại”, xin lỗi !

      Số lượt thích

    • Bạn hiểu ngược ý mình rồi đấy! Mình viết rằng “Học gì thi nấy” chính là Nội dung thi phải phù hợp với Nội dung Học! Nghĩa là đề thi không được vượt ra ngoài Nội dung chương trình đã Học! Còn kiểu “Thi gì Học nấy” thì người học chỉ là đối phó, không có chút thú vị hay coi đó là quan trọng cho kiến thức của cá nhân. Chính điều này bạn cũng đồng ý như ở comment của bạn đấy!
      Bạn có biết tụi mình học phân ban lúc đó là thí điểm cho bộ GD?! Tài liệu trên Sở GD soạn không ra một cái gì! In sai, Nội dung không chính xác, tuần này Học nhưng không biết tuần sau Học cái gì…Sách sử thì như một quyển in nháp, toàn các sự kiện mà không có thông tin chi tiết hay phần Bình luận đánh giá. Đề thi môn Sử lúc đó đòi hỏi Học sinh chúng mình viết những câu trả lời y như trong sách, do Vậy Học sinh không có cách nào khác lÀ Học Thuộc Lòng! Lịch sử là môn quan trọng, chính vì thế sách GK phải được biên soạn công phu, kỹ càng. Qua thực tế mới lộ rõ ai hiểu về lịch sử hay ít ra là quan tâm tới lịch sử. Những ai xem tin tức mà không biết suy xét xem người ta bình luận các sự kiện khách quan hay không, cũng là do được Học môn lịch sử sai lệch! Rất vui vì bạn LH có quan tâm đến môn Lịch Sử, mà Học ngoại ngữ thì bao giờ cũng có môn lịch sử mà.
      Còn chuyện “Học ngành nào không có nghĩa là làm ngành đấy”, thì dĩ nhiên bạn sẽ có ý kiến khác! Chúng ta mỗi người có một hướng đi khác nhau, nhận thức về cuộc sống khác nhau, nên làm sao cái gì cũng giống nhau được. Bạn không nên tiếp tục nghĩ là ai giận bạn vì bạn có ý kiến khác, bạn nên nghĩ là nếu từ ngữ được dùng mang nặng cảm tính, khích bác, đả kích thì mới là điều không nên trong một diễn đàn. Chúc bạn có những ngày nghỉ vui với người thân. Bên mình ở là kỳ nghỉ Fasching (Karneval) 🙂

      Số lượt thích

    • Tôi khuyến khích các bạn học Sử và Địa. Không biết sử, chúng ta không biết mình từ đâu đến. Không biết địa lý, chúng ta không biết mình đang ở đâu.

      Trong sử địa, chúng ta thấy có 2 nền văn hóa. Ở đông phương, học để thi, ra làm quan. Ở tây phương, học để biết, trau dồi kiến thức. Đại học đầu tiên là đại học Bologna, 1088, từ đó mới đặt ra cái từ University.

      Ở Mỹ, họ viết lịch sử thế giới bắt đầu từ khoảng 500BC, gọi là tiến trình dân chủ. Nếu tôi viết lịch sử thế giới, tôi sẽ gọi là tiến trình của Đạo, bắt đầu từ 50 000 BC, khi con người ra khỏi cái nôi Phi châu.

      Số lượt thích

  11. Cái tư duy giảm tải thi là vô cùng sai lầm, trái tự nhiên. Sống là phải thi. Cả đời là phải thế. Từ khi là con “nòng nọc” được ông bố phun vào bà mẹ nó đã phải thi một cuộc thi với tỉ lệ chọi là 1/ hàng triệu. Sinh ra là phải thi với những trẻ cùng lứa mà thất bại tức là chết. Lớn lên là phải thi với người xung quanh để khẳng định vị trí, giành được, giữ được vị trí mà cái giá là cả cuộc sống. Già là phải thi xem ai dẻo dai, giỏi bám trụ ( 😉 ). …
    Như vậy, sống là phải thi.
    Vấn đề là thi cho đàng hoàng! Chứ chẳng phải giảm thi kiểu lố bịch thế này.
    “thi gì học nấy” không được hiểu hẹp là mấy kì thi của Bộ đâu Lan Hương ạ. Thi là sự phấn đấu, vươn lên. Ai có hướng phấn đấu thế nào thì học để đạt được điều đó. Người hướng tới mục tiêu xa, tới những cuộc thi lớn thì có thể không tốt lắm khi thi mấy kì của Bộ nhưng sau đó sẽ vươn lên cao hơn, xa hơn. Người hướng tới mục tiêu trước mắt thì có vẻ thành công mà sau sẽ vô cùng khó khăn vì chỉ mới học để thi cái trước mắt. Cho nên “thi gì học nấy” là đúng, và cái cần là gợi cho trẻ về những tương lai xa hơn mấy cái kì thi ngớ ngẩn trước mắt (tất nhiên ngớ ngẩn vẫn phải qua mới đi xa hơn được).

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: