How We Learn

Về dự thảo đề án xây dựng, triển khai chương trình và SGK phổ thông sau năm 2015 – Nguyễn Minh Thuyết

Nghiên cứu bản dự thảo Đề án xây dựng, triển khai chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông và 5 tài liệu kèm theo (Chương trình tổng thể GDPT; Dự thảo Báo cáo thuyết minh đề nghị ban hành Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình GDPT; Dự thảo Báo cáo đánh giá tác động của Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình GDPT; Dự thảo Báo cáo đánh giá khái quát chương trình, SGK phổ thông theo Nghị quyết 40/2000 của Quốc hội; Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình GDPT), tôi thấy có nhiều điểm mới và tán thành về cơ bản những nội dung sau:

– Đánh giá chương trình, SGK phổ thông hiện hành (triển khai theo Nghị quyết 40/2000 của Quốc hội);

– Quan điểm xây dựng chương trình GDPT sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực của học sinh;

– Kế hoạch, lộ trình xây dựng chương trình, biên soạn SGK phổ thông sau năm 2015.

Trong tham luận này, tôi chỉ nêu lên những vấn đề cần được cân nhắc thêm, cụ thể là những vấn đề sau đây:

1. Về tên Đề án

Tên Đề án chưa đảm bảo yêu cầu chuẩn mực về tiếng Việt, cụ thể là:

– Trong tiếng Việt, có thể nói “xây dựng chương trình”, “triển khai chương trình”, chứ không ai nói “xây dựng SGK”, “triển khai SGK”.

– Tương tự, chỉ có thể nói “chương trình GDPT”, chứ không thể nói “SGK GDPT” vì nói như vậy là trùng lặp ( “SGK” đương nhiên là sách dùng trong “giáo dục”).

Không thể bắt đầu công việc đổi mới chương trình, SGK phổ thông bằng một đề án có cái tên thiếu chuẩn mực về tiếng Việt được. Bởi vậy, theo tôi, nên sửa lại tên Đề án là: “Đề án đổi mới chương trình và SGK phổ thông sau năm 2015”. Dùng từ “đổi mới” vừa phù hợp với Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, vừa bao quát được đầy đủ các công việc “xây dựng chương trình”, “biên soạn SGK” và “thực hiện chương trình, SGK” mới.

2. Về phạm vi Đề án

Nội dung dự thảo Đề án chỉ giới hạn trong việc tổ chức biên soạn và thực hiện chương trình, SGK mới.

Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy để thực hiện thành công chương trình, SGK, ít nhất phải có những điều kiện sau đây:

– Cơ sở vật chất của các trường đạt chuẩn. Không thể dạy học theo phương pháp tổ chức hoạt động, phương pháp tham quan, dã ngoại, thực hành và giáo viên cũng không thể quan tâm đầy đủ đến học sinh nếu mỗi lớp vẫn nhồi chật cứng 50 – 60 học sinh như hiện nay.

– Giáo viên phải được đào tạo tốt. Khó có thể thực hiện được hiệu quả chương trình, SGK mới với cách đào tạo giáo viên như hiện nay.

– Trang thiết bị, đồ dùng dạy học phải đạt chuẩn. Khó có thể thực hiện được hiệu quả chương trình, SGK mới với đồ dùng dạy học chất lượng kém như hiện nay.

Bởi vậy, theo tôi, cùng với đề án này, Bộ GD-ĐT cần xây dựng luôn 2 đề án nữa là Đề án chuẩn hóa cơ sở vật chất trường học (bao gồm cả trang thiết bị và đồ dùng dạy học), Đề án đổi mới đào tạo giáo viên. Bộ cũng cần báo cáo những công việc này để Quốc hội đưa vào Nghị quyết, tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo điều kiện thành công cho việc đổi mới chương trình, SGK phổ thông. Đây là những công việc quan trọng, không thể chỉ điểm qua như ở trang 10 dự thảo Đề án.

3. Về các khái niệm “chương trình”, “SGK”

3.1. Chương trình

Kinh nghiệm xây dựng chương trình GDPT năm 2000 cho thấy trong giáo dục có khá nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “chương trình”. Chương trình GDPT năm 2000 của Bộ GD-ĐT ban đầu chỉ là một “chương trình khung” (framework), tức là chỉ quy định những nội dung và yêu cầu chung nhất. Sau đó, theo đề nghị của Bộ GD-ĐT, Luật Giáo dục (sửa đổi) năm 2005 đã mở rộng cách hiểu về chương trình như sau: “Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo.” Vì quy định của Luật Giáo dục về chương trình đã thay đổi nên năm 2006 Bộ GD-ĐT phải chỉ đạo bổ sung chuẩn kiến thức, kỹ năng, đồng thời hợp nhất chương trình các cấp học phổ thông. Điều chỉnh này là hợp lý vì ở nhiều nước, chuẩn (standard) mới là căn cứ để biên soạn SGK, dạy học và đánh giá kết quả.

Tuy nhiên, trên thực tế, từ những quy định về chuẩn đến cách hiểu và thực hiện của người biên soạn SGK, người dạy và người học thường có khoảng cách khá xa. Vì quy định về chuẩn dù sao vẫn là những quy định khái quát, mỗi người có thể lý giải theo một cách. Đó là chưa kể trong mỗi khoa học đều có thể có những cách hiểu khác nhau về một số thuật ngữ, khái niệm; nếu chương trình không xác định một cách hiểu nhất định thì rất khó thống nhất. Bởi vậy, ở nhiều nước, người ta phải xây dựng các chương trình chi tiết (curriculum). Ví dụ, nghiên cứu Chương trình chi tiết của Canada (Complete Canadian Curriculum), tôi thấy chương trình Tiếng Anh ở mỗi lớp được trình bày như một quyển SGK, trong đó có bài đọc, các bài tập và kiến thức ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cần hình thành. Để cho rõ, tôi xin dịch nguyên văn một bài học trong Chương trình chi tiết Tiếng Anh lớp 4:

 

 

Bài học được trình bày trong 4 trang, cụ thể như sau:

– Trang 1: Bài đọc

– Trang 2: Bài tập củng cố nội dung đọc hiểu

– Trang 3: Kiến thức và bài tập củng cố kiến thức

– Trang 4: Kiến thức và bài tập củng cố kiến thức.

Bài Ôn tập được trình bày trong 5 hoặc 6 trang, gồm một số bài tập.

Trang 1: Tim Horton

Tính theo đầu người, Canada có nhiều tiệm bánh rán nhất so với bất kì nước nào trên thế giới. Vì sao người Canada thích bánh rán như vậy? Điều đó có thể bắt nguồn từ một người có tên là Tim Horton.

Tim Horton tên thật là Miles Gilbert Horton. Ông sinh năm 1930 ở Cochrane, Ontario. Ông rất ham mê khúc côn cầu. Năm 19 tuổi, ông gia nhập (joined) câu lạc bộ Toronto Maple Leafs và chơi cho câu lạc bộ này 17 năm, giúp nó đoạt Cúp Stanley 4 lần.

Năm 1963, Tim quyết định mở (open) một tiệm bánh rán ở Hamilton, Ontario. Năm sau, Tim mời một doanh nhân tài giỏi từng là một sĩ quan cảnh sát điều hành (to take over the running) tiệm bánh của mình. Chẳng bao lâu nhiều thành phố ở Canada đều có tiệm “Tim Horton”. Vì sao Tim lại để một người khác điều hành công ti của mình? Đơn giản vì Tôm bận chơi khúc côn cầu !

Ít lâu sau, Tim chơi cho câu lạc bộ New York Rangers, rồi chơi cho Pittsburgh Peguins, và Buffalo Sabres. Trong khi đó sự nghiệp kinh doanh của ông ngaỳ càng phát triển và ngày càng có nhiều người Canada ăn bánh rán !

Không may, năm 1974, Tim mất vì tai nạn giao thông. “Tim Horton” hiện nay là hệ thống (chain) tiệm cà phê và bánh rán lớn nhất Canada. Có hơn 2500 tiệm trên khắp nước Canada cũng như một số tiệm ở Hoa Kì, Vương quốc Anh, Ireland, thậm chí tận Afghanistan.

Trang 2: các bài tập đọc hiểu.

A. Tìm nghĩa đã được sử dụng trong bài đọc của các từ cho dưới đây:

1) joined:    – buộc một vật vào vật khác

– gia nhập

2) open:      – bắt đầu một việc

– mở ra, trải ra

3) running: – chuyển động nhanh hơn đi bộ

– sự hoạt động

4) chain:     – vòng xích hay vòng tròn kim loại

– một chuỗi cửa hàng cùng thuộc một công ti

B. Đánh số để sắp xếp các sự kiện theo thứ tự:

– Tim chơi cho câu lạc bộ New York Rangers.

– Tim mất vì tai nạn giaothoong.

– Tim gia nhập câu lạc bộ Toronto Maple Leafs.

– Tim mở tiệm bánh rán đầu tiên của ông.

– Tim mời một người bạn kinh doanh điều hành tiệm bánh rán.

C.  Em nghĩ hệ thống Tim Horton có thể phổ biến đến như vậy không, nếu không có người bạn kinh doanh? Hãy giải thích.

Trang 3:

– Kiến thức: Danh từ

Danh từ chung gọi tên bất kì một nhân vật, địa điểm, sự vật hoặc con vật nào.

Ví dụ: sĩ quan, thành phố, cà-phê, hươu

Danh từ riêng là tên gọi riêng của một nhân vật, địa điểm, sự vật, hoặc con vật. Nó luôn luôn bắt đầu bằng một chữ cái viết hoa.

Ví dụ: Gilbert,  Hamilton, Internet, Bambi

– Các bài tập về danh từ chung, danh từ riêng.

D. Viết các danh từ đã cho (khúc côn cầu, Tim Hortons, Stanley Cup, bánh rán) vào nhóm thích hợp (danh từ chung, danh từ riêng).

E. Viết lại các câu đã cho đúng chính tả (các câu đã cho có nhiều danh từ chung, danh từ riêng viết không đúng).

Trang 4:

– Kiến thức: Tính từ

Tính từ so sánh tương đối so sánh hai sự vật. Nó được cấu tạo bằng cách thêm hậu tố er vào sau hình thái gốc hoặc thêm more vào trước hình thái gốc của tính từ.

Ví dụ: This skirt is cheaper and more beautiful than that one.

(Cái váy này rẻ hơn và đẹp hơn cái kia.)

Tính từ so sánh tuyệt đối so sánh ba sự vật trở lên. Nó được cấu tạo bằng cách thêm hậu tố est vào sau hình thái gốc hoặc thêm most vào trước hình thái gốc của tính từ.

Ví dụ: Liz is the smartest and most popular student in class.

(Liz là sinh viên khéo léo nhất và được mến mộ nhất trong lớp.)

– Các bài tập về so sánh tương đối,so sánh tuyệt đối.

F. Điền vào bảng hình thức so sánh tương đối, so sánh tuyệt đối của các tính từ great, talented, famous, sweet.

G. Điền vào chố trống các hình thức so sánh thích hợp của các tính từ much, late, new, near, reliable.

 

Một chương trình chi tiết như trên có thể được giáo viên và học sinh sử dụng như SGK để dạy và học. Trên cơ sở chương trình đó, giáo viên có thể bổ sung các tài liệu dạy học khác phù hợp với yêu cầu về kiến thức, kỹ năng được quy định trong chương trình và phù hợp với tình hình cụ thể của học sinh lớp mình phụ trách.

Tôi e rằng nếu chương trình GDPT sắp tới của nước ta chỉ là “chương trình khung + chuẩn kiến thức, kỹ năng” với múc độ miêu tả chuẩn như ở Chương trình tổng thể GDPT kèm theo dự thảo Đề án xây dựng, triển khai chương trình và sách giáo khoa GDPT thì rất khó có cơ sở để thực hiện thống nhất.

Chẳng hạn, chuẩn “năng lực sử dụng ngôn ngữ” của học sinh THCS được quy định như sau: “Phát âm đúng nhịp điệu và ngữ điệu; hiểu từ vựng thông dụng được thể hiện trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ, thông qua các ngữ cảnh có nghĩa …” Chỉ qua 2,5 dòng này đã có thể nêu lên những vấn đề sau đây:

– Về thuật ngữ và khái niệm, trong ngôn ngữ học có người cho rằng “ngữ điệu” bao gồm (1) cao độ, (2) trọng âm, (3) nhịp điệu, (4) âm sắc, (5) sự ngưng nghỉ; có người lại cho rằng “ngữ điệu” chỉ là “cao độ”, không bao gồm “nhịp điệu” và các yếu tố khác. Giả sử người biên soạn chương trình hiểu theo cách thứ 2 thì cũng không rõ vì sao chỉ yêu cầu học sinh “phát âm đúng nhịp điệu và ngữ điệu”, bỏ qua các yếu tố còn lại. Thuật ngữ “ngữ cảnh có nghĩa” cũng là một thuật ngữ khó hiểu.

– Về mức độ cần đạt, yêu cầu “phát âm đúng nhịp điệu và ngữ điệu” tất cả các phát ngôn trong các loại văn bản mà học sinh phải đọc là yêu cầu khá cao; nhưng mặt khác, yêu cầu “đọc lưu loát và đúng ngữ điệu” cũng đã được đặt ra đối với học sinh Tiểu học. Tương tự, một khi chuẩn kiến thức, kỹ năng cấp Tiểu học đã yêu cầu học sinh “hiểu những từ thông dụng” thì yêu cầu “hiểu từ vựng thông dụng được thể hiện trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ” ở cấp THCS về cơ bản không có gì khác, vì học sinh Tiểu học cũng phải “hiểu những từ thông dụng” qua các bài đọc (bút ngữ) và qua giao tiếp bằng lời (khẩu ngữ).

Để giải quyết những bất cập trên, Bộ GD-ĐT nên tính đến việc biên soạn các chương trình chi tiết kiểu như Chương trình của Canada thay vì làm hai việc biên soạn “chương trình khung + chuẩn khái quát” và biên soạn SGK. Khi đã có chuẩn kiến thức, kỹ năng cụ thể, rõ ràng như Chương trình chi tiết của Canada thì Bộ không cần tổ chức biên soạn SGK mà để cho các tổ chức, cá nhân căn cứ vào chương trình chi tiết biên soạn.

3.2. Sách giáo khoa

Trong dự thảo Đề án, SGK được hiểu là một tập hợp bao gồm … SGK (?!) và sách hướng dẫn dạy – học (tài liệu thay thế sách giáo viên và sách bài tập hiện hành). Đây là một cách sử dụng thuật ngữ thiếu logic và rất khác với cách hiểu hiện nay.

Thực sự, trong tương lai, nếu được biên soạn theo hướng tổ chức hoạt động cho học sinh thì “SGK theo nghĩa hẹp” là một kịch bản hoạt động, tức là một “tài liệu hướng dẫn dạy – học”, vừa dùng cho thầy vừa dùng cho trò. Nhưng “tài liệu hướng dẫn dạy – học” khó có thể thay cho sách bài tập, nhất là ở cấp Trung học – ở cấp học này, học sinh cần đào sâu suy nghĩ và rèn luyện thuần thục kỹ năng, cho nên sách bài tập cần bổ sung rất nhiều bài tập so với SGK.

4. Về đánh giá chương trình, SGK hiện hành

Về cơ bản, tôi tán thành các ý kiến nêu trong phần đánh giá. Tuy nhiên, theo tôi, ở đây có sự lẫn lộn giữa thực trạng với nguyên nhân.

Đánh giá thực trạng chương trình, SGK hiện hành tức là chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu của nó (về tính tuân thủ, tính hệ thống, tính chính xác, tính cập nhật, tính khả thi và tính hiệu quả).

Còn những điểm mạnh, điểm yếu về tổ chức và nguồn lực (ví dụ: thiếu những nghiên cứu về lý luận phát triển chương trình và biên soạn SGK; thiếu đội ngũ chuyên nghiệp làm chương trình, SGK; làm chương trình theo kiểu cắt khúc; công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên chưa theo kịp đổi mới về chương trình, SGK; cơ sở vật chất trường học chưa đáp ứng được yêu cầu v.v…) cần được xem là nguyên nhân gây nên những bất cập, hạn chế trong việc xây dựng chương trình, biên soạn SGK và tổ chức triển khai chương trình, dạy học theo SGK.

Đối với bất kỳ một đề án nào, có chỉ ra đúng các nguyên nhân của bất cập, hạn chế thì mới xây dựng các giải pháp khắc phục.

5. Về giải pháp

5.1. Là giải pháp hay là nội dung đề án ?

Theo tôi, toàn bộ 5 “giải pháp” nêu trong dự thảo Đề án thật ra chỉ là “nội dung” đề án, tức là những công việc dự định làm.

Còn “giải pháp”, theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, cần được hiểu là “phương pháp giải quyết vấn đề”. Theo lý luận về phân tích chính sách, giải pháp cho một vấn đề được xây dựng trên cơ sở phân tích nguyên nhân của bất cập, hạn chế trong vấn đề đó. Ví dụ, Đề án Đổi mới chương trình, SGK phổ thông này sẽ phải tìm phương pháp giải quyết các vấn đề sau:

– Thiếu những nghiên cứu về lý luận phát triển chương trình và biên soạn SGK. Giải pháp chắc chắn phải là một mặt cử người đi học, mặt khác tổ chức các đề tài nghiên cứu. Nhưng thời gian chuẩn bị không còn nhiều, giải pháp này phải hiện thực hóa bằng các biện pháp cụ thể.

– Thiếu đội ngũ chuyên nghiệp làm chương trình, SGK. Với thời gian cập rập như hiện nay, chắc Bộ GD-ĐT không kịp xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp này. Vả lại, nếu đặt vấn đề huy động nhiều lực lượng trong xã hội tham gia xây dựng chương trình, SGK thì không nên trở về mô hình “Ban Tu thư” như giai đoạn trước. Nếu vậy, chắc phải bằng lòng với giải pháp xây dựng bộ khung cán bộ chuyên nghiệp ở Ban Chỉ đạo, còn lại thì huy động nhân lực theo khả năng và chất lượng sản phẩm của họ.

– Làm chương trình theo kiểu cắt khúc. Giải pháp chắc chắn phải là xây dựng chương trình tổng thể cùng một lúc, dưới sự chỉ đạo của cùng một “tổng công trình sư”. Nhưng làm thế nào để có sự thống nhất giữa chuyên gia các môn học, cấp học thì cần phải có các biện pháp cụ thể để hiện thực hóa giải pháp này.

– Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên chưa theo kịp đổi mới về chương trình, SGK. Giải pháp chắc chắn phải là đổi mới công tác đào tạo của các trường sư phạm và đổi mới công tác bồi dưỡng giáo viên.

– Cơ sở vật chất trường học chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới. Giải pháp chắc chắn phải là chuẩn hóa cơ sở vật chất trường lớp. Nhưng trong điều kiện tài chính và điều kiện thời gian eo hẹp như hiện nay thì phải làm thế nào? Đó là nội dung của các biện pháp cụ thể.

5.2. Làm thế nào để thích ứng với chu kỳ thay đổi chương trình GDPT ngày càng ngắn?

Dự thảo Đề án cho biết: “Do tốc độ phát triển quá nhanh của khoa học, kỹ thuật (trong đó có khoa học giáo dục) và sự biến đổi mau lẹ của đời sống, thời gian tồn tại của một chương trình GDPT ngày càng được rút ngắn, từ 10 năm cuối thế kỷ XX nay chỉ còn 5 – 6 năm, thậm chí ngắn hơn” (trang 8). Thông tin này chắc chắn sẽ làm nhiều người lo lắng, vì một đề án được chuẩn bị trong vòng 8 năm (từ nay đến 2022) với rất nhiều công sức và chi phí như đề án này mà chỉ tồn tại trong khoảng thời gian 5 – 6 năm thì rất lãng phí. Một nước còn nghèo như nước ta khó có thể liên tục thay đổi chương trình, SGK như vậy. Theo tôi, Đề án cần đưa ra được giải pháp thiết kế chương trình, SGK mới thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng này (ví dụ, thiết kế với phần cứng, phần mềm và độ mở linh hoạt, cho phép tiếp nhận những yếu tố mới mà không phải thay đổi nhiều).

5.3. Một bộ SGK hay nhiều bộ SGK?

Phần “Giải pháp thực hiện Đề án” có nêu lên hàng loạt công việc phải làm, trong đó có việc “xây dựng chương trình, biên soạn SGK phổ thông”. Tuy nhiên, toàn bộ các công việc này đều do một chủ thể (Bộ GD-ĐT hoặc các Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình, SGK cấp quốc gia và cấp tỉnh) thực hiện; không thấy có sự tham gia của xã hội ngoài việc “trưng cầu ý kiến” các chuyên gia, các cơ sở GD-ĐT. Thậm chí, Đề án còn sử dụng thuật ngữ “ban hành” SGK mới (trang 4), như ban hành một văn bản quy phạm pháp luật hay văn bản chỉ đạo.

Cứ theo đề án này thì không rõ trong tương lai sẽ có một hay nhiều bộ SGK. Và nếu có nhiều bộ SGK như yêu cầu của xã hội thì ngoài SGK do Bộ GD-ĐT trực tiếp tổ chức biên soạn, những bộ SGK do các tổ chức, cá nhân khác biên soạn sẽ được trình cho ai duyệt, thẩm định và dạy thử nghiệm vào lúc nào. Theo tôi, Đề án không thể xây dựng trên cơ sở giả thiết chỉ có một bộ SGK như từ trước đến nay.

Thậm chí, việc xây dựng chương trình cũng nên có “khoảng trống” để tiếp thu sáng kiến của xã hội. Tôi nghĩ là ngoài các chuyên gia ở Bộ GD-ĐT, còn có nhiều chuyên gia Việt Nam ở trong nước và nước ngoài có hiểu biết sâu sắc về chương trình GDPT có thể đề xuất những chương trình hợp lý.

5.4. Áp dụng cho toàn bộ các cơ sở GD hay chỉ những nơi có đủ điều kiện?

Theo dự thảo Đề án, “chỉ những trường đã có đủ điều kiện mới triển khai chương trình, SGK mới; các trường chưa đủ điều kiện thì tích cực chuẩn bị đủ điều kiện để được triển khai, áp dụng” (trang 13). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục nước ta có một cuộc đổi mới giáo dục được tuyên bố rõ là chỉ áp dụng cho những nơi đã có đủ điều kiện. Định hướng như vậy thì không biết có bao nhiêu địa phương, bao nhiêu cơ sở sẽ nằm ngoài công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện theo yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8? Định hướng này cũng mâu thuẫn với quan điểm “quản lý việc xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo tính khả thi, linh hoạt, phù hợp địa phương và đối tượng học sinh” và “nội dung giáo dục phải phù hợp với thời lượng dạy học: Ở cấp Tiểu học là cả ngày nhưng có hướng dẫn vận dụng cho những cơ sở giáo dục chỉ có điều kiện dạy học một buổi trong ngày” (cùng trang 13).

 

Trên đây là một số ý kiến của tôi về những vấn đề lớn liên quan đến Đề án xây dựng, triển khai chương trình và SGK giáo dục phổ thông. Các văn bản kèm theo Đề án cũng còn nhiều bất cập, ví dụ:

– Xác định 8 lĩnh vực giáo dục như trong Chương trình tổng thể GDPT là không hợp lý. Trong lý luận giáo dục, người ta thường xác định 4 lĩnh vực giáo dục là Đức (giáo dục đạo đức), Trí (giáo dục tri thức), Thể (giáo dục thể chất) và Mỹ (giáo dục thẩm mỹ). Quan niệm như vậy rất đầy đủ và logic. Tuy nhiên, thuật ngữ “Trí dục” không bao quát được “kỹ năng hoạt động”, do đó, cần chia tách thành Khoa học và Kỹ thuật (Công nghệ). Như vậy, nội dung GDPT gồm 5 lĩnh vực là: Khoa học, Kỹ thuật, Nghệ thuật, Thể chất và Lối sống.

– Số lượng các môn học có vẻ ít hơn trước nhưng trên thực tế không thay đổi vì một số môn được ghép vào nhau thành một môn, trong đó có những sự lắp ghép không hợp lý (chẳng hạn, không rõ tích hợp Âm nhạc với Mỹ thuật thì tích hợp thế nào).

Tên một số môn học chưa hợp lý, ví dụ: “Cuộc sống quanh ta”, “Tìm hiểu tự nhiên”, “Tìm hiểu xã hội”, “Công dân với Tổ quốc”.

– Bản dự thảo đánh giá tác động của Nghị quyết về đổi mới chương trình, SGK còn ở dạng rất sơ sài, cần được đầu tư thêm.

Tuy nhiên, vì không có đủ thời gian, những vấn đề này, tôi sẽ xin được trao đổi vào dịp khác.

 

Hà Nội, ngày 25/2/2014

GS.TS. Nguyễn Minh Thuyết

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Chương trình khung, Hướng cải cách

2 phản hồi »

  1. À về SGK, thì ở bên Pháp, trẻ con chỉ được mượn sách để dùng thôi, bao bọc cẩn thận, cuối năm phải trả lại trường. Không biết ở VN mình có như vậy không ạ ? Cho nên tôi vẫn không hiểu lắm vì sao mọi người lại nói là tốn kém. Mỗi cuốn sách như vậy vòng đời của nó cũng ít nhất là 4 năm cơ mà ? Chứ tôi nghĩ có một cuốn SGK xài cả chục năm không thay đổi gì cả mà tôi chán quá ! Sao mà các bác lại chịu được như vậy cơ chứ ?

    Like

  2. Ở Việt Nam, sách giáo khoa học sinh học xong một năm học là giữ luôn cho mình chị Hương ạ. Ở vùng quê, anh chị em học lớp trên học xong, giữ cẩn thận để lại cho các em lớp dưới. hihi Chị Hương chưa trả lời email cho em.

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: