How We Learn

Thế nào là Đại Học tốt – Phạm Thị Ly

Đề xuất một mô hình không phụ thuộc vào XẾP HẠNG

Phạm Thị Ly
Viện Đào tạo Quốc tế, Đại học Quốc gia TPHCM
Trung tâm Nghiên cứu & Đánh giá GDĐH, Trường ĐH Nguyễn Tất Thành

(Tham luận tại Hội thảo “What is a Good University?” do Mạng lưới Học giả Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, ĐH Giáo dục thuộc ĐHQG Hà Nội tổ chức với sự tài trợ của Đại sứ quán Anh tại Việt Nam, ngày 18-3-2014 tại Hà Nội).

Vai trò của trường đại học (ĐH) càng quan trọng chừng nào đối với nền kinh tế tri thức và đối với sự nghiệp cuộc đời của mỗi cá nhân, thì câu hỏi “thế nào là một trường ĐH tốt” càng đặt ra một áp lực lớn với tất cả các trường, thể hiện đòi hỏi ngày càng tăng của nhà nước, của thị trường, và của công chúng. Đặc biệt là trong vòng hơn một thập niên gần đây, kể từ khi Trường ĐH Giao thông Thượng hải công bố bảng xếp hạng ĐH toàn cầu của họ [1], thì hội chứng xếp hạng đã lan ra khắp mọi châu lục, làm biến đổi chiến lược và cách xử sự của các trường theo một cách không phải lúc nào cũng có lợi cho người học và cho xã hội.

Vì sao? Một phần là do sự bất toàn của các phương pháp và tiêu chí, phần khác quan trọng hơn, là các bảng xếp hạng ĐH toàn cầu đã quá nhấn mạnh đến thành tích nghiên cứu thể hiện qua ấn phẩm khoa học [2], khiến cho những mặt hoạt động khác, những trách nhiệm khác của nhà trường với người học và với xã hội vô hình trung bị coi nhẹ. Hơn thế nữa, hội chứng xếp hạng đã làm nảy sinh một hiện tượng tạm gọi là sử dụng thủ thuật để nâng hạng, thể hiện một xu hướng rất không lành mạnh, là biến các tiêu chí xếp hạng trở thành mục đích của nhà trường.

Bởi thế, thái độ phản kháng trong giới hàn lâm đối với xếp hạng ĐH ngày càng rõ. Một mặt, các tổ chức xếp hạng đang ra sức cải thiện các phương pháp và tiêu chí, và nhấn mạnh việc truyền thông với người dùng về giới hạn, ý nghĩa, cách sử dụng những thông tin của các bảng xếp hạng [3]; mặt khác, giới hàn lâm quốc tế có xu hướng muốn xem xét lại những tác động không mong muốn mà các bảng xếp hạng gây ra, tuy họ không phủ nhận những đóng góp tích cực của nó.

Có một điều chắc chắn là các tiêu chí xếp hạng hiện nay đã chỉ đo lường được một phần nhỏ những gì một trường ĐH hàng đầu, hay một ĐH thực sự tốt, phải là. Ấn phẩm, chỉ số tác động và trích dẫn là những thứ có thể đo đếm được tương đối dễ dàng (và cũng có thể giả mạo hay gian lận được [4]), trong khi những giá trị gia tăng mà nhà trường mang lại cho sinh viên, khả năng tư duy một cách lành mạnh và sáng suốt, hay một nền tảng tri thức rộng rãi về các nền văn hóa, các thời đại và năng lực đưa ra quyết định dựa trên một thế giới quan rộng lớn, là điều có thể làm thay đổi cả một đời người, một thế hệ, một quốc gia, thì lại không dễ đo lường, và không thể giả mạo hay gian lận.

Tuy thế, không dễ đo lường, không có nghĩa là nó không quan trọng hay không cần thiết. Chúng tôi muốn đề xuất một mô hình, hay là những đặc điểm và trách nhiệm cụ thể của một trường ĐH tốt, nằm ngoài các tiêu chí xếp hạng hiện nay. Thay cho cái lý tưởng phấn đấu để được lọt vào bảng xếp hạng, chúng tôi ủng hộ đề xuất của GS. John Douglass (UC Berkley), chuyển thành lý tưởng trở thành thiết yếu cho xã hội [5]. Trong bài này, chúng tôi nêu vắn tắt quan điểm của Douglass và mượn một từ của ông, từ “thiết yếu” để trình bày một mô hình “ĐH tốt”  phù hợp với bối cảnh của Việt Nam.

“Có thứ hạng cao” và “thiết yếu với xã hội”

“Đại học đẳng cấp quốc tế” (ĐH ĐCQT), một khái niệm có thể xem là sản phẩm của các bảng xếp hạng, ám ảnh các nhà lãnh đạo, những người làm chính sách và lãnh đạo các trường ĐH lớn trong những quốc gia và những nền kinh tế mới nổi trong thập kỷ qua, một phần là do họ ý thức được tầm quan trọng của trường ĐH đối với nền kinh tế tri thức, và phần khác, là do bị chi phối bởi ý muốn thể hiện niềm tự hào quốc gia. Các nước nghèo hay mới thoát nghèo khao khát có một trường ĐH đẳng cấp quốc tế vì với họ đó là một biểu tượng khiến họ thấy mình ngang hàng về mặt trí tuệ với những nước phát triển và giàu có.

Tuy nhiên, theo GS. Douglass, bên cạnh những phương pháp đáng ngờ, các bảng xếp hạng toàn cầu còn tạo ra những mục đích không thể nào đạt được đối với phần lớn các trường đang có tham vọng ấy. Khoảng 10-25 trường ĐH hàng đầu được công nhận hầu như trong tất cả các bảng xếp hạng, và danh sách này rất ít thay đổi trong mấy thập kỷ qua, cũng có rất ít khả năng sẽ thay đổi nhiều trong tương lai. Nó là một nhóm rất nhất quán trong các bảng xếp hạng nổi tiếng nhất. Ngầm định rằng một trường ĐH ĐCQT là một trường được xếp hạng trong số 50 hay thậm chí 100 trường ĐH hàng đầu thế giới trong một số bảng xếp hạng ĐH toàn cầu được công nhận, chỉ là một trò chơi có tổng bằng không, mà người này được thì người kia phải mất.

Ý nghĩa tích cực của các bảng xếp hạng là không thể phủ nhận. Nó cung cấp thông tin cho người học, cho các chính phủ, kích thích việc thu thập dữ liệu vốn rất cần cho việc quản lý hệ thống; và quan trọng hơn, nó nâng cao ý thức của các trường trong việc cải thiện hoạt động. Tuy thế, khiếm khuyết của các bảng xếp hạng và tác động tiêu cực của nó cũng ngày càng bộc lộ rõ. Phát biểu của GS.  Alison Richard, nguyên Hiệu Trưởng trường ĐH Cambridge cho thấy rõ điều này: “Các bảng xếp hạng có nhiều khiếm khuyết sai lầm và không thể miêu tả đầy đủ các trường, cũng không thể cho thấy trường này có thực sự tốt hơn trường kia hay không. Nhưng tôi rất hài lòng khi Cambridge được xếp hạng là trường hàng đầu thế giới” (!). Hellen Hazekon [6] cho rằng thực tế đang tồn tại nhiều mâu thuẫn: các bảng xếp hạng đang đo lường những gì có thể đo lường được hay những gì thực sự có ý nghĩa? Các trường nên điều chỉnh chiến lược của mình theo các tiêu chí của các bảng xếp hạng toàn cầu nhằm nâng hạng, hay tập trung cho mục tiêu giáo dục và sứ mạng phục vụ lợi ích công? Các nhà làm chính sách nên tập trung nguồn lực cho mô hình tinh hoa, hay nên dành cho việc duy trì chất lượng của GDĐH dành cho số đông? Tập trung tạo ra sự xuất sắc hay tăng cường năng lực của nguồn nhân lực nói chung? Khích lệ những thành tựu học thuật theo quan niệm truyền thống hay đánh giá cao trách nhiệm công dân và những đóng góp khác cho xã hội? Thúc đẩy mô hình kiến tạo tri thức truyền thống và cơ chế bình duyệt hay khích lệ việc ứng dụng tri thức, tác động đối với xã hội và trách nhiệm giải trình trước công chúng? Tác động tiêu cực rõ rệt nhất của các bảng xếp hạng, là nó kích thích các trường chạy đuổi theo vị trí xếp hạng và coi nhẹ những sứ mạng quan trọng khác của nhà trường đối với người học và đối với xã hội. Xét về mặt hệ thống, việc đầu tư một nguồn lực khổng lồ cho một số ít các trường tinh hoa nhằm tạo ra sự xuất sắc đã lấy đi những khoản đầu tư đáng lẽ có thể dành cho việc cải thiện chất lượng đào tạo của số đông (Phạm Thị Ly, 2013).

Có một sự thật được công nhận rộng rãi, là cái nhóm các trường tinh hoa luôn ngự trị trên đỉnh của các bảng xếp hạng này, chưa bao giờ đặt ra mục tiêu giành lấy vị trí ấy. Đối với Việt Nam, đơn giản là mục tiêu có một trường ĐH ĐCQT gần như chắc chắn không đạt được trong tương lai gần, và dù có đạt được, đó cũng không thể nào là mục tiêu hay mô hình cho tất cả các trường ĐH trong hệ thống.  Vì lẽ đó, chúng tôi ủng hộ quan điểm nhấn mạnh vào tính thiết yếu cho xã hội thay vì nhấn mạnh vào việc phấn đấu giành thứ hạng.

Điều gì khiến một trường ĐH trở thành thiết yếu cho xã hội?

GS. Douglass đưa ra mô hình ĐH hoa tiêu nhằm thay thế cho ĐH đẳng cấp quốc tế. Ông mượn từ “hoa tiêu” (“Flagship”) vốn lấy từ thuật ngữ của ngành hàng hải, có nghĩa là con tàu dẫn đường trong hải quân, tức là bộ phận trung tâm ở đó vị đô đốc điều phối, chỉ huy cả đoàn tàu. Theo ông, trường ĐH hoa tiêu vốn có các đặc điểm sau: (i) Tạo ra cơ hội tiếp cận ĐH rộng rãi, tức là mở cửa cho mọi công dân bất kể nơi chốn, nguồn gốc xuất thân hay địa vị kinh tế, xã hội; (ii) Gắn với phục vụ cộng đồng và phát triển kinh tế; và (iii) Mang tính chất dẫn đầu, tức là có trách nhiệm giúp xác lập chuẩn mực và xây dựng những bộ phận khác trong hệ thống giáo dục công – từ tiểu học đến trung học phổ thông, cho đến những trường ĐH và cao đẳng công lập khác. Từ đó ông bổ sung thêm để thành ra một mô hình bao gồm 21 đặc điểm cho ĐH hoa tiêu ngày nay, một mô hình theo ông khả dĩ có thể thay thế cho mô hình ĐH đẳng cấp quốc tế.

Tuy nhiên, trong bài này, chúng tôi không bàn về những trường ĐH có vai trò dẫn đầu cả hệ thống, như khái niệm ĐH hoa tiêu đã gợi ra. Chúng tôi chỉ mượn một từ của GS. Douglass để bàn về một mô hình ĐH tốt, và nhấn mạnh, trong bối cảnh Việt Nam. Đó là từ “thiết yếu” (relevance).

Một trường ĐH tốt là một trường ĐH tốt bất kể nó đặt trên mảnh đất nào hay quốc gia nào, nghĩa là nó phải chia sẻ một số đặc điểm phổ quát mà nếu không có nó thì tổ chức ấy không còn có thể được coi là trường ĐH theo ý nghĩa truyền thống nữa. Nhưng đặc điểm chính trị, văn hóa và lịch sử của từng nước có một tác động to lớn đến mức, những điều có thể xem là đương nhiên ở nơi này lại là bất khả hay không tưởng tượng nổi với nơi khác. Vì vậy, chúng tôi tập trung vào một số những đặc điểm cốt lõi khiến cho một trường ĐH Việt Nam trong bối cảnh hiện nay trở thành thiết yếu với xã hội, một mô hình mà các trường cần hướng tới thay vì tìm cách tham gia trò chơi xếp hạng, bởi vì việc theo đuổi trò chơi này trong bối cảnh thực lực còn yếu sẽ chỉ kích thích thêm căn bệnh thành tích vốn đã quá nặng và không có bao nhiêu ích lợi cho người học cũng như cho xã hội.

Có ba khía cạnh để một trường ĐH trở thành thiết yếu cho xã hội:

(1) Xây dựng năng lực tư duy

Tri thức ngày nay tăng nhanh đến mức không một ai có thể học đủ kiến thức cho nghề nghiệp tương lai của mình nếu chỉ dựa vào những gì được học ở nhà trường. Năng lực tư duy phải được xem là giá trị cốt lõi của GDĐH mà người học đạt được thông qua trải nghiệm trong môi trường ĐH. Một trường ĐH tốt là một tổ chức học thuật mang lại được một môi trường nội bộ có thể nuôi dưỡng tinh thần học tập, sự sáng tạo, khám phá và làm nảy nở, làm phát triển mọi tiềm năng của sinh viên.  Những trải nghiệm trong một môi trường như vậy tạo ra những kinh nghiệm và kỹ năng mà sinh viên hầu như khó lòng đạt được bên ngoài nhà trường. Nó là điều tối cần để nuôi dưỡng tinh thần khởi nghiệp, dám nghĩ dám làm, dám chấp nhận rủi ro và vượt qua thất bại. Một môi trường truyền cảm hứng, cởi mở với việc tìm kiếm tri thức, khích lệ việc thách thức những lối mòn và định kiến, kích thích những cọ xát trí tuệ và thúc đẩy rèn luyện kỹ năng truyền thông giao tiếp để trở nên trưởng thành, là điều khiến các khóa học từ xa hay trực tuyến không thể thay thế cho việc học ở trường ĐH.

(2) Gắn bó với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và của đất nước

Một trường ĐH tốt phải bắt rễ được trên mảnh đất của mình và góp phần dẫn dắt sự phát triển về kinh tế xã hội của đất nước mình. Vấn đề không chỉ là bao nhiêu bài báo khoa học hay bằng sáng chế, mà là những kết quả nghiên cứu ấy đã đóng góp như thế nào vào việc phát triển ý tưởng, sự giàu mạnh, và tăng trưởng bền vững của quốc gia. Dĩ nhiên một trường ĐH tốt không thể đứng ngoài những gía trị phổ quát và dòng chảy tri thức toàn cầu, nhưng trước hết nó phải đáp ứng những đòi hỏi thực tế của người dân, của xã hội, phải đưa ra những giải pháp có căn cứ cho những vấn đề cần giải quyết trong thực tế, giúp làm tăng năng suất và năng lực cạnh tranh của quốc gia.

Điều này có thể được thực hiện thông qua các nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng về những đề tài thiết yếu với địa phương, với quốc gia; thông qua chuyển giao công nghệ, tư vấn chính sách và phục vụ cộng đồng. Mỗi đất nước, trong từng giai đoạn cụ thể, sẽ có những nhu cầu cụ thể cần được đáp ứng để có thể tiến lên một bước mới. Những nhu cầu ấy không nhất thiết chỉ là nhu cầu về khoa học, tri thức, kỹ thuật và công nghệ, mà còn là nhu cầu về đối thoại chính sách. Một trường ĐH tốt sẽ tạo điều kiện và khích lệ giảng viên, sinh viên của mình tham gia vào quá trình phát triển năng động của địa phương qua nhiều hình thức phong phú. Nó phải giúp nâng cao dân trí, cải thiện năng suất lao động và đời sống của người dân, tăng cường chất lượng của chính sách, giúp chính quyền có dữ liệu và tri thức để điều hành chiến lược phát triển nền kinh tế, phát hiện và dự báo những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cần được giải quyết.

(3) Gắn bó với doanh nghiệp và thế giới việc làm

Đã qua rồi cái thời các trường ĐH được xem là tháp ngà và có thể theo đuổi tri thức mà không cần quan tâm đến việc những tri thức ấy sẽ có ý nghĩa gì trong thực tế. Thật ra thì nhân loại sẽ vẫn cần có các trường và các nhà khoa học theo đuổi tri thức vì bản thân tri thức mà không nhằm đến mục tiêu cụ thể nào. Khoa học tiến lên được chính là nhờ trí tưởng tượng kiểu như thế. Nhưng những hoạt động như vậy sẽ chỉ là một bộ phận trong các trường ĐH, thậm chí, trong các trường ĐH tinh hoa, những trường được giao nhiệm vụ đi đầu trong việc mở ra những biên giới mới trong khoa học và có đặc quyền theo đuổi tri thức thuần túy chỉ vì tri thức. Tuyệt đại đa số các trường ĐH khác sẽ cần phải gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp, với thế giới việc làm, với thực tế xã hội, là những chủ thể đã mang lại cuộc sống và sức sống cho các trường.

Đó là một quá trình hai chiều. Một mặt, việc nghiên cứu những vấn đề cụ thể nhằm cải thiện năng suất của các doanh nghiệp và đào tạo lực lượng bậc cao cho nhu cầu chuyên môn và quản lý của thế giới việc làm sẽ là điều cốt yếu cho thấy những đóng góp quan trọng của nhà trường cho xã hội cũng như cho người học.  Mặt khác, nó mang lại những lợi ích rất cụ thể và to lớn cho nhà trường. Trước hết nó mở rộng nguồn lực tài chính, thông qua hợp đồng nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo ngắn hạn, huấn luyện nghiệp vụ cho các doanh nghiệp. Thêm nữa, nó nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của nhà trường, thông qua tham vấn xây dựng chương trình, giao lưu với các chuyên gia, hướng dẫn thực tập.

Một điểm yếu của các trường ĐH Việt Nam, là họ nhìn sinh viên như những “khách hàng” bởi họ tồn tại phần lớn nhờ vào học phí; mà không thấy rằng “khách hàng” thực sự của họ không phải là sinh viên mà là thế giới việc làm, là thị trường lao động. Sinh viên là sản phẩm của nhà trường và thị trường lao động mới là người tiêu thụ sản phẩm ấy. Thay vì nhằm vào những chiến lược ngắn hạn để thu hút sinh viên vào trường, một trường ĐH tốt phải nhằm vào những chiến lược dài hạn nhằm tạo ra cho sinh viên của mình những kiến thức, năng lực và phẩm chất đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động và nhu cầu phát triển của nền kinh tế, cũng như của xã hội. Những chiến lược ngắn hạn chỉ có thể thành công trong ngắn hạn, bởi lẽ nó nhắm vào những yếu tố bề ngoài. Chỉ một tầm nhìn dài hạn mới có thể mang lại sự phát triển bền vững cho nhà trường, bởi lẽ nó nhằm vào những nhân tố bên trong, là điều tạo ra gốc rễ của thành công.

Làm cách nào để tạo ra những trường ĐH tốt?

Một trường ĐH được định nghĩa bởi phẩm chất của những người làm việc cho nó, và nhất là người lãnh đạo nó. Bởi vậy, nhân sự chắc chắn là một yếu tố quyết định. Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, nhiều trường ĐH, nhất là ĐH ngoài công lập, bắt đầu có ý thức tầm quan trọng của việc thu hút tài năng.

Tuy nhiên, có hai điều rất đáng tiếc đang diễn ra: Một là, các trường chú trọng đến những yếu tố bề ngoài, ví dụ như “quốc tịch ngoại”, hay học hàm học vị, hơn là chú trọng đến thực chất. Điều này phản ánh một tư duy ăn xổi ở thì, dùng vẻ hào nhoáng bên ngoài để che lấp những yếu kém bên trong về chất lượng. Nhiều trường đã quá chú trọng “tỏ ra là tốt” thay vì chú trọng “làm cho mình trở thành tốt thật sự”. Lối nghĩ ấy hoàn toàn xa lạ với bản chất của trường ĐH. GDĐH là một hàng hóa đặc biệt. Bản chất của nó là mang lại cho người học những giá trị gia tăng trong kiến thức, kỹ năng và phẩm chất, là điều chỉ có thể có trong một môi trường nhằm vào mục tiêu tạo ra giá trị thật. Những thứ “tỏ ra là tốt” có thể thu hút người học vào trường, nhưng nếu nó không có thực chất, thì nó không mang lại giá trị gia tăng cho người học, và một sinh viên tốt nghiệp không có gì ngoài tấm bằng sẽ không thể đáp ứng được đòi hỏi của thế giới việc làm.

Điều đáng tiếc thứ hai là, các trường chưa tạo ra thiết chế phù hợp để người tài đóng góp cho nhà trường. Việc thu hút tài năng tuy rất quan trọng, nhưng tạo một hành lang cho họ làm việc và giữ chân họ còn quan trọng hơn nhiều. Nếu người tài được đặt trong những thiết chế hiện nay của các trường và bị buộc phải hoạt động trong khuôn khổ những thiết chế ấy, thì họ cũng sẽ chỉ có thể tạo ra những sản phẩm như những sản phẩm hiện nay mà nhà trường đang có, chứ không thể tạo ra thay đổi và không thể đưa nhà trường tiến lên một đẳng cấp mới về chất lượng.

Một điểm cần lưu ý, là các trường thường than phiền nhiều về việc bị hạn chế quyền tự chủ. Nhưng có một sự thật, là ngay trong phạm vi quyền tự chủ đang có, nhà trường vẫn có thể làm được rất nhiều việc khích lệ cho chất lượng mà họ đã không làm, do thiếu tầm nhìn và thiếu tri thức để quản lý một cách chuyên nghiệp. Một nguyên nhân chính khiến các trường ngại đầu tư cho chất lượng thật, là e ngại về chi phí. Một mặt, chúng ta cần thừa nhận, là không có gì vừa rẻ vừa có phẩm chất cao. Mặt khác, chúng ta cũng cần thấy, là với cùng một ngân sách, những cách quản lý khác nhau sẽ tạo ra những chất lượng hết sức khác nhau. Một ví dụ là ngân sách nghiên cứu ở các trường hiện nay tuy không lớn, nhưng vẫn bị lãng phí. Có bao nhiêu kết quả nghiên cứu được nhà trường tài trợ được sử dụng cho việc cải thiện hoạt động và nâng cao năng suất, hiệu quả cho nhà trường, cho các đối tượng liên quan, hay phần lớn là những nghiên cứu được sản xuất ra chỉ để cất vào tủ và khai báo thành tích? Nếu nguồn kinh phí đó được sử dụng dựa trên cơ sở đánh giá về tính thiết yếu, và những thước đo có căn cứ khoa học, nó đã có thể tạo ra những sản phẩm với chất lượng khác hẳn.

Để kết luận, chúng tôi muốn dẫn ra một nhận định trong Tuyên ngôn Hợp Phì về Mười đặc điểm của Trường ĐH Nghiên cứu Hiện đại [1]: “Phần lớn những gì nhà nước và xã hội mong ước ở trường ĐH là những thứ nảy sinh từ những năng lực nằm sâu bên trong và là những kết quả vô hình mà lối tiếp cận coi nhà trường là công cụ đã không đánh giá đúng, thậm chí đã không nhìn thấy”. Để có được những trường ĐH tốt, điều cần làm không chỉ là vẽ ra một mô hình và gán cho nó tất cả những gì chúng ta mong muốn mà không tính đến bối cảnh thực tế và những điều kiện thực hiện.  Chúng tôi muốn nhấn mạnh, những trường ĐH tốt nhất là những trường có động lực nội tại trong việc tự cải thiện để trở thành tốt hơn nữa, không tự bó hẹp mình chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu, và nhất là không xem thứ hạng là mục tiêu tối hậu của mình. Một trường ĐH tốt phải thực hiện những trách nhiệm rộng lớn hơn nhiều bao gồm nghiên cứu, giảng dạy, phục vụ cộng đồng, và có những cơ chế nội tại để khích lệ chất lượng và sự ưu tú. Phải thừa nhận rằng để thực hiện được những trách nhiệm ấy, nhà trường không thể chỉ tập trung nguồn lực cho việc nâng hạng, và nhiều thành quả mà nhà trường tạo ra cũng không được ghi nhận trong các tiêu chí xếp hạng hiện nay. Nhưng không thể nghi ngờ một điều là những trường ĐH này, do lý tưởng của họ là trở thành thiết yếu cho xã hội, sẽ là một phần không thể thiếu tạo ra sự thịnh vượng của quốc gia. Các nhà làm chính sách và công chúng cần ghi nhận những đóng góp to lớn ấy thay vì đòi hỏi các trường phải lọt vào bảng xếp hạng này hay bảng xếp hạng khác, là điều tuy có thể làm thỏa mãn tâm lý tự tôn dân tộc, nhưng không chắc là tạo ra chuyển biến trong chất lượng thực của cả hệ thống. Cuối cùng, một trường ĐH tốt sẽ để lại dấu ấn trong sinh viên của mình theo một cách khiến họ khác hẳn những người chưa được học ĐH. Những người như thế sẽ làm thay đổi xã hội và tạo ra cuộc sống tốt hơn cho tương lai.

Phạm Thi Ly

Tranh: Tào Linh

Tư liệu tham khảo

Ben Wilkinson và Laura (2010). Những nhân tố vô hình tạo nên sự ưu tú: hệ thống quản trị và cuộc tìm kiếm con đường xây dựng một trường ĐH nghiên cứu đỉnh cao cho Việt Nam. Báo cáo của UNDP. Phạm Thị Ly dịch.

Dill, D. (2009). Convergence and Diversity: The Role and Influence of University Rankings. In: Kehm, B. M. and Stensaker, B. (Eds.). University Rankings, Diversity and the New Landscape of Higher Education. Rotterdam, Taipei: Sense Publishers, pp. 97-116.
Hazelkorn, E. (2007). The Impact of League Tables and Ranking Systems on Higher Education Decision Making. In: Higher Education Management and Policy, Vol. 19, No. 2, S. 1-24.
Helen Hazekon (2013). Reflections on a decade of global rankings. Báo cáo tại Hội thảo WC5, Shanghai, 2013.
Hazelkorn, E. (2011). Rankings and the Reshaping of Higher Education. The Battle for World-Class Excellence. Houndmills, Basingstoke & New York: Palgrave Macmillan.

John Aubrey Douglass (2013). “Đại học hoa tiêu, một đề xuất thăm dò nhằm thay đổi hình mẫu từ thứ hạng cao trở thành có ý nghĩa thiết yếu cho xã hội”. Người dịch: Phạm Thị Ly. Bản tin Giáo dục Quốc tế Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, số 14-2014.

Locke, W. (2011). The Institutionalization of Rankings: Managing Status Anxiety in an Increasingly Marketized Environment. In: Shin, J. C., Toutkoushian, R. K., Teichler, U. (Eds.). University Rankings.

Theoretical Basis, Methodology and Impacts on Global Higher Education. Dordrecht: Springer, S. 201-228.

Mara Hvistendahlm,“China’s Publication Bazaar”, Science 29 November 2013: Vol. 342 no. 6162 pp. 1035-1039 DOI: 10.1126/science.342.6162.103.”

Phạm Thị Ly (2013),“Những xu hướng mới trong xếp hạng toàn cầu – Ghi nhận từ Hội thảo ĐH Đẳng cấp Quốc tế Lần thứ 5 tại Thương Hải ngày 4-11-2013”. Tuổi Trẻ Cuối Tuần số 45-2013, ra ngày 24 -11- 2013.
Phạm Thị Ly (dịch) “Tuyên ngôn Hợp Phì về Mười đặc điểm của Trường ĐH Nghiên cứu hiện đại”. Bản tin Thông tin Quốc tế về Giáo dục Đại học số 9 của Viện Đào tạo Quốc tế, ĐHQG-HCM, tháng 12-2013.
Rauhvargers, A. (2011).Global University Rankings and Their Impact. EUA Report on Rankings. Brussels: European University Association.

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin cảm ơn Mạng lưới Học giả Việt nam, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, ĐH Giáo dục thuộc ĐHQG Hà Nội và cơ quan tài trợ là Đại sứ quán Anh tại Hà Nội về lời mời tham dự hội thảo. Xin cảm ơn GS. Douglass về những gợi ý mà bài viết của ông đã nêu ra; đặc biệt cảm ơn GS. Vũ Đức Vượng, De Anza College, Hoa Kỳ; TS. Gaetande Rassenfosse, University of Melbourne, Australia về góp ý cho bản tiếng Anh, và xin cảm ơn TS. Nguyễn Đắc Hưng về sự ủng hộ tinh thần.

[1]Lịch sử xếp hạng ĐH đã bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, nhưng việc đó chỉ đơn giản là cung cấp thông tin giúp người học lựa chọn, chứ không ảnh hưởng nhiều đến cách xử sự của các nước và các trường như trong một thập kỷ qua.

[2]Các ấn phẩm này quá thiên về khu vực nói tiếng Anh, và văn hóa công bố cũng khác nhau giữa các ngành.

[3]Hai xu hướng nổi bật là xếp hạng đa chiều (multi rank) và xếp hạng hệ thống (system rankings) thay cho xếp hạng từng trường. Xem thêm: Phạm Thị Ly (2013),“Những xu hướng mới trong xếp hạng toàn cầu – Ghi nhận từ Hội thảo ĐH Đẳng cấp Quốc tế Lần thứ 5 tại Thượng Hải ngày 4-11-2013”. Tuổi Trẻ Cuối Tuần  số 45-2013, ra ngày 24 -11- 2013.

[4]Xem “Chợ trời học thuật Trung Quốc”. Nguồn: Mara Hvistendahlm,“China’s Publication Bazaar”, Science 29 November 2013: Vol. 342 no. 6162 pp. 1035-1039 DOI: 10.1126/science.342.6162.103.”

[5] Xem: John Aubrey Douglass (2013). “Đại học hoa tiêu, một đề xuất thăm dò nhằm thay đổi hình mẫu từ thứ hạng cao trở thành có ý nghĩa thiết yếu cho xã hội”. Người dịch: Phạm Thị Ly. Bản tin Giáo dục Quốc tế Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, số 14-2014.

[6] Helen Hazekon (2013). Reflections on a decade of global rankings. Báo cáo tại Hội thảo WC5, Shanghai, 2013.

[7]“Mười đặc điểm của Trường ĐH Nghiên cứu hiện đại”. Phạm Thị Ly dịch. Bản tin Thông tin Quốc tế về Giáo dục Đại học số 9 của Viện Đào tạo Quốc tế, ĐHQG-HCM.

Advertisements

Tagged as:

19 phản hồi »

  1. Đại học tốt thường là đại học nổi tiếng. Ví dụ, đại học công UCLA và đại học tư USC ở Nam California. Sau đây là vài điểm, tôi nghĩ, đại học tốt cần phải có:

    Một. Họ có cái gì để thu hút sự chú ý. UCLA và USC đều có những đội banh nổi tiếng. Dân Mỹ thích thể thao, khi nói đến đội banh là họ nghĩ ngay đến ngôi trường.

    Hai. Họ có những giáo sư nổi tiếng, được giải Nobel, các giải danh dự, vv.

    Ba. Họ có nhiều ngành học hiện đại, nhiều phát minh riêng của trường, hoặc chung với các công ty khác.

    Bốn. Đa số sinh viên của họ ra trường có việc làm, hoặc giữ những chức vụ cao ngoài xã hội.

    Năm. Họ có hội cựu sinh viên (alumni), thường xuyên họp mặt. Từ hội cựu sinh viên này, trường tổ chức gây quỹ, lập các học bổng, hoặc phát triển những chương trình trong tương lai.

    Sáu. Học phí tương đối cao. Tuy nhiên, đối với sinh viên giỏi, trường cấp những học bổng phụ giúp, hoặc có cách thức cho vay với phân lời nhẹ.

    Ba điểm tác giả đề ra trong bài rất đúng. Đại học tốt ở VN không thể và không nên so sánh với ĐH ĐC QT. Đại học tốt phải có sự huấn luyện phù hợp với nền kinh tế hiện tại trong nước. Chúng ta không thể đào tạo những tiến sĩ hoặc kỹ sư mà không có chỗ cho họ làm, khi ra trường. Có lẽ, chúng ta phải đào tạo một lớp trẻ có khả năng kinh doanh, biết kinh doanh, và dám kinh doanh, lập những công ty, mở chỗ làm cho các kỹ sư và học giả.

    Nhiều công ty ở Mỹ, như Apple, Microsoft, Kingston, … đều bắt đầu từ nhà kho. Họ biết rằng, hơn 90% là họ có thể sẽ thất bại. Nhưng chính phủ có chương trình giúp đỡ những người này, trước mắt là họ được giảm thuế, khi họ đang làm việc, cố gắng để tạo dựng một công ty.

    Tóm lại, đại học tốt phải đi song song với sự phát triển kinh tế và xã hội của nước mình. Bắt chước nước ngoài chưa hẳn là tốt. Điều khó khăn nhất cho một du học sinh về nước là phải ứng dụng cái mới học vào hoàn cảnh nước mình. Cứ tưởng tượng một con ốc, một bộ phận mà các răng ốc không ăn khớp với nhau thì cũng chỉ là vô dụng mà thôi.

    Số lượt thích

    • http://bolapquechoa.blogspot.fr/2014/04/vi-pham-tu-do-hoc-thuat-trong-vu-thu.html

      Các bác đọc bài này chưa? Tòan các giáo sư tiến sĩ lừng danh thế giới ký tên nhé (nhưng sao không thấy tiến sĩ văn học nào ký tên nhỉ? Chắc họ không được thông minh giỏi giang bằng mấy người kia) ! Mừng cho tự do học thuật được bảo vệ ! Chúc cho Đại học tiến xa ! Buồn cho văn học ! Ngành học giàu cảm xúc thế mà cứ sểnh ra là bị đem ra làm đầu cơ chính trị !

      Số lượt thích

      • Các bác giáo sư tiến sĩ ngoại ấy được trời cho sinh ra đã giỏi hơn người, lại chăm học hành, thành đạt, hưởng lương ngoại quốc, đời sống dễ chịu, nuôi vợ con thoải mái, chứ còn Bộ Giáo dục ta, giáo sư ta, lương mấy cọc mấy đồng, làm việc cũng quần quật chứ chẳng phải ngồi không, hễ đòi tăng lương là ai cũng hú lên. Thế mà các bác to khỏe ấy hè nhau vào lấy mạnh đánh yếu, làm tôi chán quá ! Tôi tưởng các bác ấy phải linh động sáng suốt hơn thế ! (Tôi biết rồi, tôi biết rồi, các bác sẽ nói là tội lỗi là Đảng Cộng Sản, nhưng mà nếu mà các bác tài giỏi tự do vậy thì các bác giải cứu Ukraine thử cho tôi xem nào, chứ đừng có xúi trẻ con ăn cứt gà nhé !)

        Số lượt thích

      • Tử tế ra thì các bác ấy đóng góp ý kiến cho giáo dục, chứ không tôi thấy có mỗi anh admin học thế nào ngồi hì hục đăng bài cả ngày, mà cấm có thấy giáo sư tiến sĩ ngoại Pháp Mỹ viết cho được bài nào. Tôi cho là có hai cách giúp người, một là chê cái xấu của người ta (cái này ai cũng khoái làm, vì chê nó sướng mồm mình, mà mình lại ưu việt hơn nó!), hai là khen cái tốt của người ta (chứ không phải khen đểu ạ!), để cho người ta phát huy. Chứ cứ ký xoẹt một cái vào một cái tờ giấy thì dễ quá !

        Số lượt thích

  2. Một đại học tốt ít nhất phải là một đại học mà ở đó người ta không bị bắt buộc phải học lịch sử đảng, tư tưởng HCM, đường lối CM VN cùng những thứ đại loại như thế và thứ hai là không cần nói dối khi giảng dạy.

    Số lượt thích

    • Tôi nghe ai chỉ trích người nói dối là tôi chột dạ. Người đời thường hay vin vào cớ đấy để chỉ trích bên văn, mà công việc vốn gắn liền với tưởng tượng. Tôi nghĩ chắc lại phải phân biệt hai loại nói dối, một loại nói dối để mưu lợi cho mình (mà có hại cho người), một loại là nói sai sự thật nhưng mà chân thật, do tưởng tượng. Chứ các bác cứ chăm chăm tiêu diệt nói dối thì các bác lại diệt cả ngành văn học bây giờ.

      Mà việc gì khi giảng dạy lại phải nói dối nhỉ? Ví dụ như các bác cho rằng nói “Đảng ta là vĩ đại” là nói dối, thì tôi vẫn có thể nói được như thế này : “lịch sử hiện đại của chúng ta nói rằng Đảng ta là vĩ đại”(hehe, không phải tôi nói nhé, còn lịch sử của ta đúng hay sai thì mời anh chị nghiên cứu nhé!)

      @ pham thang : bác pham thang chờ tí, tôi viết sắp xong cái bài “tiên học lễ” của tôi rồi !

      Số lượt thích

    • A, chỗ này hay lắm, nên tôi chui ngay vào đây. Văn có khác !

      Nói dối là một nghệ thuật ! (I am sorry !). Nếu có cái dối để trốn tránh trách nhiệm, có cái dối để lừa lọc, hãm hại, thì cũng có cái … dối, gọi là “tưởng tượng.” Không, Einstein gọi là “cho phép ta bay về một phương trời vô định…”

      Cũng có người nói: yêu giỏi là biết nói dối giỏi. “Tôi xin người cứ gian dối, nhưng xin người đừng lìa xa tôi.” Ừ đấy, tôi biết tẩy em rồi …, em đang nói xạo tôi, nhưng mà … em cứ nói đi… bởi vì, tôi biết em không hại tôi, mà em chỉ muốn tôi vui…

      Tôi mới đọc xong bài “chia sẻ với các bạn sinh viên mới ra trường” của Trần Vinh Dự. TVD viết rất dễ đọc và chia sẻ những kinh nghiệm sống rất thực tế. Cứ nhìn vào cái năm anh vào đại học, thì tuổi đời tôi hơn anh những 20 năm lẻ, nhắc tôi nhớ đến người hùng TCS. TCS hơn tôi một con giáp. Ông thường nói về “thân phận con người,” ông ra đi lúc 62; trong khi, 62, tôi vẫn còn đây. Tôi hơn hay kém ông cái gì nhỉ? Tuổi tác ư ! Thời gian chẳng là gì, so với sự vô cùng của vũ trụ. Hạnh phúc ư ! Tôi đồng ý với TVD: Hạnh phúc là cảm nhận chủ quan, mà ta không thể so sánh được với ai. Cái gì làm cho ta hạnh phúc. Các bạn biết rồi đấy…

      Trước khi chấm hết, các bạn cho tôi tưởng tượng tí nhá… Tôi đang nhìn về một miền quê … xa lắm, mặc dù trái đất này cũng là quê hương tôi, nhưng có miếng đất nhỏ hơn, nơi ba mẹ tôi đang sống, dù xa nhưng rất gần. Nơi khác là những người tôi thương mến, mặc dù, có khi không đồng suy nghĩ với tôi, nhưng họ không làm gì hại tôi, mà có lẽ họ cũng rất thương tôi … Một tư tưởng vừa lóe lên trong đầu: Đó chính là ơn huệ (blessings) của trời đất, của tổ tiên, của các bạn dành cho tôi … (mà tôi vẫn thường gọi là đạo).

      Số lượt thích

      • Ôi vậy là bác pnh tuổi cọp ư? Vậy mà sao em thấy bác hiền quá vậy? Mà sao mình cứ gặp mấy ông nào tính tình dễ thương thì mấy ổng già hết trơn !! 😦 Mấy ông chưa già thì lại khó quá !

        Số lượt thích

      • Mèo mà mèo non, nên hay vớ vẩn !

        @Thanh Hải. Nhìn thẳng là như vậy; như kia, là nhìn xéo một tí. Cám ơn

        Số lượt thích

      • em cũng là mèo nhà 😉

        Số lượt thích

      • Bác đang imagine chứ không phải deceive yourself or someone! 🙂

        Số lượt thích

      • Xuân ơi, đừng bảo tôi già,
        Xưa nay, gừng quế ai mà xài non !

        Đại học tốt là đại học có nhiều alumni già. Không khéo các cụ ông cụ bà này, họ sẽ tặng hết gia tài của họ cho mái trường của họ đấy ! Hãy tiếp tục liên lạc và mời họ về dự các buổi union hằng năm.

        Số lượt thích

      • Bác pnh là mèo non tức là bác sinh đầu năm có phải không ạ? Vậy bác không phải mèo nguyên con, mà là mèo lai hổ, đầu hổ đuôi mèo. Vậy bác không hợp với các bà các cô tuổi mèo ạ, vì hai vợ chồng suốt ngày kêu “nghèo nghèo” là xui xẻo lắm. Bác cũng không hợp các cô tuổi Tí, vì bác sẽ át vía vợ. Các cô tuổi Thìn chắc cũng không được, vì “hùm chẳng có vây”, các cô ấy bay lên trời là bác ngồi nhìn. Tuổi dậu em cũng biết vài cô ế chồng với lại chê chồng, không biết có được không. Nhưng em đoán bác là “vieux garçon” có phải không ạ?(Để em về em dọa một anh bạn em). Vậy thôi em không tính tiếp nữa, tại vì theo em thì mấy anh ế vợ hoặc bị vợ chê thì thấy có cô nào yêu mình quá thì lấy đại đi cho rồi, đằng nào thì cũng…

        Số lượt thích

      • Quạy quá !

        Xin cảm ơn cái tình, thế cũng đủ rồi, lh ạ. Còn về cái đuôi mèo đầu hổ, thì không phải, đó là đi thụt lùi. Đằng này đi tới, đuôi mèo đầu rồng cơ, thế mới hay ! (“Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng” đấy!)

        Anh Hai tôi, TCS, có nhiều bạn gái lắm, mà chẳng ai chê trách điều gì nơi anh ấy. Anh cũng là thầy giáo. Tôi không biết TCS đã làm gì với HN, tôi cũng không biết anh đã làm gì với KL, hay với Diễm, hay với Quỳnh, vv. Có điều, nếu anh ấy có làm gì đi nữa, thì tôi cũng chả ngại bắt chước anh, làm như thế với các bạn của tôi. (khôn quá, ăn tham)

        Có một điều tôi chẳng muốn bắt chước TCS, là hút thuốc, vì tôi đã bỏ hơn 30 năm rồi. Nhưng mà tôi đề nghị thế này với các giáo viên và giảng viên ở VN: Mỗi năm trước khi hè về, các ngài sẽ bỏ hút thuốc một tháng, lấy tiền đó xung vào quỹ học sinh. Các em sẽ vui lắm, và chắc chắn sẽ học nơi quý cô thầy một đức tính tốt. Đồng ý không ?

        Số lượt thích

    • Có lẽ Bác Huyên và bạn LH có sự lầm lẫn sự giả dối với sự tưởng tượng trong văn học. Fiction (hư cấu, viễn tưởng) và non-fiction trong văn xuôi có sự phân biệt rõ rệt.

      Một bên là fiction với chuyện được hư cấu bởi các tình tiết không có thật, nhưng không với mục đích lừa gạt ai có chủ ý để đạt mục đích xấu mà là có mục đích giải trí như để phục vụ và đáp ứng trí tưởng tượng của người đọc (entertainment). Người đọc khi cầm cuốn sách đó lên đều biết là nó là một tác phẩm hư cấu. Họ có thể phê phán nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm, chứ không có quyền coi đó là sự lừa gạt, gian dối để kết án tác giả.

      Một bên là non-fiction với những thông tin có thật, hoặc ít ra là được tác giả đánh giá là đúng sự thật khi bình luận về một đề tài, về một vấn đề hay hiện tượng. Non-fiction có thể là một bài luận nhỏ, một bài luận văn về một nhóm Thơ như đang được tranh cãi mấy tuần nay, hay một cuốn tiểu sử mấy trăm trang, cũng như một bộ phim tài liệu. Đối với những tác phẩm này thì sự thật được coi là trọng tâm nghiên cứu. Tuy nhiên trong khoa học nhân văn cũng như khoa học khác thì ngay cả sự thật cũng mang tính tương đối, tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và cả chủ quan.

      Số lượt thích

      • Bà Nancy Huston là một bà nhà văn gốc Canada sống ở Pháp có viết tiểu luận về fiction (tưởng tượng, hư cấu), tựa đề là “L’espèce fabulatrice”(tôi tạm dịch là “Thể loại huyền thoại”). Đại khái bà ấy nói là kể chuyện là một đặc tính phân biệt giữa con vật và con người (con vật thì không biết kể chuyện), và rằng, khi ta kể một câu chuyện, bằng tất cả sự ngây thơ của mình, thì đã có sự tưởng tượng ở trong đó.(Tôi bèn suy luận thêm là đúng vậy, một câu chuyện mà nhiều người kể thì sẽ khác nhau, ví dụ như con sói, hoàn toàn ngây thơ, mà kể lại câu chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ” thì chúng ta sẽ có một câu chuyện khác, có phải không ạ?). Bà ấy cũng tin rằng văn học là tưởng tượng, văn học thông báo rằng : “em là một sự tưởng tượng, hãy yêu em như vậy !”. Thế giới tưởng tượng làm cho thế giới thật của chúng ta có nghĩa, và làm cho nó tốt đẹp hơn lên.

        Số lượt thích

      • Đúng rồi, một tiểu luận khi viết về fiction thì fiction là đối tượng nghiên cứu của tiểu luận đó. Còn bản thân tiểu luận đó thuộc thể loại non-fiction. Thí dụ bài luận phân tích về “Con cáo và chùm nho” thì đối tượng nghiên cứu ở đây là Fabel (tiếng đức), (engl. franc.: fable), là chuyện tưởng tượng hư cấu fiction, còn bài luận vẫn là non-fiction. Sự tưởng tượng imagination thì không những có trong văn học mà còn ở mọi khoa học khác và trong cuộc sống hàng ngày. Không có imagination thì sẽ không có XH văn minh và chỉ có thời kỳ đồ đá 🙂

        Số lượt thích

      • fable tiếng Việt là truyện ngụ ngôn, giờ mình mới nhớ ra.

        Số lượt thích

  3. Hãy thử nghĩ mà xem. Các bậc thầy về Kinh tế ở các trường ĐH VN ngày ngày giảng bài về các học thuyết này nọ. Nhưng bảo họ giải thích về kinh tế VN thì có ai nói được cái gì ra hồn đâu? Ai giải thích được các hiện tượng như là chi phí xây cầu, làm đường ở ta lại cứ cao hơn cả Mỹ? … Nếu rảnh có thể kể nhiều làm VD. Như thế các vị ấy đang giảng giải cái gì trong trường? Nói dối quá chứ còn gì nữa.
    Sắp tới đây là 34 ngàn tỉ cho một bộ SGK. Ngoài chi phí viết sách thì còn vô khối chi phí không biết là cái gì. Ví dụ là triển khai tập huấn thay sách như đã làm với bộ SGK trước. Hãy nghĩ mà xem. Ở ĐHSPHN1, sinh viên học cả khóa không có dạy gì về SGK mà ra vẫn đi dạy bình thường.( Mà bản thân sinh viên có khi trước kia học một bộ SGK khác hoàn toàn nhá.) Thế thì tại làm sao mà giáo viên đã đi dạy lâu năm, kinh nghiệm đầy mình lại phải tập huấn để dạy? Nếu bảo vì GV dạy lâu nên kiến thức mai một hết, không nhanh nhạy như SV nên phải tập huấn lại thì rõ đám GV ấy không hề có năng lực tự học làm sao đi dạy? Thậm chí có tỉnh còn lập cả một cái phòng nghiên cứu và triển khai SGK, tức là thêm cả chục cái biên chế nữa. Rõ ràng người thường ai cũng biết việc làm đó là vô bổ, lãng phí nhưng các vị đầu to vẫn làm và vẫn bảo nó là cần thiết. Thế có là nói dối không?
    Ai chả biết các bác ấy phải đẻ ra việc để có vẻ đang làm việc và có cớ để duyệt chi tiền.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: