How We Learn

Đảo chiều trong tuyển sinh: Những lo ngại – Phạm Thị Ly

Cùng với tình trạng thất nghiệp của người có bằng ĐH là hiện tượng giảm sút số lượng hồ sơ vào đại học diễn ra đồng loạt ở tất cả địa phương với mức giảm phổ biến từ 20-30% trước thềm kỳ thi năm nay. Từ chỗ ồ ạt mở trường, ồ ạt vào đại học, nay con số nộp đơn giảm sút một cách đáng lo ngại. Hiện tượng đảo chiều này cần được nhìn nhận như thế nào từ góc độ tác động đến sự phát triển chung của nền kinh tế và của xã hội?

 

Bất ngờ là cả những trường vốn có sức hút, có nhiều ngành điểm chuẩn rất cao như Trường ĐH Y Hà Nội, số hồ sơ cũng giảm hơn 1/3 so với năm ngoái. Với 60 trường được tuyển sinh riêng, lượng hồ sơ dự thi ở phần lớn các sở cũng chỉ “đếm trên đầu ngón tay”. Các tỉnh xa trung tâm như Sơn La, Hòa Bình… có rất ít thí sinh đăng ký xét tuyển.

 

Hệ thống nào, sản phẩm đó

Phải chăng có thể giải quyết tình trạng cử nhân thất nghiệp bằng cách giảm bớt số lượng cử nhân, thạc sĩ, tức siết chặt đầu vào đại học, như Bộ GD-ĐT đang dự định làm, với việc công bố tiêu chí đảm bảo chất lượng đầu vào để các trường xét tuyển vào học ĐH, CĐ đối với từng khối thi, từng ngành đào tạo; căn cứ trên kết quả thi của thí sinh? Liệu siết chặt đầu vào có nhất thiết dẫn đến tăng chất lượng, nếu chúng ta vẫn duy trì cách dạy và học, cách quản lý nhà trường và quản lý hệ thống như hiện nay?

Câu trả lời là không. Hệ thống nào thì sản phẩm đó. Nếu không có sự thay đổi trong những vấn đề cốt lõi của cách tổ chức hệ thống, thì siết chặt đầu vào không tự động nâng cao giá trị gia tăng cho đào tạo đại học. Cho dù số người có bằng cấp sẽ ít hơn, cũng không có nghĩa là những người ấy có đủ năng lực đảm nhận những công việc đòi hỏi khả năng, phẩm chất và kỹ năng bậc cao. Cạnh tranh trên thị trường lao động đang là cuộc cạnh tranh toàn cầu, nếu nền giáo dục của chúng ta không tạo ra đủ những người có thể đảm nhận công việc bậc cao, thì người khác ở nước khác sẽ làm những công việc ấy, còn những người có năng lực hạn chế hơn, kỹ năng thấp hơn, tư duy chậm hơn, giản đơn hơn và có ít khả năng tự học, thì sẽ làm những việc không sản sinh nhiều giá trị và hiển nhiên là lương thấp.

Có ý kiến cho rằng hiện tượng đảo chiều này là tất yếu và là một sự phản ứng của thị trường đối với tình trạng mở trường, mở ngành, tuyển sinh ồ ạt trong lúc chất lượng bị thả nổi thời gian qua. Điều đó đúng, nhưng vấn đề quan trọng hơn, là các nhà làm chính sách cần đáp ứng với thực tế đó như thế nào.

Câu hỏi đặt ra là có quả thật chúng ta dư thừa những người có trình độ cử nhân, thạc sĩ, trong lúc rất thiếu những người có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, nói cách khác, thừa thầy thiếu thợ?

Hiện nay, tỉ lệ người vào đại học trong độ tuổi 18-22 trong năm 2012 của Việt Nam là 25%, trong khi ở các nước phát triển là 40-50% (55,6% ở châu Âu và Trung Á, theo WB, 2012). Các nền kinh tế có thu nhập cao là các nền kinh tế theo định hướng sáng tạo (innovation driven), cạnh tranh bằng khả năng áp dụng các quy trình sản xuất phức tạp và bằng việc tạo ra các sản phẩm sáng tạo. Các nền kinh tế này cần hệ thống giáo dục sau trung học cung cấp lực lượng lao động có tay nghề và năng lực nghiên cứu cần thiết để duy trì các quy trình sản xuất phức tạp và đạt được sự cách tân trong sản xuất. Có những nền kinh tế với tỉ lệ người có học vấn sau phổ thông rất cao như tại Phần Lan, tỉ lệ vào ĐH trong độ tuổi là 96% hay Hàn Quốc là gần 100%. Việt Nam không phải là ngoại lệ, chúng ta cần nhiều hơn nữa những người đạt trình độ cử nhân trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ, dịch vụ, nhất là khi ta đã và đang khẳng định mục tiêu xây dựng nền kinh tế tri thức. Vậy, có gì mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển nhân lực bậc cao và tình trạng thất nghiệp của cử nhân, thạc sĩ?

Có hai vấn đề nổi bật : Một là, xã hội vẫn đang vướng víu trong tâm lý coi đại học là dành cho một bộ phận tinh hoa, học ĐH là để làm quan, làm chủ, làm sếp, mà không nghĩ rằng học vấn đại học cần trước hết cho tư cách công dân và tư cách người lao động trong nền kinh tế tri thức. Chúng ta hạn chế số người vào ĐH vì quan niệm cái gì ít thì mới quý, nếu ai cũng có bằng ĐH thì bằng ĐH đâu còn giá trị để làm quan, làm chủ, làm sếp nữa?

Chúng tôi cho rằng phải thay đổi quan niệm về trường ĐH, về việc học ĐH, và về bằng cấp nói chung. Cũng không cần phải la hoảng về việc cử nhân đi làm lao động giản đơn. Nếu những năm tháng học ĐH không mang lại cho người học một kỹ năng, kiến thức hay phẩm chất nào đủ để làm được những việc phải có kỹ năng cao, thì đi làm lao động giản đơn là hợp lẽ. Nếu người có bằng ĐH quả thật có những kỹ năng, kiến thức, phẩm chất khác biệt với những người chưa được học ĐH, thì họ sẽ làm công việc giản đơn ấy với con mắt quan sát, phân tích, và sẽ nhìn thấy vô vàn cơ hội để làm khác đi, để tạo ra lợi nhuận và để tiến bộ.

Hai là, quan niệm về bằng cấp. Cả nhà trường và người học đều xem tấm bằng là vật trao đổi, thay vì coi nó chỉ là sự ghi nhận cho một tập hợp năng lực nhất định chứ không thể thay thế cho những năng lực ấy. Rất nhiều người đi học chỉ vì tấm bằng, mà không tận dụng được cơ hội những năm tháng đại học để thực sự nâng cao giá trị của mình, về trí tuệ, tâm hồn, phẩm chất, kỹ năng. Vì coi tấm bằng là mục đích, nên chạy theo những yêu cầu trước mắt để có tấm bằng, bất kể những bất hợp lý và thiếu sót trong chương trình đào tạo. Nhà trường cấp bằng cho sinh viên xong là hoàn tất hợp đồng, bởi họ coi sinh viên là khách hàng của mình, thay vì phải coi sinh viên là sản phẩm của mình và thị trường lao động mới là khách hàng thực sự tiêu thụ những sản phẩm ấy.

Bởi vậy, nếu chính sách không can thiệp, chúng ta sẽ thiếu hụt lượng lao động có kỹ năng trong tương lai không xa, và không thể nào tăng cường được năng lực cạnh tranh trong thế giới toàn cầu hóa. Chúng ta không thừa cử nhân, không thừa thạc sĩ, ta chỉ đang thừa những người có bằng cấp mà không có năng lực phù hợp với những gì thị trường cần đến, và cái gốc vấn đề vẫn là chất lượng đào tạo của các trường.

Những ý kiến cho rằng nhà nước cần mở rộng cửa tuyển sinh để “cứu“ các trường tư rất không thuyết phục. Các trường tư cần biện minh sự tồn tại của mình bằng cách chứng minh được những đóng góp thiết yếu của mình cho xã hội, thông qua việc tạo ra những sản phẩm chất lượng tốt có thể dùng được, chứ không thể nhân danh phi lợi nhuận để đòi hỏi đặc quyền, ân huệ của nhà nước hay xã hội, càng không thể biện minh sự tồn tại của mình dựa trên lý lẽ bởi đã trót được sinh ra cho nên phải được sống.

Nhà nước cần mở rộng cửa tuyển sinh, nói đúng hơn là cải cách tuyển sinh, nhưng không phải nhằm để cứu các trường tư, mà là dựa trên một quan niệm khác về đào tạo đại học.

Nếu một học sinh bị loại khỏi trường ĐH chỉ vì lý do là không đủ chỗ ngồi cho tất cả mọi người, thì điều này liệu có chính đáng về phương diện đạo đức và xã hội? Nếu chúng ta coi tất cả mọi người đều bình đẳng về danh dự và phẩm giá, và quan niệm rằng một xã hội lý tưởng là một xã hội tạo ra cơ hội công bằng cho mọi người, thì việc dành ưu tiên cho những người có năng lực trí tuệ cao hơn (giả sử là điểm thi cao hơn thì năng lực trí tuệ tốt hơn) phải chăng đã khoét sâu thêm hố ngăn cách: người có năng lực tốt hơn sẽ được tiếp tục đào tạo để giỏi hơn nữa và tiến xa hơn nữa, trong lúc người không được thông minh bằng thì sẽ bị tước mất cơ hội cải thiện mình và thu hẹp khoảng cách? Đó là chưa nói đến việc những em có điểm cao có thể là những em có điều kiện học tốt hơn, được kèm cặp, luyện thi, và không phải dành thời gian kiếm sống như những em gia cảnh khó khăn. Một trong những động lực quan trọng của giáo dục đại học chính là tạo ra cơ hội thay đổi cuộc đời, từ đó thúc đẩy sự vận động xã hội và dịch chuyển các giai tầng. Mặc định rằng trường ĐH chỉ giành cho người giàu, người có năng lực là làm hạn chế động lực ấy. Cần nhấn mạnh một điều căn bản, rằng bằng tốt nghiệp ĐH là tiêu chuẩn kiến thức và kỹ năng thông thường cho một nền kinh tế tri thức.

Trọng tâm chính sách

Để đáp ứng với những lo ngại loạn chuẩn nếu buông lỏng kiểm soát chất lượng đầu vào, rất cần một chính sách hỗ trợ cho chất lượng. Thay vì Bộ GD-ĐT phải trực tiếp tăng cường công tác quản lý và giám sát hoạt động của các trường (một việc không dễ dàng, và chắc chắn quá tải), cần đặt hoạt động của các trường dưới sự giám sát của các hội nghề nghiệp (như kiểm định độc lập, hay các hội chuyên ngành) và nhất là dưới sự giám sát của toàn xã hội. Chủ trương “Ba công khai” (Công khai cam kết chất lượng giáo dục và chất lượng giáo dục thực tế, Công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục và Công khai về thu – chi tài chính) của Bộ cần được đẩy mạnh và thực thi sâu rộng hơn nữa. Các trường cần phải làm quen và thực thi trách nhiệm giải trình của mình trước xã hội về việc sử dụng ngân sách và về kết quả công việc của mình.

Bộ GD-ĐT nên tập trung làm chính sách. Chính sách không chỉ có nghĩa là những quy định và đòi hỏi hay cấm đoán, mà là những khuôn khổ pháp lý nhằm khích lệ hoạt động đào tạo hay nghiên cứu của các trường đi theo những định hướng chiến lược phù hợp với lợi ích quốc gia trong từng thời kỳ.

Hiện nay vấn đề cấp bách là khẩn cấp cải thiện chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, tài liệu giáo trình, và môi trường đào tạo bậc ĐH nói chung. Nếu các trường ĐH thực sự có chất lượng, họ sẽ tạo ra một thế hệ mới không ngồi chờ may mắn hay cơ hội, không chỉ mơ ước bán được sức lao động ăn lương, mà sẽ có can đảm chấp nhận rủi ro, dám nghĩ, dám làm, vượt qua mọi khó khăn và thử thách, tự tạo ra cơ hội và công ăn việc làm cho mình cũng như cho người khác. Muốn có một thế hệ như thế, trường ĐH phải chuyển từ chỗ là nơi cung cấp kiến thức một chiều thành một môi trường trải nghiệm và khích lệ sự đối thoại, sự độc lập và đa dạng của sinh viên. Trong sự hạn chế về kết quả đào tạo hiện nay của các trường, sự yếu kém của các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn phải nhận một phần trách nhiệm quan trọng. Nếu không sửa từ gốc thì những sản phẩm mà nhà trường Việt Nam đang tạo ra sẽ tiếp tục bị thị trường từ chối.

Phạm Thị Ly

Nguồn: http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/607875/xu-huong-dao-chieu-trong-tuyen-sinh-nhung-dieu-dang-lo.html

Advertisements

Tagged as:

29 phản hồi »

  1. Ôiiiiiiii bác Phạm Thị Ly, tôi xin ôm hôn bác, ôm hôn bác !! Bác nói đúng từ đầu đến đuôi, chỉ trừ một chỗ hơi tàn bạo ! Bác đã nói lên được tất cả những “triết lý giáo dục” của tôi, mà bao lâu nay tôi kêu gào khản cổ mà không ai thèm nghe cả !!!!! Mới đây tôi đọc một bài của GS Nguyễn Khắc Nhẫn (HTN phải đăng bài ấy chứ !), mà tôi bầm gan tím ruột. Nếu tôi không đang khổ sở khốn đốn vì một chuyện khác, thì tôi đã nói cho các bác nghe. Cả cái bài ấy của GS NKN, nó thông thái, rigoureux, lập luận chặt chẽ, hay cực kỳ, thế mà rốt cuộc ông ấy lại yêu cầu là phải giảm bớt số trường ĐH và par conséquent là số lượng sinh viên ĐH !! Cái sự nguy hiểm là ông ấy có vẻ thông thái như thế thì người ta sẽ tưởng là ông ấy nói gì cũng đúng. Chắc là vì thế mà ông Phạm Vũ Luận nghe lời ông ấy, lại hăm he giảm bớt số lượng trường ĐH và sinh viên ! Này các ông giáo sư thông thái, các ông mà làm thế thì tôi sẽ không để cho các ông yên !!!

    Số lượt thích

    • Nếu bạn làm được gì để các ông ấy không yên thì làm đi. Tôi ủng hộ.

      Số lượt thích

      • Thì tôi cứ nói hoài, nói mãi, nói phải củ cải cũng nghe, huống chi là các giáo sư !

        Bác pham thang, đột nhiên tôi lại nghĩ ra vài ý về câu hỏi của bác : “Thơ là gì?”
        Trước tiên là, tôi thấy câu hỏi ấy cũng giống câu “Tổ của con chuồn chuồn ở đâu?” Nhưng mà thấy bác có vẻ muốn biết thật, nên tôi cũng ráng suy nghĩ. Vậy câu trả lời sau đây là của riêng tôi thôi nhé, chứ không phải là đem áp dụng một cách universel được. Là tại vì, bên văn chúng tôi rất dị ứng với những câu hỏi kiểu phân loại rạch ròi như vậy, người ta so sánh nó với cái giường của Procuste (cái tên chuyên bắt người đặt họ lên một cái giường rồi chặt chân tay thò ra ngoài ấy). Nhưng tôi biết là bên logique thì họ thích thế, các blogger Procuste trên mạng cũng đầy ra. Vậy tôi xin thử trả lời bác ở comment sau.

        Số lượt thích

      • Vậy thưa bác pham thang cùng các bác, thơ, theo tôi, là một ý tưởng đẹp và chân thật.

        Cả hai điều ấy đều là cảm nhận được, vì khiến ta xúc động, mặc dù là sự chân thật thì có vẻ rõ ràng hơn. Vì thế mà GS NBC, nói về bài thơ “Vì người ta cần ánh mặt trời” của ông Nguyễn Đắc Kiên, GS có nói là ông ấy thích bài thơ ấy vì nó đến từ trái tim, đại khái thế, ý là ông ấy thấy nó chân thật. Về phần tôi, thì tôi không thích lắm, vì tôi thấy nó không được đẹp lắm. Nhưng mà đánh giá về vẻ đẹp thì thế nào cũng có một chút chủ quan, và vì vậy mà thường gây tranh cãi. Dù sao đi nữa, cái đẹp luôn làm ta xúc động, có khi mọi người cùng đồng thuận, có khi có người thấy xúc động, còn người khác thì không.

        Như vậy, thơ không nhất thiết là phải gieo vần, hay xuống hàng như bác nói. Nhưng những sự trau chuốt ấy nó cũng góp phần làm đẹp thêm ý thơ. Ví dụ như “Em yêu anh” hay là “Anh yêu em” là thơ, nếu đó là những lời chân thật, vì chúng đã đẹp sẵn rồi,
        nhưng các nhà thơ vẫn làm không biết bao nhiêu là bài thơ đẹp, cũng chỉ để nói lên một điều ấy thôi. Còn những lời bác Hồ Quang nói với tôi, thì là những lời chân thật, nhưng theo quan niệm của tôi, thì đấy không phải là thơ (không biết bác pham thang có đồng ý không, vì tôi nhớ là bác có nói là bác xúc động 🙂 )

        Số lượt thích

        • Vậy thưa bác pham thang cùng các bác, thơ, theo tôi, là một ý tưởng đẹp và chân thật.
          Ố. Định nghĩa khái niệm kiểu thế này thì lại phải luận nhiều nữa đây.
          Trong câu ấy, đẹp là quá khó nắm bắt rồi. Có những thứ Đẹp với người này mà Không Đẹp với người khác. Thứ nữa, “ý tưởng” ấy là của ai?
          Trả lời của bạn làm tôi nhớ chuyện (nhiều dị bản):
          Ông quan yêu cầu mấy anh người làm phải nuôi sao cho trâu đực đẻ con. Một anh đã thưa quan là phải làm được cái chuồng có phép tiên rồi nuôi mới được như ý. Quan hỏi làm thế nào. Anh thưa phải ra ngoài biển đông tìm được hòn đảo có tiên ở. Lên đảo ấy phải tìm được một giống tre quý, loại mà phải chặt ra, phơi nắng 1 tháng rồi trồng mới mọc. Đem tre ấy làm chuồng, trộn lẫn lá tre vào cỏ cho trâu ăn thì trâu đực sẽ đẻ trứng.

          Số lượt thích

        • nhầm. “đẻ con”. !!!

          Số lượt thích

        • Trưa nay tôi ăn cơm với gia đình.
          Câu này là rất chân thật (100%), và rất đẹp (ai không thấy đẹp thì lên tiếng). Nhưng tôi chả thấy nó có vẻ gì là giống thơ cả.
          Vậy có lẽ đẹp và chân thật chưa đủ là thơ. Cần thêm nữa.

          Số lượt thích

        • Bác pham thang, câu “Trưa nay tôi ăn cơm với gia đình” chưa chắc là đẹp !

          Nếu bác nói “Trưa nào tôi cũng cùng gia đình ăn cơm” thì mới chắc chắn là đẹp. Chứ còn như trưa nào bác cũng chuồn đi đâu đấy, một hôm tự dưng lại về nhà, thì chắc ai nấy đều băn khoăn, ăn cũng mất ngon. Đấy là chưa kể, tính tình bác rất khó chịu, ngồi ăn bác gây sự nọ kia, hạch hỏi tùm lum, không ai nuốt được, thì câu ấy lại càng không đẹp, vì vợ bác sẽ muốn làm một câu thơ khác, ví dụ như “Trưa nay, thật may, em ăn cơm thầm dưới bếp, món ngon một mình xơi hết, chẳng bị ông nào chì chiết”. Chưa kể, hai anh chị khắc khẩu, nóng tính, ngồi ăn một chốc là chén bay, dĩa bay…

          Số lượt thích

        • Thơ là “con voi thật to” mà mình không thể nói hết, mỗi người chỉ có thể nói được một phần. LH bảo “thơ là một ý tưởng đẹp và chân thật.” Tôi xin nói cái phần của tôi, thế này..

          Từ khi có cây ngôn ngữ, thì nó có 2 phần: văn là lá, và thơ là hoa. Vì người ta thường gọi là thi ca, nên thơ là cái gì có thể ngâm lên được. Hồi 72 (lúc đó LH và PT chưa ra đời), trong Nam, trai thời loạn, thì ai cũng phải đi lính. Tôi học ở Thủ đức, cứ cuối tuần thì được đi SG chơi. Khi trở về, thì đứa nào cũng biết làm thơ. Tôi quên hết rồi, trừ một câu tôi vẫn còn nhớ: “Anh đã nói với em/ rất nhiều lần,/ là đời lính/ không hào hoa/ như nhiều người vẫn tưởng!”

          Vậy nếu nói thơ là những tiếng có thể ngâm lên hay hát lên, thì tiếng Việt mình chỉ toàn là thơ thôi, các bạn ạ.

          Số lượt thích

        • Dà hồi 72 đó là ngay khi GS NBC sinh ra (em xin chuẩn bị chúc mừng sinh nhật GS, GS có được nhiều quà không ạ?)! Hồi đó chắc là bác pnh trẻ trung đẹp trai lắm hén?

          Số lượt thích

        • LH làm tôi vui!
          Cám ơn HTN, cám ơn các bạn,
          Tôi bây giờ cũng đẹp trai, chứ không dám đẹp gái đâu!

          Số lượt thích

        • Em thấy định nghĩa thơ của bác pnh cũng hay quá, em mới thử kiểm tra lại xem có đúng không, bằng cách ngâm những comments của bạn Hồ Quang lên, thì em thấy có mùi thum thủm, vậy em tò mò chút không biết cái đó là thơ hay văn?

          Số lượt thích

        • Ngâm lại lần nữa đi, nó sẽ hay hơn. Nếu nó không hay hơn, mà lại còn dở hơn, thì đích thị là tại người ngâm, hi hi !

          Số lượt thích

        • Bác pnh, em không có can đảm ngâm lại “thơ” của bạn Ho Quang lần nữa, nên em ngâm thử thơ của bác, thì thấy thơm ơi là thơm !! Vậy là chắc không phải tại người ngâm bác hén?

          Số lượt thích

        • Có sự kỳ thị bắc nam, mỹ đen mỹ đỏ rồi đấy, LH ạ !
          Người ta nói tình có bảy; mầu cũng có bảy, đỏ cam vàng lục lam chàm tím; âm cũng 7; vị thì có ít nhất 6, lục vị; còn mùi thì chỉ thấy có hai, thơm và thủm, bắt đầu bằng “th”. Cái này phải nhờ đến bác pham thang cắt nghĩa hộ, tại sao như thế?

          Trong khi chờ đợi, tôi bàn về chữ chuẩn của ĐH Mỹ. Sự thực, các trường học ở Mỹ đều nằm dưới sự quản lý của Tiểu Bang. Ví dụ, Bang California có 58 counties (quận hạt); trong đó, có Orange County (quận Cam hay hạt Cam), rộng khoảng 800 dặm vuông, dân số hơn 3 triệu, sống trong 34 thành phố (cities)

          1. Đại học công ở Orange County:
          – 8 Community colleges (đại học cộng đồng 2 năm), cấp bằng Cán sự.
          – 1 California State University ở Fullerton, cấp bằng Cử nhân, Cao học.
          – 1 University of California, ở Irvine, cấp bằng Cử nhân, Cao học, và Tiến sĩ/ Bác sĩ.

          2. Đại học tư ở OC:
          – Không dưới 30 cái, từ trường lớn như Chapman University, đến trường nhỏ như Beauty College. Tất cả phải có giấy phép của Bộ Thương Mại.

          Trường công tuy ít nhưng có nhiều chi nhánh, trải cùng khắp các nơi. Ngoài ra, tất cả trường công và vài trường tư được WASC (Western Association of Schools and Colleges) xem xét và chấp nhận đủ tiêu chuẩn. Nếu đủ, sinh viên có quyền xin trợ cấp liên bang, và tín chỉ của sinh viên tốt nghiệp được chính phủ liên bang chấp nhận khắp nước Mỹ. Nếu trường không được WASC chấp nhận, học viên vẫn có quyền xin trợ cấp từ tiểu bang (mà thôi).

          Số lượt thích

      • Tôi cũng cảm thấy có một sự khác nhau giữa thơ và văn, mặc dù người ta cũng có nói một áng văn đẹp như thơ, nhưng ngay sự so sánh đã ngụ ý văn không phải là thơ, mà người ta cũng không nói một bài thơ đẹp như văn !! Dường như là, thơ thì phải thỏa mãn cả hai điều kiện là “đẹp” và “chân thật”, trong khi mà văn thì chỉ cần một trong hai điều kiện ấy là đủ. Chúng ta thấy là, văn hầu như được đồng nghĩa với “hư cấu” (fiction), và có một số tác phẩm văn học, như là truyện của Marquis de Sade chẳng hạn, thì chắc không bao giờ có ai gọi là thơ cả.

        Dân Việt Nam thời nay có vẻ không ưa thơ, tôi trộm nghĩ đó là vì dân ta ít chân thật, mà quan niệm về vẻ đẹp của họ cũng rất kỳ, chỉ nội chuyện khen chê hoa hậu là thấy (họ thích các cô trông thánh thiện, càng trẻ càng tốt, cứ như thể là đàn ông Việt Nam toàn là ấu dâm, hoặc là hoàn toàn không háo sắc). Một ví dụ khác là thơ của nhóm Mở Miệng, mấy bài về bác Hồ chẳng hạn, tôi thấy chúng không đẹp, cũng không chân thật, đấy là cái quái gì ấy chứ chẳng phải là thơ !
        Tôi xin chúc các bác một ngày vui khỏe !

        Số lượt thích

  2. Hôm trước, khi thấy bài của TS Phạm Thị Ly tôi đã viết một đoạn để tranh luận nhưng sau đó, buổi chiều vào thì nó biến mất trên trang web này nên không gửi nữa. Nay lại thấy bài đăng lại, rồi vừa đọc comment của Lan Hương, cũng muốn trao đổi cùng Ly (tôi với Ly là bạn, chúng tôi có thể gọi điện cho nhau khi nào muốn và chẳng khi nào từ chối nhưng tranh luận cả, thường thì chúng tôi chỉ nói chuyện với nhau, ít khi xuất hiện sự tranh luận trên báo mạng như thế này).
    Trước hết tôi đồng ý với Ly về trường đại học không phải là nơi mua bán bằng cấp, khách hàng chính thức của các trường đại học và trường nghề là người sử dụng lao động – những sinh viên tốt nghiệp sẽ tham gia thị trường lao động và tất nhiên họ chịu sự “điều phố” của thị trường này. Trong một tranh luận trước về có lãng phí hay không những người tốt nghiệp đại học (ở nước ta hiện nay) tôi đã nói là có lãng phí (lãng phí cá nhân: tiền bạc, thời gian và lãng phí xã hội) nhưng đó là sự lãng phí chấp nhận được. Đúng là không có một xã hội nào lại sử dụng được hết những người tốt nghiệp đại học, nhất là yêu cầu làm đúng nghề được đào tạo vì thế xu hướng đào tạo trong xã hội hiện đại hướng người học đến việc hình thành các năng lực tổ chức cuộc sống, tổ chức công việc cho mỗi cá nhân sau khi tốt nghiệp đại học. Chỉ những người có khả năng tự tổ chức việc học, khả năng sáng tạo (Những việc này hoàn toàn có thể có được qua việc học ở trường phổ thông và đại học) thì mới có khả năng thích nghi với thế giới hiện đại. Tất nhiên là không phải ai cũng có thể có chỗ làm tốt vì sự hữu hạn của vị trí việc làm. Ly vừa nói là chúng ta đang có một chính sách làm cho cơ hội tiếp cận đại học sẽ giảm đi nếu chúng ta dừng việc mở thêm các trường đại học hoặc giản đơn là chặn đầu vào. Tôi đồng ý với Ly là không nên ngăn chặn người học bằng việc xét điểm chuẩn nếu chúng ta có đủ chỗ cho mọi người vào các trường đại học và các đại học phải dạy ra dạy, không phải là chỗ để kiếm tiền, kiếm lợi nhuận trong khi chất lượng đào tạo không tương xứng với những gì người học phải trả. Vậy ai sẽ kiểm tra chất lượng các trường như Ly đề nghị là các tổ chức (hiệp hội) nghề nghiệp và các tổ chức kiểm định độc lập. Khi các trường không thể đáp ứng được các yêu cầu kiểm đinh hoặc không chịu thẩm định thì nhà nước sẽ can thiệp (và bản thân người học cũng sẽ biết cách tránh những nahf trường không đủ chuẩn và không kiểm định). Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đang trên con đường hoàn thiện các chính sách để giáo dục đại học Việt Namtoots hơn.
    Giờ thì muốn Ly trả lời câu hỏi là theo Ly bao nhiêu trường đại học hiên nay của Việt Nam đủ chuẩn? Cách giải quyết các trường này thế nào (Tôi biết Ly đã tham gia các trường đại học công cũng như tư ở VN)? Hy vọng Ly hãy đưa ra những giải pháp cụ thể hơn!

    Số lượt thích

    • Bác Nguyễn Kim Hồng, nếu mà bác cứ thấy người ta cắt còm, xóa còm, chê còm, hiện dòng chữ đen… là bác giận, thì bác có mà sưng sỉa cả ngày. Đấy như tôi với bạn TH gây nhau ngày này sang tháng khác không sao, tự dưng một hôm một bà bà lão quái vút qua, xẹt lửa tùm lum, thế là bạn ấy sợ quá biến mất tăm mất tích. Tôi thì tôi chỉ tìm một chỗ để nuôi ý tưởng của tôi thôi, cũng như nuôi một cái cây, mà nuôi ở trong một cái vườn chung (vì cây cũng như người, nó cũng cần bạn bè), nhưng cũng phức tạp lắm. Lúc đầu thì cây còn gầy gò, èo uột, chăm dần thì nó lớn khỏe, nhưng lúc nào cũng có một bà hoặc là ngứa tay nhổ mất, hoặc là giận chồng vác cuốc thuổng ra đào xới văng hết cả rễ củ lên. Lúc ấy phải vun đất lại, tưới nước bù, nhiều khi phải cho nó đi tản cư lên một cái chậu kiểng, giấu đi cho khuất mắt mọi người. Nhưng đến khi nó chắc khỏe, nở hoa, lại đem ra khoe, mọi người lại kêu lên, ôi mua ở đâu ra cái hoa đẹp thế !! Hừ, đẹp mà rơi vào tay những kẻ tàn nhẫn, vô cảm, bất tri kỳ vị thì cũng tan tác cả ! Giáo dục, theo tôi, là một cái vườn chung như vậy.

      Số lượt thích

    • Giờ thì muốn Ly trả lời câu hỏi là theo Ly bao nhiêu trường đại học hiên nay của Việt Nam đủ chuẩn?
      Bác nên đặt ra chuẩn, cách đánh giá trước khi hỏi bao nhiêu trường đủ chuẩn.
      Còn theo chuẩn của Bộ GD&ĐT thì tất cả các trường đã thành lập đều đủ chuẩn. Chả lẽ Bộ GD&ĐT lại cho thành lập những trường chưa đủ chuẩn ư?

      Số lượt thích

  3. Bác Phạm Thang à!
    Bác nói việc cấp phép là đúng rồi. Tôi muốn Ly đưa ra các giải pháp cụ thể cơ. Nhận định thì đã có, Ly cũng nhận định như nhiều người. Thực tế thì tôi muốn trao đổi kỹ hơn với Ly về hiện tượng giảm (tôi coi là giảm chứ không gọi là “đảo chiều”) hồ sơ đăng ký thi đại học. Nhiều năm làm tuyển sinh tôi có thể lý giải kỹ hơn hiện tượng giảm hồ sơ đăng ký khi so sánh số thi thật (nhưng chỉ có thể có so sánh sau kỳ thi tuyển lần này) – dùng số thi thật để s sánh thì chính xác hơn số đăng ký dự thi. Vấn đề tôi muốn nêu ở đây là việc hình thành văn hóa kiểm định trong các trường, các cơ sở giáo dục đại học: các trường phải duy trì việc tự đánh giá, tự thẩm định hơn là trông chờ được đánh giá ngoài, được thẩm định từ các đơn vị có chức năng kiểm định. Nói được là vì đó là nhu cầu thực sự của các cơ sở đào tạo, khác phải (thì lo đối phó) – đó là một trong những yêu cầu của văn hóa kiểm định. Hiện nhiều đại học của ta chưa làm được việc này.

    Số lượt thích

    • Ồ. Ở trên tôi có nhắc lại câu hỏi của bác với Ly:
      Giờ thì muốn Ly trả lời câu hỏi là theo Ly bao nhiêu trường đại học hiên nay của Việt Nam đủ chuẩn?
      Khi hỏi người ta về đủ chuẩn thì phải có chuẩn đã chứ. Bác bảo người ta câu cá khi không có cần câu à? Tức là câu hỏi của bác khá là ngớ ngẩn.

      Số lượt thích

  4. Nghe thì biết, nhưng không có gì mới.

    Số lượt thích

  5. Việc cần giải quyết không phải là mấy khái niệm. Tôi thì tôi chẳng quan tâm tới Đại học, cao đẳng, trung cấp, …. Vấn đề chính là phải ước lượng xem Nước ta cần bao nhiêu người trình độ alpha, bao nhiêu người trình độ beta, …, khả năng thực sự có thể tạo được bao nhiêu người trình độ alpha, trình độ beta từ hạ tầng dân trí và kinh tế hiện tại, từ đó mà cơ cấu mà tổ chức các loại hình đào tạo cho thật hợp lý, thật hiệu quả, thật tiết kiệm. Chứ không phải thích cái gì thì làm cái đó cho bằng được, thậm chí không làm được thì phải làm cái hao hao giống cho bằng được.

    Số lượt thích

  6. Một yếu tố đóng góp vào sự đảo chiều là chu kỳ. Trời đất còn có chu kỳ, huống chi chuyện con người. Khi nó xẩy ra, người có trách nhiệm phải làm gì? Cũng như về kinh tế, thất nghiệp là chuyện đương nhiên, nó sẽ xẩy ra. Khi đó thì chính phủ phải làm gì? (Người cầm túi tiền mà không làm được gì, thì ai làm gì được?)

    Số lượt thích

  7. Sáng nay tôi vừa đọc một đoạn tin trên VTV1: Chỉ tiêu tuyển sinh năm nay là trên 500.000 trong khi hồ sơ đăng ký dự thi là trên 900.000 thí sinh. Thông tin trong bài của TS Ly: “Hiện nay, tỉ lệ người vào đại học trong độ tuổi 18-22 trong năm 2012 của Việt Nam là 25%, trong khi ở các nước phát triển là 40-50%” nói đến số người học đại học trong độ tuổi học đại học. Hiện nay chúng ta mới có khoảng 70% số trong độ tuổi học sih trung học phổ thông được đi học vì thế cần phải đẩy mạnh tỉ lệ học sinh trong độ tuổi trung học phổ thông tới trường hơn là đầu tư nhà nước cho số vào học đại học, cao đẳng (sau trung học) mới hy vọng xóa dần khoảng cách đào tạo phổ thông và đại học, tiến tới phổ cập đào tạo đại học.

    Số lượt thích

  8. Tôi không có nhiều chữ nghĩa nên hiểu một cách giản dị thế này: Nếu chưa/không có việc làm mà phải ở nhà chăm con thì có bằng đại học (nhất là đại học Y khoa ngành Nhi) thì vẫn cứ tốt hơn là ít học/không học. Cái khó là chỗ này. Người Việt ta, hình như phần lớn vẫn nghĩ học là để làm Quan, học là để ăn bát vàng ở chỗ ngồi mát… Cái tâm lí này bắt nguồn từ nền giáo dục phong kiến. Khốn khổ thay nó mọc rễ chùm rễ cọc trong não trạng người Việt Mình, nó lẩn lút trong vô vàn những biến thái cực kì tinh vi tạo nên những truyền thống, những giá trị này khác mà người Việt mình vẫn rưng rưng cảm xúc khi nghĩ/nói về chúng nên không thể nào giã từ được. Cái con số 72 nghìn người có cái trình độ cử nhân/thạc sĩ/ tiến sĩ kia thất nghiệp hay là không có năng lực làm việc???? Bảo tất cả 72 nghìn người đều không có năng lực làm việc thì có lẽ hơi quá nhưng ai điều tra mà xem có tới 60 nghìn người không?
    Nước mình là thế. Xa lánh việc học làm người. Bám nhằng nhằng vào triết lí học làm quan. Kiếm bằng được một chỗ ngồi trong bộ máy nhà nước để thực hành triết lí chữ vinh thân phì gia. Cái tệ nạn này ngành giáo dục chưa dũng cảm nhận ra hoặc không còn năng lực nhận ra vì thế mới loay hoay hết mở ồ ạt trường Đại học để thỏa mãn thói sính bằng cấp thì nay lại thít chặt đầu vào với hi vọng nâng cao trình độ của người học.
    Người Việt bảo thế là Lúng túng như gà mắc tóc. Người Tày thì bảo : Lúng túng như trâu dẫm trạc.

    Số lượt thích

  9. Anh Hồng ơi, hiện nay ta có bao nhiêu trường là đủ chuẩn? Thế những trường không đủ chuẩn thì ta làm gì với nó đây? Em hiểu nôm na câu hỏi của anh là thế. Anh có nhắc đến kiểm định và cho rằng ở ta chưa có văn hóa tự đánh giá, tự thẩm định (gọi là tự cải thiện – self-improvement thì đúng hơn). Em hoàn toàn đồng ý là văn hóa tự cải thiện là một nét đặc trưng của những trường ĐH ưu tú. Nhưng mà anh nhấn ga thêm một chút xem nào: Tại sao mà ở ta không có thứ văn hóa xa xỉ ấy nhỉ? Tại sao các phòng Đảm bảo Chất lượng, đáng lẽ là nơi tham vấn những biện pháp cải thiện hoạt động để tăng cường chất lượng, thì lại là nơi mà công việc chủ yếu là đối phó? Tại sao ta tiêu bao nhiêu tiền bạc và thời gian vào việc “tỏ ra là mình tốt” thay vì tiêu vào việc làm cho mình tốt thực sự? tại sao? Tại sao? Tại sao?

    Trở lại câu hỏi của anh. Đúng là phải bắt đầu bằng định nghĩa và miêu tả thế nào là trường đủ “chuẩn”. Thú thật em cảm thấy dị ứng với các loại chuẩn. Chúng ta rất thích các thứ chuẩn, vì nó làm cho ta cảm thấy an tâm, và nó có vẻ rất khách quan. Bởi vì xã hội đang trong tâm trạng mất niềm tin nghiêm trọng với tất cả mọi thứ, mọi lĩnh vực, nên người ta cần một cái chuẩn nào đấy để bám vào như người chết đuối tìm cây cọc để bám. Có hai câu nói nổi tiếng, có vẻ như trái ngược nhau, và cả hai câu đều đúng: “Đo những gì có thể đo, và làm cho những gì không đo được trở thành có thể đo được” (Galileo Galilee) và “Không phải cái gì đếm được thì đều có ý nghĩa đáng được tính đếm, và không phải cái gì đáng được tính đếm thì đều có thể tính đếm được” (Albert Enstein). Em thích câu thứ hai hơn. Hệ quả nguy hại của các thứ chuẩn hiện nay là nó biến thành mục đích tự thân của nhà trường khiến nhà trường bị kéo ra xa khỏi mục đích và sứ mạng thực sự của nó. Hậu quả là, thay vì đầu tư công sức, thời gian và trí tuệ để nhà trường trở thành nơi gìn giữ vun đắp các giá trị, là cội nguồn nuôi dưỡng sự sáng tạo và là hiện thân của niềm hy vọng, thì người ta để hết công sức vào việc mua bài báo nhằm tăng thứ hạng hoặc chế biến các con số cho đẹp, cho đúng yêu cầu để được công nhận là đủ chuẩn. Việc học tập cũng thế. Bằng cấp là một loại chuẩn nhằm đo năng lực và kỹ năng đạt được của người học, khi nó bị biến thành mục đích của việc học, thì nó đã làm sai lệch toàn bộ quá trình học tập.

    Giải pháp ư? Kinh nghiệm quốc tế có hằng hà sa số, các thứ kiến nghị tâm huyết đã nói hết lẽ hết lời. Có nói nữa cũng chỉ là nhắc lại. Nếu có ai hỏi em lời khuyên, em chỉ có thể nói (với người làm quản lý như anh Hồng chẳng hạn :-)): “Start where you are! Use what you have! Do what you can! We are parts of the solution!”, còn với sinh viên thì là: “God only helps those who help themselves” nôm na là “Hãy cứu mình trước khi trời cứu!”.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: