How We Learn

Những biến đổi lớn – Phạm Thị Ly

Giáo dục đại học trên thế giới đang biến đổi rất nhanh và vô cùng sâu sắc trên hầu hết mọi phương diện, đòi hỏi phải nhận thức lại nhiều khái niệm về GDĐH, tư duy lại nhằm hiểu đúng những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài trường ĐH.

 

Với 2 tỷ người dùng internet hiện nay, mỗi ngày có 250 tỉ email được gửi đi, mỗi tháng có 100 tỉ tìm kiếm thực hiện trên Google search. Trong hai năm qua chúng ta tạo ra một khối lượng dữ liệu bằng toàn bộ lịch sử loài người trước đây đã tạo ra và khối lượng này tăng gấp đôi mỗi chu kỳ 18 tháng. Mạng xã hội và internet đã xóa tan mọi biên giới, phá vỡ khái niệm về học tập và làm việc. Mua hàng, kết bạn, làm việc, tìm thông tin, gắn kết với xã hội, liên lạc với toàn thế giới, lấy chứng chỉ… tất cả chỉ cần qua một màn hình.

Trong cơn lốc ấy, bản đồ giáo dục đại học (GDĐH) cũng đang thay đổi cực nhanh. Hệ thống GDĐH các nước trong tương lai sẽ phát triển như thế nào?

Hậu “đại chúng hóa”

Trong thập kỷ qua, chúng ta đã nghe nói nhiều về đại chúng hóa GDĐH, chấm dứt thời GDĐH là đặc quyền của một tầng lớp tinh hoa. Trong vòng 20 năm qua, GDĐH đã mở rộng ở một quy mô chưa từng có tiền lệ: Trung Quốc hiện có 29 triệu sinh viên ĐH và là hệ thống lớn nhất thế giới hiện nay, trong khi năm 1998 chỉ có 6 triệu sinh viên, tỉ lệ dân số vào ĐH trong độ tuổi tăng gần 4 lần, từ 7% – 25% trong vòng 15 năm, ở một số thành phố lớn, tỉ lệ này là trên 80%. Ấn Độ có 11 triệu sinh viên, lớn thứ ba trên thế giới. Ở Việt Nam, mức tăng cũng không kém ấn tượng: từ 893.754 sinh viên (năm 1999) tăng đến 2.177.299 (năm 2013), tức 2,43 lần trong vòng 14 năm. Tỉ lệ vào ĐH trong độ tuổi hiện rất cao ở một số nước: Hàn Quốc đã đạt đến gần 100%. Trên phạm vi toàn cầu, nếu năm 1960 tổng số sinh viên tất cả các nước là 13 triệu thì năm 1995, con số đó là 82 triệu, năm 2011 là 200 triệu (Philip G. Altbach, 2012).

Động lực thúc đẩy đại chúng hóa GDĐH là sự phát triển của kinh tế tri thức toàn cầu hóa. Chính phủ các nước và từng cá nhân đều ý thức rõ tri thức tạo ra của cải, tạo ra tăng trưởng kinh tế và làm thay đổi thang bậc xã hội.

Nhưng rất nhanh, ta đang bước vào thời kỳ hậu đại chúng hóa GDĐH. Sở dĩ như vậy là vì “đại chúng hóa” GDĐH kéo theo nguồn lực công dành cho GDĐH suy giảm trên toàn thế giới, hậu quả là tư nhân hóa và khu vực GDĐH vì lợi nhuận ngày càng tăng trưởng, hầu hết hệ thống GDĐH các nước, nhất là các nước đang phát triển có mức tăng trưởng quá nóng đều phải tái cấu trúc lại. Các bảng xếp hạng ĐH toàn cầu phản ánh nhu cầu cạnh tranh trên bản đồ tri thức, mà thực chất là bản đồ địa chính trị, đã thúc đẩy các nước có ý thức xây dựng một hệ thống phân tầng, trong đó chỉ một số ít các trường được đầu tư mạnh để trở thành những trường ĐH nghiên cứu theo mô hình tinh hoa. Xếp hạng đã tạo ra một nỗi ám ảnh cho chính phủ các nước và lãnh đạo các trường trong hai thập kỷ qua, chi phối lịch trình chính sách và cách sử dụng nguồn lực của chính phủ các nước cũng như định hình cách xử sự của giới quản lý, giới giảng viên các trường. Mãi cho đến gần đây, người ta mới bắt đầu nhận ra rằng xếp hạng là một trò chơi chỉ thích hợp cho một số rất ít trường ĐH, không nên để nó trở thành một động lực làm lệch hướng sứ mạng thực sự của các trường, khiến họ chạy theo những thước đo về sự ưu tú thay vì theo đuổi sự ưu tú thực sự.

Đầu tư công cho GDĐH ở các nước phát triển đang giảm. Sự tham gia của khu vực tư nhân vào GDĐH ngày càng nổi bật, nhất là ở Châu Á cho thấy tỉ lệ trường tư và sinh viên trong các trường tư trên tổng số sinh viên và tổng số trường. Ví dụ, 78% sinh viên ở Hàn Quốc đang học ở trường ĐH tư và tỉ lệ trường ĐH tư ở nước này là 87%, con số tương tự ở Nhật là 77% và 86%, Philippines là 81% và 75%, Indonessia là 96% và 71%, Việt Nam là 14% và 19%. Ngay ở các trường công lập, sự tham gia của nguồn lực tư nhân cũng ngày càng lớn, dưới hình thức hiến tặng, hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ sáng nghiệp, v.v. Người ta phải tự hỏi, nếu một trường công vận hành với 10% ngân sách do chính phủ cấp, thì liệu nó có còn là trường công? (John Aubrey, 2014). Hoặc đang có những trường được vận hành bằng 100% kinh phí nhà nước nhưng do tư nhân điều hành hoàn toàn, loại trường được gọi là charter school trong thực tế Hoa Kỳ.

Sự tham gia ngày càng nhiều của khu vực tư và sự phát triển của giáo dục xuyên biên giới, việc các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đào tạo bước vào thị trường GDĐH… đang đặt ra những tranh cãi gay gắt. Liệu các trường có thể được xem là, hay được đối xử như một doanh nghiệp kinh doanh tri thức, giống như những doanh nghiệp khác? Liệu có giới hạn nào mà việc kinh doanh giáo dục phải tuân thủ? Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp có được chấp nhận đối với trường ĐH, và nếu không, thì vì sao?

Từ truyền đạt tri thức trở thành môi trường trải nghiệm

Với internet và Google, nhà trường không còn là nơi chủ yếu cung cấp kiến thức cho sinh viên như nó từng là trong bao nhiêu thế kỷ qua nữa. Laptop, iPhone, iPad, giáo dục trực tuyến mở đại trà chứa đựng những thông tin và kiến thức nhiều hơn bất kỳ ông thầy nào trong bất cứ lĩnh vực chuyên ngành nào. Sinh viên không cần đến trường để tích lũy kiến thức và hiểu biết trong các lĩnh vực chuyên ngành. Nếu nhà trường không thay đổi, tức vẫn giữ lối học thầy giảng, trò chép, và đánh giá kết quả bằng cách kiểm tra những kiến thức người học có thể nhớ được, thì quả thật nó không còn lý do để tồn tại, vì bất cứ ai, với một máy tính nối mạng, đều có thể có được những kiến thức đó mà không cần đến nhà trường và không cần đến thầy giáo.

Nhà trường hiện đại đang trở thành một môi trường trải nghiệm, nhằm mang lại cho sinh viên những phẩm chất và kỹ năng đáp ứng được đòi hỏi của thời đại hậu công nghiệp hóa. Nếu thời đại công nghiệp tiêu biểu bằng sự phân công lao động, nhiệm vụ giao cho từng cá nhân, các bổn phận được chuyên môn hóa cao độ, bổ nhiệm dựa trên uy tín, và tổ chức cấu trúc mang tính thứ bậc; thì thời kỳ hậu công nghiệp đặc trưng bằng những giải pháp tổng thể, bằng cách làm việc nhóm, bằng những tri thức chuyên môn phối hợp giữa các lĩnh vực khác nhau, bằng sự tương tác chủ yếu giữa người với người, bổ nhiệm dựa trên năng lực, hiệu quả và triển vọng, và tổ chức mang tính chất linh hoạt. Kiến thức, nhất là kiến thức lý thuyết, chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ năng lực mà người lao động tri thức cần có. Ngoài kiến thức là năng lực tư duy phê phán, khả năng lập luận và sử dụng ngôn ngữ nói và viết, kỹ năng đánh giá và nhận xét tinh tế, sử dụng thành thạo những công cụ nghe nhìn, có ý thức công dân, sự am hiểu những nền văn hóa khác và thái độ khoan dung đối với sự khác biệt, có khả năng làm việc nhóm, biết cách giao tiếp, thương lượng và xử lý mâu thuẫn.

Những năng lực này chỉ có thể có được thông qua trải nghiệm. Vì vậy, một nhiệm vụ trọng yếu của trường ĐH ngày nay là tổ chức những hoạt động nhằm tạo ra một bối cảnh, một khuôn khổ có thể gắn kết sinh viên vào những tình huống giúp họ trải nghiệm để trưởng thành về tâm lý, trí tuệ và kỹ năng. Những hoạt động đó có thể là các dự án phục vụ cộng đồng, giao lưu với sinh viên quốc tế hoặc sinh viên trường khác hay khoa khác, các cuộc thi hùng biện, v.v. Nếu nhà trường thành công trong việc mang lại những trải nghiệm có giá trị này cho sinh viên, họ sẽ làm cho sinh viên của họ khác hẳn những người không được đến trường, họ sẽ biến nhà trường từ chỗ sinh viên buộc lòng phải đến và buộc lòng phải hoàn thành một số việc để lấy được tấm bằng trở thành chỗ tràn đầy hứng thú và trải nghiệm đặc biệt. Những sinh viên ấy sẽ mang các trải nghiệm này vào đời, sẽ làm thay đổi bộ mặt nơi họ làm việc, và qua đó mà nhà trường tạo ra tác động thay đổi xã hội.

Một điểm cần lưu ý khác, trọng tâm của nhà trường hiện đại đã chuyển từ chỗ truyền đạt tri thức sang huấn luyện kỹ năng và xây dựng năng lực trong thập kỷ qua, nay tiếp tục chuyển thành gắn kết với cộng đồng (địa phương và toàn cầu). Thế giới ngày nay nếu có thể được miêu tả vắn tắt trong hai từ, thì đó là từ tương liên (interconnected) và tương thuộc (interdependent). Hơn bao giờ hết, thành công của mỗi cá nhân, và sự phát triển lành mạnh của xã hội phụ thuộc sâu sắc vào năng lực gắn kết với cộng đồng và hiểu rõ mối quan hệ tương liên và tương thuộc giữa các cá nhân, giữa các tổ chức, và các quốc gia. Vì vậy, những biến đổi trong khoa học công nghệ dẫn đến những biến đổi trong cách con người tương tác với nhau và do đó quan niệm về trường đại học, cái lý do cho sự tồn tại của nhà trường và cách thức mà nhà trường tồn tại cũng phải thay đổi để đáp ứng với thực tại ấy.

Một số trường ĐH hàng đầu như Harvard đang khuyến khích sinh viên có một học kỳ cách quãng trong bốn năm học, một học kỳ mà họ có thể làm bất cứ điều gì, chỉ trừ việc đến giảng đường và ngồi trong thư viện. Khi ý tưởng này được trình bày ở một trường ĐH hàng đầu Trung Quốc, đã có người lập tức bày tỏ mối băn khoăn: “Nghe hay đấy! Nhưng chúng tôi phải yêu cầu họ nộp đề xuất, rồi sau đó họ phải viết báo cáo, nếu không, ai biết họ sẽ làm gì với một học kỳ rong chơi như thế?”. Có thể nói người phát biểu đã không nắm được ý nghĩa của sáng kiến này – vốn nhắm tới việc tạo ra không gian để sinh viên trưởng thành theo cách thích hợp với từng người. Như một cái mầm cây bỏ vào trong hộp, nó chỉ có thể lớn lên trong khuôn khổ cái hộp ấy. Điều nhà trường hiện đại cần làm không phải là tạo ra cái hộp ấy mà là cho cái hạt mầm một khoảng không đủ rộng và tưới bón cho nó để nó nảy nở hết mức có thể. Hẳn nhiên, từ bỏ ý nghĩ nhà trường phải “nhào nặn” sinh viên trở thành một sản phẩm với những yêu cầu đã định, phải kiểm soát tư tưởng và hành động của họ để họ không có những hành vi nguy hiểm, chắc chắn là một điều không dễ dàng. Tuy nhiên, công nghệ hiện đại đã làm cho ý định nhào nặn và kiểm soát ấy trở thành bất khả, vì vậy cách khôn ngoan nhất đối với nhà trường là xây dựng những chiến lược đáp ứng với bối cảnh ấy.

Sự thay đổi của trường ĐH thời hậu đại chúng hóa

 

 

Trường ĐH theo mô hình
tinh hoa
Thời kỳ đại chúng hóa GDĐH Hậu đại chúng hóa GDĐH
Nhân vật
chính
Giáo sư Các nhà quản lý nhà trường và quản lý hệ thống GDĐH Sinh viên
Định hướng
giá trị
Sự ưu tú Đảm bảo chất lượng Sự hài lòng của sinh viên
Từ khóa Tự do học thuật Quản lý Trải nghiệm đại học
Vai trò của giới hàn lâm Nghiên cứu >giảng dạy >
quản lý
Nghiên cứu = giảng dạy = quản lý Nghiên cứu< giảng dạy
= quản lý
  • Sản xuất tri thức mới
    thông qua hoạt động
    nghiên cứu khoa học
  • Khoa học cơ bản được xem trọng hơn khoa học ứng dụng
  • Gắn kết Giảng dạy và nghiên cứu
  • Khoa học ứng dụng
    được xem trọng hơn
    khoa học cơ bản
  • Từ chỗ giảng dạy tới chỗ
    tạo ra môi trường học tập
    và trải nghiệm cho sinh viên
  • Nghiên cứu phát triển
    được xem trọng hơn cả
    nghiên cứu ứng dụng và
    nghiên cứu cơ bản

 

Nguồn: J.C. Shin, Te Scholarship of Teaching, Research, and Service, pp.75-83, The Future of the Post-Massified University  at the Crossroads, Knowledge Series in Higher Education vol. 1, 2014, Springer.

Phạm Thị Ly

Nguồn: http://tuoitre.vn/Van-de-Su-kien/Tieu-diem/615690/xu-huong-giao-duc-dai-hoc-nhung-bien-doi-lon.html

Advertisements

Tagged as:

15 phản hồi »

  1. Đúng là một thời kỳ hậu đại chúng hóa đại học đã mở ra nhờ công nghệ thông tin và truyền thông. Việc học (và dạy) đã chuyển từ truyền thụ kiến thức, xây dựng (hình thành) năng lực cá nhân sang phát triển năng lực cá nhân gắn kết với cộng đồng đòi hỏi những thay đổi lớn trước hết là tư duy của những người làm giáo dục. Đó là vận hội với rất nhiều quốc gia chậm phát triển, trong đó có Việt Nam. Thay vì phải tuần tự như tiến: từ đại học tinh hoa sang đại chúng hóa đại rồi mới đến hậu đại chúng hóa thì chúng ta có thể chuyển từ giáo dục tinh hoa (đang tiếp cận giáo dục đại chúng) sang giáo dục đại học thời kỳ hậu đại chúng. Nhưng bắt đầu từ đâu? Mở cửa các đại học để tự do cạnh tranh (trong sự kiểm soát chất lượng của nhà nước và thông qua các tổ chức kiểm định), trong đó có việc mở cửa GDDH cho tất cả các nước muốn đầu tư? Ưu tiên bằng các chính sách phát triển đại học? Nhập các chương trình tiên tiến và tổ chức học tập theo cách thức mà họ đã và đang đào tạo thành công?… Cái khó nhất mà chúng tôi thấy ở đại học Việt Nam hiện nay là việc phát triển đội ngũ giảng viên đại học gặp quá nhiều khó khăn (GV đại học không phải là những người có thu nhập cao tương ứng với quá trình học tập, nghiên cứu và làm việc của họ). Chúng ta không có đủ kinh phí để xây dựng các phòng thí nghiệm và cơ sở vật chất phục vụ đào tạo (có thể khắc phục bằng cách nhà nước đầu tư có trọng điểm cho các đại học công cùng với việc mở rộng qui mô đào tạo đại học trong các cơ sở tư thục). Quản lý đại học với những yêu cầu mới phù hợp với giao đoạn phát triển mới… rất nhiều việc phải làm. Quan trọng là bắt đầu từ đâu? Có đúng là bắt đầu từ quản lý đại học không? Hay bắt đầu bằng việc xây dựng đội ngũ giảng viên? Hay bắt đầu bằng sự thay đổi cách học, cách truyền thụ tri thức, cách đánh giá? Chọn đúng điểm bắt đầu và cách thức đi mới có thể đưa con thuyền GDĐH Việt Nam hòa vào dòng chảy đại học thế giới.
    Cảm ơn chị Ly vì đã chia sẻ thông tin.

    Số lượt thích

  2. Trời đất ạ! Thế giới đang biến chuyển ầm ầm về mọi mặt, trong đó có giáo dục. Vậy mà VN thì vẫn cứ đang loay hoay lấn cấn mãi chưa xong với cái mô hình xã hội, kinh tế và chính trị làm sao để “giống Trung” nhất , “thuộc Trung” nhiều nhất. Còn riêng GD thì … ối trời ơi, cứ loay hoay “cải” mãi hàng chục năm nay mà vẫn chưa “tiến” được tý nào, “đổi” mãi mà chẳng thấy “mới” ở đâu. Không hiểu những cái đầu, những học hàm học vị đã được dùng vào việc gì nhỉ? Vẫn biết là họ chỉ tập trung vào quyền lợi trong nhiệm kỳ rồi, nhưng chẳng lẽ khốn nạn, đốn mạt, tàn nhẫn và ngu muội đến mức không còn nhìn thấy cái vực thẳm vô học, vô giáo dục, sự sụp đổ đang lù lù trước mặt dân tộc đất nước hay sao mà hồn nhiên vô cảm đến vậy. (tuanna)

    Số lượt thích

    • The tuanna đang hối hả làm gì trước biến chuyển của thế giới thì nói cho chúng tớ nghe để chúng tớ bắt chước với? Tớ thấy thế giới đang biến chuyển ầm ầm, đánh nhau giết nhau tơi tả, mà Việt Nam được ổn định, hòa bình thì tớ thấy Việt Nam cũng giỏi đấy chứ? Làm gì mà cứ phải cuồng lên ?
      Cả Việt Nam may ra chỉ còn có tuanna là không khốn nạn, đốn mạt, tàn nhẫn và ngu muội thôi hén? Thật là quý quá, châu ngọc là đây !

      Số lượt thích

      • Có thể tôi bi quan Lan Hương ạ nhưng Việt Nam hiện không ổn định và hoà bình. Ngoài Biển Đông ùng ùng dậy sóng. Trong xã hội thì đầy loạn kỷ cương và lệch chuẩn (anomie, déviance). Báo chí thì thích ru ngủ dân tình bằng các chuyện của người nổi tiếng. Giáo dục thì …

        Số lượt thích

        • Ổn định quá cũng trì trệ, tù đọng, cứ xào xáo một chút cho mọi người năng động lên, bác maipoirier ạ ! Em còn đang muốn biết cái văn bản Hội nghị Thành Đô của mình với TQ nó viết những gì, mình cứ giằng co, chờ TQ tung hết ra, hehe! Còn giáo dục thì ta cứ thế mà thẳng tiến thôi !

          Số lượt thích

      • Phải công nhận là trình độ “tự sướng” và “chụp mũ” của lan huong khá là được đấy! Hix!

        Số lượt thích

    • Càng nghĩ lại càng tức, thế giới đang biến chuyển ầm ầm, tự dưng lại đi chửi người ta !

      Số lượt thích

  3. Mỗi khi có một bài viết mới của các bạn trên học thế nào tôi đều chăm chú đọc. Với tôi, cũng có cái mới, cũng có cái không mới, có cái có thể học, có cái không (chưa) thể học. Cái chưa thể học thì mình trao đổi lại. Tôi rất muốn mọi người khi tranh luận, dù là trên trang web cá nhân, trên facebook thì cũng nên nghĩ đến người khác, tôn trọng sự khác biệt, sự nghĩ khác của người ta thì tốt hơn là cho rằng người ta thế này, thế nọ. Đừng quá bức xúc đến mức phản ứng như vậy. Những người đang sinh sống trên đất Việt mình không ai lại không lo đến hiện tại, đến tương lai của họ, của cộng đồng, của dân tộc. Mọi người đều hân hoan chờ đón những hiến kế, những đóng góp về vật chất… cho đất nước. Xin các bạn hãy thảo luận trên tinh thần tôn trọng người khác và trên hết vì một Việt Nam của quá khứ, của hiện tại và của tương lai.

    Số lượt thích

  4. Đồng ý quan điểm với GS NHK ”Xin các bạn hãy thảo luận trên tinh thần tôn trọng người khác và trên hết vì một Việt Nam của quá khứ, của hiện tại và của tương lai.”. Cám ơn GS

    Số lượt thích

  5. Tôi đã thường xuyên đọc trang này nhưng chưa viết thảo luận bởi vì tôi thấy giáo dục của chúng ta thực sự có quá nhiều khâu cần chấn chỉnh và tái cấu trúc lại, nhưng thực sự các nhà quản lý giáo dục đang thể hiện để tư duy nhiệm kỳ cản trở các bước thực hiện của chính bản thân họ khởi xướng và kêu gọi mọi người thực hiện. Tôi đồng ý quan điểm với Gs NKH “Xin các bạn hãy thảo luận trên tinh thần tôn trọng người khác và trên hết vì một Việt Nam của quá khứ, của hiện tại và của tương lai.”…Bản thân tôi nghĩ rằng, với thông tin và truyền thông hiện nay chúng ta hoàn toàn có thể tiếp cận ngay những kinh nghiệm ,các vấn đề đổi mới của các trường đại học như kiểu chúng ta có thể chọn đi máy bay chứ đâu nhất thiết phải đi bằng xe hơi…Tuy nhiên, đột phá khâu quản lý trước, đồng bộ có các nhà quản lý và giảng viên đại học chất lượng thực sự – thực chất chứ không phải tư duy “bằng cấp”…để chọn được nhân tài thực chứ không phải “nhân tai” lấy bằng Ths -Ts…rồi thành “nhân tài dởm” tiến vào GS?PGS làm hại dân, phá nước…Nếu thực sự vì Việt Nam của quá khứ,của hiện tại và của tương lai, thì cần đội ngũ nói thật,viết thật,trải nghiệm thất,làm thật để vận dụng được những kinh nghiệm của thế giới vào thực tiễn GDĐH Việt Nam nhằm phát huy điểm mạnh,cơ hội và loại bỏ yếu kém nguy cơ phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện Việt Nam. Các trường công,hãy chọn những sinh viên ưu tú,tập trung nguồn lực để đào tạo nhân tài, đào tạo đội ngũ kế thừa là các chuyên gia hàng đầu về quản lý, chuyên môn,định hướng giá trị và giải quyết tháo gỡ các vấn nạn giáo dục Đại học mà lịch sử để lại, đào tạo hiện tại tốt vì chính hiện tại và cho tương lai…Vấn đề cơ chế quản lý đổi mới để chọn và giữ được nhân tài quản lý biết nói không và nói không được với tham nhũng và bệnh thành tích theo nhiệm kỳ,họ dám chọn và sử dụng đội ngũ giảng viên ưu tú cả về phẩm chất và chuyên môn, chứ không chọn “bầy cừu giả vờ…ngoan ngoãn gặm cỏ chứ thật sự chẳng ngoan gì…đó chỉ là bọn “cơ hội” giả vờ ngu ngơ- dật dờ – ăn theo sự danh giá chỉ để thoã mãn ham muốn ích kỷ của cá nhân và nhóm lợi ích”…Có lẽ,chính các nhà quản lý lãnh đạo đang chưa quản lý được chính mình nên chưa quản lý được xã hội, trong bối cảnh và nguồn lực hiện tại của Việt Nam, muốn làm thật không quá khó chỉ là các nhà quản lý đang luẩn quẩn – loay hoay với lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân nên tìm cách đối phó cho xong nhiệm kỳ…

    Số lượt thích

  6. Hôm nay, nhân cái bài này, cùng với những phản biện, tôi muốn chứng minh cái câu tôi nói trước đây, “ai muốn yêu thì phải biết nói dối.”

    Hồi làm ở ct Datum, tôi gặp Khoa. Khoa thường kể chuyện về những bạn gái của hắn, người cuối cùng là Nhung. Hắn kể: Một hôm, đang ngồi trên xe đi chơi với Nhung, Nhung thình lình hỏi: Anh khai thật đi, trước khi yêu em, anh có bao nhiêu bồ, và anh yêu người ta thế nào? Khoa khai thật, có ba, em nữa là bốn. Thế rồi, Khoa bắt đầu kể, từ cô thứ nhất, sang cô thứ hai… Chưa hết cô thứ hai, thì Nhung thình lình dừng xe lại: “Anh xuống đi…” Tưởng Nhung muốn đi bách bộ, ai nhè… Cô đóng cửa xe “Rầm”, rồi vọt xe đi mất… Đáng đời! Khoa phải cuốc bộ, tới khuya mới về đến nhà.

    Tới đó, tôi xen vào: Mày thấy chưa, tại mày không biết nói dối. Đáng lẽ, mày phải nói: “Em là người thứ nhất… và cũng là người cuối cùng.”

    Ở đây, tôi xin thêm: Đối với Nhung, lời của Khoa “không phải là lời nói thật,” mà là một sự nhục mạ. Lời tôi đề nghị bên dưới … mới là “thật”. Tại sao? Sự thật chỉ có thể được phát biểu một lần ! Sự lập lại không còn ý nghĩa như thế nữa, never be the same, vì nó mang nhiều cảm tính khác nhau, có thể là khen, có thể là chê, là nhục mạ, vv. Những phản biện của các bạn, có lẽ, cũng thế !

    Số lượt thích

  7. Nghe toàn những từ to tát mà giật mình thon thót. Vậy mà đọc xong thấy nó cũ xì.

    Số lượt thích

    • Thứ nhất, phải thống nhất khái niệm đại chúng hóa và hậu đại chúng hóa thì mới nói cho người khác hiểu được chứ và mới bàn được chứ. Không thấy bài viết nói cái đó, vậy mà bác Kim Hồng vẫn bàn được là có nên chuyển từ tinh hoa sang hậu đại chúng hóa luôn hay không?
      Thứ hai, “Từ truyền đạt tri thức trở thành môi trường trải nghiệm” là chuyện xưa như trái đất. Có lẽ là lâu rồi họ quên mất nên nhất thời nhận ra tưởng là mới.

      Số lượt thích

  8. Thực trạng sinh viên ra trường
    Đầu đường Xây dựng bơm xe
    Cuối đường Kinh tế bán chè đậu đen
    Ngoại thương mời khách ăn kem
    Các anh Nhạc viện thổi kèn đám ma
    Ngân hàng ngồi dập đô la
    In giấy vàng mã, sống qua từng ngày
    Sư phạm trước tính làm thày
    Giờ thay kế toán, hàng ngày tính lô.
    Điện lực chẳng dám bô bô,
    Giờ đang lầm lũi phụ hồ trên cao.
    Lập trình chả hiểu thế nào,
    Mở hàng trà đá, thuốc lào…cho vui
    Nông nghiệp hỏi đến ngậm ngùi
    “Số em chắc chỉ tiến lùi theo trâu”
    Nhìn quanh, Thương mại đi đâu?
    Hóa ra là đã nhảy tàu đi buôn…..
    Ngoại ngữ vẻ mặt thoáng buồn
    Đang ngồi viết sớ, kiêm luôn bói bài.
    Báo chí buôn bán ve chai
    Giao thông đi chở thuê ngoài Đồng Xuân.
    Bách khoa cũng gặp đôi lần
    Buôn đồ điện hỏng, kiếm cân dây đồng
    Mỹ thuật thì đang chổng mông
    Đục khắc bia mộ, cũng mong lên đời
    Mỏ địa chất mới hỡi ôi
    Sáng thồ hai sọt, chào mời mua than
    Thuỷ sản công việc an nhàn
    Sáng cân mớ cá, cuối làng ngồi rao…!
    Hàng hải ngồi gác chân cao
    Bao giờ trúng số mua tàu ra khơi
    Bác sĩ, y tá có thời
    Học xong về huyện được mời chích heo…

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: