How We Learn

V-KIST – 4 vấn đề cần làm rõ – Phạm Hiệp

Dự án Viện Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Hàn Quốc (V-KIST) khởi động từ năm 2012 đang bước vào giai đoạn kết thúc của báo cáo tiền khả thi. Một số thông tin cơ bản về V-KIST đã được thông báo rộng rãi; bên cạnh những ý kiến đồng tình, vẫn còn những băn khoăn và những điểm cần làm rõ, bài viết này điểm qua một số vấn đề nổi bật trong số đó:

Việt Nam đã có Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ, 2 Đại học Quốc gia và các Đại học xuất sắc, tại sao phải có thêm V-KIST?

Trong một phỏng vấn tháng 11 năm ngoái, trả lời câu hỏi tương tự câu hỏi này, PGS Mai Hà, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Khoa học Công nghệ đã liên tưởng “sinh động” đến việc xây dựng thêm câu vượt tại các ngã tư, đường cao tốc bên cạnh đường đi lại thông thường. Người viết bài này cũng có quan điểm gần giống ý kiến của PGS Mai Hà. Trong thực tế, chỉ có một số lượng nhỏ các nhóm nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ và 2 Đại học Quốc gia có trình độ cạnh tranh với quốc tế; các đại học xuất sắc mới được thành lập cũng chưa có được nhiều thành tựu về nghiên cứu, triển khai, Việt Nam cần tiếp tục đầu tư cho các đơn vị nghiên cứu “có khả năng tăng tốc” và “được dẹp đường ưu tiên” để chạy nhanh đuổi kịp trình độ khu vực và quốc tế. Trong một báo cáo gần đây thuộc Dự án Giáo dục đại học 2, nhóm thực hiện báo cáo này ước tính Việt Nam cần khoảng 15 cơ sở giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học đỉnh cao trong những năm tới. Rõ ràng, Việt Nam chưa có đủ con số đó ở thời điểm hiện tại. Vấn đề cần đặt ra là V-KIST sẽ phối hợp với các đơn vị nói trên như thế nào chứ không phải là liệu V-KIST có “dẫm chân” các đơn vị đó?

Tại sao V-KIST chỉ đào tạo sau đại học?

Theo báo cáo của GS. Kyu Hong Ahn, trường đoàn đại diện của Viện Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc KIST trong dự án V-KIST tại một cuộc họp năm ngoái, V-KIST sẽ có các trường đào tạo sau đại học nhằm đào tạo, bồi dưỡng nhân tài khoa học, công nghệ? Một câu hỏi đặt ra, tại sao V-KIST chỉ đào tạo sau đại học mà không có đại học? Trong thực tế, cách làm này hoàn toàn phù hợp với kinh nghiệm cũng như tổng kết về phát triển đại học tiên tiến trên thế giới. Trong một báo cáo của World Bank năm 2012 về giáo dục đại học, TS. Jamil Samil – tác giả báo cáo đã chỉ ra rằng có 3 cách để xây dựng đại học tiên tiến đẳng cấp quốc tế: một là sáp nhập các trường sẵn có, hai là nâng cấp một trường sẵn có và ba là, xây dựng mới hoàn toàn. Trong đó, kinh nghiệm thành công của cách làm thứ ba, như đại học Khoa học và Công nghệ mang tên nhà vua Abdulla – Ả rập se út (lọt vào Top 500 đại học thế giới sau 6 năm thành lập) hay Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang – Hàn Quốc (Top 50 thế giới sau hơn 20 năm thành lập) hay ngay chính bản thân KIST, là chỉ tập trung vào sinh viên ở trình độ thạc sỹ, tiến sỹ – những người có khả năng tham gia ngay vào các nghiên cứu của giáo sư. Thật vậy, bên cạnh thư viện, các đại học khoa học và công nghệ tiên tiến cần dựa vào phòng thí nghiệm, chứ không phải giảng đường theo quan niệm truyền thống.

Làm sao để thu hút đủ nhân lực làm việc cho V-KIST?

Trong báo cáo tiền khả thi, chúng ta đã thấy chi tiết xây dựng một cơ chế lương đặc biệt, cao hơn hẳn mặt bằng trung của cả nước – tương tự như cách KIST làm cách đây 50 năm tại Hàn Quốc như là một cách thu hút nhân lực trình độ cao về làm việc cho V-KIST. Cách làm này hoàn toàn đúng nhưng chưa đủ, ngoài lương bổng, các nhà khoa học cần nhiều điều kiện khác để có thể toàn tâm cống hiến. Đối với các nhà khoa học nước ngoài, hội nhập được với đời sống văn hoá, môi trường ở Châu Á không phải là điều dễ dàng mà hơn ai hết chính những đồng nghiệp từ KIST hiểu rõ điều này. Trong hơn 10 năm qua, Hàn Quốc đã đầu tư rất nhiều nguồn lực nhằm hàng nghìn thu hút giáo sư nước ngoài sang nước này làm việc với mức lương ưu đãi (thường gấp đôi giáo sư bản địa và bằng hoặc hơn mức lương ở Âu Mỹ), nhưng phần lớn trong số họ không thể hoà nhập với cuộc sống và môi trường mới và kết quả, bỏ về nước khi chưa hết hợp đồng; điển hình trong số đó là GS Robert B. Laughlin, giải thưởng Nobel Vật lý 2006, người đã phải rời KAIST trong khi vẫn còn một nửa thời gian hợp đồng.

Đối với các nhà khoa học Việt Nam hoặc gốc Việt Nam khi văn hoá, môi trường không phải là khó khăn chính thì vấn đề làm sao chúng ta có thể đáp ứng được yêu cầu liên quan đến thành viên trong gia đình của họ như công việc của vợ/chồng hay việc học hành của con cái. Kinh nghiệm của Thượng Hải trong việc thu hút các nhân lực trình độ cao từ Đài Loan đến làm việc dài lâu tại thành phố này cho chúng ta một gợi ý đáng chú ý. Để giữ chân các nhà đầu tư và các chuyên gia kinh tế giỏi người Đài Loan và người Trung Quốc ở nước ngoài về làm việc tại đặc khu kinh tế ở Thành phố này, một mặt Thượng Hải tạo cơ chế ưu đãi cho các trường phổ thông quốc tế đến đầu tư và hoạt động, một mặt, trao học bổng cho con em lãnh đạo doanh nghiệp cấp trung và cao cấp là người Trung Quốc hoặc Đài Loan để những người này yên tâm làm việc.

V-KIST nên hoạt động với cơ chế tài chính nào?

Theo ước tính, từ nay đến 2022, V-KIST sẽ được đầu tư khoảng 150 triệu USD, con số không phải là nhiều nếu so với những dự án tương tự trên thế giới lên đến hàng tỷ USD, nhưng cũng đủ để xây dựng một số nhóm nghiên cứu, triển khai và một số chương trình đào tạo gọn nhẹ, chất lượng và hiệu quả cao làm “hạt nhân” của V-KIST về lâu dài. Đề làm được điều đó, về mặt tài chính, ngoài cơ chế đặc biệt về mặt lương bổng cho cán bộ như đã phân tích ở trên hay chính sách “tin tưởng đặc biệt” không kiểm toán trong vòng 5 năm đầu như Hàn Quốc đã làm với KIST gần 50 năm trước, các nhà làm chính sách cần tính toán xem sau khi kết thúc đầu tư ban đầu, đâu sẽ là nguồn tài chính để duy trì hoạt động của V-KIST về lâu dài sau khi đầu tư ban đầu kết thúc? Phần nào sẽ vẫn cho nhà nước tài trợ thường xuyên? Phần nào cũng do nhà nước tài trợ nhưng V-KIST phải cạnh tranh với các cơ sở nghiên cứu khoa học – giáo dục khác trong cả nước? Phần nào V-KIST phải tự thân vận động? Tỷ lệ giữa các phần này bao nhiêu thì hợp lý? Việc xác định câu trả lời sớm cho những câu hỏi này càng sớm bao nhiêu thì càng giúp cho việc vận hành V-KIST sau này hiệu quả bấy nhiêu.

Vài lời kết

Gần 50 năm trước, Hàn Quốc xây dựng KIST với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Chỉ lần lượt 2 và 3 năm sau ngày chính thức vào hoạt động, KIST đã có bằng sáng chế đầu tiên được Hoa Kỳ công nhận và phát triển ti vi màu đầu tiên. Viện KAIST, nổi tiếng hơn KIST ngày nay trên trường quốc tế, cũng được thành lập với việc tách ra từ KIST. Olympic Seoul năm 1988 cũng sử dụng công nghệ kiểm tra doping do KIST phát triển. KIST được đánh giá là đã có những đóng góp cực kỳ quan trọng cho giai đoạn “tăng tốc” của nền kinh tế Hàn Quốc những năm 1970-1980. Và đến ngày nay, KIST lại giúp Việt Nam xây dựng V-KIST tương tự như cách Hoa Kỳ giúp KIST trước đây. Chúng ta hoàn toàn có quyền tin tưởng sự lặp lại thành công của V-KIST trong tương lai không xa. Tuy vậy, điều này cũng phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm và sự sáng suốt của các nhà làm chính sách hôm nay.

 

Phạm Hiệp, NCS Đại học Văn hoá Trung Hoa, Đài Loan

Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7682

Advertisements

Tagged as:

1 Response »

  1. Vài Kinh nghiệm về Science & Technology (S&T)

    Ở Hoa Kỳ, các trường đại học lớn hoặc các công ty lớn đều có Department of S&T hay còn gọi là Trung tâm nghiên cứu. Mục đích của những viện này là để trình cho thế giới biết về những khám phá mới của mình.

    Tôi làm việc 16 năm ở Hartley Research Center, Unocal Corporation, một công ty dầu khí, có vài nhận xét sau:

    1. Những người làm ở đó, từ PhD, kỹ sư, cán sự, đều có đầu óc tìm tòi, cởi mở, thảo luận công khai, chấp nhận ý kiến người khác, hội họp thường xuyên, thử nghiệm lại theo hướng mới, mỗi tháng mỗi người phải viết progress report. Viết lách trở thành một thói quen, một phản xạ tự nhiên.

    2. Ai cũng có quyền viết patents (bằng sáng chế). Professionals (PhD, kỹ sư) thì bắt buộc. Cán sự thì không bắt buộc phải viết. Ai cũng phải biết, viết patents sẽ đi qua những bước nào đến bước nào.

    3. Họ luôn luôn bảo vệ tài sản trí thức của công ty. Một mặt, họ viết tường trình trên báo chí, mặt khác họ đã bắt đầu viết patent, và khi nộp cái summary và introduction cho patent của họ, là họ có quyền của bằng sáng chế rồi, nghĩa là không ai có quyền ăn cắp ideas của họ nữa.

    4. Khi viết reports hay patents, không khi nào họ nói rõ chi tiết. Ví dụ, họ thường nói: pha 5 – 15 % X vào dung dịch 50 – 70 % Y để có sản phẩm A, chứ không nói rõ là 10% X vào dung dịch 60% Y, Sau khi viết patent xong, họ phải khai triển cách thức làm sao để sản xuất ra thành số lượng lớn (thương mại).

    5. S&T thường là nơi chi tiền, một đầu tư dài hạn, cho đến khi sản phẩm được sản xuất và bán ra thị trường. S&T, do đó, có nhiều experts. Trong trường hợp phải cứu nguy, họ là những người tìm ra phương pháp để chặn đứng ô nhiễm, phòng ngừa các vụ nổ, đưa ra cách thức an toàn, vv.

    Tóm lại, viện khoa học và kỹ thuật gồm những nhà khoa học, kỹ sư thích tìm tòi, khảo cứu và khám phá những cái mới, để cống hiến cho nhân loại, đồng thời họ có quyền bảo vệ những tài sản trí thức do họ làm ra.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: