How We Learn

Xây dựng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các trường đại học Việt nam – Ngô Bảo Châu, Ngô Quang Hưng

VeDIAL: Tham luận của Ngô Bảo Châu (Đại học Chicago), Ngô Quang Hưng (Đại học bangNew York, Buffalo)  tại phần Quản trị Đại học (Governance) của hội thảo Cải cách giáo dục đại học VED 2014.  Slides của bài tham luận có thể tải về tại Presentation 1: Developing Lecturers and Researchers in Vietnam’s Universities.

 

Chất lượng chung của các trường đại học có lẽ là điểm tối nhất trong bức tranh chung của ngành giáo dục Việt Nam. Chất lượng nghiên cứu và giảng dạy ở đại học liên quan trực tiếp đến vấn đề con người, cụ thể là trình độ nghiên cứu và giảng dạy của đội ngũ cán bộ của các trường đại học.

Các thông tin định lượng như chỉ số ảnh hưởng, chất và lượng các báo cáo khoa học đăng trên các tạp chí choặc hội nghị chuyên môn cho thấy một bức tranh không sáng sủa về chất lượng chung của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khoa học của các đại học Việt Nam. Nhưng điều đáng lo ngại hơn nhiều là quy trình xây dựng và cải tiến đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu ở các đại học Việt Nam hoàn toàn ngược lại với quy trình ở các trường Đại học ở các nước tiên tiến. Nếu hiện trạng này tiếp diễn thì e rằng chất lượng đại học Việt nam không những tiếp tục ở thứ hạng thấp mà sẽ còn đi giật lùi so với những bước tiến nhanh và chắc chắn của các nước láng giềng, chứ không cần nói ở đâu xa.

Mục đích của bài viết này là phân tích những chính sách xây dựng đội ngũ ở các trường đại học Việt nam, so sánh với thông lệ quốc tế và đề xuất những việc cần làm để từng bước cải thiện chất lượng nghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học ở Việt nam.

Hai thành tố của cải thiện chất lượng giảng dạy và nghiên cứu là: xây dựng đội ngũ có chất lượng cao, và tận dụng nhân lực chất lượng cao đang có sao cho họ phát huy hết khả năng của mình, song song với đào thải từ từ nhân lực không phù hợp. Phạm vi của bài này nằm ở thành tố thứ nhất.

 

Tạo nguồn

Một trong những chính sách phổ biến ở các trường đại học Việt Namlà “tạo nguồn”. Các sinh viên giỏi được giữ lại trường, trong nhiều trường hợp được hỗ trợ để tiếp tục du học, làm luận văn tiến sĩ ở nước ngoài. Những người này bị ràng buộc bởi một lời hứa sau khi học xong sẽ quay trở lại làm việc cho trường. Trong một số trường hợp họ bị ràng buộc bởi một cam kết với chính phủ Việt nam khi nhận học bổng từ chính phủ.

Bỏ qua một số tiêu cực ắt có trong việc lựa chọn những sinh viên được ưu tiên đi học nước ngoài, biện pháp tạo nguồn hiện đang là biện pháp mang lại hiệu quả tích cực nhất trong bối cảnh hiện tại.

Nhờ cơ chế tạo nguồn mà nhiều trường đại học còn duy trì được việc trẻ hoá đội ngũ với những nhà khoa học trẻ có ít nhiều trải nghiệm trong môi trường quốc tế.

Mặt khác, quy trình tạo nguồn cũng phản ánh những điểm yếu nhất trong công việc xây dựng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu của các trường đại học Việt nam, đó là sự thiếu hấp dẫn của vị trí làm việc, thiếu tính cạnh tranh trong tuyển dụng, và thiếu tính linh hoạt trong tổ chức cán bộ.

Tính thiếu hấp dẫn của vị trí làm việc là nguyên nhân khiến người ta cần ràng buộc bằng cam kết những sinh viên được sắp xếp đi học tiếp ở nước ngoài. Các ràng buộc này có những hệ lụy như phân tích dưới đây.

Phương pháp “tạo nguồn” mang nặng tính chủ quan. Các trường chỉ ưu tiên tuyển chính những người mình đào tạo ra, những đối tượng mình “quy hoạch”. Việc cạnh tranh, chủ động đi tìm và tuyển những người trẻ được đào tạo từ những “nguồn” khác trở nên rất hãn hữu.

Thiếu cạnh tranh tất yếu dẫn đến chất lượng giảm. Về mặt học thuật thì sự thiếu “máu mới”, do người khác tuyển dụng và đào tạo, dẫn đến một sự trì trệ nhất định trong nghiên cứu. Thầy và trò cùng một “lò” ra sẽ ít có các giao thoa . tưởng cần thiết trong nghiên cứu khoa học.

Sự ràng buộc này cũng cực kỳ thiếu linh hoạt cho cả cá nhân những giảng viên “được đi”, và cho quy hoạch cán bộ của trường. Về mặt cá nhân thì nó gây khó dễ cho các cơ hội phát triển sự nghiệp khoa học của người được đào tạo. Về mặt quy hoạch nhân sự thì để tạo được nguồn, cần có kế hoạch dài từ năm đến mười năm. Kết quả của quá trình dài như vậy sẽ bị chi phối bởi rất nhiều rủi ro, và trên thực tế không có gì để đảm bảo chất lượng đầu ra ngoài niềm tin.

Bên cạnh đó kế hoạch dài hơi sẽ hạn chế đáng kể tính linh hoạt trong chính sách khoa học của các trường đại học phải thích nghi liên tục với môi trường quốc tế ngày một biến động.

 

Quy trình tuyển chọn

Quy trình tuyển chọn cán bộ giảng dạy và nghiên cứu hiện đang tuân thủ các quy định chung của tuyển chọn công chức, viên chức. Quy trình hiện tại hầu như không có các yếu tố đặc thù cho môi trường hàn lâm, trong khi tính chất công việc của các nhân sự hàm lâm lại rất khác so với công việc thông thường của một viên chức nhà nước. Một đặc thù quan trọng của môi trường đại học hiên đại là lấy khả năng nghiên cứu khoa học làm tiêu chí số một, và sự tự do học thuật – thể hiện qua quyền quyết định của Faculty – là nền tảng hoạt động.

Tiêu chí hàng đầu cho việc tuyển dụng giảng viên và giáo sư đại học phải là khả năng nghiên cứu khoa học. Chỉ có những người “sống và thở” ở tiền tuyến của tri thức nhân loại mới có khả năng hiểu và truyền tải những kiến thức nền tảng và những phát kiến tiên tiến nhất cho lực lượng lao động trí não tương lai.

Hệ quả tất yếu của tiêu chí trên là tiếng nói tối cao trong việc tuyển chọn phải thuộc về những người có khả năng đánh giá trình độ, khả năng, và tiềm năng nghiên cứu khoa học của ứng viên. Như vậy cấu trúc của Hội đồng tuyển chọn phải khác với hiện nay, nó phải bao gồm những giáo sư giảng dạy tại khoa, có uy tín về khoa học, và không thể bao gồm nhân viên của các phòng ban, ví dụ như phòng tổ chức cán bộ.

Cơ cấu của các hội đồng tuyển chọn cũng thể hiện các cân quyền lực ở trường đại học. Ở một trường đại học Mỹ, quyền lực nằm chủ yếu trong tay của Faculty, các ban bệ có trách nhiệm thực hiện quyết định của Faculty. Quyền quyết định nhân sự thuộc về Faculty là một biểu hiện rất cơ bản của tự do học thuật. Ở các trường đại học Việt nam hiện nay, các ban bệ thường đứng trên Faculty.

Quyền lực của hệ thống quan liêu thể hiện ở quy trình tuyển chọn rắc rối và không đồng nhất. Quy trình đủ rắc rối để cho Faculty không có khả năng thực hiện vai trò quyết định của mình nếu không có sự hỗ trợ của các phòng ban. Đối với các ứng viên, tình hình còn khó khăn hơn nữa. Nếu không có quen biết, họ không có khả năng vượt qua những rào cản mang tính chất hành chính.

Nói tóm lại, quy trình tuyển chọn cần phải được minh bạch hoá: tuyển ứng viên với một quy trình mở, ai được nộp đơn, ai được tuyển, dựa trên tiêu chí gì, kết quả như thế nào, v.v. Trong tuyển chọn phải ưu tiên hàng đầu tiêu chí khoa học, và trả quyền quyết định về cho những người có thẩm quyền khoa học.

 

Bổ nhiệm giáo sư

Một trong những chức năng cơ bản nhất của một trường đại học là định hướng chiến lược phát triển khoa học. Từng khoa, từng trường, cần biết thế mạnh, biết chỗ yếu của mình để có kế hoạch phân bổ nhân vật lực hợp lý trong các ràng buộc tài nguyên hữu hạn.

Ở các nước tiên tiến, việc này thường được làm thông qua việc bổ nhiệm giáo sư và tạo một số điều kiện để vị giáo sư đó có tiếng nói trong việc phát triển nghiên cứu chuyên môn của mình ở nơi tuyển mình về. Việc này ở Việt nam được tổ chức một cách rất khác với các nước khác. Việc xét chức danh giáo sư được giao cho Hội đồng chức danh giáo sư.

Gần đây có một số chuyển biến trong thủ tục phong và bổ nhiệm giáo sư, cụ thể là Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước chỉ xét, công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư hoặc Phó giáo sư, việc bổ nhiệm thuộc về quyền của trường. Tuy rằng việc bổ nhiệm ở cấp trường chủ yếu vẫn mang tính chất hình thức, nhưng đây là một chuyển biến quan trọng và tích cực về mặt chính sách. Nếu bản thân các trường nhận thức đầy đủ vai trò tự chủ khoa học của mình, họ sẽ phải chủ động đi tìm những nhà khoa học xuất sắc về đầu quân cho mình, và tìm cách cải thiện tính hấp dẫn của vị trí giáo sư.

Việc tổ chức lại quy trình phong, bổ nhiệm giáo sư chắc chắn sẽ là một trong những biện pháp có khả năng làm chuyển biến mạnh nhất chất lượng nghiên cứu và giảng dạy của các trường đại học. Việc này cần được làm lại theo hướng ưu tiên tính tự chủ khoa học của các trường đại học, và xác định rõ hơn giáo sư là một vị trí công việc chứ không phải một phẩm tước khoa học.

 

Chế độ thu nhập

Chế độ thu nhập cứng nhắc hiện tại là một trong những ràng buộc lớn nhất cho mọi chính sách nhân sự đại học, và có lẽ là yếu tố chủ đạo làm các vị trí hàn lâm thiếu tính hấp dẫn các cá nhân xuất sắc.

Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy đại học là công chức hoặc viên chức nhà nước, chế độ thu nhập của họ được điều chỉnh bởi những quy định chung về thang lương của công/viên chức nhà nước. Với thang lương hiện tại, mức lương cơ bản của giảng viên đại học không đảm bảo cho họ một mức sống trung lưu cao trong xã hội. Trong mọi hệ thống xã hội, mức sống trung lưu cao cho cán bộ giảng viên nghiên cứu luôn là điều kiện cần cho một hệ thống giáo dục tốt vì:

(1) nó thể hiện mức độ ưu tiên của xã hội đối với giáo dục đại học,

(2) để nghiên cứu tốt thì ứng viên tuyệt đối cần thời gian tư duy tự do, không bị ràng buộc bởi cơm gạo.

Để khắc phục thang lương bất hợp lý hiện tại, nhà nước đã có một số chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học thông qua các Quỹ như Nafosted. Các đề tài khoa học đã trở thành một nguồn tăng thu nhập đáng kể cho cán bộ nghiên cứu. Bên cạnh ý nghĩa tích cực, chúng ta thấy việc này thực chất phản ánh khó khăn của Việt Nam trong việc cải cách hệ thống tiền lương. Việc cải cách chế độ thu nhập cho cán bộ nghiên cứu giảng dạy ở đại học là một việc hệ trọng.

Tìm ra một lộ trình để cho những thu nhập bổ sung được gộp vào thu nhập chính là một bài toán rất khó, nhưng nó rất cần có lời giải. Thật vậy, nếu không làm minh bạch thu nhập, không thể có chính sách tích cực xây dựng đội ngũ nghiên cứu giảng dạy.

 

Sử dụng nhân lực “thời vụ” cao cấp!

Bên cạnh việc quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ nghiên cứu giảng dạy cơ hữu, cũng cần chú . đến việc “tận dụng nhân lực thời vụ cao cấp”. Thuật ngữ trong ngoặc kép dùng để chỉ thử nghiệm thành công ở Trung Quốc cuốn hút các giáo sư nước ngoài đến Trung Quốc làm việc ngắn hạn. Họ rất thành công trong việc lôi cuốn các nhà khoa học đầu đàn sắp hoạc vừa về hưu sang làm việc ở TQ mỗi năm hai, ba tháng. Với mức thù lao ít hơn nhiều so với các trường đại học phương tây phải trả, họ đã thực sự tận dụng được tri thức, uy tín của những nhà khoa học có tên tuổi lớn.

Ở Việt nam, cần nêu trường hợp của GS. Darriulat. Ông đến làm việc ở Việt Nam sau khi nghỉ hưu ở Viện CERN. Trong thời gian ở Việt Nam mười năm gần đây, ông đã đóng góp nhiều vào việc đào tạo một thế hệ những nhà vật lý thực nghiệm trẻ và tài năng. Cần lưu ., trong trường hợp này GS. Darriulat chủ động đến với Việt Nam; việc ông đến Việt Nam không phải là kết quả của một chính sách.

 

Tóm tắt một số đề xuất!

1. Quy trình tuyển chọn thống nhất cho tất cả các trường đại học trong cả nước, tiến tới tạo một thị trường tuyển dụng cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thông suốt trong cả nước.

2. Quyết định của Hội đồng tuyển dụng cần được hiệu trưởng phê duyệt trên cơ sở báo cáo của Hội đồng khoa học và thư giới thiệu đến từ bên ngoài. Quyết đinh tuyển dụng và lý lịch khoa học của những người được tuyển phải được công bố công khai.

3. Lấy việc bổ nhiệm giáo sư làm trọng tâm cho việc thực hiện tự chủ khoa học của các trường đại học. Nhận thức rộng rãi giáo sư là một vị trí công tác chủ chốt, chứ không phải là một phẩm tước danh dự.

4. Nới lỏng hệ thống thu nhập: bên cạnh thu nhập thông thường theo thang lương công chức, cán bộ khoa học giảng dạy có thể được hưởng thu nhập đặc biệt với nguồn từ trong và ngoài ngân sách, do các trường đại học chủ động quyết định.

5. Trong kế hoạch đầu tư xây dựng trường, bên cạnh đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cần chuẩn bị kinh phí để đầu tư xây dựng đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy.

6. Thiết lập cơ chế và chính sách để “tận dụng nhân lực thời vụ cao cấp”.

7. Lấy thành tích xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ nghiên cứu giảng dạy để đánh giá năng lực lãnh đạo trường đại học. Lấy thu nhập cán bộ khoa học giảng dạy làm một tiêu chí để đánh giá, xếp hạng các trường đại học.

 

Trích phát biểu bế mạc hội thảo của GS Ngô Bảo Châu

Xây dựng lòng tin để cùng làm việc 

“Cá nhân tôi thấy không khí hội thảo thật là cởi mở và thiện chí. Đó cũng là cách mà tôi nghĩ khi chúng tôi bắt đầu làm Đối thoại Giáo dục. Tôi nghĩ cái mà đất nước chúng ta thiếu nghiêm trọng là lòng tin. Một đối thoại xuất phát từ thiện chí, và luôn hướng tới chủ đề chuyên môn cụ thể. Nhưng kết quả, sản phẩm của đối thoại không chỉ là kết luận, các đề xuất cụ thể mà còn có sản phẩm phụ – thực ra không phụ chút nào – là lòng tin. Chúng ta cùng nhau làm cái gì đó một cách xây dựng và thiện chí. Nghĩ đến việc đó quả là tôi rất thất vọng khi mà đọc tít của những bài báo ra sáng hôm nay, nếu tôi không phải là người tham gia hội thảo thì tôi sẽ suy nghĩ đây không phải là đối thoại giáo dục mà là đấu tố giáo dục. Mọi người đều phải nhận thức rõ ràng chuyện nỗ lực của từng người có tính xây dựng ở đất nước này, trước hết xây dựng lòng tin để cùng nhau làm việc”.

Advertisements

Tagged as: , ,

Categorised in: Autonomy, Giáo dục đại học, VED 2014

15 phản hồi »

  1. Về cơ bản tôi đồng ý với GS Ngô Bảo Châu, GS Ngô Quang Hưng và nhóm đối thoại giáo dục xung quanh vấn đề này. Tuy vậy, tôi mạo muội gửi đến các tác giả đề xuất nho nhỏ (bổ sung vào phần “tóm tắt một số đề xuất”) như sau:

    Thời gian qua, theo tôi biết để chuẩn hóa đội ngũ giảng viên ở các trường ĐH, BGD đã xiết chặt vấn đề này với yêu cầu bắt buộc giảng viên đại học phải có bằng từ Thạc sĩ trở lên. Vấn đề này cũng đã gây tranh cãi trong dư luận. Tuy vậy, theo tôi, trong hoàn cảnh XH Việt Nam “vàng thau lẫn lộn” như hiện nay, tôi cho rằng việc BGD đánh giá năng lực giảng viên qua bằng cấp (dù không sai vì dù muốn dù không trước hết cũng cần một điều kiện ban đầu như vậy) là chưa thật bao quát và có gì đó quá cứng nhắc. Ngoài ra, ở phương diện nào đó cũng cho thấy đây là cách quản lý vô tình tước mất quyền tự chủ của các trường đại học (can thiệp thô bạo về vấn đề chuyên môn, giảng dạy của các trường đại học); vẫn là cách tư duy theo kiểu xin – cho.

    Vì vậy, để tận dụng chất xám của các trí thức thực sự (nhưng vì lý do nào đó họ không lao vào cuộc đua nâng cấp giá trị bản thân bằng những tấm bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ hay những mảnh giấy chứng nhận GS, PGS…), theo tôi, chúng ta nên tạo điều kiện cho những cá nhân là những HỌC GIẢ, những CHUYÊN GIA THỰC THỤ về một lĩnh vực nào đó tham gia vào giảng dạy ở đại học với tư cách là những giảng viên thỉnh giảng ngắn hạn tùy theo nhu cầu của từng trường Đại học. Theo chỗ tôi biết, trước 1975, các trường đại học ở miền Nam họ cũng đã từng thực hiện vấn đề này. Bên cạnh những giảng viên là những người có học hàm, học vị theo quy định chung thì họ cũng mời những người dù chỉ có bằng Cử nhân nhưng là những nhà nghiên cứu thực thụ tham gia vào giảng dạy .Học giả Nguyễn Hiến Lê, nhà thơ Đông Hồ và nhiều học giả khác nữa là những ví dụ tiêu biểu như vậy.

    Đến đây một vấn đề đặt ra là làm sao để nhận ra ở VN hiện nay đâu là HỌC GIẢ THỰC SỰ? Về vấn đề này tôi cho rằng nếu chúng ta quyết tâm và có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”, thực sự biết tôn trọng học thuật, tôn trọng trí thức, vì thế hệ mai sau… thì việc xác định sẽ không khó khăn gì. Thứ nữa, để đảm bảo những sự chuẩn mực và nguyên tắc nhất định trong quản lý chúng ta sẽ thực hiện vấn đề này theo như đề xuất ở mục 2 và 3 (phần tóm tắt một số đề xuất) của Gs Ngô Bảo Châu, Gs Ngô Quang Hưng ở trên là OK.

    Số lượt thích

  2. Từ bài viết của Giáo sư tôi thấy:
    1. Về nguồn nhân lực:
    + Thực trạng: “qui hoạch” con người + “qui hoạch” đề tài nghiên cứu khoa học = Phòng tổ chức cán bộ. Công thức này nên thay bằng: faculty + tự do học thuật = trường Đại học.
    Đúng thế thưa giáo sư. Nhưng vấn đề ai thực hiện nhiệm vụ thay thế này và bắt đầu khi nào?
    2. Vấn đề nguồn thu nhập:
    “Hai bộ vẫn không quyết nỗi mức lương cho giáo sư” vậy những người khác thì đến bao giờ?
    3. Về lòng tin(ở một bài viết khác nhưng liên quan mật thiết đến bài viết này)
    Lòng tin không phải một vật tự nhiên có mà phải được nuôi nấng, chăm bẵm. Vật chất để nuôi nấng, phát triển lòng tin ngoài hai điều trên không gì khác là LÒNG TIN từ phía đối diện. Lòng tin từ phía đối diện không phải chỉ hô hào bằng những mĩ từ hào nhoáng, sáo rỗng mà phải bằng những hành động cụ thể. Hành động đó thế nào chắc với một người như giáo sư đã có câu trả lời.
    Cảm ơn các giáo sư đã cho tôi thấy được những hướg đi mới cho “chiếc máy cái của nguồn nhân lực” ở tầm vĩ mô. Ước gì tôi có đủ năng lực để tham gia đóng góp một phần rất nhỏ bé của mình.

    Số lượt thích

  3. “Tóm tắt một số đề xuất!

    1. Quy trình tuyển chọn thống nhất cho tất cả các trường đại học trong cả nước, tiến tới tạo một thị trường tuyển dụng cán bộ nghiên cứu và giảng dạy thông suốt trong cả nước.
    * Nếu 1 cơ quan nào đó có 10-20 người xin việc làm, nhưng cơ quan này nói đã đủ chỉ tiêu, thì giáo sư tính thế nào? và nếu cứ 10-20 người năm sau cũng vậy thì 5-10 năm sau, có hơn 200 hồ sơ còn tồn đọng lại thì giáo sư tính thế nào?
    ** Nếu trong 10-20 người xin việc, có 1-2 người bao thư 100 – 200 triệu được nhận vào thì giáo sư tính thế nào? nếu như tuyển chọn đúng người, đúng chuyên môn và vì tương lai ngày mai của Vietnam thì tôi nghĩ ko đến nổi nào đâu!
    *** Xin việc hiện nay toàn đồng tiền đi trước quyết định công việc thì giáo sư nghĩ thế nào? tức là dù a thế nào thì a ko có tiền là xem như làm cái khác, điều này tạo ra tiền lệ ko đáp ứng chuyên môn và nghề nghiệp khi làm?
    **** Theo giáo sư thì Vietnam có nên đóng khung việc làm hay gọi là đủ tiêu chí như hiện nay hay không?
    ***** …..
    tôi biết những câu hỏi này sẽ gây khó khăn cho tôi và tôi sẽ bị đẩy ra khỏi mọi thứ, nhưng vì tương lai ngày mai, tôi bị đẩy tận biên giới cũng không sợ!
    2. Quyết định của Hội đồng tuyển dụng cần được hiệu trưởng phê duyệt trên cơ sở báo cáo của Hội đồng khoa học và thư giới thiệu đến từ bên ngoài. Quyết đinh tuyển dụng và lý lịch khoa học của những người được tuyển phải được công bố công khai.

    3. Lấy việc bổ nhiệm giáo sư làm trọng tâm cho việc thực hiện tự chủ khoa học của các trường đại học. Nhận thức rộng rãi giáo sư là một vị trí công tác chủ chốt, chứ không phải là một phẩm tước danh dự.
    * Theo giáo sư, làm sao để các giáo sư chỉ tập trung cho 1 trường đại học mà họ làm việc, chứ hiện nay giáo sư nào cũng có phòng ban riêng thì việc tập trung 1 trường đó là hoàn toàn khó khăn, và công việc rất khó phát triển trường đại học đó?
    4. Nới lỏng hệ thống thu nhập: bên cạnh thu nhập thông thường theo thang lương công chức, cán bộ khoa học giảng dạy có thể được hưởng thu nhập đặc biệt với nguồn từ trong và ngoài ngân sách, do các trường đại học chủ động quyết định.
    * theo giáo sư, chúng ta có thể lấy giáo dục đại học để nuôi giáo dục đại học, không còn cảnh bao cấp lấy ngân sách khác lo cho giáo dục 50-60% như hiện nay, 1 khi sự bao cấp này hạn hẹp thì ý tưởng và cách làm chắc chắn sẽ phá sản như hiện nay, việc ko đủ kinh phí hoạt động như hiện nay, chúng ta càng cắt gọt và bó hẹp, đóng khung như hiện nay thì mọi ý tưởng sẽ phá sản khi không có kinh phí?
    5. Trong kế hoạch đầu tư xây dựng trường, bên cạnh đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cần chuẩn bị kinh phí để đầu tư xây dựng đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy.
    * nhiều trường đại học 7 – 8 điểm vẫn đậu đại học, theo giáo sư, chất lượng nghề nghiệp của họ có đủ đáp ứng công việc khi ra trường, nó có tạo ra người có trình độ thấp hay không?
    6. Thiết lập cơ chế và chính sách để “tận dụng nhân lực thời vụ cao cấp”.

    7. Lấy thành tích xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ nghiên cứu giảng dạy để đánh giá năng lực lãnh đạo trường đại học. Lấy thu nhập cán bộ khoa học giảng dạy làm một tiêu chí để đánh giá, xếp hạng các trường đại học.”

    Số lượt thích

  4. Bên lề vấn đề tuyển chọn giảng viên, GS Ngô Bảo Châu gần đây có một phát biểu được báo chí trích dẫn nhiều : “Đánh giá một cách khách quan thì học sinh tốt nghiệp THPT của ta không đến nỗi quá tệ so với trình độ học sinh các nước khác, nhưng người tốt nghiệp ĐH của ta tương đối đuối so với người tốt nghiệp ĐH nước ngoài. Đuối cả về kiến thức lẫn tác phong làm việc”.

    Rất mong GS bàn thêm (tại đây hoặc trong một bài post mới) về “tác phong làm việc” của sinh viên VN và vì sao nó lại “đuối” so với sinh viên nước ngoài. Thiết nghĩ đây cũng là một điều hữu ích cho các bạn trẻ du học.

    Số lượt thích

  5. Bên lề vấn đề tuyển chọn giảng viên, GS Ngô Bảo Châu gần đây có một phát biểu được báo chí trích dẫn nhiều : “Đánh giá một cách khách quan thì học sinh tốt nghiệp THPT của ta không đến nỗi quá tệ so với trình độ học sinh các nước khác, nhưng người tốt nghiệp ĐH của ta tương đối đuối so với người tốt nghiệp ĐH nước ngoài. Đuối cả về kiến thức lẫn tác phong làm việc”.

    Rất mong GS bàn thêm (tại đây hoặc trong một bài post mới) về “tác phong làm việc” của sinh viên VN và vì sao nó lại “đuối” so với sinh viên nước ngoài. Thiết nghĩ đây cũng là một điều hữu ích cho các bạn trẻ du học.

    Số lượt thích

  6. Tôi nghĩ giáo dục phổ thông là xác lập mặt bằng DÂN TRÍ.Phá bỏ cuộc thi THPT là phá hoại mặt bằng DÂN TRÍ. Đúng là cuộc thi PTTH hiện nay là vô bổ,là đáng lên án,nhưng điều này không thể là lý do để bỏ.Nó vô bổ là tại các vị nhà ta “tranh thành tích’ nên lủng đoạn cuộc thi.Theo tôi không những không bỏ mà còn cần phải tiến hành nghiêm túc vì nó quyết định mức độ của phát triển đất nước. Còn đào tạo đại học chỉ có tác dụng “tốc độ phát triển” của đất nước.Dù rằng nó là một mặt rất quan trọng nhưng so với đào tạo PTTH nó không phải là cơ bản là lâu dài.Cuộc thi đại học nên giao cho các trường tự tổ chức,nhà nước định mức chỉ tiêu cho các trường dựa vào yêu cầu phát triển của đất nước.Điều quan trọng hơn đối với nhà nước là phải tăng cường kiểm tra chất lượng bằng những phương thức có hiệu quả hơn,ví dụ,sử dụng các lực lượng xã hội,như các phương tiện tiện truyền thông,các hội nghề nghiệp.Mong các vị đừng thấy khó mà bỏ.Dù khó nhưng là những vấn đề mang chiến lược thì bằng mọi cách phải làm cho được

    Số lượt thích

  7. “… cái mà đất nước chúng ta thiếu nghiêm trọng là lòng tin.” Đây là lời phê bình khá gay gắt sau buổi hội thảo về cải cách giáo dục. Ai không tin ai? Không tin làm sao hợp tác? Không hợp tác làm sao giáo dục? Ngạn ngữ Phi châu nói rằng: Phải cần cả làng để dạy dỗ một đứa bé, it takes the whole village to raise a child.

    Tôi đồng ý với hoa den ở trên, là K12 quan trọng hơn đại học. Vì thế, cần phải làm mọi cách để giáo dục này có chất lượng, ví dụ, học sinh thi, kiểm tra thầy cô, xem học sinh dở hay thầy cô kém, vv.

    Ở HK, K12 là bắt buộc, chính phủ bỏ tiền, cha mẹ đưa con, cô thầy dạy dỗ tử tế. Tới bậc Cử nhân, chính phủ khuyến khích chứ không bắt buộc nữa, do đó, ai đi học sẽ được giúp đỡ tài chánh. Thế rồi, hằng năm, các công ty lớn thường đến các trường đại học để tuyển lựa những học sinh ưu tú, đôi khi họ bảo đảm công việc trước khi sinh viên tốt nghiệp. Vui chưa?

    Số lượt thích

  8. Tôi xin nhấn mạnh: tiêu chí của kỳ thi THPT là xây dựng mặt bằng DÂN TRÍ.Sự phát triển lâu dài,bền vững của đất nước là dựa trên DÂN TRÍ của đất nước. Bỏ kỳ thi này tức xóa bỏ mặt băng DÂN TRÍ thì sẽ đưa đất nước vào hổn loạn.Không thể bỏ mà cần tìm mọi cách tổ chức nghiêm túc theo đúng yêu cầu của tiêu chí.Còn cuộc thi vào ĐẠI HỌC dựa vào tiêu chí yêu cầu của TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC nên không cần tổ chức với qui mô quá tốn kém như hiện nay.Nên mạnh dạn giao cho các trường.Các trường không tổ chức nổi kỳ thi thì còn nói gì đến khả năng ĐÀO TẠO.Vì nó chỉ có tính chất TUYỂN LỰA nên không cần thiết phải tổ chức nhiều ngày,nhiều môn. Ví dụ thi vào Đạị học Bách khoa chỉ cần thi hai môn,như các ngành Cơ khí chỉ cần thi Toán và Vật lý,ngành Hóa Thực phẩm,các ngành liên quan đến vật liêu chỉ cần thi Toán và hóa,…Thậm chí vì chỉ để chọn lựa ĐỀ THI chỉ cần nội dung trong 120 phút là đủ.Như vậy kỳ thi chỉ cần gói gọn trong MỘT BUỔI,giảm thiểu phiền hà về giao thông,về lưu trú,đặc biệt khi không yêu cầu các trường tổ chức cùng thời điểm .Tôi xin nêu ý kiến là tiêu chí hai cuộc thi khác nhau thì không thể nào gộp lại trong MỘT KỲ THI.Một anh bạn (lảnh đạo)nói với tôi rằng nhiều vị nhà ta mang nặng tư tưởng bao cấp ,có ý tưởng tổ chức một ĐẠI HỌC QUI MÔ TOÀN QUỐC(?).Đây là vấn đề cực kỳ quan trong.Mong răng sẽ có MỘT GIẢI PHÁP KHOA HỌC góp phần vào phát triển mạnh mẽ đất nước

    Số lượt thích

    • Tôi nghĩ giáo dục phổ thông là xây dựng mặt bằng DÂN TRÍ chứ không phải chỉ những tiêu chí kỳ thi THPT. Tôi rất nhất trí với hoaden ” Sự phát triển lâu dài,bền vững của đất nước là dựa trên DÂN TRÍ của đất nước” nếu cứ nghĩ các tiêu chí kỳ thi THPT là mặt bằng DÂN TRÍ thì ta phải có một bộ tiêu chí rất cồng kềnh, khó khả thi. Giải pháp cho giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học tôi nghĩ là chính xác nhưng phải có một bộ chương trình tốt ,đánh giá và quản lý chất lượng theo hướng thường xuyên trong quá trình học chứ không chỉ một kỳ thi THPT. Có thể bỏ kỳ thi này khi việc kiểm tra, đánh giá được thực hiện nghiêm túc trong quá trình học của học sinh.
      Đối với giáo dục Đại học, tôi rất tâm đắc với những đề xuất của GS Ngô Bảo Châu.

      Số lượt thích

  9. Reblogged this on Ba, mẹ và các con… and commented:
    Làm trong giáo dục, nhiều người vẫn biết là thế. Xây dựng đội ngũ nhân sự rất quan trọng nhưng làm thế nào để có đủ thì bài toán này không đơn giản. Giải pháp qua nhiều thế hệ người Việt. Ta bàn bây giờ cũng là để cho mai sau.

    Số lượt thích

  10. Tôi chỉ muốn bàn về đào tạo quản trị doanh nghiệp:

    Đa số các giáo sư chưa bao giờ rời mái trường thân yêu mà dám dạy kinh doanh trong thời khủng hoảng. Khác gì chưa cầm vô lăng mà dạy lái xe lên Tam Đảo ngày bão táp.

    Cần kết nối-Chia sẻ: Nhà trường-Doanh nghiệp-Sinh viên. Tạo dựng Clastering.

    “Chỉ có trải nghiệm mới thấu hiểu”. Cho sinh viên xuống doanh nghiệp và giỏi thì tuyển thẳng luôn.

    Số lượt thích

  11. Tri thức, phát minh, sáng chế , cải tiến…là “vô giá” phải được ứng dụng hữu ích cụ thể vào thị trường hàng hoá, dịch vụ thì phải “có giá” do thị trường chấp nhận.
    Nhà nghiên cứu phải có quyền năng lớn của người nắm tri thức đồng thời phải chấp nhận cạnh tranh bởi phải làm cho tiện ích tăng mà chi phí giảm (tương đối).
    Chỉ nên dùng cho giảng dạy khoảng 30% thời lượng còn lại giành cho nghiên cứu. Nhà nghiên cứu phải có công trình hoặc bài báo quốc tế (do trong nước bị mất tin, yếu nên thừa nhận bởi quốc tế cho khách quan-cho đến khi đảo ngược được tình hình) VÀ/HOẶC kiếm được nhiều tiền do thị trường chấp nhận chi trả qua trực tiếp “thuê tri thức” hoặc do sản phẩm bán chạy, tức tri thức được gián tiếp bán ra do ứng dụng vào thị trường hàng hoá,dịch vụ.
    Vậy phải cải tiến các quy định ở cấp trường/viện, hiệp hội, nghành và nhà nước để tỷ lệ NC-GD phải được cải thiện gắn với cơ cấu thu nhập theo hoạt động gd-nc cũng thay đổi tích cực. Đây là điều tối thiểu phải làm đầu tiên.
    Cần phải trả cho người nắm tri thức quyền của họ, cả ở thực quyền về hành chính và định đoạt về tài chính. Hiện nay thị trường chưa phát triển, cơ chế thị trường còn nửa vời nên chưa thể bắt buộc thị trường tìm đến nhà khoa học và chi trả cho nhà nghiên cứu thật nhiều tiền mà bộ phận nguồn lực xã hội do nhà nước nắm phải giải quyết được điều này. Tức không để “thằng dốt nắm tiền” và không phải bằng hô hào mà phải bằng luật pháp. Khi chi ngân sách hoặc đầu tư công phải chứng minh được đã ưu tiên mua trong nước, nội địa hoá, chuyển giao công nghệ như thế nào. Luật phải bắt buộc mua sản phẩm từ lao động và sáng tạo từ trong nước một cách tối đa, nếu là tiền từ tài sản công. Vi dụ “tàu ngầm” không thể để mãi mãi mua sắm của nước ngoài vì mãi là giúp nước ngoài có việc làm, tiếp tục sáng tạo và kiếm được tiền trên sự “bòn góp” tạo ngân sách trong nước. Nếu hầu hết mọi sp cho quân sự và dân dụng đều phụ thuộc nước ngoài thì nước mãi mãi kém an ninh, nghèo và kém phát triển.
    Nếu nhà nước khuyến khích và bắt buộc, không có sp nào là khó để làm ra cho trong nước và xuất khẩu nếu phát minh, cải tiến (là gốc) được diễn ra trong và ngoài một trường đại học/viện nghiên cứu một cách tự nhiên, tự do, tự chủ.
    Để trả quyền có thu nhập cao cho giới trí thức tôi cho rằng nhà nước ta có thể làm ngay được nếu cải tiến qui định, cơ chế, cách dùng người. Không thể “thằng dốt lắm tiền” do buôn lậu, tham nhũng một cách dễ dàng như bây giờ.
    Khi tri thức lên ngôi, giảng dạy sẽ có gốc để đi lên.
    Mong sao các tác giả thuyết phục mạnh mẽ hơn giới chức về vấn đề này.

    Số lượt thích

  12. GS, BS, bệnh viện trong nước ngày nay không hề kém cỏi. Đất nước vốn dày dạn kinh nghiệm điều trị cho thương bệnh binh qua các cuộc chiến tranh. Thêm nữa,nếu đừng chia ra tuyến TW, ĐP và đầu tư thích đáng cho yte và hệ thống bệnh viện thì cả nước sẽ đáp ứng tốt nhu cầu phòng, chữa bệnh với chi phí thấp hơn chữa bệnh ở nước ngoài. Có thể thu hút “du lịch chữa bệnh” thu tiền của người nước ngoài. Nhiều thứ hàng hoá dịch vụ mạnh lên, tốt lên, đất nước sẽ giàu mạnh, tài giỏi. Hợp tác quốc tế hai chiều phải trên quan điểm này.
    Có tiếc hay không vì mất cơ hội học hỏi, thực hành, nâng cao năng lực khi rất nhiều người “thừa tiền” vung ra chữa bệnh ở Sing, Thai, TQ, HQ, Pháp, Mỹ…còn một số BS giỏi VN vẫn đi trao đổi kiến thức cho Bv nước ngoài? Tại sao không thể giữ được phần lớn nguồn tiền này ở lại? Nếu mời GS,BS giỏi từ Pháp, Mỹ…đến đây sẽ thêm “thu hoạch” quý giá cho thầy và trò trong nước. Có tiến bộ hơn khi có những tin tức công khai. http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20150701/bo-truong-quoc-phong-phung-quang-thanh-tri-benh-tai-phap/770250.html

    Số lượt thích

  13. Xem lại lời bình của các bác có nhiều điểm rất hay. Các giáo viên có đọc HTN hay không chứ thực tế chúng tôi thấy thầy cô rất ít lên tiếng, phản biện. Đó là mặt trái lớn nhất của đội ngũ gvđh, vì sẽ làm cho học trò tiếp tục như hòn bi nhỏ và chỉ lăn vòng quanh.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: