How We Learn

Chính sách nào cho đại học tư phi lợi nhuận? – Trần Ngọc Diệp

Báo cáo của Hiệp hội các Trường ĐH-CĐ ngoài công lập tại Hội nghị Đánh giá 20 năm Phát triển Mô hình giáo dục đại học ngoài công lập ở Việt Nam 1993 – 2013, các trường đều tự nhận là trường tư phi lợi nhuận trong khi phần lớn đều hoạt động vì lợi nhuận. Vì sao lại có tình trạng đó?

 

Tình trạng tự phong “phi lợi nhuận” tại Việt Nam 

Sau khi Luật Giáo dục ra đời năm 2005, hệ thống các trường ngoài công lập thu lại chỉ còn hai loại hình là trường tư thục và trường có vốn đầu tư nước ngoài. Hình thức trường bán công và dân lập bị xóa bỏ. Từ đó đến nay, khái niệm về trường tư phi lợi nhuận và vì lợi nhuận dường như bị “bỏ ngỏ” và chỉ nóng lên trong thời gian gần đây.

Mặc dù khái niệm “đại học phi lợi nhuận” đã được nhắc đến nhiều lần trong hơn 20 năm trở lại đây – kể từ khi đại học ngoài công lập đầu tiên ra đời năm 1989, mãi đến năm 2012 khi Luật Giáo dục đại học (GDĐH) được ban hành, khái niệm “phi lợi nhuận” mới “thiết chế hoá” và định nghĩa cụ thể lần đầu tiên. Mục 7 điều 4 của Luật GDĐH 2012 giải thích rằng: Cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không lợi nhuận là cơ sở giáo dục đại học mà phần lợi nhuận tích lũy hằng năm là tài sản chung không chia, để tái đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học, các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hằng năm không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ.

Tuy nhiên, cách giải thích này vẫn chưa giải quyết được điểm mấu chốt trong tranh luận liên quan đến quyền sở hữu và việc cho phép kinh doanh tạo lợi nhuận cho nhà đầu tư trong giáo dục đại học. Cụ thể là:

•    Điều 20 luật Giáo dục 2005 và khoản 3 điều 11 của Luật GDĐH 2012 đều cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi. Trong khi đó, Quy chế Đại học tư thục (ĐHTT) cho phép chia cổ tức và tổ chức trường đại học giống như một công ty cổ phần. Hoạt động của trường đều nhằm tìm kiếm lợi nhuận để làm lợi cho các nhà đầu tư.

•    Quyết định 61/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế ĐHTT quy định “Tài sản là vốn góp được công nhận sở hữu tư nhân. Tài sản tăng thêm thuộc sở hữu chung của trường”. Tài sản tăng thêm thuộc sở hữu chung của nhà trường và do Hội đồng quản trị (HĐQT) quản lý. HĐQT lại bao gồm cả những cá nhân không góp vốn ban đầu. Chính sách này thể hiện hai mâu thuẫn. Một là các nhà đầu tư đầu tư vào các hoạt động gây lời nhưng lại không được hưởng lợi nhuận – mâu thuẫn trực tiếp với động lực đầu tư. Hai là những người không đóng góp gì lại có quyền quản lý điều hành phần tài sản chung của trường.

Những mâu thuẫn trong các quy định này khiến cho tình trạng quản lý khó khăn. Hệ quả là đúng như nhận định tại Báo cáo của Hiệp hội các Trường ĐH-CĐ ngoài công lập tại Hội nghị Đánh giá 20 năm Phát triển Mô hình giáo dục đại học ngoài công lập ở Việt Nam 1993 – 2013, các trường đều tự nhận là trường tư phi lợi nhuận trong khi phần lớn đều hoạt động vì lợi nhuận[i]. Bên cạnh đó, nhà nước cũng không thể có cơ chế hỗ trợ cho các trường phi lợi nhuận như nhiều nước khác như Nhật Bản, Philippines hay Thái Lan đang thực hiện.

Vậy làm thế nào để có thể xây dựng được một cơ chế chính sách hợp lý, và giải quyết được những mâu thuẫn nêu trên. Phần tiếp theo của bài viết này sẽ điểm qua chính sách đối với các tổ chức phi lợi nhuận, trong đó bao gồm các trường tư phi lợi nhuận của Mỹ – quốc gia được đánh giá là có hệ thống pháp quy hoàn chỉnh nhất trong việc phân biệt giữa các tổ chức phi lợi nhuận và vì lợi nhuận; từ đó, rút ra những kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam.

Phân định ranh giới phi lợi nhuận và vì lợi nhuận tại Mỹ

Trường đại học tư đầu tiên của Mỹ là trường Harvard được thành lập vào năm 1636. Cho đến nay, nước Mỹ có 1.600 trường đại học, cao đẳng tư phi lợi nhuận, chiếm 36% tổng số trường đại học và cao đẳng cộng đồng trên cả nước. Tỉ lệ này của trường tư vì lợi nhuận là 27%. Số lượng sinh viên nhập học ở các trường phi lợi nhuận là 3,4 triệu[ii].

Các trường tư phi lợi nhuận được xếp cùng trong hệ thống các tổ chức phi lợi nhuận, thường được gọi là các tổ chức 503 (c) theo điều khoản 503 (c) của Quy định về Mã số thu nhâp (Internal Revenue Code). Đây là điều khoản quan trọng của đạo luật bởi nó quy định những điều mà các trường phi lợi nhuận được phép, và không được phép làm. Sự ra đời của điều 503 (c) bắt nguồn từ Luật Thuế quan (Tariff Act) 1894, quy định việc miễn thuế cho các pháp nhân tổ chức hoạt động hoàn toàn vì mục đích từ thiện, tôn giáo hay giáo dục bởi các lợi ích mà các tổ chức này mang đến cho xã hội. Quốc hội Mỹ sau đó đã tái khẳng định quan điểm này ở Luật về Thu nhập (Revenue Act) năm 1938.

Để được công nhận là một tổ chức phi lợi nhuận, các trường tư phải đạt được các yêu cầu liên quan đến bảy nội dung về tổ chức, vận hành, sử dụng lợi nhuận, vận động hành lang, vận động chính trị, lợi ích công và chính sách công[iii]:

Về mặt tổ chức, các tổ chức này phải được thành lập vì một trong số các mục đích sau: làm từ thiện, tôn giáo, giáo dục, khoa học, văn học, hỗ trợ cho an toàn cộng đồng, thúc đẩy tinh thần thể thao cạnh tranh chuyên nghiệp hoặc không chuyên, và việc chống lại hành hung trẻ em và động vật. Trong tầm nhìn hoạt động của tổ chức ghi rõ những hoạt động mà tổ chức được phép thực hiện phải có quan hệ mật thiết với một trong những mục đích kể trên.

Về mặt vận hành, trường tư phi lợi nhuận được phép tiến hành các hoạt động tạo lợi nhuận tuy nhiên những hoạt động này không thể trở thành các hoạt động chính của tổ chức. Các hoạt động vì lợi nhuận này đồng thời sẽ phải chịu thuế. Nếu như bị phát hiện các hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận quá nhiều hơn các hoạt động phi lợi nhuận, tổ chức phi lợi nhuận này có thể bị tước đi sự công nhận là tổ chức phi lợi nhuận. Do đó, để không làm ảnh hưởng đến pháp nhân phi lợi nhuận của tổ chức mẹ, các tổ chức này thường sẽ thành lập những pháp nhân vì lợi nhuận, chịu thuế, và trực thuộc tổ chức mẹ phi lợi nhuận. Ví dụ như tổ chức độc lập phi lợi nhuận ETS có một nhánh con vì lợi nhuận là công ty đa quốc gia the Chauncey Group International chuyên cung cấp các dịch vụ liên quan đến thiết kế, phát triển, và quản lý các chương trình đánh giá chứng chỉ nghề nghiệp.

Cách sử dụng lợi nhuận được coi là sự phân định cơ bản giữa tổ chức phi lợi nhuận và vì lợi nhuận. Các trường tư phi lợi nhuận là các cơ sở giáo dục hoạt động không vì mục đích làm giàu cho các nhân, các tài sản của trường phải được dành cho các mục đích từ thiện mãi mãi, và thu nhập ròng không được phép lại cho chủ sở hữu hay chia cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức. Các trường tư vì lợi nhuận không có những đặc tính kể trên. Thay vào đó, mục đích cuối cùng của các trường này là làm lợi cho các cổ đông hoặc chủ sở hữu của trường.

Hai quy định tiếp theo là các trường tư phi lợi nhuận phải hạn chế các hoạt động vận động hành lang cho nhóm lợi ích (lobbying) và tuyệt đối không tham gia vào các chiến dịch vận động tranh cử cho đảng phái chính trị.

Các tổ chức phi lợi nhuận phải hoạt động vì lợi ích của cộng đồng số đông, không phải vì lợi ích của các nhân. Những người được hưởng lợi từ các hoạt động của tổ chức phải là số đông.

Cuối cùng, các hoạt động của trường không được vi phạm hay ảnh hưởng đến nguyên tắc cơ bản của chính sách công liên quan đến quyền lợi của số đông cộng đồng.

Bài học cho Việt Nam 

Như vậy, việc vận hành một trường tư phi lợi nhuận của Mỹ không chỉ nằm ở một vài dòng định nghĩa được ghi trên Luật mà có một loạt các tiêu chuẩn liên quan đến tổ chức và hoạt động. Việt Nam tuy đã đưa ra được một định nghĩa về trường tư phi lợi nhuận dựa trên việc sử dụng thu nhập ròng nhưng chưa có các chính sách và quy định đảm bảo việc thực hiện quy định của các trường tự nhận là phi lợi nhuận. Dựa vào kinh nghiệm của hệ thống chính sách Mỹ, tác giả cho rằng Việt Nam có thể đưa ra những khuyến nghị về chính sách để phân biệt đại học vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận cũng như các chính sách khuyến khích, ưu đãi đại học không vì lợi nhuận như sau:

•    Công nhận sự tồn tại của các trường tư vì lợi nhuận và các trường tư phi lợi nhuận là một phần tất yếu của quá trình mở rộng đại học ra ngoài khu vực công.

•    Ban hành quy định và chuẩn mực để phân biệt hai loại hình trường tư phi lợi nhuận với các trường vì lợi nhuận.

•    Các trường tư phi lợi nhuận cần được Nhà nước công nhận dựa vào các yêu cầu ban hành. Nhà nước cũng có quyền tước đi pháp nhân phi lợi nhuận này nếu trường không duy trì được tính phi lợi nhuận. Để giúp đỡ quá trình giám sát này, Nhà nước cần có quy định yêu cầu minh bạch tài chính và Kiểm toán đối với các trường. Yêu cầu Kiểm toán cũng sẽ giúp Nhà nước quản lý việc lợi nhuận được sử dụng lợi nhuận cho mục đích chung thay vì phân chia lại cho các nhà đầu tư hay chủ sở hữu.

Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần có những chính sách khuyến khích sự phát triển của các trường tư phi lợi nhuận. Thực tế cho thấy, ngay cả ở nước Mỹ, trung tâm thị trường thế giới, sự phát triển của các trường tư phi lợi nhuận luôn mang lại lợi ích lớn hơn cho xã hội nên cần được khuyến khích phát triển.

•    Thứ nhất, miễn thuế thu nhập và thuế đất cho các trường tư phi lợi nhuận.

•   Thứ hai, có những hỗ trợ về mặt tài chính hoặc giúp đỡ về nguồn lực cho các trường phi lợi nhuận đang đào tạo các ngành giúp bổ sung nguồn nhân lực cho nền kinh tế.

•    Thứ ba, khuyến khích các trường, nếu có ý tưởng và nguồn lực, có thể tham gia thực hiện các hoat động sinh lời theo mô hình pháp nhân mẹ – nhánh con như ví dụ nêu trên. Tuy nhiên, khi thực hiện chính sách này, cần đảm bảo khả năng giám sát và phối hợp giám sát của các cơ quan nhà nước cần được thực hiện nhịp nhàng.

•    Thứ tư, khuyến khích việc hiến tặng của cá nhân cho các trường bằng cách miễn giảm thuế cho phần thu nhập sau khi hiến tặng.

Trần Ngọc Diệp, ĐH Victoria, New Zealand

(Bài đã đăng trên Tia Sáng: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=7740)

[i] Báo cáo của Hiệp hội các Trường ĐH-CĐ NCL tại Hội nghị Đánh giá 20 Năm Phát triển Mô hình GDĐH NCL ở Việt Nam  1993 – 2013

[ii] National Association of Independent Colleges and Universities (2014). Retrieved July 27, 2014 from http://www.naicu.edu/about/page/about-us-higher-education-and-private-nonprofit-colleges.

[iii] Internal Revenue Service. (2014). Exempt Requirements – 501 (c)(3) Organizations. Retrieved July 27, 2014 , , from http://www.irs.gov/Charities-&-Non-Profits/Charitable-Organizations/Exemption-Requirements-Section-501(c)(3)-Organizations

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Giáo dục đại học, Tiền cho giáo dục, Vai trò của xã hội dân sự

5 phản hồi »

  1. Điều đầu tiên cần phải có. Ngôi trường được xây trên mảnh đất công, không phải trả tiền sử dụng đất. Không phải chịu bất kỳ các khoản thuế nào. Ngôi trường đó được nhà nước đảm bảo về quyền lợi cũng như quy chế vĩnh viễn không bị quốc hữu hóa. Ngôi trường đó phải có nghĩa vụ thực hiện giảng dạy những điều đúng đắn, chân thực một cách khoa học nhất.
    Tàm tạm một ít yếu tố cơ bản. 🙂

    Số lượt thích

  2. Đây là một bài viết rất rõ về trường tư thục lợi nguận và phi lợi nhuận. Bài viết của tác giả cho thấy nếu muốn rõ ràng là một trường tư lợi nhuận hay phi lợi nhuận đang cần sự quản lý bằng luật pháp. Tôi nghĩ rằng, trong thời gian tới, Nhà nước cần phải kiểm soát trước hết thông qua việc minh bạch hóa các hoạt động nhất là minh bạch tài chính của nhà trường để cộng đồng giám sát. Muốn các trường tư phi lợi nhuận phát triển tốt ở nước ta, tôi nghĩ dứt khoát phải có sự hỗ trợ của nhà nước nhất là ở việc cho thuê với giá rẻ hoặc cho mượn đất để phát triển trường. Sự minh bạch của cá trường được giám sát qua việc kiểm toán và công nhận kiểm định sẽ là những điều kiện tiên quyết để nhà nước hỗ trợ đất đai qua chính sách phát triển đại học tư phi lợi nhuận đồng thời với việc hỗ trợ ngay từ đầu các cơ sở giáo dục đại học phi lợi với những cơ sở tuyên bố chuyển từ tư thục vì lợi nhuận sang phi lợi nhuận. Để tăng tính cạnh tranh có thể vẫn duy trì mở mới các cơ sở giáo dục đại học hoat động theo qui chế phi lợi nhuận. Phần hỗ trợ của nhà nước trong chính sách đất đai (và nhiều chính sách nữa) chính là phần đóng góp của nhà nước đối với người học, làm giảm chi phí cho người học – điều này vẫn rất cần ở một quốc gia nông nghiệp có thu nhập thấp như ở nước ta.
    Cũng cần phải để mọi người thấy rằng không có gì là không tốt nếu các cá nhân hoặc tổ chức đầu tư vào giáo dục vì lợi nhuận. Các trường này có thể không được ưu tiên như các trường phi lợi nhuận nhưng vẫn cần sự kiểm siast của nhà nước qua kiểm định. Sinh viên vào học các trường này chỉ được ưu tiên vay từ nhà nước để chi trả cho quá trình học nếu các trường này được kiểm định. Mức vay tùy vào uy tín của các trường dduojwc kiểm định và sự thừa nhận của xã hội.

    Số lượt thích

  3. Đại học Hoa Sen và Tôn Đức Thắng: một nguồn gốc – hai con đường
    (tiêu đề được đặt theo cảm hứng bài NUS và Malaya: một nguồn gốc – hai con đường)

    Luật Giáo dục 2005 chấm dứt mô hình trường bán công. Các trường thuộc loại này sau đó được quyền lựa chọn mô hình hoạt động theo hình thức tư thục hoặc công lập.

    Đại học Hoa Sen (ĐHHS) và Tôn Đức Thắng (ĐHTĐT) là hai trường bán công uy tín nhất thời điểm bấy giờ.
    ĐHHS do TS. Bùi Trân Phượng làm hiệu trưởng chọn trở thành ĐH tư thục phi lợi nhuận, định hướng đào tạo những ngành nghề thiết thực theo nhu cầu của xã hội. Khi có đoàn đánh giá Quốc hội hay Bộ về làm việc, ĐHHS không mời ăn trưa, không phong bì, không hoa hoét. Còn về hoạt động, riêng phần giải thích và hướng dẫn sử dụng logo trường mất 3 trang để giải thích.

    ĐHTĐT do TS. Lê Vinh Danh làm hiệu trưởng chọn trở thành ĐH công lập theo mô hình đặc biệt (tự chủ tài chính, không nhận kinh phí thường xuyên; chỉ nhận hỗ trợ tài chính, đất và các tài sản khác của nhà nước theo chương trình, dự án), định hướng trở thành đại học nghiên cứu. Năm 2011, hôm khánh thành tượng Chủ tịch TĐT tại campus của trường, có 2 UV BTC, 8 UV TW đến dự. Còn về hoạt động, TĐT là trường cứ nhiều cán bộ/cán bộ nguồn đi học ThS, TS nước ngoài thuộc hàng nhiều nhất VN hiện nay.

    Sau gần 10 năm hoạt động theo mô hình mới, cả 2 trường đều dường như đi đúng hướng theo lựa chọn, chiến lược và cách thực hiện theo 2 “thuyền trưởng” của mình cho đến ngày 2/8 vừa qua, khi TS. Bùi Trân Phượng bị bãi nhiệm tại Hội nghị cổ đông bất thường; hình ảnh và uy tín của ĐHHS cũng suy giảm nghiêm trọng trước công chúng.

    “Bi kịch” hay “thất bại” bất ngờ này của TS. Phượng và ĐHHS là do ai, vì ai? Khách quan hay chủ quan? Bài viết này phần nào trả lời những nghi vấn trên của tôi 😦

    Note: thông tin bên lề TS. Phượng tuổi con hổ (sn 1950) và TS. Danh tuổi con mèo (sn 1963)

    Số lượt thích

  4. Chính sách nào cho đại học tư phi lợi nhuận?
    1) ĐHTPLN ( kể cả bất kỳ loại ĐH nào) đều phải được nhà nước chi nhiều tiền, cung cấp đất đai, tạo điều kiện, nguồn lực. Nhưng thực chất nhà nước không có tiền,nguồn lực, chỉ có quyền sử dụng, điều phối theo giới hạn của luật pháp.Trường phải huy động mọi nguồn theo cơ chế thị trường, kể cả quyên, hiến, tặng. Ra đời, hoạt động, sản phẩm cuối của GD là vì con người, là tương lai, danh dự, sự tử tế và phát triển phải được coi là tối quan trọng.
    2) Nguồn lực, tự do hoá về nguồn lực, tự do và tự chủ, nhà nước can dự ít nhất,do vậy, phải có luật điều chỉnh mà luật thì không thể thiếu nhân văn, công bằng, khoa học và nghiêm chỉnh. Vì vậy phải để những người “tinh tú” nhất đưa tri thức tinh hoa của nhân loại vào luật và nắm luật. Lại phải làm cho thị trường hoạt động thực chất mới giúp toàn dân đánh giá, đào thải để lựa chọn cái gì tốt và bền vững.
    3) Nhà đầu tư góp tiền, của, kể cả vào DHTPLN cần được bù đắp, hoàn vốn, có “lợi tức -thu nhập” là động lực tốt, tự nhiên theo cơ chế thị trường cũng giống như lương giáo viên, các chi phí “knowhow” phải cao mới có của tốt, đó là lẽ tự nhiên. Tiếc rằng “sự mông muội” của con người và luật ở ta không phân loại được ở đâu là sự tốt đẹp tự nhiên của hành vi đầu tư, hoạt động cho GD và tính “bầy đàn” tất yếu của lòng tham. Vậy có thể sửa đổi, bổ sung ngay hai vấn đề : không có ĐH là công ty đại chúng, tức cấm “ra sàn” với một số “doanh nghiệp” làm giáo dục; tiền đã “rửa” bằng sự ưu đãi (chẳng hạn miễn thuế) để chảy vào ĐHTPLN thì chớ có thu về và không chia cổ tức. Nguồn sau thuế và không có “lách luật”, được ” sòng phẳng” như vốn đi huy động, được hoàn vốn nếu có nhưng cổ tức hàng năm, dứt điểm, chỉ được lấy về tối đa 50% mức được tính và không vượt lãi suất thị trường, lấy từ không quá 10% “thặng dư” hàng năm đem chia. Còn lại, dứt điểm từng năm, sung hết vào “quỹ tái đầu tư”,”tích luỹ phát triển”… của trường quản lý sao cho không nhà đầu tư, quản lý,”quan chức” tơ tưởng gì thêm. Một số tài sản đặc thù (đất đai…) đã góp phải tặng luôn cũng như đất nhà nước có thể cấp thì không được bán, sinh lợi từ những ts này phải vào thẳng kiểu quỹ nói trên.

    Số lượt thích

    • 4) Thường các trường phải được “phi thuế” kể cả loại vì lợi nhuận coi như nhà nước tài trợ bằng khoản này ,xem ý 1), phải được trừ vào lợi nhuận trước khi trích chia cổ tức và khoản này phải được chuyển ngay vào “quỹ”, xem ý 3), vì vậy nếu có trường nào “mạo danh PLN” thì phải tìm cho ra ai, ở trường và bên công quyền nếu ” bảo kê, ấu trĩ” để nghiêm trị nhất là dám đưa cổ phiếu ra “chợ- stock exchange” tức là tìm kiếm “siêu lợi nhuận” mưu lợi nhuận chồng lên lợi nhuận.
      XD xin mạo muội!

      Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: