How We Learn

Trường Đại học Hà Nội: Một số kinh nghiệm quản lý – Nguyễn Xuân Vang

VeDIAL: Bản gỡ băng bài tham luận của Nguyễn Xuân Vang (Đại học Hà Nội) tại hội thảo Cải cách giáo dục đại học VED 2014.  Slides của bài tham luận có thể tải về tại Presentation 3: Hanoi University: Some Management Experiences.

Hôm nay, lần đầu tiên tôi trình bày kinh nghiệm từ cách đây 6 năm. Kinh nghiệm quản lý ĐH có thể không trúng với mong đợi của mọi người trong hội thảo này. Tôi chỉ chụp lại những sự việc đã xảy ra với trường ĐH Ngoại ngữ – nay là ĐH Hà Nội để chia sẻ với quý vị.

Có ba phần nội dung, tôi sẽ tập trung trình bày phần chia sẻ kinh nghiệm nhiều hơn. Còn phần đánh giá hoặc kết quả thu được có thể tôi sẽ đi rất là nhanh.

Kết quả nổi bật ở đây, như anh Ngọc Anh vừa nói, từ một trường ngoại ngữ – ĐH Ngoại ngữ cái logo ngày xưa ý nói chìa khoá đến với thế giới, với thành công.v.v… nó cũng rất là thấp – sau từ năm 2000 đến 2006 nó chuyển thành ĐH Hà Nội. Cũng nhiều người trong đây – là những hiệu trưởng, giám đốc ĐH, đều biết nhau cả – làm thế nào để biến trường này thành ĐH Hà Nội có rất nhiều vấn đề mà trong 15 phút không thể nói hết được.

Thứ nhất đây là trường công lập đầu tiên vào năm 2012 đã giảng dạy toàn bộ tất cả chương trình chuyên ngành bằng tiếng Anh mà học phí nhà nước cho 180.000 đồng/ tháng – 120USD/ năm, mà không có nhà nước hỗ trợ kinh phí. Báo cáo Thứ trưởng Bùi Văn Ga, chương trình tiên tiến nhà nước còn cho tiền, thu thêm tiền mỗi năm mấy nghìn USD, ở đây chúng tôi không thu thêm tiền của sinh viên mà dạy toàn bộ bằng tiếng Anh, mà các chương trình này nước ngoài đều công nhận cả – mong muốn của chị Phượng là như thế! Tỉ lệ sinh viên nước ngoài cao – 10% trên tổng số sinh viên chính quy. Nhưng 10% này, thưa GS Ngô Bảo Châu, đóng góp 90% kinh phí cho trường ĐH. Cái này là cái hoạt động hỗ trợ lại cho GV của mình, cho việc tăng lương, rồi cơ sở vật chất. Muốn sinh viên nước ngoài đến được, nói nôm na tức là phở mình phải ngon người ta mới đến ăn, cái này rất quan trọng.

Một trong bốn trường công lập dám chịu, dám tự chủ tài chính. Tất nhiên là tự chủ tài chính ở đây, báo cáo Thứ trưởng Ga, giờ tôi cũng đang ở Bộ đây, tự chủ tài chính cũng không có nhiều quyền lợi hơn so với những trường khác nhưng mà vẫn dám nhận trách nhiệm tự chủ tài chính. Trước đây 5 trường, giờ một trường rút rồi, còn 4 trường.

Là một trường ngoại ngữ nhưng ứng dụng CNTT rất là tốt và đã bán sản phẩm cho trường khác.

Trên 80% tỉ lệ sinh viên có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp.

Đó là 5 kết quả nổi bật. Một số cái cụ thể tôi sẽ có biểu đồ ở đây. Cái màu xanh là năm 2000 – xuất phát tôi làm hiệu trưởng, còn năm 2008 thôi không làm hiệu trưởng nữa thì kết quả đơn vị chuyên môn gấp đôi, số hành chính giảm đi. Giảm đi là hiệu quả tăng lên – người ít đi, số lượng đơn vị ít đi. Số người đào tạo tăng lên, số chương trình liên thông quốc tế – nước ngoài công nhận tương đương, sinh viên đi lúc nào cũng được – một kỳ hai kỳ chuyển điểm sang, ba năm học ở VN sang, sau đó lấy bằng ở nước ngoài.

Về nhân sự, đây là cán bộ cơ hữu (có sự khác nhau về khái niệm cán bộ cơ hữu với cán bộ hợp đồng) tăng lên, giảng viên tăng lên, số giảng viên có trình độ Sau ĐH tăng lên – như vậy cũng gần 100%. Cán bộ quản lý cũng tăng lên. Tỉ lệ giảng viên/ cán bộ quản lý – cái này rất quan trọng, nếu dùng nhiều cán bộ quản lý quá thì hiệu quả có cao không – ở đây là 69% và 73%, tức là tỉ lệ giảng viên nhiều hơn so với cán bộ quản lý.

Sinh viên: số lượng tổng sinh viên giảm đi nhưng sinh viên chính quy tăng lên, sinh viên tại chức – nồi cơm ấy mà – chúng tôi dứt khoát cắt phần tại chức vì phân tán lực lượng của mình đi dạy các nơi (chất xám bị phân tán) và tập trung vào chính quy. Số lượng tại chức ngoại ngữ thì nhiều lắm! Báo cáo các thầy các cô là 12.000/năm là xuất phát xuống 8.000/năm, vẫn phải đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nhưng phải giảm đi, còn số lượng sinh viên chính quy thì tăng lên – từ 4.800 lên 6.800. Sinh viên chương trình quốc tế (chương trình liên kết) là 600, và sinh viên nước ngoài là 650 – so với sinh viên trong nước là 10%.

Kinh phí: Báo cáo Bộ trưởng Quân và Thứ trưởng Ga, kinh phí nhà nước ít lắm, trường lại nhỏ, có 8 – 9 tỉ đồng/ năm, bằng 1/1000 ĐH Quốc gia TP HCM anh Bình nhỉ? Rất ít tiền. Học phí cũng rất ít tiền. Học phí thì trước đây 180.000 đồng/ tháng, sau này 350.000 đồng/ tháng – tăng gấp đôi thì số tiền tăng lên. Thu khác thì tăng. Thu khác là gì? Theo quy định, các khoản thu hỗ trợ ngân sách gọi là thu khác: thu từ nghiên cứu khoa học, thu từ sinh viên nước ngoài, thu từ dịch vụ.v.v… thì tăng lên. Và tích luỹ, nói đây 2 tỷ khi tôi nhận hiệu trưởng thực ra không phải 2 tỷ mà âm xuống nhưng đến khi tôi bàn giao lại là 102 tỷ tiền mặt trong ngân hàng cho hiệu trưởng mới trừ tất cả các loại chi phí đầu tư cho con người đầu tư cơ sở vật chất để cho phát triển giai đoạn sau.

Ở đây tôi muốn chia sẻ một số điều. Khi làm hiệu trưởng, tôi là người trẻ nhất trong số cán bộ chủ chốt trong trường. Chẳng muốn làm hiệu trưởng, được bầu làm thì phải làm thôi. Lúc đó cũng phải nghiên cứu đánh giá – theo cách của Tây là bốn cái này, điểm mạnh điểm yếu thời cơ thách thức và đưa ra một chiến lược.

Điểm mạnh là trường ngoại ngữ, quan hệ đối ngoại tốt. Điểm yếu là trường nhỏ, mà ngoại ngữ nó chỉ là nghề – chẳng có gì hơn cả. Cho nên xác định đúng như thế thì ta sẽ có được hướng phát triển đúng. Sinh viên ra trường thì chỉ biết ngoại ngữ, phải học thêm kinh tế học thêm luật mới đi làm được. Cơ sở vật chất hạn chế, nhiều quy định ràng buộc trong trường công mà nhiều thầy nhiều cô đã nói. Thời cơ thì chúng ta có thời cơ là hội nhập quốc tế. Thách thức là cạnh tranh cao.v.v… Uy tín giảm sút do mất đoàn kết nội bộ. Chỉ có VN mới có từ mất đoàn kết nội bộ. Đúng thế. Thứ hai là vi phạm… Tôi không nói là vi phạm, thực ra một trong mười sự kiện của năm 2011 của nước ta là liên kết đào tạo với ĐH quốc tế ma – Quốc tế Châu Á đấy. Mà tôi lên phải giải quyết cái đó là rất vất vả rồi. Nguy cơ chỉ dạy ngoại ngữ không thôi thì sẽ thành một khoa của trường ĐH quốc gia nào đó, bị sát nhập là chắc chắn.

Đó là thực trạng. Thế thì tôi làm cái gì? Cái tôi làm nhìn cũng khiêm tốn thôi, đó là duy trì củng cố thế mạnh ngoại ngữ và phát triển đa ngành trên nền ngoại ngữ, tức là dạy các ngành bằng ngoại ngữ, đáp ứng nhu cầu nhân lực trong nước và quốc tế. Tức là tiếng Anh nói bốn từ này thôi: locally responsive and globally active. Tiếp tục củng cố và phát triển các ngành ngoại ngữ truyền thống, mở rộng thêm các ngành ngoại ngữ mới, tiếp tục phát huy thế mạnh về đào tạo biên, phiên dịch và giáo viên, ngoại ngữ chuyên ngành. Mở các chuyên ngành dạy bằng tiếng Anh. Tăng cường xã hội hóa, hợp tác đào tạo quốc tế. Và đổi tên trường.

Báo cáo Thứ trưởng Bùi Văn Ga, hôm nay tôi mới bật mí là 2/10/2000 tôi nhận quyết định bổ nhiệm hiệu trưởng, 16/10/2000 tôi gặp Bộ trưởng và Ban cán sự, báo cáo em muốn làm thế này, mở đa ngành và xin đổi tên trường. Bộ trưởng nói, tốt, cậu cứ làm đi. Có cái đèn xanh rồi về làm dự án, xin mở các ngành dạy bằng tiếng Anh, sau đó quyết tâm bằng được việc đổi tên trường. Xây dựng kế hoạch phát triển chiến lược trung hạn, dài hạn. Tập trung thực hiện kế hoạch. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp.

Giải pháp: Bộ máy, công cụ và phương pháp quản lý. Cải cách cơ cấu tổ chức, từ 14 phòng xuống còn 10 phòng. Tức là đang còn trưởng phòng xuống phó phòng khó lắm, báo cáo với các thầy các cô ở VN mình là ngồi một chỗ rồi, ngồi chỗ đó rồi xuống thì khó lắm. Lên thì dễ, xuống thì khó lắm, ngồi yên một chỗ thì được. Thế nhưng từ trưởng phòng xuống phó phòng người ta thù mình lắm. Từ hiệu phó xuống trưởng khoa cũng khó. Trường tôi là trường duy nhất đang từ hiệu phó xuống trưởng khoa, đang là trưởng khoa lên hiệu phó.

Hay là rà soát, điều chỉnh, ban hành… Mình phải có gì đó quy định. Trường thì văn bản quy định chi tiêu nội bộ, giáo sư dạy được bao nhiêu tiền.v.v… Làm sao để có quy định công khai minh bạch. Thì cái đó là cái hệ thống quản lý.

Xây dựng các hệ thống giải pháp phần mềm hỗ trợ đào tạo, quản lý – cái này là cái tôi tập trung. Làm thế nào để ngồi đâu cũng có thể hoạt động được.

Rồi quản lý mục tiêu. Sinh viên đánh giá giáo viên, chúng tôi làm theo giờ học, môn học. Rồi nhân viên đánh giá cán bộ quản lý. Lãnh đạo trường hàng năm trong hội nghị cán bộ viên chức mời các vị đánh giá hiệu trưởng bao điểm, hiệu phó bao điểm. Nếu dưới 50 điểm tôi xin về. Cái đấy tạo một môi trường dân chủ, minh bạch trong nhà trường.

Thay đổi thái độ đối với công việc rất quan trọng. Thái độ đối với công việc, người VN chúng ta đôi khi làm hời hợt lắm. Cho nên phải làm sao để làm tỉ mỉ, chi tiết, phải có kỷ luật, và yêu mê công việc và xây dựng văn hoá trường học. Giữ gìn đoàn kết nội bộ quan trọng lắm các đồng chí ạ. Hầu hết các vấn đề xẩy ra đều từ nội bộ. Chẳng phải bên ngoài người ta biết đâu, toàn bên trong nói ra hết.

Thành lập các nhóm công tác: không giao cho đơn vị khoa nữa mà thành lập nhóm. Lấy một vài người chủ chốt rồi thành lập nhóm. Nhóm xong giải tán, có chế độ riêng.

Rồi thì phương pháp thu thập cập nhật và xử lý thông tin. Trong thời đại thông tin bây giờ chúng ta mà xử lý chậm là chúng ta mất thời cơ.

Đào tạo, nghiên cứu khoa học thì tôi xử lý nhanh thôi. Tăng dần quy mô chính quy, giảm dần quy mô không chính quy, tăng liên kết đào tạo, sinh viên quốc tế. Cái này là cái phương châm lấy ngắn nuôi dài.

Đổi mới chương trình để tăng tính mềm dẻo. Báo cáo Thứ trưởng Ga, bây giờ mới có quy chế 43, trước đó có 25, nhưng chúng tôi cũng đã làm mềm dẻo rồi, hiệu trưởng có quyền làm việc đó, không ai cấm. Chúng ta đã cho quyền tự chủ là hiệu trưởng làm. Báo cáo mà không sai là ok, Bộ GD&ĐT ủng hộ.

Cho sinh viên liên thông. Bản thân các trường bây giờ – có một số trường ĐH – bản thân các khoa là không chịu nhau, không cho liên thông với nhau. Đó là cái dở. Bây giờ các trường ít liên thông với nhau rồi. Trường này làm sao công nhận tín chỉ của trường nọ được, vì trường ấy kém! Đấy là cái hiện tại vẫn đang xảy ra. Thế thì chúng ta liên thông. Sinh viên có một cái tự do, học thêm một số ngành nữa thì học thêm một số môn thôi, lõi bao nhiêu môn thôi, còn lai bao nhiêu là mở rộng ra ngành và chuyên ngành. Học hai chương trình, hai bằng.v.v…Kiểm tra đánh giá ta thường lấy bài thi cuối cùng nhưng chúng tôi thì không. Chúng tôi cho chuyển đổi, tham gia trên lớp thế nào, tham gia project thế nào… Tất cả những cái đó đều được đánh giá. Và chúng ta có quyền làm việc đó chứ không phải cứ theo cái cứng nhắc của Bộ GD&ĐT. Và cái đó làm tốt hơn. Không ai cấm chúng ta làm việc tốt hơn, cho nên là có thể làm được.

Xây dựng và mở theo lộ trình các ngành ngoại ngữ mới. Trường mở rất nhiều ngoại ngữ: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… Lúc đó mọi người bảo ông mở Bồ Đào Nha làm gì! Rồi sẽ biết. Như bây giờ thì đắt như tôm tươi. Bồ Đào Nha có ai nói? Braxin là nước to. Rất nhiều. Giờ dạy ở Mozambich, Angola bằng tiếng Bồ Đào Nha. Chúng tôi giờ tuyển giáo viên dạy tiếng Bồ Đào Nha cho người sang Angola. Dạy toán lý hoá bằng tiếng Bồ Đào Nha.

Có một cái chúng tôi làm thế này, lập một khoa đại cương, để làm gì? Lấp tất cả lỗ hổng về kiến thức kỹ năng còn thiếu ở phổ thông để sinh viên học ở bậc ĐH. Kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng thư viện, kỹ năng trình bày.v.v… và dạy tiếng Anh một năm. Một năm phải xong 550 điểm toefl. Sau đó ba năm sau học về chuyên ngành. Vẫn đủ bốn năm. Báo cáo Thứ trưởng Ga là không thiếu chút nào cả. Nhưng học dồn chương trình lại, học cả sáng cả chiều.

Ứng dụng CNTT trong giảng dạy: Lúc đó năm 2000 Moodle đang thịnh hành, các khoa dùng rất tốt. Rồi E-learning.v.v…

Và nghiên cứu khoa học là đặt hàng. Báo cáo Thứ trưởng là không nghiên cứu xong vứt đó. Đặt hàng tôi muốn làm cái này, cần bao nhiêu tiền? Rồi giao cho các giáo viên, làm xong sản phẩm trả tiền, rồi chúng ta dùng luôn sản phẩm đó cho nhà trường. Mời chuyên gia nước ngoài tham gia nghiên cứu khoa học. Cái này là cái mà mọi người bảo thôi, mời người bên ngoài thì khó lắm.

(Có lời nhắc ông Vang chỉ còn một phút để trình bày)

Đây là các giải pháp. Hợp tác quốc tế có rất nhiều giải pháp nhưng tôi sẽ nói nhanh một vài kinh nghiệm, tôi sẽ nói nhanh trong vòng một phút.

Về lãnh đạo, quản lý. Lãnh đạo là doing right things, còn quản lý là doing things right, tôi ghép hai cái đó lại với nhau, doing right things right. Con người ở đây là vai trò cá nhân, sức mạnh tập thể, lòng tin, xây dựng long tin đối với cán bộ như chị Phượng trình bày lúc nãy. Đoàn kết nội bộ là cái rất quan trọng. Rồi phong cách lãnh đạo. Ở đây tôi trích hai câu của Bob Nelson. Từng thời điểm, từng đối tượng khác nhau thì cách quản lý khác nhau. Chủ động và sáng tạo. Đừng nghĩ mình quản lý là mình ăn tất! Phải làm sao để người mà ta quản lý – hai bên đều thắng cả thì mới được. Câu thứ hai là làm tốt rồi thì cố gắng để thế nào làm tốt hơn được nữa. Nếu thúc người ta thì người ta không làm đâu. Làm sao để trong nhiệt huyết người ta, bản thân người ta phát huy được.

Rồi cách quản lý như doanh nghiệp. Tức là một số cái hiệu quả như doanh nghiệp về thu nhập, về tài chính chúng ta làm như kiểu doanh nghiệp. Và lãnh đạo, báo cáo các thầy các cô là hiệu trưởng phải thuộc bài, phải biết chứ ấm a ấm ớ thì cấp dưới biết được chúng ta không biết rồi có khi là chúng ta bị sai. Rồi cố gắng kiên trì tin tưởng.

Tôi sẽ nói nhanh thôi. Tôi đang nói dở năm bài học.

Hai là cơ chế, là từ rất khó, không phải ai cũng dịch được. Cơ chế đây là xin – cho. Nếu ta áp dụng xin – cho thì mọi người sẽ theo kiểu xin – cho. Nếu ta áp dụng quyền – nghĩa vụ thì sẽ khác. Không phải xin, đây là quyền của các anh. Sinh viên cũng phải thế, ra trường xin cái bảng điểm, nhưng đây thì không, ra trường mỗi sinh viên có quyền có bảng điểm bằng tiếng Anh, tiếng Việt. Đó là nhiệm vụ chúng ta phải phục vụ sinh viên. Thay đổi thái độ và cách tiếp cận, nguyên tắc 90/10, 90 là thái độ của chúng ta, còn 10 là sự việc xảy ra. Rồi tạo cơ chế phù hợp trong khuôn khổ cho phép – cái câu này rất quan trọng.

Hội nhập quốc tế.

Thương hiệu

Cuối cùng, ở VN quản lý ĐH khó lắm, nên phải kết hợp Đông Tây. Có thể nói nôm na thế này, Đông Tây kết hợp với cúng bái thì sẽ thành công.

Xin cảm ơn.

Advertisements

Tagged as: ,

Categorised in: Autonomy, Giáo dục đại học, Governance, VED 2014

8 phản hồi »

  1. “Điểm mạnh: Ngoại ngữ, quan hệ đối ngoại.
    Điểm yếu: Trường nhỏ, chỉ dạy 6 ngoại ngữ (chủ yếu là đào tạo nghề), không được nhà nước đầu tư nhiều. Sinh viên ra trường chỉ biết ngoại ngữ. Nguồn lực (người, kinh phí, cơ sở vật chất) hạn chế. Có nhiều quy định ràng buộc đối với trường công…”

    Tôi xem trường này là một Trung Tâm Ngoại Ngữ tốt. Tôi đoán 6 ngoại ngữ là tiếng Nga, Hoa, Anh, Pháp, Bồ, và Tây Ban Nha. 80% Có việc sau khi tốt nghiệp là rất khá.

    Số lượt thích

    • Cả tiếng Đức nữa bác Huyên à! Rồi cả tiếng Nhật nữa thì phải. Nói chung năm 92 khoa Đức có cá thầy cô dạy tiếng tốt, có chương trình trao đổi sinh viên thực tập từ Đức rất hữu ích!

      Số lượt thích

    • Ồ đúng, thời năm 60s người Đức họ rất thương VN, chính họ đã giúp thành lập ngành Y ở ĐH Huế. Quý vị đàn anh lúc bấy giờ rất thích Triết, như Hegel, Kant, Heidegger, những cái vô lý với buồn nôn, vv. Người mình không thích Nhật mấy, có lẽ do nạn đói Ất Dậu, “Tầu cười Tây khóc Nhật no, VN hết gạo chết co đầy đường.”

      Tây thì sao, chứ ở đây thì trời tối sớm, bắt đầu lành lạnh, các em trở lại đi học, nhưng phải đến sau lễ Lao động (Mỹ, đầu tháng 9) thì các trường mới trở lại sinh hoạt thật bình thường.

      Trở lại chương trình Fulbright, dường như HK mong muốn VN hợp tác trong việc giảng dạy ở đất Mỹ. Đây là cơ hội rất tốt. Tôi gặp nhiều em bé nói chuyện, tiếng Việt rất giỏi, tôi biết là ở VN mới sang. Tôi nói thật, khác với cách đây mươi năm … các em mập quá, overweight sớm quá, tại sao vậy? Chắc chắn không phải tại các em !

      Số lượt thích

      • Vâng, bác tinh mắt quá, đúng là các em ở VN còn mập hơn các em ở Tây. Có lẽ vì ở VN mọi người chỉ ép con ăn với học nên mới thế. Mà đúng ra thì Học nên đi với Hành. Hành ở đây theo ý của riêng em là ACTION ý, hihihihi, cho có chút cơ bắp, chứ ít vận động là có ngày tiểu đường với nhồi mau cơ tim sớm, hic.
        Còn vụ vô lý với buồn nôn, chắc là do thể trạng, thể chất lẫn tinh thần của đối tượng bạn đọc chứ không phải do Triết, Bác Huyên ạ! Cũng như Toán thôi, có người cũng chóng mặt khi nghe đến Bổ đề ý ạ.

        Số lượt thích

  2. “Muốn sinh viên nước ngoài đến được, nói nôm na tức là phở mình phải ngon người ta mới đến ăn, cái này rất quan trọng.”
    Hệ thống cửa hàng do “Công Ty Ăn Uống” trong hệ thống “Mậu Dịch Quốc Doanh” được Nhà Nước lập ra. Mục đích công bố là do quan tâm đến việc ăn uống của người dân. Phở Mậu Dịch đồng nghĩa là xếp hàng mua vé, xép hàng lấy phở (hoặc miến làm từ bột củ Dong Giềng thay thế bánh phở).
    Cửa hàng phở Mậu Dịch cuối cùng ở Hà nội mang tên BODEGA được lên Ti Vi nhiều lần. Không biết giờ có còn tồn tại? Phú Gia, Mỹ Kinh, Hàng Da lần lượt bị đập đi, xây lại, sử dụng vào mục đích khác. Những vị cửa hàng trưởng, giám đốc công ty ăn uống giờ còn sông chắc vẫn nuối tiếc phở MD. Dù ai cung khoái chất lượng “Phở Tư Nhân”.

    Số lượt thích

  3. Hoc the nao co the dang nguon anh su dung trong cac bai va neu co the thi ten cua buc hoa va hoa si duoc khong a? Cam on nhieu! 🙂

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: