How We Learn

Đổi mới cơ chế tài chính góp phần cải cách giáo dục đại học – Nguyễn Trường Giang

VeDIAL: Tham luận của TS. Nguyễn Trường Giang (Bộ Tài Chính) tại hội thảo Cải cách giáo dục đại học VED 2014. Anh Giang tham dự hội thảo với tư cách là nhà nghiên cứu độc lập. Các nội dung được trình bày trong bài viết này không phản ánh quan điểm của Bộ Tài Chính. Slides của bài tham luận có thể tải về tại Presentation 8: Financial Reforms to Enhance Quality, Equality and Effectiveness in Higher Education.

Đổi mới cơ chế tài chính, góp phần nâng cao chất lượng, thực hiện mục tiêu công bằng và hiệu quả trong giáo dục đại học

1.Những hạn chế của cơ chế tài chính hiện hành:

(1) Mức học phí thấp, không đủ bù đắp chi thường xuyên:

Chính sách học phí của Việt Nam đã được giữ nguyên trong một thời gian trên 10 năm (từ 1998 đến 2009), đến năm 2010 được điều chỉnh theo quy định tại Nghị định số 49/2010/NĐ-CP với mức điều chỉnh theo lộ trình tăng dần từ 20-25% mỗi năm. Tuy vậy theo tính toán đến năm 2015 mức thu học phí cũng chỉ đáp ứng được từ 40% -50% chi phí đào tạo cần thiết.

(2) Việc phân bổ NSNN cho các cơ sở đào tạo công lập mang tính bình quân, chưa gắn với nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề, chất lượng đào tạo:

Hiện nay việc giao dự toán NSNN cho các cơ sở giáo dục đại học công lập được thực hiện theo cơ chế khoán, việc giao khoán được căn cứ vào khả năng của ngân sách, dự toán được giao năm trước để làm căn cứ giao khoán năm sau; việc giao khoán ngân sách dụa trên các định mức ban hành đã lâu, chưa được sửa đổi;  mức khoán NSNN không được điều chỉnh theo số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề và quy mô đào tạo của các trường hàng năm..

(3) Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính còn nhiều bất cập:

Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Nhưng việc giao tự chủ tài chính nhưng không được giao tự chủ về mức thu học phí, các cơ sở đào tạo vẫn phải thực hiện mức thu học phí trong trần quy định thấp, không bù đắp đủ chi phí hoạt động thường xuyên nên việc thực hiện tự chủ tài chính không thực chất.

Một số cơ sở đào tạo đi tiên phong trong việc thực hiện tự chủ toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên (Đại học ngoại thương, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh, Đại học Hà Nội) nhưng  nhà nước thiếu những chính sách khuyến khích, dẫn đến không khuyến khích các đơn vị chuyển từ loại hình tự chủ một phần sang tự chủ toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, không nhận hỗ trợ chi hoạt động từ NSNN.

(4) Chính sách miễn thu học phí học sinh sư phạm chậm được điều chỉnh:

Việc thực hiện chính sách miễn thu học phí đối với học sinh sư phạm, dẫn đến các trường đại học sư phạm thiếu nguồn thu, không tạo điều kiện cho các trường sư phạm phát triển, nhiều trường sư phạm chuyển sang đào tạo đa ngành. Trong khi đó nhiều học sinh sư phạm ra không tìm được việc làm trong ngành sư phạm, dẫn đến một bận phận NSNN hỗ trợ cho những học sinh này bị lãng phí, không phát huy được hiệu quả.

2. Hậu quả của những chính sách trên:

(1) Các cơ sở giáo dục đại học công lập không có đủ nguồn tài chính cần thiết để bù đắp chi phí đào tạo, đảm bảo chất lượng đào tạo và tái đầu tư phát triển, phần lớn các cơ sở đào tạo công lập đều không đáp ứng đủ tiêu chí về cơ sở vật chất và điều kiện đảm bảo chất lượng.

(2) Các cơ sở giáo dục đại học không có đủ nguồn tài chính để cải thiện thu nhập cho giảng viên, không thu hút và giữ được những giảng viên có trình độ chuyên tâm tham gia giảng dạy.

(3) Có sự bất cập giữa việc tăng thu nhập với đảm bảo chất lượng đào tạo: Để có nguồn tài chính cần thiết, bổ sung thu nhập các trường phải tăng quy mô, tăng số lượng học sinh/giáo viên, tăng thời gian giảng dạy, nhưng việc mở rộng quy mô đào tạo không tương xứng với năng lực đào tạo (về giáo viên, cơ sở vật chất, thư viện, phòng thí nghiệm,…), dẫn đến ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

(4) Việc phân bổ kinh phí từ NSNN đang được thực hiện một cách bình quân, không gắn với kết quả đào tạo, số lượng, chất lượng học sinh đào tạo, tính năng động, hiệu quả trong tổ chức hoạt động của các cơ sở đào tạo nên không tạo động lực cạnh tranh nâng cao chất lượng đào tạo giữa các trường đại học công lập.

(5) Việc duy trì mức học phí thấp dưới mức chi phí đào tạo, dẫn đến Nhà nước hỗ trợ mang tính chất bình quân đối với tất cả các đối tượng học sinh, sinh viên trong các cơ sở đào tạo công lập, không có sự phân biệt giữa học sinh gia đình nghèo, có thu nhập thấp với học sinh gia đình trung lưu có thu nhập cao. Trong khi đó thực tế cho thấy tỷ lệ sinh viên của các gia đình trung lưu có thu nhập cao, chiếm tỷ trọng không nhỏ trong các cơ sở giáo dục đại học. Điều này dẫn đến một thực tế là chính sách học phí thấp của chúng ta đang trợ cấp ngược cho người giàu.

(6) Nhà nước chưa phát huy được việc sử dụng NSNN như một công cụ điều chỉnh kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường, theo hướng ưu tiên các ngành nghề đào tạo xã hội có nhu cầu cao, cắt giảm mức hỗ trợ đào tạo đối với các ngành nghề xã hội đã có đủ, hoặc đang dư thừa, sử dụng NSNN như một công cụ để điều chỉnh sự mất cân đối về ngành nghề đào tạo trong giáo dục đại học, dẫn đến còn mất cân đối giữa các ngành nghề đào tạo.

(7) Cơ chế phân bổ nguồn lực NSNN hiện hành trong giáo dục đại học chưa bình đẳng giữa cơ sở đào tạo công lập và ngoài công lập, vẫn thể hiện sự ưu tiên cho các cơ sở đào tạo công lập, không khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập phát triển; nhà nước chưa tạo ra cơ chế phù hợp để nguồn lực công được phân bổ cho những cơ sở đào tạo có khả năng sử dụng hiệu quả nhất.

3.  Một số đề xuất đổi mới cơ chế tài chính

(1) Từng bước tính đủ chi phí đào tạo cần thiết trong học phí:

Đối với giáo dục đại học, việc tính đủ học phí là cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế về giáo dục đại học, học đại học để có nghề, tạo thu nhập kiếm sống nuôi sống bản thân và gia đình nên người học phải đóng đủ học phí.

Tuy vậy, để có những bước đi phù hợp, khả năng chi trả của dân cư và nhận được sự đồng thuận của xã hội, thì lộ trình tính đủ chi phí đào tạo đại học trong học phí sẽ được thực hiện theo lộ trình chia ra theo 3 mức độ như sau:

– Mức 1: Chi phí đào tạo tính đủ chi phí tiền lương và chi phí về nghiệp vụ giảng dạy, học tập (tính đủ chi phí thường xuyên).

– Mức 2: Chi phí đào tạo tính cả chi phí khấu hao tài sản cố định.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu, lựa chọn bước đi, xây dựng lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ đào tạo (học phí) theo từng ngành học, đảm bảo phù hợp với thu nhập của người dân, nhu cầu của xã hội và khả năng của ngân sách nhà nước để làm cơ sở cho việc xác định mức học phí phù hợp.

Bên cạnh đó các cơ quan quản lý Nhà nước cần ban hành những tiêu chí chất lượng tối thiểu (mức chuẩn) và khuyến khích các cơ sở đào tạo cung cấp dịch vụ đào tạo với chất lượng cao hơn mức chuẩn. Tùy thuộc theo nhu cầu của ngưởi học, của người sử dụng lao động mà các cơ sở đào tạo được đưa ra các mức thu học phí khác nhau, việc này sẽ tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục đào tạo trong việc thu hút người học thông qua nâng cao chất lượng dịch vụ và tiết giảm mức thu học phí phù hợp với chất lượng dịch vụ cung cấp.

(2) Đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực từ NSNN:

– Nhà nước cần phải thực hiện tái cơ cấu phân bổ nguồn lực NSNN cho giáo dục đại học theo hướng: NSNN ưu tiên cho việc xây dựng, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, cơ sở dùng chung, … đảm bảo chất lượng đào tạo. NSNN giảm dần, tiến tới không hỗ trợ chi phí đào tạo đối với những ngành học đã đáp ứng nhu cầu xã hội, ngành học mà người học và gia đình sẵn sàng bỏ chi phí để theo học; tiết kiệm NSNN để tăng chi, tăng mức hỗ trợ cho những ngành học mà xã hội có nhu cầu nhưng không có người theo học.

– Thay đổi cơ chế phân bổ NSNN theo các tiêu chí đầu vào là số lượng, quy mô học sinh nhập học, sang việc phân bổ NSNN theo tiêu chí đầu ra, gắn với các hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong đào tạo, định mức phân bổ chi phí đào tạo, có sự phân biệt giữa cơ sở hoạt động có chất lượng, hiệu quả, với cơ sở kém chất lượng, không hiệu quả, thực hiện phân bổ kinh phí gắn với các kết quả đánh giá, kiểm định độc lập về chất lượng đào tạo.

– Thực hiện chính sách nhà nước đặt hàng đối với một số ngành đào tạo  khoa học cơ bản, khoa học xã hội nhân văn, nông nghiệp nông thôn, y tế, năng lượng nguyên tử… ( những ngành ít học sinh đăng ký), phù hợp với nhu cầu sử dụng của Nhà nước. Theo đó xuất phát từ nhu cầu sử dụng của nhà nước, nhà nước có thể đặt hàng một số cơ sở đào tạo có uy tín, chất lượng đào tạo một số ngành nghề, lĩnh vực theo yêu cầu của Nhà nước, đối với những đối tượng này có thể được hỗ trợ toàn bộ chi phí đào tạo của Nhà nước nhưng người học phải cam kết chấp nhận sự phân công của Nhà nước theo địa chi sử dụng sau khi được đào tao.

– Nhà nước sử dụng NSNN như một công cụ điều chỉnh kin tế vĩ mô để thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục đại học theo hướng giảm chi phí, nâng cao chất lượng; sử dụng NSNN để điều chỉnh, phân luồng cơ cấu, ngành nghề đào tạo phù hợp với quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực đối với từng ngành nghề.

– Xây dựng các tiêu chí để từng bước thực hiện việc đấu thầu kinh phí đào tạo từ NSNN, theo đó nguồn lực từ NSNN sẽ được giao cho những cơ sở đào tạo cso chất lượng, hiệu quả và chi phí hợp lý, thực hiện cạnh tranh làm mạnh giữa các cơ sở đào tạo, không phân biệt cơ sở công lập, ngoài công lập.

(3) Đổi mới cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập:

– Đổi mới cơ chế tài chính , khuyến khích chuyển các cơ sở giáo dục đại học sang thực hiện theo phương thức tự chủ toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, không nhận hỗ trợ kinh phí thường xuyên từ NSNN; sẽ được tự chủ trong xác định chỉ tiêu tuyển sinh gắn với khả năng đào tạo và nhu cầu xã hội, phù hợp với các tiêu chí đảm bảo chất lượng theo quy định của Nhà nước; các trường cũng được tự chủ trong việc xác định mức học phí đảm bảo bù đắp chi phí hoạt động thường xuyên và từng bước có tích lũy tái đầu tư tài sản; các trường được tự chủ trong việc sử dụng tài sản trong liên doanh, liên kết; được tự chủ trong việc xác định mức tiền lương và phương thức chi trả tiền lương trong khả năng cân đối nguồn tài chính.

(4) Đổi mới cơ chế hỗ trợ chi phí đào tạo đối với người học:

– Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người học, giảm bớt các thủ tục hành chính trong việc xác định đối tượng được hỗ trợ và phương thức thanh toán cho đối tượng được hỗ trợ;  người học sử dụng kinh phí được nhà nước hỗ trợ để đóng học phí cho các cơ sở đào tạo.

– Đối học sinh gia đình nghèo, đối tượng chính sách xã hội, học sinh tài năng: Nhà nước tiếp tục duy trì chính sách hỗ trợ thông qua chính sách tín dụng đào tạo, chính sách cấp học bổng Chính phủ,…Do nguồn lực NSNN không bị dàn trải cho tất cả các đối tượng học sinh như trước đây, nên sẽ có điều kiện tăng mức hỗ trợ tương xứng với nhu cầu đào tạo đối với các học sinh thuộc đối tượng trên, nhưng vẫn không phải tăng chi NSNN.

– Tiếp tục tăng NSNN đào tạo đối tượng học sinh cử tuyển theo hướng gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa

(5) Có chính sách khuyến khích, gắn kết giữa đào tạo với NCKH:

– Khuyến khích thành lập các viện, trung tâm nghiên cứu, doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong các trường đại học. Giao nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ cho các trường đại học để thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học. Hình thành các tổ chức chuyển giao công nghệ trong các trường đại học nhằm phát triển mạnh hoạt động xúc tiến, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, hỗ trợ đăng ký và khai thác sáng chế trong các trường đại học.

4. Tác động của việc đối mới cơ chế tài chính trên:

(1) Đối với các cơ sở giáo dục đại học:

Các trường sẽ phải tiếp cận với phương thức quản trị tiên tiến, theo hướng gắn kết giữa chất lượng đào tạo với việc thu hút học sinh và nguồn thu của nhà trường; tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các trường đại học công lập với nhau; giữa các trường đại học công lập với các trường đại học ngoài công lập, trường đại học có yếu tố nước ngoài theo hướng giảm học phí, nâng cao chất lượng đào tạo, tiến tới hình thành thị trường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao giữa các cơ sở đào tạo.

(2) Đối với Nhà nước:

Phát huy vai trò của Nhà nước trong việc sử dụng các công cụ tài chính, ngân sách để điều chỉnh các mất cân đối về nguồn lực, ngành nghề trong việc đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, tập trung ưu tiên những ngành nghề, những lĩnh vực Nhà nước cần, xã hội cần nhưng xã hội chưa có khả năng đáp ứng, tạo lập các cân đối về nguồn nhân lực cao trong nền kinh tế

– Nhà nước thực hiện tái cơ cấu NSNN giành cho giáo dục đại học theo hướng giảm chi hoạt động thường xuyên, tăng chi đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, nâng cấp trang thiết bị phục vụ học tập, đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo.

(3) Đối với xã hội:

– Thực hiện được mục tiêu công bằng trong việc tiếp cận các dịch vụ đào tạo, mọi đối tượng học đại học đều phải chi trả mức học phí bù đắp đủ chi phí cho cơ sở đào tạo, đối với học sinh nghèo, học sinh chính sách, học sinh tài năng sẽ được hưởng mức học bổng từ NSNN theo hướng hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng sử dụng để chi trả cho các cơ sở đào tạo.

– Nguồn lực tài chính công được phân phối một cách công khai, minh bạch, hướng đến các địa chỉ, cơ sở có khả năng sử dụng tốt nhất, không phân biệt trường công lập, ngoài công lập.

– Cơ sở giáo dục đại học có điều kiện tái đầu tư và ngày càng phát triển, xã hội chọn lọc những cơ sở đạo tạo tốt nhất, những cơ sở giáo dục đại học chịu áp lực phải luôn luôn tự đổi mới và hoàn thiện để tồn tại và phát triển.

– Giảng viên các cơ sở đào tạo đại học có nguồn thu nhập đảm bảo cuộc sống, yên tâm nâng cao công tác, trau dồi kiến thức nâng cao chất lượng giảng dạy, có thời gian và điều kiện tập trungvào NCKH, nâng cao hàm lượng khoa học trong kết quả hoạt động của trường đại học.

Kết luận:

Với những quan điểm đề xuất nêu trên cho thấy nếu các cơ quan hoạch định chính sách quyết tâm điều chỉnh, thay đổi chính sách thu học phí, thay đổi chính sách phân bổ kinh phí theo các tiêu chí đầu vào gắn với cơ sở giáo dục đại học như hiện nay sang các tiêu chí theo kết quả đầu ra, gắn với đối tượng thụ hưởng, gắn với người học thì trong điều kiện nguồn NSNN Giành cho giáo dục đại học không tăng, nhưng thông qua việc thay đổi phương thức hỗ trợ, thay đổi cơ cấu chi của NSNN chúng ta vẫn hoàn toàn có có thể xây dựng được một hệ thống giáo dục đại học hoạt động có chất lượng, gắn với mục tiêu công bằng và hiệu quả.

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Finance, Giáo dục đại học, VED 2014

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: