How We Learn

Bốn mươi năm Việt Nam tham dự Olympic Toán học Quốc tế: Niềm tự hào và những bài học – Trần Văn Nhung

HTN: báo cáo tổng quan của GS Trần Văn Nhung về quá trình 40 năm (1974-2014) Việt Nam tham dự Olympic Toán Quốc tế (IMO), trình bày tại Lễ Kỷ niệm 40 năm Việt Nam tham dự IMO (Hà Nội, 14/9/2014).

 

40 NĂM VIỆT NAM THAM DỰ OLYMPIC TOÁN HỌC QUỐC TẾ:

NIỀM TỰ HÀO VÀ NHỮNG BÀI HỌC

 

NỘI DUNG BÁO CÁO

 
I. Mở đầu

II. 55 năm IMO (1959 – 2014)

III. 40 năm Việt Nam tham dự IMO (1974 – 2014)

IV. Đánh giá và bài học
 

I. Mở đầu

Được sự ủy nhiệm của Ban Tổ chức, tôi xin trình bày Bản báo cáo Tổng quan về quá trình 40 năm (1974-2014) Việt Nam (VN) tham dự Olympic Toán Quốc tế (IMO). Trước hết tôi xin có lời chào mừng và lời chúc sức khỏe đến các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành ở TW, Hà Nội, các địa phương, các quý vị đại biểu, các giáo sư, các thầy cô giáo, các đại diện của những cựu HS IMO, các bậc phụ huynh và các em HS, SV!

Có một sự trùng hợp thú vị: Năm nay khi chúng ta kỷ niệm 40 năm VN tham dự IMO thì cũng là năm IMO tròn 55 tuổi (1959-2014). Chúng ta tổ chức Lễ kỷ niệm này để nhìn lại chặng đường vinh quang 40 năm đã qua và rút ra bài học để dự kiến cho tương lai gần và xa. Đây là dịp để gặp gỡ và tôn vinh các thế hệ giáo viên (GV), HS, các nhà quản lý giáo dục và các bậc phụ huynh đã tham gia, đóng góp vào quá trình tổ chức, đào tạo, ôn luyện, dự thi đạt thành tích xuất sắc của các đoàn VN. Chúng ta cùng nhau ôn lại những kỷ niệm sâu sắc và những bài học đắt giá từ sự thành công và chưa thật thành công trong quá trình đào tạo HS giỏi IMO nói riêng, người tài nói chung. Chúng ta luôn biết ơn Đảng, Chính phủ, Bộ GD-ĐT, các bộ, ban, ngành, các cơ quan TW và địa phương về sự chỉ đạo và quan tâm sát sao đến hệ thống đào tạo, bồi dưỡng HS giỏi, hệ thống các trường chuyên, lớp chọn, tổ chức các cuộc thi HS giỏi toán ở các cấp, tiến tới dự thi IMO, và ban hành cơ chế, chính sách để tiếp tục đào tạo và sử dụng người tài. Chúng ta cũng không quên công ơn, giúp đỡ, đùm bọc của các cơ quan ngoại giao VN, bà con người VN ở nước ngoài và bạn bè quốc tế trong suốt quá trình VN tham dự IMO 40 năm qua.

Trong suốt 40 năm qua các đoàn HS giỏi toán VN thường nằm trong topten tại IMO. Bảng thành tích xuất sắc và đầy ấn tượng đó là rất đáng trân trọng và tự hào, nó khẳng định khả năng tư duy của người Việt; góp phần khuyến khích sự học, đào tạo hiền tài để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ 1974, cứ đến hè, tin tức về thành tích đội tuyển tham dự IMO lại làm nức lòng học sinh và nhân dân cả nước, là nguồn động viên lớn lao cho các học sinh yêu toán. Bảng thành tích đó không phải do may mắn và cũng không phải chỉ do “luyện gà chọi”, mà cả thầy và trò đều phấn đấu rất tự tin, lao động cần cù, sáng tạo và hiệu quả.

Vinh quang to lớn này trước hết thuộc về các em HS đã giành được huy chương (HC) tại IMO và gia đình, thuộc về các thầy cô giáo, các nhà tổ chức, quản lý,…, đã có công dạy dỗ và đào tạo các em. Vinh quang này thuộc về cả dân tộc Việt Nam chúng ta. Nếu Bác Hồ kính yêu còn sống đến ngày này thì chắc chắn Người sẽ rất mãn nguyện, vì 69 năm trước, trong lá thư đầu tiên gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước VNDCCH, Người đã dạy: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Trong bài phát biểu tại Lễ chào mừng GS Ngô Bảo Châu (HCV IMO 1988, 42/42 điểm, và HCV IMO 1989) nhận giải thưởng Fields được tổ chức trọng thể tại Trung tâm HNQG Mỹ Đình ngày 29/8/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã trích dẫn câu nói bất hủ trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thành tích của VN tại IMO cho chúng ta thấy rằng, mặc dù nền giáo dục nước ta vẫn còn những yếu kém và phải tiếp tục phấn đấu vươn lên, nhưng VN có thể đào tạo trình độ phổ thông đạt đỉnh cao quốc tế (mặc dù có thể chưa đại trà), trong khi GDP bình quân hiện nay của ta còn dưới 2.000 USD/người/năm. Càng phấn khởi, tự hào bao nhiêu, càng vui mừng với những thành tựu đột phá của nền giáo dục nước nhà bao nhiêu, chúng ta càng cần phải thấy những yếu kém còn tồn tại mà toàn ngành phải cố gắng để thực hiện tốt Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo.

 

II. 55 năm IMO (1959 – 2014)

Từ “Olympic” (Olympia) có nguồn gốc xa xưa từ các Olympic Thể thao bắt đầu từ thời Hy Lạp cổ đại, năm 776 TCN. Olympic Toán học Quốc tế (International Mathematical Olympiad, IMO), là một cuộc thi thể thao trí tuệ đỉnh cao về Toán, hàng năm, dành cho HS THPT trên toàn thế giới. IMO đầu tiên năm 1959 được tổ chức tại Rumani theo sáng kiến của nước này và 7 nước XHCN (cũ) ở Đông Âu đã tham gia: Rumani, Bulgaria, Tiệp Khắc, CHDC Đức, Hungary, Ba Lan và Liên Xô.

Từ thập niên 1970-1980, số đoàn tham dự tăng lên nhanh và IMO thực sự trở thành cuộc đua tài của học sinh giỏi Toán trên khắp hành tinh. Nếu tại IMO đầu tiên được tổ chức tại Rumani năm 1959 chỉ có 7 đoàn với 52 thí sinh, thì năm nay, IMO 2014 tại CH Nam Phi có 101 đoàn tham dự với 560 thí sinh. IMO 2009 tại CHLH Đức đạt con số kỷ lục cho đến nay (2014) về số đoàn tham gia 104 và 565 thí sinh.

IMO được tổ chức liên tục trong 55 năm qua, 1959-2014, trừ năm 1980 (dự định tại Mông Cổ). Trên thế giới có một đoàn duy nhất hai lần vi phạm nghiêm trọng quy chế thi của IMO, năm 1991 tại Thụy Điển và 2010 tại Kazakhstan, và đã bị kỷ luật và bị khai trừ khỏi IMO.

Theo quy chế của IMO, mỗi đoàn có không quá 6 thí sinh, tuổi không quá 20, trình độ không được vượt quá cấp THPT. Trên thế giới có những thí sinh dự thi 5 hoặc 6 kỳ IMO, riêng với VN không quá 2 kỳ (do quy định của ta). Mỗi đoàn được dẫn đầu bởi một giáo viên trưởng đoàn và một phó đoàn, và cũng có thể có thêm các quan sát viên. Mỗi kỳ IMO được tiến hành trong 2 ngày, mỗi ngày làm 3 bài toán, trong 4h, từ 1981 là 4h30, số điểm tối đa của 6 bài toán là 40, từ 1982 là 42, mỗi bài 7 điểm, 6×7 = 42. Ngoài các HCV, HCB, HCĐ, còn có các giải thưởng (GT) đặc biệt dành cho những học sinh có lời giải rất độc đáo. Cho đến nay, người VN duy nhất được nhận GT này là Lê Bá Khánh Trình tại IMO 1979 ở London (Anh). Năm đó cả thế giới chỉ có 5 HS được Hội đồng Giám khảo QT lựa chọn đưa ra để bỏ phiếu và kết quả là chỉ có Lê Bá Khánh Trình của VN là người duy nhất được trao Giải Đặc biệt.

10 nước sau đây thuộc Topten trong quá trình 55 năm IMO (1959-2014): Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nga/Liên Xô, Hungary, Rumani, Hàn Quốc, Bulgaria, Việt Nam, Đức. Thứ tự cụ thể như sau:

p1

Cho đến nay (2014), trên thế giới có tổng cộng 13 người từng là thí sinh IMO đã giành được GT Toán học nổi tiếng nhất thế giới, GT Fields, trong đó có 4 người Nga, 3 Pháp, 2 Anh, 1 Úc, 1 VN, 1 Israel và 1 Iran (nữ). GS TSKH Ngô Bảo Châu là người Việt Nam đầu tiên, cũng là người đầu tiên của Thế giới thứ ba, được nhận GT Fields cao quý năm 2010, GS trẻ nhất Việt Nam (được HĐCDGSNN VN phong đặc cách GS VN năm 2005 khi anh mới 33 tuổi), GS ĐH Paris 11 năm 2004, khi 32 tuổi, HCV IMO hai năm liền 1988 (42 trên 42 điểm) và 1989. Danh sách cụ thể như sau:

p2

IMO năm 2007 tại VN:

Chúng ta đã tham dự IMO từ năm 1974. Sau 33 năm tìm hiểu, học tập kinh nghiệm, cách thức tổ chức IMO của các nước đi trước và sau khi IMO cùng các bạn quốc tế đề nghị, được phép của Chính phủ VN, lần đầu tiên trong lịch sử, năm 2007 chúng ta đã đăng cai tổ chức IMO tại VN và đã đạt con số kỷ lục cho đến lúc đó: 93 đoàn từ khắp năm châu trên thế giới đến tham dự với 520 thí sinh và khoảng 300 thầy cô giáo đi cùng. Chúng ta đã giúp đỡ Campuchia lần đầu tiên hội nhập IMO và đã xin phép ban lãnh đạo quốc tế của IMO và xin phép Chính phủ VN cho một nước đã bị khai trừ trước đó được trở lại tham gia IMO.

VN đã gây được ấn tượng tốt đẹp với cộng đồng quốc tế trong các khâu tổ chức, từ việc khó nhất là chọn lựa đề thi, chấm thi, tổ chức thi cho đến lễ tân, an ninh và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, du lịch,… Ưu thế của chúng ta là lực lượng chuyên môn và chấm thi hùng hậu, có trình độ chuyên nghiệp cao cả về toán sơ cấp và toán hiện đại, trình độ ngoại ngữ nói riêng là tiếng Anh thành thạo. Đó là tập hợp quý hiếm gồm 50 nhà toán học VN, trẻ, xuất sắc từ trong và ngoài nước, trong đó có nhiều người là cựu thí sinh IMO đã giành HCV, HCB, HCĐ… Từ IMO 1974 cho đến IMO 2007, đoàn VN đạt thứ hạng cao nhất năm 1999 tại Rumani và 2007 tại VN: Đều đứng thứ 3 toàn đoàn với 3 HCV, 3 HCB.

Một trong số những thành công quan trọng và có ý nghĩa của quá trình 40 năm (1974-2014) VN tham dự IMO và của IMO 2007 tại VN là chính IMO 2007 tại VN đã là tiền đề cho sự ra đời của Chương trình Trọng điểm Quốc gia Phát triển Toán học giai đoạn 2010-2020 (Chương trình Toán) và Viện NCCCT/VIASM, tương tự như KIAS (Hàn Quốc), IAS Princeton (Mỹ), IHES Paris (Pháp),… Nhờ có sự quan tâm và chỉ đạo quyết liệt của Đảng và Nhà nước, của Bộ GD&ĐT, của các bộ, ban, ngành TW, Chương trình Toán và Viện NCCCT đã được ra đời theo QĐ do GS PTT Nguyễn Thiện Nhân ký thay Thủ tướng năm 2010 và GS BT Phạm Vũ Luận ký QĐ bổ nhiệm lãnh đạo Viện, đứng đầu là GS Ngô Bảo Châu. Mặc dù mới khởi động được 3 năm nhưng Chương trình Toán và Viện đã thể hiện uy tín khoa học cao ở trong nước, khu vực và trên thế giới, đã tạo điều kiện và môi trường để các nhà toán học VN ở trong và ngoài nước cùng hợp tác nghiên cứu, đào tạo với các nhà toán học, khoa học quốc tế  xuất sắc, góp phần quan trọng để phục hưng và phát triển Toán học VN, cả lý thuyết lẫn ứng dụng.

III. 40 năm Việt Nam tham dự IMO (1974 – 2014)

Trong 40 năm qua chúng ta tham dự IMO không chỉ vì đây là một cuộc thi cao nhất, một trò chơi để rèn luyện trí tuệ cho học sinh giỏi toán phổ thông trên khắp hành tinh mà với những mục đích sau: Học hỏi để trưởng thành, cải tiến, đổi mới, hiện đại hóa việc đào tạo, huấn luyện, ra đề thi và chấm thi HS giỏi toán ở VN; góp phần quan trọng phát triển toán học VN nói riêng và KH, GD VN nói chung; khuyến khích sự học, chìa khóa của sự phát triển và hưng thịnh quốc gia; để hội nhập quốc tế về toán học, KH-GD, để góp phần làm tăng uy tín của CHXHCNVN trên trường quốc tế, không chỉ về ngoại giao, chính trị mà cả kinh tế, văn hóa, KH-GD,… Những HS IMO và chuyên toán không chỉ trở thành những nhà toán học xuất sắc, ví dụ như GS Ngô Bảo Châu (chuyên toán ĐHKHTNHN), mà cả những nhà khoa học xuất sắc trong các lĩnh vực khác, như GS vật lý Đàm Thanh Sơn (chuyên toán ĐHKHTNHN), như anh Nguyễn Hà Đông (chuyên tin Trường THPT chuyên Nguyễn Huệ, Hà Đông) trong tin học, …

Chúng ta cùng nhau ôn lại và tự hào về những cột mốc và thành tích nổi bật trong cả quá trình 40 năm qua. Năm 1974, lần đầu tiên VN (và Mỹ) tham dự IMO tại CHDC Đức. Thật thú vị khi lưu ý rằng chúng ta cũng chính là nước đầu tiên của cả châu Á tham dự IMO: Trung Quốc bắt đầu từ 1985, Hàn Quốc 1988, CHDCND Triều Tiên 1990, Nhật Bản 1990, Thái Lan 1989, Singapore 1988, Ấn Độ 1989; ở các châu lục khác: Cuba 1971, Úc 1981, Algerie 1977, Nam Phi 1992.

Thật tự hào, hơn cả mơ ước của chính chúng ta và bè bạn, ngay lần đó đoàn VN đã giành được thành tích xuất sắc, mặc dù chỉ có 5 (trên 6) thí sinh dự thi: Hoàng Lê Minh giành HCV, Vũ Đình Hòa HCB, Tạ Hồng Quảng và Đặng Hoàng Trung (đã mất) HCĐ, Nguyễn Quốc Thắng Bằng danh dự. Trưởng đoàn là Nhà giáo Lê Hải Châu và Phó đoàn là PGS TS Phan Đức Chính. Có điều thú vị là do nhiều nguyên nhân, Đoàn IMO VN năm 1974 được quyết định chỉ có 5 người, nhưng Lê Tuấn Hoa đứng thứ 6 khi thi thử để lập đội tuyển. Mặc dầu vậy, sau này Lê Tuấn Hoa lại là người đầu tiên trong số 6 người đó trở thành TSKH và GS, rồi được bổ nhiệm làm GĐĐH Viện NCCCT, Viện trưởng Viện TH và đã được bầu làm Chủ tịch Hội THVN. Như vậy dù có được dự thi và có được HC IMO hay không, bản thân quá trình tiệm cận IMO cũng đã đem lại những động lực và lợi ích to lớn.

Liên Xô (cũ) và CHDC Đức đã giúp đỡ và tài trợ chúng ta tham dự IMO lần đầu tiên này. Theo thầy Lê Hải Châu, Báo Bưu điện CHDC Đức ngày 26/8/1974 viết: “Người ta vỗ tay lâu nhất để hoan nghênh đoàn HS VN lần đầu dự thi với 5 em đã chiếm 4 giải, trong đó có một giải vàng. Làm thế nào mà giải thích nổi tại sao những HS của một đất nước đang trải qua một cuộc chiến tranh tàn khốc lại có được một vốn kiến thức toán học tốt như vậy”.

Đầu tháng 2 năm 1974, Bộ GD CHDC Đức chính thức mời Bộ GD nước ta cử đoàn tham gia IMO lần thứ 16, được tổ chức tại Berlin vào hè 1974. GS BT Nguyễn Văn Huyên giao nhiệm vụ tuyển chọn và thành lập đội HS giỏi toán của miền Bắc để bồi dưỡng trước khi đi Berlin. Những thầy giáo đã có công bồi dưỡng, chọn lọc và thành lập Đội tuyển IMO đầu tiên của VN là Phan Đức Chính, Ngô Xuân Sơn, Phạm Tấn Dương, Nguyễn Công Qùy, Lê Hải Châu. GS BT Tạ Quang Bửu, GS Lê Văn Thiêm, GS Nguyễn Cảnh Toàn, GS Hoàng Tụy và GS Phan Đình Diệu cũng rất quan tâm và đã dành thời gian đến nói chuyện ngoại khóa cho lớp bồi dưỡng. 1974 là năm đầu tiên cả VN và Mỹ cùng tham dự IMO, VN có HCV, Mỹ không có. Do chữ U và chữ V gần nhau trong bảng chữ cái nên Trưởng đoàn VN và Trưởng đoàn Mỹ được xếp ngồi cạnh nhau trong buổi công bố kết qủa. Trưởng đoàn Mỹ đã bắt tay (kín dưới bàn) chúc mừng Đoàn VN.

Việc phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng học sinh năng khiếu được Chính phủ, Bộ GD và Bộ GD-ĐT Việt Nam quan tâm từ rất sớm, ngay trong thời kỳ chiến tranh, đất nước còn muôn vàn khó khăn. Năm 1965, Thủ tướng  Phạm Văn Đồng đã chỉ thị cho GS Lê Văn Thiêm, Phó HT, GS Hoàng Tụy, CNK Toán, ĐHTHHN: “Dù chiến tranh ác liệt đến đâu, trường ta vẫn phải đi đầu mở các lớp Toán” (theo TS Nguyễn Thành Nam). Thầy Lê Hải Châu kể lại: Đầu tháng 7/1966, tại một hội nghị của Bộ GD để tổng kết công tác phát hiện và bồi dưỡng HS có năng khiếu về Toán, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến thăm và căn dặn: “Trong khoa học tự nhiên, toán học có vị trí và tác dụng đặc biệt quan trọng. Ta phải lo sao cho đội ngũ KH nước ta sớm có những nhà toán học. Trong nhiều ngành thường phải bạc đầu mới thành bác học, nhưng trong Toán học không nhất thiết phải như vậy mà ta có thể đi nhanh”. Theo TS Nguyễn Thành Nam: Để có thể “đi nhanh”, Thủ tướng nêu lên phương hướng rất rõ ràng: “Nếu trong tất cả các trường phổ thông từ cấp I lên cấp II, ta có cách gì phát hiện phần lớn và đừng bỏ sót những em có năng khiếu đặc biệt, rồi ta có cách dạy (…), nâng đỡ cho các em phát huy tài năng của mình thì rồi đây ta sẽ có những nhà toán học trẻ có tài năng ghê gớm. Đối với ngành Toán, phải làm như vậy mới kịp người ta”. Và hậu thế chúng ta đã làm theo lời dậy đó của cố TTg để làm nên thắng lợi của Toán học VN trong 50 năm qua. Sự có mặt của đại diện các thế hệ các nhà toán học VN trong buổi lễ đặc biệt ngày hôm nay tại hội trường này, trong đó có GS Hoàng Tụy và GS Ngô Bảo Châu, có thể xem là một minh chứng sinh động!

Trong 40 năm qua (1974-2014), VN đã tham dự 37 trên tổng số 39 kỳ thi IMO (trừ năm 1977 tại Nam Tư, 1981 tại Hoa Kỳ; năm 1980 IMO tại Mông Cổ đã bị hoãn), đoàn VN thường lọt vào topten, nếu tính chi ly ra thì VN trung bình được xếp thứ 9, 65 (nhỏ hơn 10!); với 228 lượt HS dự thi (có 16 HS dự thi hai năm liền) giành 52 HCV, 94 HCB, 67 HCĐ, 1 GT ĐB (Lê Bá Khánh Trình) và 3 bằng danh dự; đạt thành tích cao nhất tại IMO 1999 (Rumani) và 2007 (VN): đều đứng thứ 3 toàn đoàn với 3 HCV, 3 HCB; tại IMO 2004 (Hy Lạp) VN đạt được nhiều HCV nhất: 4 HCV và 2 HCB (xếp thứ 4/85). Tại IMO 2003 ở Nhật Bản, trong số 3 thí sinh đạt điểm tuyệt đối (42/42) của cả thế giới thì hai là người VN, đó là Lê Hùng Việt Bảo và Nguyễn Trọng Cảnh.

Tại IMO 2006 tại Slovenia, khi ta cũng đang chuẩn bị IMO 2007 tại VN, GS John Webb, Thư ký của Uỷ ban Olympic Toán quốc tế/IMO, kể lại với GS Hà Huy Khoái rằng: Nhiều người hỏi ông xem các đoàn thường thuộc “topten” của IMO là những đoàn nào, và tất nhiên là ông nhắc đến Trung Quốc, Nga, Mỹ, nhưng khi nhắc đến VN thì người nghe giật nảy mình hỏi lại. Họ muốn biết xem tại sao một nước nghèo như VN mà lại thường đứng trong “topten” của IMO. GS John Webb trả lời rằng: Ông cũng không hiểu và đang định tìm hiểu bí mật của điều đó khi đến VN tham dự IMO 2007 tại Hà Nội.

Tuy nhiên cũng có năm chúng ta không thật thành công, ví dụ năm 2011 tại Hà Lan, VN chỉ giành được 6 HCĐ, xếp thứ 31/101, là thành tích thấp nhất trong lịch sử 37 lần tham dự IMO của VN.

Trong 40 năm qua, VN có 9 HS đạt điểm tuyệt đối (perfect): Lê Bá Khánh Trình (1979), Lê Tự Quốc Thắng (1982), Đàm Thanh Sơn (1984), Ngô Bảo Châu (1988), Đinh Tiến Cường (1989), Ngô Đắc Tuấn (1995), Đỗ Quốc Anh (1997), Lê Hùng Việt Bảo (2003), Nguyễn Trọng Cảnh (2003).

6 HS hai lần giành HCV liên tiếp: Ngô Bảo Châu (1988-89), Đào Hải Long (1994-95), Ngô Đắc Tuấn (1995-96), Vũ Ngọc Minh (2001-02), Lê Hùng Việt Bảo (2003-04) và Phạm Tuấn Huy (2013-14). Trong số đó chỉ có Vũ Ngọc Minh thuộc Chuyên ĐHSPHN và Phạm Tuấn Huy thuộc Chuyên ĐHQG TPHCM, 4 còn lại đều thuộc Lớp chuyên Toán ĐHKHTNHN. Nếu lấy giao của hai tập hợp trên, trong 2 lần HCV liên tiếp có 1 lần đạt điểm tuyệt đối thì còn Ngô Bảo Châu, Ngô Đắc Tuấn, Lê Hùng Việt Bảo, cả ba đều là HS chuyên toán ĐHKHTNHN. Và nếu lấy tiếp “giao” với HC Fields thì còn mỗi Ngô Bảo Châu!

Phan Vũ Diễm Hằng là nữ thí sinh IMO đầu tiên của Việt Nam và năm 1975 chị giành HCĐ. Tính đến IMO 2014, Việt Nam có 10 nữ thí sinh đã từng tham dự IMO, giành được tổng cộng 10 HC, trong đó có 5 HCB, 5 HCĐ. Nguyễn Thị Thiều Hoa là nữ thí sinh đầu tiên của Việt Nam đoạt HCB tại IMO 1976. Đến nay chúng ta vẫn chờ nữ thí sinh đầu tiên của Việt Nam giành HCV IMO. Nguyễn Tiến Dũng là thí sinh Việt Nam nhỏ tuổi nhất khi tham dự IMO. Năm 1985 khi chưa tròn 15 tuổi anh đã giành HCV.

Nhìn lại chặng đường đáng tự hào của VN 40 năm qua, chúng ta thử thống kê xem những “lò võ” nào đã có truyền thống và chiếm ưu thế. Đứng đầu bảng vẫn là Khối chuyên Toán A0 thuộc trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau này là Trường THPT Chuyên KHTN, Trường ĐH KHTN, ĐHQG HN. “Lò võ” này đã đóng góp 73 lượt thí sinh tham dự IMO, chiếm gần 1/3 của cả nước. Thứ hai là Khối chuyên toán ĐHSPHN, nay là Trường THPT chuyên ĐHSP HN với 40 lượt. Thứ ba là chuyên toán trường chuyên Lam Sơn Thanh Hóa với 14 lượt. Trong số các đơn vị và tỉnh thành nổi bật khác có thể kể đến Hà Nội (gồm hai trường Chu Văn An và HN-Amsterdam), Đà Nẵng (gồm hai trường THPT Phan Chu Trinh và THPT chuyên Lê Quý Đôn), Hải Phòng (gồm hai trường Trần Phú và Thái Phiên), trường PTNK thuộc ĐHQG Tp HCM (gần đây khởi sắc: Phạm Tuấn Huy HCV hai năm liền 2013 và 2014).

Có điều thú vị là 3 HCV IMO đầu tiên của Việt Nam đều thuộc về người gốc Huế: Hoàng Lê Minh, Lê Bá Khánh Trình và  Lê Tự Quốc Thắng. Chỉ có hai thí sinh VN đã dự IMO mà không học trường chuyên là Chế Quang Quyền, Bằng Danh dự IMO 1985, học sinh Trường THPT Long Thành, Đồng Nai, và Võ Văn Huy, HCĐ IMO 2011, học sinh trường THPT Lê Hồng Phong, Tây Hòa, Phú Yên. (Chúng tôi đã tham khảo một số thông tin thú vị trên đây từ TS Trần Nam Dũng.)

Trên chặng đường 40 năm qua tham dự IMO, các thầy cô giáo VN không chỉ đào tạo, bồi dưỡng và dẫn các em đi dự thi mà còn đủ năng lực để tham gia bình đẳng với cộng đồng quốc tế IMO: Đã có 3 bài toán khó và hay do VN đề nghị được chọn làm một trong các bài toán thi IMO, đó là năm 1977 (bài của PGS TS Phan Đức Chính), năm 1982 (của PGS TS Văn Như Cương) và năm 1987 (của TS Nguyễn Minh Đức, HCB IMO 1975). Những năm gần đây, vì nhiều lý do, VN không gửi đề tham gia nữa.

Nhiều lần, ở Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục thường niên của ASEAN (SEAMEC), thành tích dẫn đầu khu vực và kinh nghiệm của VN tại IMO được nêu lên và đánh giá cao. Một số nước ASEAN đã tìm hiểu và sang thăm quan, học tập một số trung tâm đào tạo HS chuyên của chúng ta. Họ đã đầu tư quyết liệt để vươn lên. Kết quả là trong những năm gầy đây có nước đã lọt vào được topten. Ví dụ: Cũng tại IMO 2011, năm ta đạt thành tích thấp nhất trong cả quá trình 40 năm tham gia và chỉ được xếp thứ 31/101, thì hai nước tiến vượt bậc: Singapore đứng thứ 3/101, Thái Lan thứ 5/101. Mặc dù lâu nay VN thường nằm trong topten còn hai nước kia thì rất ít khi. Nguyên nhân chính là gì? Là vì những năm đó ta yêu cầu HS đã dự thi HS giỏi quốc gia vẫn phải thi ĐH để bảo đảm phát triển toàn diện. Nếu không có xem xét đặc cách thì học sinh chúng ta sẽ không còn mặn mà với Olympic quốc gia và quốc tế và hậu quả là sẽ ảnh hưởng đến bảng thành tích rất đáng tự hào của học sinh giỏi Việt Nam được lập nên từ hơn nửa thế kỷ qua và quan trọng hơn là có thể mất đi nguồn động lực to lớn để học sinh chúng ta sớm vươn tới những đỉnh cao của khoa học trong nước và trên thế giới.

Đáng mừng ta đã kịp thời khắc phục được điều này và là 3 năm nay (2012-14) VN tiếp tục trở lại khởi sắc, khẳng định thứ hạng của mình và nằm trong topten của IMO: 2012=9/100, 2013=7/97, 2014=10/101.

Thêm một ví dụ thú vị: Do những nguyên nhân chủ quan và khách quan, VN không tham dự IMO 1977 ở Nam Tư, mặc dù đã tổ chức xong đội tuyển. Những HS này phải vội vã trở lại địa phương ôn cấp tốc thêm lý, hóa để thi ĐH mặc dù ngày thi chỉ còn 3 tuần. Tuy vậy, các bạn đã thi ĐH 3 môn đều đỗ điểm cao, từ 24 đến 29 điểm/30. Bốn người trong số đó vẫn kiên trì tiếp tục nghề toán và đã trở thành GS TSKH là Nguyễn Đình Công (Phó CT VHLKHCNVN), Đinh Nho Hào, Nguyễn Việt Dũng và Lê Hồng Vân (nữ). Điều này cho thấy quá trình tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn bị đội tuyển rồi dù có dự thi IMO hay không, như “con gà đẻ trứng vàng”, đã ảnh hưởng rất tốt đến sự nghiệp của mỗi thí sinh và toán học VN.
Đồ thị minh họa thứ bậc của các đoàn VN tại IMO (1974-2014)

(Có 2 năm VN không dự thi IMO, 1977 ở Nam Tư và 1981 ở Hoa Kỳ. Năm 1980 không có IMO, dự kiến ở Mông Cổ):

p3

Các nước Topten của IMO 1959-2014

p4

 Danh sách các Trưởng đoàn và Phó đoàn IMO của VN (1974-2014)

p5

Một số nhà toán học đã trưởng thành nhanh chóng và gắn sự nghiệp của mình với phong trào IMO: Từ những HS tham dự IMO đoạt HC, họ đã trở thành những người thầy xuất sắc, làm Trưởng/Phó đoàn IMO VN, như PGS TSKH Vũ Đình Hòa, TS Trần Nam Dũng, TS Lê Bá Khánh Trình, PGS TS Lê Anh Vinh, …

Các đoàn Olympic Toán QT của VN đi tiên phong và mang về những thành tích vang dội đã góp phần tiếp thêm sức mạnh, kinh nghiệm và sự tự tin cho các đoàn VN đi tham dự Olympic QT về Vật lý, Tin học, Hóa học, Sinh học. Cụ thể như sau: Olympic Vật lý QT (IPhO) bắt đầu từ 1967 và VN tham dự lần đầu tiên năm 1981, top five năm 2007 và 2008; tổng cộng cho đến nay đã giành 12 HCV, 31 HCB, 39 HCĐ; Đoàn Ngọc Dương đạt điểm tuyệt đối năm 2002; VN sẽ đăng cai IPhO 2008. VN tham gia Olympic Tin học QT (IOI) ngay từ đầu, năm 1989; đã giành 9 HCV, 29 HCB, 41 HCĐ; Nguyễn Ngọc Huy 2 lần HCV năm 1999 và 2000.  Olympic Hóa học QT (IChO) bắt đầu từ 1968, VN từ tham dự từ 1996; đã giành 15 HCV, 31 HCB, 19 HCĐ; VN đã đăng cai IChO 2014. Olympic Sinh học QT (IBO) bắt đầu  từ 1990, VN tham dự từ 1996; đã giành 1 HCV, 10 HCB, 42 HCĐ; VN sẽ đăng cai IBO 2016.

IV. Đánh giá và bài học

4. 1 Đánh giá thành tích

Chúng ta cần tránh cực đoan khi nhìn nhận và đánh giá thành tích của VN tham dự IMO 40 năm qua: HS đoạt HCV là “tài năng” hay “không là gì”?

– Một loại ý kiến cho rằng các HC IMO có giá trị rất to lớn, nhưng một loại ý kiến ngược lại cho rằng chúng không có giá trị bao nhiêu, vì chỉ là kết quả của công nghệ “luyện gà chọi” của VN. Cả hai đều cực đoan. Chúng tôi đã trực tiếp nhìn thấy HS IMO của một số nước, kể cả nước phát triển cao, đã ôn luyện cho đến đêm, đến giờ phút cuối cùng tại IMO 2007 ở VN như thế nào.

– Thành tích xuất sắc tại IMO của VN trong 40 năm qua không phải ngẫu nhiên, cũng không phải chỉ do “luyện gà chọi”, nó có nguyên nhân từ trí tuệ VN, từ GD đỉnh cao, từ truyền thống hơn nửa thế kỷ qua và sự chuẩn bị công phu, đào tạo, thi tuyển HS giỏi toán các cấp trong cả nước, theo đường lối GD của Đảng và Nhà nước ta. Có lẽ sẽ công bằng và hợp lý khi xem đó như là thành tích xuất sắc của những vận động viên chạy đường dài ở những km đầu tiên trên đường đua Marathone cả cuộc đời để hướng tới những mục tiêu cao cả và rộng lớn của tài năng, của sự nghiệp vinh quang cả đời người.

– Tất cả các nước trên thế giới đều rất coi trọng IMO và chúng ta cũng vậy.  TTg Nguyễn Tấn Dũng đã đến khai mạc và CTN Nguyễn Minh Triết đã đến bế mạc và trao giải thưởng tại IMO 2007 do VN đăng cai lần đầu tiên trong lịch sử. Ở nhiều nước, khi đăng cai IMO, tham gia Uỷ ban Tổ chức thường có Tổng thống, Thủ tướng hoặc Chủ tịch QH và tất nhiên có Bộ trưởng GD. Nhiều Hoàng tử, Công chúa đã tham gia các buổi trao giải. Tại IMO được tổ chức ở Mỹ, Tổng thống Bush không đến dự trực tiếp được nhưng đã đọc lời chào mừng từ xa qua màn hình. Bởi vậy, không thể nói như một số người là chỉ ở nước ta, người ta mới quá quan tâm đến IMO.

Sự quan tâm của xã hội đối với IMO là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở. Rất nhiều nhà toán học, vật lý, …, nổi tiếng của thế giới đã trưởng thành từ “phong trào Olympic”. Nếu nhìn lại nền toán học Việt Nam hiện nay thì điều đó càng rõ ràng hơn: có thể nói tuyệt đại đa số các nhà toán học, khoa học giỏi của nước ta đều đã từng được giải ở các kỳ thi Olympic quốc gia và quốc tế (tất nhiên trừ những người mà vào thời họ chưa có các kỳ thi này).

4.2. Nguyên nhân của thành tích

– Thắng lợi ngọt ngào ngày hôm nay là hệ quả tất yếu của chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và sàng lọc học sinh giỏi toán trong suốt nửa thế kỷ vừa qua, nói riêng là 40 năm tham dự IMO. Kết quả này có được là nhờ những người lãnh đạo, những bậc thầy có tầm nhìn chiến lược, đủ tầm, tâm và tài, đã cùng cả hệ thống chính trị phấn đấu thông minh và kiên cường.

– Để tìm hiểu nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm từ thắng lợi của VN tại IMO trong suốt 40 năm qua, chúng ta cùng điểm lại những hoạt động truyền thống để chuẩn bị, tạo nguồn tham gia IMO:

+ Thi học sinh giỏi văn, toán lớp 4, lớp 7, lớp 10 toàn miền Bắc bắt đầu từ năm 1961-1962, sau này là thi HS giỏi toán toàn quốc.

+ Báo Toán học và Tuổi trẻ, người bạn thân thiết của nhiều thế hệ HS yêu toán, được xuất bản số đầu tiên 10/1964.

+ Lớp Chuyên toán đầu tiên (cho HS 9-10/10) của miền Bắc VN được sáng lập năm 1965 tại ĐHTH HN (nay là ĐHQGHN, lớp A0), sau đó là các lớp tại ĐHSPHN, ĐHSP Vinh, rồi các tỉnh thành, …; đối với HS cấp 2 được bắt đầu từ năm 1970.

– Chính GS Ngô Bảo Châu đã khẳng định, nếu không có hệ thống các Trường phổ thông chuyên chất lượng cao được Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học, các nhà quản lý bậc thầy có tầm nhìn chiến lược thành lập từ năm 1965, thì không thể có một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, giáo dục, quản lý, kinh doanh,… trẻ Việt Nam xuất sắc như hiện nay đang làm việc ở trong và ngoài nước. Ví dụ: GS Toán học Ngô Bảo Châu, GS Vật lý Đàm Thanh Sơn, anh Nguyễn Hà Đông (cha đẻ của Flappy Bird, chuyên tin Trường THPT chuyên Nguyễn Huệ, Hà Đông, Hà Nội), …

– Nhờ sự chỉ đạo và quan tâm sát sao của Đảng và CP, của Bộ GD, Bộ GD-ĐT, …, nhờ sáng kiến của GS Lê Văn Thiêm, GS Hoàng Tụy, GS Nguyễn Cảnh Toàn (TBT đầu tiên của báo TH&TT), …, và được sự ủng hộ mạnh mẽ và tâm huyết của GS BT Tạ Quang Bửu, GS BT Nguyễn Văn Huyên, …, và trên hết là nhờ sự chỉ đạo trực tiếp, cụ thể và quyết liệt của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ngoài ra còn phải kể đến đóng góp không nhỏ của các BCH Hội Toán học VN qua các thời kỳ, đứng đầu là các Chủ tịch: GS Lê Văn Thiêm, GS Nguyễn Đình Trí, GS Đỗ Long Vân, GS Phạm Thế Long, GS Lê Tuấn Hoa và GS Nguyễn Hữu Dư; đóng góp của lãnh đạo Khoa Toán của các ĐH ở HN, TP HCM, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Thái Nguyên, …, và Viện Toán học (Viện HLKHVN), các Sở GD-ĐT, …, và đóng góp của một số nhà toán học VN ở nước ngoài và người nước ngoài.

4.3. Bài học phát hiện và bồi dưỡng tài năng

– Để đào tạo người tài, ngoài việc phải tuân theo khoa học sư phạm nói chung, cũng cần phải lưu ý đến khoa học sư phạm đào tạo người tài, nếu không sẽ làm thui chột người tài. Ngược lại cũng vậy: Dùng phương pháp dậy người tài cho người bình thường cũng sẽ làm hỏng họ. Vì thế cần phải có cách riêng để phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu, không chỉ toán học mà cả các môn KHTN khác, KHXH, cả âm nhạc, hội họa, nghệ thuật, thể dục thể thao, tay nghề, …, nếu không, có thể làm mai một các em.

– Tỷ lệ học sinh năm cuối THPT đoạt giải Olympic quốc gia (và quốc tế) hàng năm chỉ chiếm khoảng 1 phần 2.000 của tổng số học sinh cùng lứa tuổi. Một tỉ lệ rất nhỏ và quý hiếm!

– Chúng ta có thể yên tâm, mỗi năm có khoảng 1.000 người tài trẻ tuổi (tài năng trẻ), họ được đặc cách vào đại học, làm nghiên cứu sinh, một số rất ít được phong đặc cách giáo sư, phó giáo sư và được nhận các phần thưởng cao quý của quốc gia và quốc tế, rồi họ sẽ là những hạt giống quý cho đất nước sau này. Với tài năng đặc biệt, họ có khả năng tự học thêm, tự bồi bổ thêm hiểu biết và nhanh chóng hoàn thiện kiến thức của mình để trở nên uyên bác ở nhiều lĩnh vực của khoa học, kỹ thuật, văn hoá, nghệ thuật,… Thế mới gọi là người tài. Xã hội cũng không nên quá lo họ sẽ “què quặt” trong một lĩnh vực cụ thể nào đó. Vả lại sang thế kỷ XXI này, việc tự học và học suốt đời là một yêu cầu mới, là một đặc trưng mới, nhất là với những người tài. Và cuối cùng thì  cũng cần phải rèn luyện để họ có sức khỏe và sự dẻo dai làm nền tảng cho tất cả, cho sự nghiệp và cho việc làm người. Vauvenargues đã nói: “Ta phải chăm sóc sự khỏe mạnh của thân thể để giữ gìn sự khỏe mạnh của trí tuệ”.

– Một mặt chúng ta tin tưởng những HS năng khiếu có khả năng tự học thêm, tự hoàn thiện mình. Mặt khác chúng ta vẫn cần phải coi trọng giáo dục toàn diện cho người học, cả giáo dục nhân cách và hiểu biết về đời sống kinh tế – văn hoá – xã hội, rèn luyện kỹ năng sống để họ vững vàng bước vào cuộc sống với tư cách một người có năng lực phát triển chuyên môn và là một công dân phát triển toàn diện.

4.4. Một vài kinh nghiệm rút ra từ bài học IMO

– Cần phải cải tiến và làm tốt hơn nữa cách tuyển chọn, bồi dưỡng HS giỏi các cấp trong toàn quốc; cần bồi dưỡng và thi chọn đội tuyển IMO của VN một cách  khoa học, khách quan, trung thực, chính xác, chuyên nghiệp hơn; cần tăng cường cọ xát ở các cuộc thi trong nước, khu vực ASEAN, châu Á, quốc tế trước khi đến với Olympic cao nhất; cũng cần tăng kinh phí, bổ sung tài liệu, phương tiện cho thầy và trò đội tuyển các cấp. Cũng giống như thi thể thao thành tích cao, thi HS giỏi cũng cần có phong trào quần chúng rộng khắp từ dưới lên trên theo mô hình hình tháp.

– Quy chế thi cử, tuyển chọn để lập đội tuyển IMO phải hợp lý: Tiếp tục duy trì chế độ ưu tiên tuyển thẳng ĐH, cấp học bổng đi học nước ngoài. Đã hơn nửa thế kỷ nay, nhờ sự khởi đầu và tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học, giáo dục bậc thầy, nhiều học sinh giỏi và người tài đã được phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng. Suốt quá trình đó, tất cả các học sinh đoạt giải quốc gia (và đương nhiên cả quốc tế) đều không cần phải thi đại học. Thậm chí chỉ cần được chọn vào các đội tuyển để dự thi quốc gia hoặc quốc tế, nhưng không được đi thi, hoặc đi thi xong mà không được giải, cũng đều được chuyển thẳng, còn có thể được Nhà nước cấp học bổng để vào học đại học ở trong hoặc ngoài nước. Quy định này còn được áp dụng ngay cho cả các cấp dưới, tức là những học sinh lớp 9 cuối cấp THCS đã được dự thi học sinh giỏi quốc gia và các tỉnh, thành phố đều được đặc cách vào lớp 10 đầu cấp THPT.

– Trong việc đào tạo học sinh phổ thông năng khiếu, cần coi trọng phát hiện những em có năng khiếu đích thực, coi người học là chủ thể trung tâm. Hết sức coi trọng việc tạo điều kiện cho các em lựa chọn định hướng đúng để theo đuổi sự nghiệp khoa học phù hợp với năng khiếu và lợi ích của bản thân và xã hội. Cần có chính sách phù hợp để các em vượt qua các rào cản thường có, trong đó có khó khăn về điều kiện kinh tế của bản thân họ và gia đình, khắc phục sự hạn hẹp vì điều kiện học tập, nghiên cứu.

– Qua thực tiễn nửa thế kỷ đào tạo học sinh phổ thông năng khiếu, chúng ta thấy rằng, cần phải gắn chặt hơn nữa việc đào tạo học sinh năng khiếu với việc đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao trên một số lĩnh vực KHCN và kinh tế – xã hội.

– Mời thêm các nhà toán học xuất sắc ở trong và ngoài nước, am hiểu toán sơ cấp và hiện đại, tham gia huấn luyện đội tuyển IMO khoảng 1-2 tuần, ưu tiên các lĩnh vực ta còn yếu, ví dụ như các bài toán tổ hợp.

– Cần thành lập Hiệp hội và xây dựng Website các cựu HS IMO của VN để tư vấn, giúp đỡ việc lập đội tuyển IMO và đào tạo ĐH, SĐH và NCKH ở VN.

4.5. IMO VÀ GÌ NỮA?

– Trong ba việc: Phát hiện, đào tạo và sử dụng người tài thì việc thứ ba là mục đích của toàn bộ quá trình. Vì thế cần phải có quan điểm và chiến lược để làm tốt ba việc, nhất là việc cuối cùng, vì nếu không sẽ mất ý nghĩa. Đã và sẽ có nhiều câu hỏi được đặt ra: Sau IMO những ngôi sao đi đâu về đâu, làm gì, ở đâu? Đất nước ta đã tạo điều kiện cho người tài sau IMO làm việc, cống hiến ra sao và họ đã đóng góp như thế nào cho đất mẹ?

– Thành tích của HS VN tại IMO cho thấy rất rõ rằng, chúng ta có thể đào tạo được những học sinh phổ thông đạt trình độ đỉnh cao quốc tế ở hầu hết các môn học, đặc biệt là toán học. Đó là một thành tích rất đáng tự hào. GS Hà Huy Khoái nêu giả thiết: Hãy thử tưởng tượng nếu có sự so sánh hoặc cuộc thi “sinh viên giỏi quốc tế”, “cao học quốc tế”, “nghiên cứu sinh quốc tế”,  “giáo sư quốc tế”, số bài báo khoa học quốc tế, …, thì kết quả sẽ thế nào, liệu có hơn các HS VN tại các IMO hay không? Cần phải trả lời câu hỏi này, vì lớp người tốt nghiệp đại học, cao học, đỗ TS thực tài, …, mới thực sự là hạt nhân của sự phát triển xã hội, chứ đâu phải là học sinh tốt nghiệp phổ thông. Tất cả đều phụ thuộc vào nhận thức, chiến lược, quyết tâm và sự đầu tư tối ưu suy nghĩ, công sức, tiền bạc của xã hội cho từng giai đoạn.

– Trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta đã được thừa hưởng cơ ngơi từ các bậc thầy tiền bối có tầm nhìn chiến lược về mặt khoa học và giáo dục. Ngẫm về tương lai, chúng ta cần phải hỏi chính mình: Tình hình toán học, các KH cơ bản của VN và ứng dụng sẽ ra sao khi chúng ta kỷ niệm 50 năm VN tham dự IMO, sẽ ra sao trong 20-50 năm tới, sẽ thế nào vào giữa thế kỷ XXI? Để trả lời câu hỏi đó, Đảng và CP, Bộ GD&ĐT, … đã, đang và cần quan tâm hơn nữa đến việc tiếp tục đào tạo, sử dụng những con người xuất sắc trưởng thành từ IMO. Cần mạnh dạn có những đột phá trong đầu tư vào đào tạo đại học, sau đại học và NCKH như chúng ta từng đột phá trong việc xây dựng các lớp chuyên phổ thông từ năm 1965, khi đất nước đang trải qua chiến tranh khốc liệt, để có kết quả như ngày hôm nay sau nửa thế kỷ vun trồng.

Chương trình Trọng điểm Quốc gia Phát triển Toán học giai đoạn 2010-2020 và Viện NCCCT (VIASM) với cơ chế hoạt động đặc thù là một mô hình mới đáng mừng và nhiều triển vọng minh họa điều này, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và CP. Mô hình mới mẻ này nếu được duy trì, phát triển và mở rộng cho các khoa học cơ bản khác sẽ thúc đẩy các KH cơ bản tiếp tục phát triển lên tầm cao mới trong những năm, những thập kỷ tiếp theo, đóng góp hiệu quả cho quá trình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và đại học nước nhà.

 

LỜI CÁM ƠN

Việc dự thảo và trình bày bản báo cáo này là một việc khó đối với tôi, nên trong khi chuẩn bị, ngoài những thông tin chính thức có được, tôi đã tìm hiểu thêm từ GS Hoàng Tụy, Thầy giáo Lê Hải Châu, PGS Phan Đức Chính, GS Nguyễn Duy Tiến, GS Hà Huy Khoái, GS Nguyễn Văn Mậu, PGS TS Nguyễn Vũ Lương, ThS Phạm Hùng, Nhà báo Hàm Châu, TS Trần Nam Dũng, TS Nguyễn Thành Nam, ThS Nguyễn Khắc Minh, TS Nguyễn Thị Lê Hương, ThS Nguyễn Đức Huy,  …, và thông tin trên internet. Khó khăn nhất vẫn là khâu nhận định, đánh giá và rút ra bài học. Tôi cũng đã gửi bản thảo xin ý kiến TS Nguyễn Vinh Hiển, Thử trưởng Bộ GD-ĐT, và một số chuyên gia của Bộ GD-ĐT, Hội Toán học VN và BTC, nhưng vì ít thời gian nên cũng nhận được ít góp ý. Chắc chắn trong báo cáo này sẽ còn có những sai sót về thông tin và bình luận, nên tôi mong nhận được sự góp ý và chỉ giáo để chỉnh sửa và hoàn thiện. Xin cám ơn!

Trần Văn Nhung

(Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 2014,

Email:tvnhung@moet.edu.vn)

Advertisements

Tagged as:

12 phản hồi »

  1. Có lẽ những người trong cuộc hiểu rõ hơn ai hết IMO là gì. Tác giả nên nhìn lại IMO 2007 tổ chức tại VN có những cuộc họp kín về vấn đề gì.

    Em thấy bài này dài quá! Càng đọc về các thành tích, càng buồn vì thấy tác giả điểm mặt các nhân tài thì nhiều, trong khi không thấy tác giả trăn trở là tại sao chất xám của họ chảy đi đâu hết chứ không phải chảy về VN.

    Em đề nghị các Bác nên dành thời gian quan tâm đến những bạn thực sự có tâm huyết với khoa học như bạn Đào Thanh Oai ngay từ lúc đầu, chứ đừng nên đợi đến khi các bạn đó thành các nhà khoa học nổi tiếng thế giới mới tung hoa và vỗ tay coi đó là thành tích của nền giáo dục VN.

    Không rõ các anh ĐTS & NBC có thời gian đọc và nghe từng câu từng chữ hay không, chứ mấy anh chị em quen đã từng đoạt giải IMO chắc chắn là không rồi.

    Liked by 1 person

  2. IMO thật là mới đối với tôi. Ngày còn ở VN, chẳng bao giờ tôi nghe tới thi toán. (Thể thao, bóng đá, thế vận hội thì có.) Nhìn vào IMO, kết quả 40 năm qua ở VN, ta cũng phải khâm phục, tuổi trẻ VN không đến nỗi tệ. Nhưng có một điều được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trên HTN là tại sao chúng ta thành công ở bậc THPT, mà lại không thành công ở bậc ĐH. Tôi suy nghĩ và thử đưa ra vài ý kiến thô thiển.

    Trước hết, giáo dục có 2 phần: Học và Hành, học tập bí quyết và áp dụng những bí quyết đó. Như vậy, chúng ta thành công ở phần học tập những bí quyết cơ bản, trong đó có toán, nhưng phần áp dụng vào đời sống, vào công nghệ thì quá yếu. Không phải chỉ có môn toán, mà cả những môn khác như văn, sử, khoa học, thông tin, vv.

    Tiếp theo, tại sao sinh viên được huấn luyện ở nước ngoài thì thành công, mà huấn luyện trong nước thì bế tắc? Tại ĐH của mình dở chăng? Really? Các bạn có đồng ý không?

    Không phải tại thầy mình thiếu thiện chí, không phải tại thầy mình thiếu tài năng, bệnh thành tích chăng? tham quyền cố vị ư? hay là tuyển người không xứng đáng? Có thể có nhiều lý do, nhưng tôi xin đưa ra 2 lý do nhỏ: Một, thiếu tinh thần khoa học, thiếu tinh thần cởi mở và hợp tác. Hai, cách làm việc mang tính quyết đoán, cứ nghĩ là mình đúng, không chấp nhận ý kiến của người khác.

    Tôi rất lạc quan! Chỉ cần vài sửa đổi nhỏ, VN sẽ tiến bộ và không hổ thẹn khi đứng chung với các nước tiền tiến trên thế giới.

    Số lượt thích

  3. Tôi đã từng vô dịch quốc gia, nay có công ty nhỏ, làm về công nghệ cao: cơ điện tử, ở nước công nghiệp lớn nhât châu Âu.

    Tôi muốn lập cơ sở tại Việt nam. Cái khó là: hiến pháp.
    Nếu công ty tôi, sau này làm ăn có lãi, lực lượng lãnh đạo nhà nước (Theo điều 4 hiến pháp), ra quyết định: quốc hữu hóa, như cải tạo công thương năm 1978, thì làm sao tôi lấy lại được tài sản, khi chính phủ, quốc hội và tòa án, đều do lực lượng lãnh đạo nhà nước chỉ huy ?

    Ai có thể xóa bỏ quyền hành tuyệt đối của lực lượng lãnh đạo nhà nước, khi họ ra một quyết điịnh sai ?

    HTN: FDI, Luật Đầu Tư, …

    Số lượt thích

    • Có “FDI, Luật Đầu Tư..”
      Nhưng lực lượng lãnh đạo nhà nước có QUYỀN thực hiện hay xóa bỏ các luật đó!

      HTN: Samsung, Intel, Coca, Fujitsu …có lẽ không nghĩ như vậy.

      Số lượt thích

    • Trong quan hệ kinh doanh. Thương nhân căn cứ vào chữ TÍN (mức độ khả tín) để quyết định. Thương nhân không những giỏi toán mà còn giỏi VĂN. Không phải ai cũng giỏi Văn, những nghe Văn có thể đoán trước được ít nhiều những tiềm ẩn trong văn bản và tư cách người soạn thảo ra nó. Đọc một văn bản (tỉ như hợp đồng bảo hiểm) là người đọc có thể quyết định mua nó hay không. Ở Việt nam có rất nhiều công ty bảo hiểm của doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài. Ngân hàng quốc tế và ngân hàng trong nước cũng hay có chương trình cho vay….không tính lãi. Nhà hàng khách sạn thương có những chế độ ưu đãi cho khách VIP bằng cách giảm 50% cho hóa đơn thành toán v.v.. Phản ứng của người tiêu dùng thường chọn là….không quan hệ. 😀

      Số lượt thích

  4. Thưa GS Trần Văn Nhung! Học giỏi toán là giỏi tư duy, hệ trọng cho mỗi người và cho loài người. Rất mừng là Việt Nam là cường quốc, đứng trên Đức về thành tích IMO ( bảng số liệu ). Nhưng buồn thay các chỉ số phát triển và trình độ về dân trí, khoa học kỹ thuật, khoa học cơ bản, trình độ kỹ thuật và ứng dụng, năng suất, GDP và thu nhập, kiến trúc và hội hoạ, cạnh tranh, công nghiêp hoá…đều thấp “đội sổ” và còn tệ hơn ở xu hướng giảm tương đối tức ngày càng xa mặt bằng chung thế giới hoặc các nước tương đồng về diện tích, dân số ở nhiều lĩnh vực cơ bản đòi hỏi tư duy, đòi hỏi tính đổi mới. GS chắc cũng hiểu và buồn, vậy chúng ta làm sao cho các nhà khoa học tham gia quản trị và xây dựng tương lai dân tộc ta ngày càng nhiều bằng sự gắn bó tự nhiên. Vậy bắt đầu từ tìm hiểu nguyên nhân của mâu thuẫn “cường quốc IMO” với “đội số lạc hậu” theo GS là do đâu?
    Tôi nghe người trước kể lại cái bệnh “nhiệm vụ chính trị” từ hồi còn bao cấp nay vẫn còn nguyên, tức trên đã chỉ đạo phải làm và bố trí mọi điều kiện thì làm được, có phải IMO ngày nay chúng ta vẫn làm theo cách này? Phải chăng nhiệm vụ cỡ cường quốc là rất hệ trọng của “cả hệ thống chính trị” như thời nay chúng ta thường nghe các nhà lãnh đạo nói khi muốn lấy danh tiếng cho mình về một việc gì? Nếu vậy chúng ta tiếp tục hài lòng với cái mâu thuẫn kia.
    Tôi muốn ta tiếp tục là cường quốc IMO nhưng phải giải quyết được cái mâu thuẫn quái gở kia bằng sự dứt khoát thay đổi “của cả hệ thống chính trị”! GS nghĩ sao ạ!

    Số lượt thích

    • Cám ơn bạn Xuân Dương! Với tư cách một giáo viên toán và Trưởng Ban tổ chức IMO 2007 lần đầu tiên tại VN, tôi được phân công viết một báo cáo tổng quan về quá trình 40 năm VN tham dự IMO. Trong bài tôi cũng đã nói đây là một việc khó đối với mình. Sau khi tham khảo ý kiến nhiều người, tôi đã cố gắng thống kê những thành tích đáng tự hào của VN (nhưng tôi cũng chưa dám dùng cụm từ “cường quốc IMO”) và cả những kết quả chưa thật như ý của chúng ta. Tôi cũng đã cố gắng có những nhận xét, bình luận và rút ra bài học, phương hướng cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi toán ở nước ta, gắn với việc đào tạo người tài, trước hết là trong toán học và KH-CN. Những vấn đề rộng, lớn hơn, đúng như anh nói, tôi chưa đủ trình độ viết ra được, vì dẫu sao đây cũng mới chỉ là suy nghĩ của cá nhân mình chứ không phải chiến lược quốc gia. Vả lại mấy câu hỏi anh đặt ra, tôi cho rằng không chỉ cho VN mà còn cho cả một số nước khác trong số top 20 của IMO.

      Số lượt thích

      • Cảm ơn GS Trần Văn Nhung đã quan tâm giải đáp, chỉ giáo! GS lúc ở bộ GD thì XD không được ở bộ GD và chỉ tầm trẻ lắm nhưng thấy rất ngưỡng mộ GS- Thứ trưởng. Nay rất kính quý GS vì sự quan tâm uyên bác và không ngưng nghỉ dù GS không còn làm “công bộc” cấp cao nữa. Đáng tiếc một số GS và LĐ ở bộ, kể cả nghỉ rồi mà ít tham gia ” chỉ giáo” trên diễn đàn.

        Số lượt thích

  5. Từ danh sách topten có thể thấy những nước có số giải đặc biệt nhiều nhất là Hungary (9), Đức (9), Hàn Quốc (7) và Bungary (4). Người Hungary thông minh có lẽ do sự pha trộn huyết thống giữa người Châu Á và châu Âu. Còn người Đức có lẽ là dân tộc thượng đẳng. Người Hàn Quốc mạo hiểm có lẽ là do họ có phần lớn biên giới bao quanh bởi Biển. Còn người Bungary thì không biết là do đâu mà họ lại có kết quả tốt như vậy.

    Nếu chúng ta so sánh thành tích của Việt Nam mình với Hàn Quốc thì thấy: mặc dù chúng ta có lợi thế tham gia sớm hơn họ nhiều năm và số lần tham gia của chúng ta nhiều hơn họ cả chục lần, tổng số huy chương vàng của ta đạt được trong tất cả các lần tham gia vẫn thấp hơn của họ. Tuy nhiên, có một điều an ủi là số thí sinh đạt điểm tuyệt đối của chúng ta nhiều hơn hẳn họ (chúng ta có 9 thí sinh trong lúc đó họ chỉ có một vài thí sinh).

    Có một điều đáng buồn là nếu chúng ta so sánh thành tích của mình với Triều Tiên – một nước có dân số chỉ bằng gần 1/5 dân số nước ta, với thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chúng ta và tham gia IOM muộn hơn chúng ta nhiều năm, thì thấy họ có kết quả không hề thua kém chúng ta.

    Nếu tính ở khu vực Đông Nam Á, Thái Lan – có dân số ít hơn chúng ta, tham gia IOM muộn hơn chúng ta nhiều năm nhưng càng ngày kết quả của họ càng tốt lên và họ đã từng có thứ hạng cao hơn Việt Nam trong khoảng 10 năm liên tục.

    Có thể tham khảo các thông tin về thành tích IOM của các quốc gia tại: http://www.imo-official.org/results.aspx

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: