How We Learn

Tinh thần cách mạng trong cải cách “đường lối giáo dục quốc dân” của các lãnh tụ Duy Tân- Nghĩa thục – Mai Văn Tỉnh

Trọng điều kiện xã hội thông tin và toàn cầu hóa của thế kỷ 21, cả nước đang đặt hy vọng vào công cuộc đổi mới toàn diện và triệt để nền Giáo dục (GD) nước nhà, thiết nghĩ việc ôn cố tri tân, tìm hiểu tinh thần cách mạng của ông cha ta trong canh tân GD ở bối cảnh XH cuối TK 19 – đầu TK 20 là rất cần thiết. Từ 2008, tại Hộị thảo ở ĐH Hoa Sen Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi đã tham luận (*) về tinh thần cách mạng trong đường lối GD quốc dân của Đông Kinh Nghĩa Thục nhằm mục đích thay hệ thống GD với triết lý tĩnh – đào tạo các thần dân-“bù nhìn” câm lặng, làm theo lệnh trên, bằng một “đường lối GD quốc dân” với triết lý động – đào tạo ra những “quốc dân” dám nghĩ và “có thể động” để gây ý thức ái quốc, ái quần, bồi dưỡng tài năng tự trị tự lập”[1].

 

Để giải quyết nhiệm vụ này triệt để, các lãnh tụ Duy tân-Nghĩa thục đã phân tích sứ đối lập toàn diện giữa“văn minh tĩnh” và “văn minh động” như cơ sở triết học của hai nền giáo dục Nho học và Tây phương. Tác giả Văn minh tân học sách [2] đã chỉ ra sự “tương phản” giữa “người” và “ta” trong “5 giới” (lĩnh vực) mà có thể thâu tóm như sau: (a) Giới tư tưởng: “người” thì tự do sáng tạo, cạnh tranh; “ta” – bị cấm nghĩ, cấm bàn; (b)  Giới giáo dục: “người” – giáo dục cơ bản chung (tức kiến thức phổ thông), tiếp đó mới đào tạo thực nghiệp, mỗi người được lựa chọn theo năng lực cá nhân; “ta” – một đường mòn luyện tập từ chương kinh viện cho tất cả; (c) Giới chính trị (tác giả dùng từ “kinh tế”, theo nghĩa kinh bang tế thế): “người” – dân chủ cộng hoà, bầu cử, nghị luận; “ta” – “hành chính cấm thay đổi”, “dùng người thì quý im lìm lặng lẽ”, “luật có ban bố đấy nhưng dân gian không được đọc”; (d) Giới “tính tình” (ở đây là nói về bản chất của hai loại người dân): “người” – là công dân, thống nhất với nước về lợi và quyền qua các thể chế nhà nước và dân sự; “ta” – là thần dân bị cai trị, áp chế, không được biết đến luật, chỉ được phục tùng; và (e) Giới “phong tục” (ý nói về bản tính con người do hai thể chế trái ngược): “người” – cởi mở, giao lưu; “ta” – khép kín, trì trệ.

 

Tĩnh tất nhiên thua động. Cả 5 “giới” đều “tĩnh” như vậy nên nước Việt ta qua bao nhiêu năm dưới ách đô hộ của hết Tàu lại Pháp, dân trí thì bế tắc, đất nước thì lạc hậu, thua người. Để công phá cái thành trì cố thủ của hệ thống tư tưởng Nho giáo (chính xác là Tống Nho) đã từ lâu hết vai trò giáo hoá, cùng cái nền khoa cử Hán tự đã trở nên hủ lậu, các lãnh tụ Đông kinh nghĩa thục (ĐKNT) đã đề xuất một cuộc cách mạng giải phóng tư tưởng. Đó chính là thực chất của tư duy GD, cái triết lý giáo dục quán xuyến tất cả “sáu đường”, tức sáu biện pháp VMTHS đã đề ra như một “chủ nghĩa”, tức đường lối giáo dục của ĐKNT: 1) dạy chữ Quốc ngữ; 2) dịch sang Quốc ngữ và truyền  bá “tân thư” với tư tưởng dân quyền, dân chủ; dùng sách vở văn, sử, địa dân tộc và soạn lại sách vở Trung Hoa cho phù hợp; 3) sửa đổi phép thi, bước đầu là bỏ thi văn bát cổ, chỉ thi sách luận; 4) khuyến khích người tài năng trong trí thức Nho học cũ, đặc biệt về các môn thực học, người giỏi về các khoa thực học phải được đánh giá cao hơn tiến sĩ Nho học; 5) chấn hưng công nghiệp, khuyến khích sáng chế và phát minh, thưởng và công nhận tác quyền cho người phát minh; 6) mở mang báo chí, “về đường tư tưởng không có luật pháp ngăn cấm” (Huỳnh Thúc Kháng).

 

Trong khuôn khổ một tham luận của mình học giả Vũ Thế khôi chỉ  phân tích tinh thần cách mạng của “đường” thứ nhất – dạy chữ quốc ngữ (mà dạy chữ là dạy người-MVT nhấn)

 

Thực ra đề xuất việc phổ biến chữ Quốc ngữ không phải các nhà Nho Duy tân mà chính lại là thực dân Pháp từ khi chưa chiếm xong Lục tỉnh (Nam kỳ), bằng nghị định mở trường Thông ngôn Bá Đá Lộc, dạy tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ năm 1861. Điều lý thú là lúc bấy giờ sĩ phu Nam kỳ lại tẩy chay chủ trương đó bằng cách bỏ về các làng quê, mở trường dạy chữ Nho, “để đối chọi với chữ Pháp và chữ Quốc ngữ” là công cụ được thực dân Pháp và tay sai dùng để chống lại dân ta nên các sĩ phu và nhân dân phải bảo vệ và duy trì chữ Nho – một công cụ đã sẵn có trong tay từ trước”.

 

Ngót 50 năm sau, vào đầu thế kỷ XX, tình thế đã khác hẳn: thực dân Pháp đã thiết lập xong ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam, các cuộc chiến đấu vũ trang đều thất bại, kể cả Khởi nghĩa Yên Thế.  Năm 1906 sau khi vào đồn Phồn Xương gặp cụ Đề Thám, lúc trở về Phan Chu Trinh nói rằng: “Ông Thám là một võ tướng mà thôi”. Nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của công cuộc cứu nước, như các trí thức Nho học Duy tân yêu nước đã giác ngộ, là ta thua kẻ thù cả trăm năm phát triển, con đường cứu nước bây giờ là phải cấp tốc đưa đất nước lên ngang tầm văn minh với kẻ thù, trước hết là cái đầu, cái tầm tư duy, tức trong lĩnh vực tư tưởng phải được cất lên ngang tầm với kẻ thù.

 

Mục đích dạy chữ Quốc ngữ trong đường lối giáo dục quốc dân của ĐKNT rõ ràng khác về căn bản với chủ trương dạy chữ Quốc ngữ của thực dân Pháp, cũng khác cả các chương trình cải lương giáo dục của chính quyền bảo hộ và Nam triều: chính quyền thực dân chỉ dạy chữ Quốc ngữ làm phương tiện giao dịch thông thường, đủ đáp ứng những yêu cầu làm nô bộc cho ngoại bang để vinh thân phì gia; các nhà Nho Duy tân đã vạch trần tim đen của cái thứ chữ Quốc ngữ “thông ngôn” đó: nó tất dẫn đến cái “vạ chết lòng”, cái xác còn đó nhưng cái tâm hồn dân tộc Việt thì không còn. Chữ Quốc ngữ theo “đường lối giáo dục quốc dân” của ĐKNT nhằm phục vụ triết lý giáo dục giải phóng, khai dân chí, chấn dân khí, phải làhồn trong nước”:

Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước,

Phải đem ra tính trước dân ta,

Sách các nước*, sách Chi-na,

Chữ nào nghĩa ấy dịch ra tỏ tường.

(* có bản chép: Sách Âu – Mỹ)

Có nghĩa là chữ Quốc ngữ phải trở thành linh hồn duy tân thổi vào đám thần dân “bù nhìn”, chỉ biết phục tùng, biến họ thành những con người có “tài năng tự trị tự lập”, có thể và sẵn sàng động khi có biến cố. Rõ ràng không một thứ “chữ” nào khác, dù là Tầu cổ lỗ hay Tây tân thời, có thể hoàn thành sứ mệnh giải phóng tư tưởng đó! Cho nên cũng có thể thông cảm với cụ Nghè Ngô Đức Kế khi cụ buộc phải lên tiếng gay gắt phê phán việc ông Phạm Quỳnh đề cao truyện Kiều cùng tiếng Việt thoát ly sứ mệnh cao cả đó, quy kết quan điểm của học giả họ Phạm là “tà thuyết” và nặng lời với cô Thuý Kiều đáng được cảm thông để rồi chính cụ phải chịu cái tiếng là “hủ Nho”, mặc dù Cụ là người mà chí sĩ họ Huỳnh đã tặng 4 chữ “phách Á, hồn Âu” trong câu đối viếng sau này, còn trước đó thì đã phải ngồi tù Côn Đảo 13 năm chính vì cái tội đi tiên phong trong “phong triều bài xích khoa cử, đề xướng tân học…” (Huỳnh Thúc Kháng).

 

Tuy nhiên, mặt khác, tầm nhìn vượt thời đại của các trí thức nho học Duy tân – Đông Kinh nghĩa thục còn thể hiện ở chỗ trong khi kiên quyết phổ cập chữ Quốc ngữ, họ không hề có thái độ hư vô chủ nghĩa (nihilisme) đối với chữ Hán và di sản văn hoá Hán của Việt Nam đã đành mà của cả Trung Hoa nữa. Trong vấn đề này học giả Vũ Thế Khôi cho rằng tuy có một ngộ nhận nhỏ, nhưng vẫn còn tính thời sự trong công cuộc cải cách giáo dục hiện nay, nên ông đã làm rõ như sau: Một số công trình nghiên cứu cuộc vận động canh tân giáo dục hồi đầu thế kỷ XX, nhằm nhấn mạnh tinh thần triệt để cải cách của Đông Kinh nghĩa thục thường dẫn câu nói của cụ Phan Chu Trinh: “Bất phế Hán tự bất túc dĩ cứu Nam quốc” (không bỏ chữ Hán, thì không cứu được nước Nam). Trái lại cụ Phương Sơn, tên thật là Nguyễn Côn, cũng dạy học và soạn sách cho ĐKNT, thường tranh biện về một số vấn đề sau buổi diễn thuyết của Tây Hồ tiên sinh, lại nói: “Bất chấn Hán học, bất túc dĩ cứu Nam quốc”. Chế độ khoa cử hủ bại, ta phải bỏ, chúng tôi đồng ý với cụ về điều ấy, còn Hán học đã đào tạo biết bao anh hùng, liệt sĩ, thì sao lại phế nó đi?”. Ngay lúc đó cụ Lương Trúc Đàm cũng biểu đồng tình với cụ Phương Sơn. Cụ Tây Hồ tinh thần quân tử, khoáng đạt, cười: – Hai tiên sinh đều phản đối thì tôi xin thôi, để tôi xét kỹ lại xem” (Theo: Nguyễn Hiến Lê – Đông Kinh Nghĩa Thục).

Học giả Vũ Thế Khôi muốn nhấn mạnh cái không khí tự do tư tưởng, sự tranh luận thoải mái và rất quân tử giữa các bậc túc Nho, những người hoá ra ít cố chấp hơn đôi vị học giả “Tây học” ngày nay; và sau này cụ Phan Chu Trinh quả đã “xét kỹ lại” ý kiến của mình: ngót hai chục sau, đã trải qua nhiều năm sống giữa trung tâm văn minh Âu châu, trong bức thư từ Paris ngày 23 Janvier 1925 gửi anh thanh niên du học sinh tên Đông, Tây Hồ tiên sinh viết rằng Cụ có ý định khi về bên ta sẽ làm một cuốn sách “để so sánh hai cái văn minh Âu – Á hơn kém thế nào, và bên ta nên thay đổi thế nào cho ta có thể theo được văn minh đời nay, mà lại không mất cái sự tốt của ông cha để lại tự xưa nay ”; nhân đó Cụ “xin các anh thanh niên sẽ lo ăn lo học cho đến nơi đến chốn”, chớ có nhiễm cái bệnh “chỉ biết qua một tí, mới nhắm qua một tí, mộng tưởng đã đủ rồi, cứ nói phăng đi, làm phăng đi, còn sau ra kết quả thế nào thì chẳng hề để tâm đến”, bởi như vậy thì “học Tàu là ông đồ hủ Nho, nay học Tây lại đổi lại là ông đồ hủ Âu mà thôi” (VTK nhấn)[3].

Thực tiễn sư phạm của ĐKNT phản bác thái độ hư vô chủ nghĩa bằng cách Nhà trường vẫn mở các lớp dạy chữ Hán (miễn phí) và tiếng Pháp (có thu tiền); Văn minh tân học sách, Quốc dân độc bản và (Tân đính) Luân lý giáo khoa thư, hai bộ sách giáo khoa cơ bản của Nhà trường, đều được viết bằng chữ Hán. Nói là làm. Sau khi kiên quyết đề xuất vứt bỏ những sách kinh điển vô bổ của các “đại gia” “lục đục bác bẻ lẫn nhau, bịa ra câu hỏi, rồi lại bịa đặt lời đáp”, các nhà Nho duy tân trong ĐKNT đã lập ra cả một Ban tu thư, biên soạn cả mấy chục đầu sách các loại về cả “Việt học”, “Tây học”, lẫn “Đông học”: luận thuyết, giáo khoa, tập đọc về chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học tự nhiên v.v… Có thể mạnh dạn nói rằng các trí thức Nho học Duy tân – ĐKNT là những người đầu tiên thực hiện phương châm kết hợp tinh hoa Đông phương và Tây phương trong công cuộc xây dựng một nền văn hoá và giáo dục hoàn toàn Việt Nam mà các thế hệ sau sẽ tiếp tục phát triển. Ngô Đức Kế, sau 13 năm ngồi tù Côn Đảo về, vẫn viết trên báo Hữu Thanh, số 15 ra ngày 1 – 5 – 1924: “Phàm kẻ đi học ai cũng phải luyện tập quốc văn, ai cũng phải biết tôn kính quốc giáo, rồi mới học Âu văn, Âu học để lấy trí thức mới, học thuật mới mà ứng theo thời. Vậy thì có phải hoà hợp cả văn hoá Đông Tây mà làm cái văn hoá của mình không?”

 

Có người băn khoăn: ĐKNT  hoạt động vẻn vẹn 9 tháng thì liệu ảnh hưởng được bao nhiêu? Có thể giải thích tại sao thế hệ hôm nay đặt ra câu hỏi như vậy. 100 năm qua người ta đã viết không ít về phong trào Duy tân – ĐKNT, nhưng chủ yếu như về một trang sử hào hùng đã qua. Thậm chí một thời còn phê phán đó là “lập trường tư sản”, “học thuật của chủ nghĩa tư bản”, không còn giá trị gì đối với công cuộc xây dựng sự nghiệp văn hoá-giáo dục của ngày hôm nay. Chẳng thế mà trong một cuộc hội thảo cấp bộ ồn ào cách đây vài năm tại viện nghiên cứu giáo dục về chủ đề “Triết lý giáo dục Việt Nam”, trong 27 tham luận khoa học của những Viện sĩ, GS, TSKH… chỉ có vẻn vẹn 4 dòng nói về Đông Kinh nghĩa thục!

 

Thay đổi quốc tự, lấy chữ Quốc ngữ thay cho chữ Hán, thực dân Pháp với đầy đủ uy quyền và phương tiện trong tay đã không áp đặt được trong suốt nửa thế kỷ (1861 – 1905). Vậy mà các nhà Nho Duy tân – Nghĩa thục, vốn được đào luyện trong nền Hán học, do giác ngộ sâu sắc nhu cầu lịch sử cấp bách là canh tân để cứu nước và đề xuất được một triết lý giáo dục mang tính cách mạng thực sự. Chỉ cần 9 tháng các cụ đã dấy lên cả một phong trào rộng khắp đầy sinh khí, thổi được “hồn nước” (tinh thần cứu quốc + tư tưởng dân chủ) vào chữ Quốc ngữ, nhờ vậy mà về căn bản đã giải phóng được tư tưởng của sĩ dân khỏi xiềng xích Tống Nho cùng thứ chữ Hán cử nghiệp và khắc phục được rào cản tâm lý của họ đối với chữ Quốc ngữ, tạo điều kiện cho các phong trào tiếp theo về hiện đại hoá văn hoá-xã hội trong những năm 1930 – 1945, trước hết là phong trào truyền bá Quốc ngữ, triển khai thuận lợi và rộng khắp Bắc Trung Nam rất lâu trước khi Hội Truyền bá Quốc ngữ được thành lập[4], song hành cùng cả một trào lưu viết văn, ra báo, nghiên cứu khoa học …, tất cả đều bằng tiếng Việt, đồng tâm “chuẩn bị môi trường văn hoá cho một tương lai dân tộc”[5]. Không có cuộc cách mạng tư tưởng ấy, liệu Nam triều có phế nổi nền khoa cử chữ Hán hủ lậu không? Rồi liệu Thượng thư Phạm Quỳnh có dễ dàng đặt sơ học yếu lược dạy bằng tiếng Việt không? Rồi mới đến lượt Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn trong chính phủ Trần Trọng Kim dùng tiếng Việt (cũng tức chữ Quốc ngữ) thay hẳn tiếng Pháp ở cả hai cấp tiểu học và trung học, và cuối cùng, như một kết quả tất yếu của sự nghiệp do các chí sĩ Duy tân – Nghĩa thục khởi xướng và đặt nền móng, Hội Truyền bá Quốc ngữ sau Cách mạng tháng 8 chuyển thành Nha Bình dân học vụ trong Bộ Quốc gia Giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và tiếng Việt trở thành ngôn ngữ pháp quy duy nhất dùng làm chuyển ngữ trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân từ vỡ lòng cho đến đại học[6].

 

Về ảnh hưởng to lớn và tích cực của quan điểm “hoà hợp cả văn hoá Đông Tây mà làm cái văn hoá của mình” (Ngô Đức Kế) học giả Vũ Thế Khôi đã thu thập thêm một minh chứng cho luận điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục… “bắt nguồn từ những truyền thống và những tư tưởng giáo dục của nhiều thế hệ chí sĩ cách mạng Việt Nam, được Người tiếp thu và phát triển theo theo quỹ đạo tư tưởng cách mạng xã hội của mình[7]… Trong diễn văn khai mạc Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ I (24 – 11 – 1946) Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát biểu một quan điểm về việc xây dựng nền văn hoá mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tiếc rằng, không hiểu vì lý do gì, bài phát biểu quan trọng đó (theo báo Cứu Quốc, dài đến 40 phút mà Hồ Chủ tịch thường không nói dài!) cho đến nay không thấy công bố, kể cả trong Hồ Chí Minh toàn tập. May thay, đại ý đã được cơ quan ngôn luận chính thức của mặt trận Việt Minh tường thuật khá chi tiết. Người nói (trích dẫn theo lời tường thuật của báo Cứu quốc): Nền văn hoá của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở…Văn hoá Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hoá Đông phương và Tây phương mà chung đúc lại… Theo ý Người thì Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hoá Việt Nam.  Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ. Hồ Chủ tịch nói thêm rằng văn hoá có liên lạc với chính trị rất là mật thiết. Phải làm thế nào cho văn hoá vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hoá phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Tâm lý của ta lại còn muốn lấy tự do, độc lập làm gốc. Văn hoá phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do. Đồng thời văn hoá phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích mình (hết trích theo báo)[8].

Tuy Hồ Chủ tịch nói rằng đó là ý kiến và quan điểm riêng của Người, nhưng căn cứ những nghiên cứu và phát hiện gần đây về mối quan hệ mật thiết của thân phụ Nguyễn Sinh Sắc và bản thân Người với các lãnh tụ phong trào Duy tân – ĐKNT thì có thể nói Hồ Chí Minh cũng có phần đại diện cho cả một trào lưu tư tưởng văn hoá – xã hội cấp tiến “hậu Duy tân – ĐKNT’, dẫu được đào luyện trong nền Tây học hoàn toàn bằng Pháp văn, say mê tiếng Pháp và tư tưởng dân chủ, tự do – bình đẳng – bác ái của văn học Pháp, nhưng vẫn dám lội ngược trào lưu trưởng giả thắng thế học làm sang dùng tiếng Pháp cả trong sinh hoạt thường ngày và bài xích tiếng mẹ đẻ và chữ Hán: những đại diện uy tín của trào lưu này kêu gọi “thoát ly những ảnh hưởng trơ tráo bên ngoài”, “trở về mình”, với lịch sử và văn hoá dân tộc, đánh giá cả mặt hay lẫn những mặt dở đang là trở lực đối với công cuộc hiện đại hoá đất nước. Một nhà Việt Nam học ở Đại học Paris 7 nhận định hoàn toàn chính xác rằng đó “không phải là một đường lối quốc gia hẹp hòi, càng không phải là mang tính chất sùng bái dĩ vãng”, mà “luôn luôn có sự tìm tòi để tổng hoà nền văn hoá dân tộc với các nền văn hoá Tây phương[9]

Tiếc rằng trong Nghị quyết mới đây của Đảng cộng sản Việt nam về Văn hóa lại không chú ý đến chi tiết này (MVT nhấn).

 

Riêng trong vấn đề ngôn ngữ, song song với việc trực tiếp tham gia phát huy đường lối của Duy tân – ĐKNT về  “chữ Quốc ngữ là hồn trong nước”, họ hoàn toàn ủng hộ việc lập ra vào năm 1942 chuyên ban Cổ điển Á Đông ở bậc trung học Pháp – Việt (song song với ban Cổ điển Hy – La đã có trước đó), tuần 6 giờ trong 5 năm liền, không chỉ dạy 4 – 5 nghìn chữ Hán “chết”, mà giảng cả sách kinh điển tiêu biểu của Trung Hoa và Việt Nam, coi đó “sẽ là một then chốt quan trọng của một nền xây dựng xã hội trong tư tưởng quốc gia”[10]. Quan điểm này, đã được phát triền thành một phác thảo những đường nét chính của chương trình phổ thông trung học và phổ thông chuyên ban trên tạp chí Thanh Nghị[11], và gần như đồng thời đã được hiện thực hoá xuất sắc trong Chương trình trung học phổ thông của GS Hoàng Xuân Hãn, ban hành bởi đạo Dụ số 67 ngày 3 – 6 – 1945. Đáng chú ý là trong cả hai bản chương trình trên, chữ Hán chẳng những được giảng dạy chu đáo (cùng với văn hoá bằng chữ Hán) ở chuyên ban Cổ điển Á Đông mà còn bắt buộc phải học 1 – 2 giờ/tuần ở tất cả các chuyên ban phổ thông còn lại như một môn cơ sở văn hoá của quốc văn. Cũng cần nói thêm rằng Chương trình Hoàng Xuân Hãn đã được Bộ Quốc gia Giáo dục của Chính phủ Hồ Chí Minh cho thực thi (với một vài thay đổi nhỏ) ngay từ năm học 1945 – 46 tại các trường trung học Kháng chiến cho đến tận năm 1950, nhờ vậy ngày nay chúng ta mới có cả loạt những nhà khoa học với căn bản văn hoá vững vàng và sử dụng thông thạo, chuẩn xác tiếng Việt như Phan Đình Diệu, Văn Như Cương, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Đình Chú v.v… Chỉ với cuộc cải cách giáo dục năm 1950, được mệnh danh là “lần thứ nhất” (tức coi như không có cuộc cải cách ngay sau Cách mạng tháng 8, được ban hành chính thức bằng Sắc lệnh số146 ngày 10 – 8 – 1946 do Chủ tịch nước ký, thiết lập nền giáo dục độc lập tự chủ, pháp quy tiếng Việt là chuyển ngữ và chữ Hán là môn học bắt buộc!) chữ Hán như một môn cơ sở văn hoá (chứ không phải Trung văn như một môn ngoại ngữ) mới bị loại bỏ hẳn trong hệ thống giáo dục quốc dân, và như vậy không phải thực dân Pháp, cũng không phải các nhà Nho Duy tân – Nghĩa thục, mà chính chúng ta tạo nên “một khoảng trống đáng sợ” mà GS NGND Nguyễn Cảnh Toàn đã báo động[12].

 

Hà Nội, tháng 9-2014

Ts. Mai Văn Tỉnh sưu  tầm và giới thiệu

 

Chú thích:

 

(*) Bài đã công bố ở hội thảo khoa học quốc tế “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, hai thời khắc đầu thế kỷ” tổ chức ở Đại học Hoa Sen TP Hồ Chí Minh ngày 18 – 12 – 2008; đăng trong Kỷ yếu cùng tên, NXB Văn hóa Sài Gòn& Đại họa Hoa Sen – 2009, tr. 67 – 88

[1] Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục. – Cục Lưu trữ nhà nước Việt Nam & Viện Viễn Đông Bác Cổ pháp, nxb Văn hoá 1997, tr. 46.

[2] Xem “ Tác giả Văn minh tân học sách là ai?, Hocthenao.vn, ngày 26-9-2014.

[3] Phan Tây Hồ di thảo. Ngô Đức Kế biên tập và phê bình. Lương Văn Can xuất bản, 1926; dẫn theo: Ngô Đức Kế, cuộc đời và tác phẩm. (Ngô Đức Thọ sưu tầm, giới thiệu) – Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh 2008, tr, 233 – 243.

[4] Vũ Thế Khôi: Cư sĩ Thiều Chửu với nền giáo dục bình dân. – Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 4 – 2002.

[5] Pierre Brocheux: Tạp chí Thanh Nghị và những vấn đề văn chương (1941 – 1045). – Bài tiếng Pháp đăng trong Lịch sử hải ngoại, tập XXVII (1998), số 280; dẫn theo bản dịch tiếng Việt trong: Vũ Đình Hoè –Thanh Nghị. Hồi ký. – nxb Văn học & Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nọi 2000, tr. 518.

[6] Vũ Đình Hoè: 1) Nguồn gốc của Hội Truyền bá Quốc ngữ. – Tạp chí Xưa & Nay, số 51, tháng 5  1998; 2) Pháp quyền Nhân nghĩa Hồ Chí Minh. – nxb Văn hoá Thông tin & Trung tâm văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội 2001, tr. 49 – 50.

[7] Vũ Đình Hoè: Vài ký ức về tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục cuối 1945 – đầu 1946. Tham luận tại Hội thảo khoa học – thực tiến “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục” do Bảo tàng Hồ Chí Minh và Đại học Sư phạm Hà Nội đồng tổ chức ngày 8 – 10 – 2003; đã đăng: Tạp chí Khoa học và Tổ quốc (Diễn đàn trí thức), số 21 năm 2003 và số 1+2 năm 2004 và Tạp chí Văn hiến Việt Nam, số Xuân 2004.

[8] Báo Cứu Quốc, số 416, ra ngày 25 – 11 – 1946. Người đầu tiên nêu lại bài diễn văn quan trọng này của Hồ Chủ tịch là nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, trên báo Nhân Dân khoảng 1997 và báo Văn Nghệ 2005; cũng có thể xem trên mạng Talawas. Org, mục: Tư tưởng văn hoá và phát triển, 19.5.2008.

[9] Pierre Brocheux, tlđd, tr. 518.

[10] Vũ Đinh Hoè: Việc lập một nền học Cổ điển Á Đông ở Đông Dương. – Báo Thanh Nghị, số 22, tháng 10  1942, tr. 2 – 4 và 31.

[11] Vũ Đình Hoè: Việc xây dựng một nền giáo dục Việt Nam. – Tạp chí Thanh Nghị, số 108 ra ngày 12 – 5 và số  109 ra ngày 19 – 5 năm 1945; in lại trong sách của tác giả: Những phương pháp giáo ở các nước và vấn đề cải cách giáo dục. – Thanh Nghị tùng thư 1945, các chương VI và VII.

[12] Nguyễn Cảnh Toàn: Chữ Nho với nền văn hoá Việt Nam. – đăng lần đầu trên báo Văn Nghệ của Hội nhà văn Việt Nam, in lại trong Tạp chí Nghiên cứu Hán Nôm, số 4 (59) năm 2003 và sách: Hán Nôm học trong nhà trường, do Viện Nghiên cứu Hán Nôm – nxb KHXH xuất bản 2008, tr. 9 – 15.

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Nghĩ về việc học và dạy, Triết lý

1 Response »

  1. Thấy bài rất đáng để đọc. Xin cảm ơn thầy Mai văn Tỉnh.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: