How We Learn

Đề án đổi mới chương trình SGK phổ thông – Chính Phủ

Download file Đề Án ở đây:  A08.02_De_an_doi_moi_chuong_trinh_SGK

Tóm tắt Đề án đổi mới chương trình sách giáo khoa – Chính phủ

(trích Tờ trình số 335/TTr-CP của Chính phủ đề nghị Quốc hội ban hành nghị quyết về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông)

Học Thế Nào: Trong chương trình phiên khai mạc Quốc hội sáng 20/10, thừa ủy quyền của Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận đã báo cáo trước Quốc hội Tờ trình về Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông. Học Thế Nào xin giới thiệu trích đoạn tờ trình, phần tóm tắt Đề án.

Bài tóm tắt gồm các mục sau:

  1. Cơ sở xác định nguyên tắc và nội dung đổi mới chương trình, sách giáo khoa
  2. Nguyên tắc đổi mới chương trình, sách giáo khoa
  3. Nội dung đổi mới chương trình, sách giáo khoa
  4. Nhiệm vụ và giải pháp
  5. Khái toán kinh phí thực hiện Đề án
  6. Tổ chức thực hiện

1. Cơ sở xác định nguyên tắc và nội dung đổi mới chương trình, sách giáo khoa

a) Kết quả tổng kết đánh giá chương trình, sách giáo khoa hiện hành so với yêu cầu của Nghị quyết 40 và yêu cầu mới của Nghị quyết 29

Chương trình, sách giáo khoa hiện hành về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu về mục tiêu giáo dục, chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học, lớp học, cấp học được quy định trong Luật Giáo dục năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục (2009).

Chương trình đã chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản của học sinh; bước đầu thể hiện được quan điểm dạy học tích hợp và dạy học phân hoá; đã xác định được chuẩn kiến thức, kỹ năng làm căn cứ để biên soạn sách giáo khoa, quản lý dạy học, đánh giá kết quả giáo dục; về cơ bản, chuẩn kiến thức, kỹ năng phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh.

Nhìn chung, sách giáo khoa đã cụ thể hoá được các yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng, đáp ứng cơ bản yêu cầu về phương pháp quy định trong chương trình; đảm bảo tính chính xác, khoa học; diễn đạt rõ ràng, chuẩn mực về ngôn ngữ.

Đã có những chuyển biến bước đầu về phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục.

Về cơ bản, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục đã và đang đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa.

Công tác tổ chức và chỉ đạo đã được chú trọng; việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn đổi mới chương trình kịp thời, hiệu quả, khả thi.

Chất lượng giáo dục đại trà ở các cấp học và chất lượng giáo dục mũi nhọn có tiến bộ; công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục đã được cải thiện.

Chương trình và sách giáo khoa là một trong các yếu tố quan trọng tạo nên thành tựu của giáo dục phổ thông trong thời kỳ đổi mới vừa qua, góp phần tạo nguồn đào tạo đội ngũ nhân lực hiện đang hoạt động trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và của đất nước; đóng góp xứng đáng vào việc ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

Những kết quả trên đạt được là do có sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của Quốc hội, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp; sự quan tâm của các tổ chức, cá nhân và toàn dân đối với giáo dục; lòng yêu người, yêu nghề của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; truyền thống hiếu học của dân tộc được phát huy; kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng…

Tuy nhiên, đối chiếu với yêu cầu của Nghị quyết 40, chương trình và sách giáo khoa hiện hành còn những hạn chế sau:

– Chưa đáp ứng tốt yêu cầu về hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh; quan điểm thống nhất tích hợp và phân hoá chưa được quán triệt đầy đủ, các môn học được xây dựng theo các lĩnh vực khoa học, hạn chế khả năng tích hợp kiến thức; một số nội dung của một số môn học chưa đảm bảo tính hiện đại, cơ bản, còn nhiều kiến thức hàn lâm, nặng và chưa thiết thực với học sinh; một số cuốn sách giáo khoa chưa cân đối giữa yêu cầu khoa học và yêu cầu sư phạm. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng quá tải trong dạy học.

– Nhìn chung, chương trình còn nghiêng về trang bị kiến thức lý thuyết; chưa coi trọng kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng sáng tạo, tự học của học sinh… Chất lượng giáo dục phổ thông đại trà còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới và so với một số nước tiên tiến.

– Hình thức tổ chức giáo dục chủ yếu là dạy học trên lớp, chưa coi trọng việc tổ chức các hoạt động xã hội, hoạt động trải nghiệm; phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục nhìn chung còn lạc hậu; việc tổ chức, chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện chương trình còn thiếu tính hệ thống.

– Một bộ phận giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế về năng lực sư phạm, năng lực quản lý; cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục chưa bảo đảm việc triển khai chương trình có hiệu quả.

Nguyên nhân của những hạn chế trên trước hết là do công tác chỉ đạo, điều hành đổi mới chương trình chưa được tiếp cận một cách hệ thống; chưa triển khai triệt để và đồng bộ các yếu tố của quá trình dạy học bao gồm: Mục tiêu, nội dung, phương pháp và đặc biệt là thi, kiểm tra, đánh giá; còn thiếu lực lượng chuyên nghiệp về phát triển chương trình; vai trò quyết định của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý trong việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa nói riêng và giáo dục nói chung chưa được coi trọng; nguồn lực dành cho giáo dục còn hạn chế. Mặt khác, những tác động khách quan làm tăng thêm những hạn chế của giáo dục như: Mặt trái của kinh tế thị trường; nhu cầu học tập của nhân dân và đòi hỏi nâng cao chất lượng giáo dục ngày càng tăng; tâm lý khoa cử, sính bằng cấp, bệnh thành tích vẫn chi phối việc dạy, học và thi…

Đối chiếu với Nghị quyết 29, chương trình và sách giáo khoa hiện hành có những bất cập sau:

– Mới chú trọng việc truyền đạt kiến thức, chưa chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; chương trình còn nặng về lý thuyết nhẹ về thực hành, nặng về dạy chữ nhẹ về dạy người, hướng nghiệp.

– Trong thiết kế chương trình, chưa xây dựng thành hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp; nội dung giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu về tính thiết thực, tinh giản, hiện đại; việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục còn phiến diện, lạc hậu, chưa hướng tới mục tiêu phát triển hài hoà phẩm chất, năng lực của học sinh; chưa đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đạo đức, lối sống, rèn luyện kỹ năng, phát triển khả năng sáng tạo, tự học để học tập suốt đời; còn hạn chế trong việc phát huy vai trò tự chủ của nhà trường và tính tích cực, sáng tạo của giáo viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục; chưa đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục của các vùng khó khăn; khoa học giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình.

b) Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và quản lý phát triển chương trình; biên soạn và sử dụng sách giáo khoa, tài liệu dạy học

– Kinh nghiệm nổi bật của các nước có nền giáo dục phát triển từ cuối thế kỷ XX đến nay cho thấy chương trình được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực người học; thống nhất giữa dạy học tích hợp với dạy học phân hoá theo hướng tích hợp cao ở lớp/cấp học dưới, phân hoá sâu ở lớp/cấp học trên; phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục được thiết kế theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh.

Nhà nước tổ chức biên soạn, thẩm định và ban hành chương trình. Việc thực nghiệm chương trình được triển khai một cách thiết thực, gọn nhẹ và thường chỉ tiến hành đối với nội dung, phương thức tổ chức giáo dục mới. Chú trọng phân cấp trong xây dựng và quản lý chương trình một cách linh hoạt, thống nhất trong đa dạng.

– Kinh nghiệm chung của các nước là biên soạn nhiều sách giáo khoa và đa dạng hoá tài liệu dạy học trên cơ sở một chương trình giáo dục phổ thông;
Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thẩm định và phê duyệt sách giáo khoa. Ở phần lớn các nước tiên tiến, sách giáo khoa chủ yếu do các nhà xuất bản biên soạn và phát hành theo cơ chế thị trường.

2. Nguyên tắc đổi mới chương trình, sách giáo khoa

a) Quán triệt đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết 29 và các nghị quyết khác của Ban chấp hành Trung ương; tuân thủ các quy định của Hiến pháp (Điều 61) và của Luật Giáo dục.

b) Kế thừa và phát huy những thành tựu và kinh nghiệm thành công của nền giáo dục Việt Nam.

c) Tham khảo, học hỏi một cách có chọn lọc và có hệ thống kinh nghiệm, thành tựu giáo dục của các nước, nhất là các nền giáo dục phát triển có điều kiện tương đồng với Việt Nam.

d) Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực để phát triển phẩm chất và năng lực người học; chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống; nâng cao năng lực ngoại ngữ, tin học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo, ý thức tự học. Chú trọng và tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

đ) Đảm bảo tiếp nối, liên thông giữa chương trình cấp học, lớp học, giữa các môn học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

e) Khuyến khích cá nhân, tổ chức tham gia biên soạn sách giáo khoa (sách in và sách điện tử) trên cơ sở chương trình giáo dục phổ thông đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, sử dụng thống nhất trong toàn quốc.

3. Nội dung đổi mới chương trình, sách giáo khoa

a) Đổi mới mục tiêu giáo dục

– Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục; chuyển từ mục tiêu tập trung vào trang bị kiến thức, kỹ năng sang mục tiêu hướng đến phát triển phẩm chất và năng lực người học, đảm bảo hài hoà giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp; tạo điều kiện để học sinh phát triển hài hoà cả thể chất và tinh thần.

– Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực thực hành và vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo, tự học và năng lực học tập suốt đời.

b) Đổi mới nội dung giáo dục

– Đảm bảo chuẩn hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế; đảm bảo tính hoàn chỉnh, linh hoạt, liên thông, thống nhất trong và giữa các cấp học; tích hợp và phân hoá hợp lý, có hiệu quả; tinh giản, thiết thực, gắn với thực tiễn, phù hợp với lứa tuổi và trình độ nhận thức của học sinh; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; đề cao yêu cầu hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Nội dung giáo dục được lựa chọn là những tri thức cơ bản, đảm bảo vừa hội nhập quốc tế, vừa gắn với thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đề cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.

– Chương trình được xây dựng thành một chỉnh thể, nhất quán từ lớp 1 đến lớp 12. Thiết kế chương trình theo hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp trung học phổ thông).

– Tích hợp cao các lĩnh vực giáo dục, các môn học ở tiểu học và trung học cơ sở để giảm tải, giảm kiến thức hàn lâm, giảm số lượng môn học bằng cách lồng ghép những nội dung gần nhau của nhiều môn học vào cùng một lĩnh vực hoặc bổ sung, phát triển môn học tích hợp đã có trong chương trình hiện hành  tạo thành môn học mới. Nội dung các môn học tích hợp được thiết kế theo hướng vẫn giữ các nội dung chính của các môn học hiện nay nhưng lựa chọn, lồng ghép, sắp xếp và bố trí các chủ đề, đề tài gần nhau của các môn học này để dễ bổ sung, làm sáng tỏ cho nhau trong quá trình dạy và học; hình thành các chủ đề dạy học liên môn. Ở cả ba cấp học đều thực hiện tích hợp trong nội bộ môn học, trong đó tích hợp cả các chủ đề liên quan đến thực tiễn đời sống.

– Phân hoá mạnh ở trung học phổ thông bằng hình thức dạy học tự chọn theo định hướng: Kết thúc cấp trung học cơ sở là học sinh đã hoàn thành giáo dục cơ bản; lên trung học phổ thông học sinh được học phân hóa mạnh gắn với định hướng nghề nghiệp. Mỗi học sinh chỉ học ít môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, còn lại tự chọn môn học và chuyên đề học tập theo sở trường và nguyện vọng của cá nhân trong giới hạn khả năng đáp ứng của nhà trường. Các chuyên đề học tập tự chọn nhằm đáp ứng hiểu biết nâng cao hoặc mở rộng kiến thức các môn học; cung cấp những hiểu biết và kĩ năng ban đầu như là nhập môn các khoa học hoặc ngành nghề; giúp học sinh có những thông tin để định hướng và tiếp cận nghề nghiệp sau trung học phổ thông. Hướng tới việc tổ chức dạy học theo tín chỉ; xét kết quả, chuyển đổi giữa các bậc học, các chương trình giáo dục bằng cách tích lũy tín chỉ.

c) Đổi mới phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức giáo dục

– Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập…

– Đa dạng hoá hình thức tổ chức học tập, đồng thời coi trọng cả dạy học trên lớp và hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Chú ý các hoạt động xã hội và tập dượt nghiên cứu khoa học của học sinh.

– Tăng cường hiệu quả của các phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ đổi mới việc lựa chọn, thiết kế nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục.

d) Đổi mới hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục

– Đánh giá chất lượng giáo dục phải đổi mới căn bản theo hướng hỗ trợ sự phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; phản ánh mức độ đạt chuẩn chương trình (của cấp học, môn học); cung cấp thông tin đúng, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh.

– Thực hiện đa dạng phương pháp và hình thức đánh giá; đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng gọn nhẹ, giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh, cung cấp dữ liệu cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

– Ngoài việc đánh giá năng lực của các cá nhân học sinh, bổ sung thêm các hình thức đánh giá chất lượng giáo dục ở cấp quốc gia, cấp địa phương và tham gia các kỳ đánh giá của quốc tế để kiến nghị các chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục.

đ) Đổi mới quản lý quá trình xây dựng và thực hiện chương trình

– Chương trình phải đảm bảo tính khả thi, linh hoạt, phù hợp với yêu cầu và sự phát triển năng lực của đội ngũ giáo viên; chuẩn hoá dần cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục của trường phổ thông.

– Nội dung giáo dục phải phù hợp với đối tượng học sinh và thời lượng dạy học: ở cấp tiểu học, học cả ngày ở trường nhưng có hướng dẫn vận dụng cho những cơ sở giáo dục chỉ có điều kiện dạy học một buổi trong ngày; ở cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông, học một buổi trong ngày nhưng có hướng dẫn vận dụng cho những cơ sở giáo dục có điều kiện dạy học hai buổi trong ngày.

– Dựa trên mục tiêu, chuẩn và nội dung chương trình thống nhất toàn quốc, đảm bảo quyền linh hoạt của các địa phương và nhà trường. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng chương trình giáo dục phổ thông trong đó có quy định chuẩn đầu ra, những nội dung cốt lõi và yêu cầu bắt buộc (phần cứng) đồng thời dành thời lượng (khoảng 20%) để các địa phương (sở giáo dục và đào tạo) bổ sung những nội dung mang tính đặc thù về lịch sử, văn hóa và kinh tế – xã hội của địa phương, các nhà trường được xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình.

e) Thực hiện chủ trương một chương trình, nhiều sách giáo khoa

– Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn, thẩm định và ban hành chương trình giáo dục phổ thông để sử dụng thống nhất trong toàn quốc.

– Dựa trên chương trình thống nhất toàn quốc, khuyến khích các tổ chức, cá nhân biên soạn nhiều bộ/cuốn sách giáo khoa khác nhau. Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành các quy định về cấu trúc và tiêu chí đánh giá sách giáo khoa, biên soạn, thẩm định sách giáo khoa; thành lập Hội đồng thẩm định và tổ chức thẩm định sách giáo khoa; ban hành quyết định công nhận các bộ/cuốn sách giáo khoa được phép lưu hành dựa trên kết quả của việc thẩm định.

– Đa dạng hoá các tài liệu dạy học; giáo viên và học sinh có thể vận dụng sách giáo khoa và tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều cách tiếp cận khác nhau để đạt được mục tiêu và chuẩn chương trình. Tổ chức nghiên cứu mô hình sách giáo khoa điện tử để từng bước biên soạn, thử nghiệm và sử dụng ở những nơi có đủ điều kiện.

4. Nhiệm vụ và giải pháp

a) Chuẩn bị điều kiện để xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa mới

– Tiếp tục việc tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm của Việt Nam về xây dựng, phát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa; tiếp tục nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế về phát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo cách tiếp cận năng lực. Pháp chế hoá các hoạt động tổ chức, chỉ đạo và giám sát, đánh giá việc thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa. Phát triển đội ngũ tác giả biên soạn chương trình và sách giáo khoa mới; tăng cường lực lượng nghiên cứu, thẩm định, đánh giá và hoàn thiện chương trình, sách giáo khoa.

– Tiếp tục triển khai các công việc đã làm trong những năm gần đây nhằm chuẩn bị cho việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau năm 2015 như:

+ Nghiên cứu chương trình và mô hình sách giáo khoa của một số nước có nền giáo dục phát triển; tổ chức cho cán bộ các vụ, viện, giảng viên các trường đại học sư phạm đi học tập, trao đổi về xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa; mời các chuyên gia nước ngoài tập huấn, bồi dưỡng, trao đổi về chương trình và sách giáo khoa…

+ Tiếp tục từng bước triển khai nhiều công việc đã và đang thực hiện bước đầu thành công trong thực tiễn nhà trường như: Triển khai thực hiện Đề án dạy học ngoại ngữ theo yêu cầu sử dụng thiết thực của người học; triển khai phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục, đảm bảo học sinh đọc, viết đúng và nhanh, không bị quên; triển khai áp dụng phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” đối với các môn khoa học tự nhiên, bảo đảm học sinh được học theo phong cách nghiên cứu khoa học qua trải nghiệm thực tế của bản thân; triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học dưới sự hướng dẫn của giáo viên, giảng viên và các nhà khoa học; đổi mới nội dung, phương pháp kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông, các kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học; tham dự các kỳ đánh giá quốc tế trên diện rộng (PISA, PASEC) theo tinh thần Nghị quyết 29; triển khai mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN), học sinh được hướng dẫn lĩnh hội kiến thức qua tự học và áp dụng kiến thức vào thực tiễn; được tự quản các hoạt động của trường, của lớp; triển khai thực hiện thí điểm phát triển kế hoạch giáo dục nhà trường, bảo đảm quyền tự chủ của nhà trường, phát huy tính sáng tạo của giáo viên và ban giám hiệu các trường trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình giáo dục…

b) Xây dựng chương trình mới

Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn, thực nghiệm, thẩm định và ban hành chương trình giáo dục phổ thông, bao gồm chương trình tổng thể và các chương trình môn học.

– Nội dung văn bản chương trình tổng thể bao gồm: Mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông và mục tiêu chương trình giáo dục của từng cấp học; những phẩm chất và năng lực chung của học sinh; chuẩn về phẩm chất và năng lực chung của học sinh đối với từng cấp học; sơ đồ quan hệ giữa phẩm chất, năng lực chung của học sinh với từng lĩnh vực giáo dục và nội dung các môn học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo; kế hoạch giáo dục phổ thông và kế hoạch giáo dục của từng cấp học; định hướng về phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo và cách thức đánh giá chất lượng giáo dục của từng cấp học; điều kiện tối thiểu của nhà trường phổ thông để thực hiện có hiệu quả chương trình mới; hướng dẫn chung về biên soạn tài liệu hướng dẫn dạy học và biên soạn sách giáo khoa; giải thích các thuật ngữ được sử dụng trong chương trình.

– Nội dung văn bản chương trình môn học bao gồm: Vị trí, đặc điểm của môn học; mục tiêu của chương trình môn học; nội dung cốt lõi, chuẩn kết quả của chương trình môn học (nội dung chuẩn đảm bảo tính khả thi, cụ thể đến từng cấp học để có thể dựa vào đó mà tổ chức dạy học, thi, kiểm tra, đánh giá); đề kiểm tra minh hoạ (cụ thể đến từng cấp lớp) để làm căn cứ tham khảo cho việc viết sách giáo khoa và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục; định hướng về phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo; cách thức đánh giá chất lượng môn học; hướng dẫn biên soạn tài liệu hướng dẫn dạy học và sách giáo khoa phù hợp với đặc điểm riêng của từng môn học.

c) Biên soạn sách giáo khoa mới

Thực hiện chủ trương một chương trình nhiều sách giáo khoa; trong đó chỉ có chương trình là mang tính pháp lý, sách giáo khoa là một tài liệu quan trọng nhưng không có tính pháp lý. Chủ trương này mang lại nhiều lợi ích:

– Nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng sách giáo khoa vì: Huy động được nhiều trí tuệ của các nhà xuất bản, các tổ chức và cá nhân có năng lực tham gia biên soạn sách giáo khoa; tạo ra nhiều nguồn thông tin đa dạng và phong phú, nhiều cách tiếp cận biên soạn sách giáo khoa; tạo cơ hội có nhiều sách giáo khoa phù hợp với từng vùng miền, đặc điểm của từng địa phương, tránh được hiện tượng độc quyền; tạo ra được sự cạnh tranh trong biên soạn, in ấn, phát hành, kinh doanh… sách giáo khoa.

– Đáp ứng nhu cầu đa dạng của người sử dụng sách giáo khoa, chủ yếu là giáo viên và học sinh. Làm thay đổi nhận thức và nâng cao năng lực của giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục về lựa chọn, sử dụng phong phú các tài liệu dạy học, phương pháp dạy học, thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục theo yêu cầu của chương trình.

Chủ trương trên được thực hiện theo phương án: Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa; đồng thời các tổ chức, cá nhân biên soạn các sách giáo khoa khác.

– Ưu điểm: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ động về thời gian và công việc trong quá trình triển khai đổi mới chương trình một cách đồng bộ, kịp thời mà vẫn phát huy được lợi ích của chủ trương nhiều sách giáo khoa nêu trên.

– Hạn chế: Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa nên có thể sẽ xuất hiện tâm lý e ngại của các tổ chức, cá nhân muốn biên soạn sách giáo khoa khác.

Biện pháp khắc phục: Tăng cường tuyên truyền giải thích để xã hội hiểu rõ sách giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn nhằm bảo đảm tính chủ động trong việc triển khai chương trình; việc có một bộ sách giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn không ảnh hưởng đến việc có các bộ sách giáo khoa khác cùng lưu hành; tất cả các bộ sách giáo khoa đều được Hội đồng quốc gia thẩm định độc lập.


Chính phủ đề xuất với Quốc hội cho triển khai theo phương án này, đồng thời xin báo cáo Quốc hội:

Trong quá trình thảo luận ở các hội nghị, hội thảo còn có hai ý kiến về biên soạn sách giáo khoa như sau:

– Ý kiến thứ nhất: Các tổ chức, cá nhân biên soạn sách giáo khoa; Bộ Giáo dục và Đào tạo không tổ chức biên soạn.

– Ý kiến thứ hai: Khuyến khích các tổ chức, cá nhân biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thẩm định chọn lấy một bộ sách giáo khoa tốt nhất.

d) Cơ sở giáo dục phổ thông tổ chức lựa chọn sách giáo khoa

– Nhà trường tổ chức cho giáo viên, đại diện phụ huynh học sinh và học sinh tìm hiểu các sách giáo khoa đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định và phê duyệt cho sử dụng;

– Các tổ, nhóm giáo viên bộ môn thảo luận và đề nghị lựa chọn bộ sách giáo khoa chính thức dùng trong nhà trường (cho cả giáo viên và học sinh);

– Nhà trường quyết định lựa chọn bộ sách giáo khoa chính thức của mỗi môn học dựa trên đề nghị của giáo viên tổ, nhóm chuyên môn, tham khảo thêm ý kiến của đại diện phụ huynh học sinh và học sinh.

Trong quá trình dạy học giáo viên và học sinh có thể tham khảo những sách giáo khoa khác.

đ) Biên soạn tài liệu hướng dẫn dạy học theo chương trình mới

– Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn, thẩm định và ban hành tài liệu hướng dẫn dạy học theo chương trình mới. Khuyến khích ngành giáo dục ở các địa phương xây dựng tài liệu hướng dẫn, hỗ trợ dạy và học đáp ứng nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của địa phương.

– Đăng tải trên Internet thiết bị dạy học kỹ thuật số, tài liệu hướng dẫn các nội dung, phương thức tổ chức giáo dục mới, ngân hàng bài giảng điện tử.

e) Đảm bảo các điều kiện thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới

– Tổ chức tập huấn giáo viên các cơ sở giáo dục phổ thông để thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới; kinh phí thực hiện nội dung này từ nguồn ngân sách các địa phương.

– Xây dựng mô hình nhà trường phổ thông theo hướng mở, khuyến khích tinh thần tự học và sáng tạo. Nhà trường cần có nhiều hình thức liên hệ, gắn bó với cuộc sống xã hội; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông; quán triệt các phương châm “dạy ít, học nhiều”; tăng cường vận dụng, tự học; khuyến khích sáng tạo… Thực hiện dân chủ trong quản lý và hoạt động của nhà trường. Điều chỉnh, bố trí, sắp xếp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện có của nhà trường; ưu tiên bố trí phòng học bộ môn, phòng thực hành, thí nghiệm; rà soát danh mục thiết bị giáo dục tối thiểu hiện hành, chỉ bổ sung những thiết bị thật sự cần thiết; đặc biệt chú trọng trang bị thiết bị giáo dục ứng dụng kỹ thuật số để nâng cao hiệu quả sử dụng và tiết kiệm chi phí.

– Xây dựng và tổ chức thực hiện hai Đề án đã nêu trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 29 một cách đồng bộ với Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

+ Đề án Bảo đảm cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông với nhiệm vụ là đầu tư chuẩn hóa cơ sở vật chất trường lớp. Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định tiêu chuẩn quốc gia và điều kiện tối thiểu của các trường phổ thông để thực hiện được chương trình giáo dục mới, địa phương tổ chức thực hiện. Ngân sách trung ương hỗ trợ những nơi còn thiếu điều kiện tối thiểu.

+ Đề án Đổi mới đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục nhằm phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tập trung vào đổi mới công tác đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm và xây dựng chương trình bồi dưỡng, đào tạo lại giáo viên phục vụ trực tiếp cho việc triển khai chương trình, sách giáo khoa mới; giao cho các cơ đào tạo sư phạm thực hiện nhiệm vụ này. Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chủ quản các trường sư phạm; sắp xếp lại hệ thống, tổ chức và phân công lại nhiệm vụ các cơ sở đào tạo sư phạm hiện nay; ban hành cơ chế, chính sách đặc thù đối với các trường, khoa sư phạm để nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo giáo viên chất lượng cao; đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, đánh giá, sử dụng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; chế độ, chính sách ưu đãi…

g) Tuyên truyền về đổi mới chương trình và sách giáo khoa

Tổ chức tuyên truyền thường xuyên chủ trương của Đảng, Nhà nước về giáo dục và các định hướng, nội dung cơ bản về đổi mới chương trình; đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền.

5. Khái toán kinh phí thực hiện Đề án

a) Nguyên tắc xây dựng dự toán

– Thực hiện chủ trương một chương trình nhiều sách giáo khoa. Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình và tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa; đồng thời các tổ chức, cá nhân biên soạn các bộ sách giáo khoa hoặc một số cuốn sách giáo khoa. Tất cả sách giáo khoa phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thẩm định.

– Sau khi bộ sách giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn được Hội đồng quốc gia thẩm định đủ điều kiện sử dụng, sẽ tổ chức bán đấu giá bản quyền cho các nhà xuất bản để phát hành bộ sách giáo khoa này, kinh phí thu được từ bán bản quyền sẽ nộp ngân sách nhà nước.

– Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các tổ chức, cá nhân tham gia biên soạn sách giáo khoa mới nhằm giảm giá thành sách giáo khoa.

– Kinh phí bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục và đổi mới đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa được bố trí ở các đề án khác theo Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 29.

b) Dự toán kinh phí

Tổng kinh phí dự kiến: 462 tỷ đồng để thực hiện các nhiệm vụ: Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ biên soạn, thẩm định chương trình, sách giáo khoa (bao gồm cả lực lượng biên soạn sách giáo khoa của các tổ chức, cá nhân đăng ký biên soạn sách giáo khoa); xây dựng, thẩm định chương trình; biên soạn bộ tài liệu hướng dẫn dạy học theo chương trình mới; thẩm định sách giáo khoa (dự kiến 04 bộ); nghiên cứu mô hình sách giáo khoa điện tử để từng bước biên soạn, thực nghiệm và sử dụng ở những nơi có đủ điều kiện; biên soạn tài liệu phục vụ tập huấn giáo viên các cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới; đánh giá, điều chỉnh, hoàn thiện chương trình; tập huấn cho đội ngũ cốt cán về quy trình, kĩ thuật tổ chức tập huấn qua Internet cho giáo viên các cơ sở giáo dục phổ thông; tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa.

6. Tổ chức thực hiện

a) Lộ trình thực hiện

– Giai đoạn 1 (01/2015 – 6/2017)

Chuẩn bị các điều kiện để xây dựng chương trình và sách giáo khoa mới; xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình mới; biên soạn bộ tài liệu hướng dẫn dạy học theo chương trình mới; Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa đồng thời các tổ chức, cá nhân biên soạn các sách giáo khoa khác; tổ chức thẩm định, phê duyệt sách giáo khoa; biên soạn tài liệu phục vụ tập huấn giáo viên các cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới; tập huấn cho đội ngũ cốt cán về quy trình, kĩ thuật tổ chức tập huấn qua Internet cho giáo viên các cơ sở giáo dục phổ thông; xây dựng kế hoạch tập huấn giáo viên các cơ sở giáo dục phổ thông để thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới; hoàn thành việc thành lập trang Thông tin điện tử Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; xây dựng Chương trình Phát thanh và Truyền hình quốc gia về đổi mới giáo dục phổ thông; tổ chức tuyên truyền về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.

– Giai đoạn 2 (7/2017 – 6/2018)

Xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện, bổ sung chế độ, chính sách liên quan đến việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới; tiếp tục biên soạn, thẩm định và phê duyệt sách giáo khoa; tiếp tục tuyên truyền về đổi mới chương trình, sách giáo khoa; thực hiện bán đấu giá bản quyền một bộ sách giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn.

– Giai đoạn 3 (7/2018 – 12/2021)

Từ năm học 2018 – 2019, triển khai áp dụng chương trình mới; tiếp tục xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện, bổ sung chế độ, chính sách liên quan đến việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới; tiếp tục biên soạn, thẩm định và phê duyệt sách giáo khoa; tiếp tục tuyên truyền về đổi mới chương trình, sách giáo khoa; đánh giá, điều chỉnh, ban hành văn bản chương trình mới.

b) Trách nhiệm của các bộ, ngành và các cơ quan

Đề án đã nêu trách nhiệm (chủ trì, phối hợp) và các nhiệm vụ cụ thể của các bộ, ngành và các cơ quan có liên quan đến chủ trương đổi mới chương trình, bao gồm: Bộ Giáo dục và Đào tạo (cơ quan chủ trì Đề án); Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính; Bộ Nội vụ; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các cơ quan quản lý giáo dục địa phương và các cơ sở giáo dục.

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Chương trình khung, Giáo dục phổ thông

34 phản hồi »

  1. Hôm nay, tôi sub cho thầy dạy Sử lớp 8. Thử nhìn vào ví dụ SGK Sử lớp 8 xem sao. Đó là cuốn “The American Journey, cho đến bắt đầu Thế chiến thứ nhất” được các công ty McGaw-Hill xuất bản năm 2006, có 7 tác giả viết, 11 cố vấn về học trình, 5 cố vấn về văn, 8 giáo viên duyệt soát lại.

    Ngoài phần Mở đầu (A Changing World) và Kết luận (Connections to Today), quyển sách gồm 17 chương, chia làm 6 nhóm (unit), tổng cộng 812 trang, không kể phụ lục.

    Để bắt đầu, sách nói về những cuộc thánh chiến thời Trung cổ 1000s – 1300s đã tạo ra những nhà thám hiểm tiên phong, như Marco Polo (1271) sang Trung Hoa, Bartolomeu Dias (1488) xuống Nam Phi châu, Christopher Columbus (1492) sang Mỹ châu, Hernan Cortes (1519) chiếm Mexico, và Magellan (1519) đi vòng quanh thế giới. Lúc bấy giờ, vào đời nhà Trần và nhà Lê bên ta.

    Ngoài ra, thì … Vẫn thế

    Sáng thức dậy, chim trời vẫn hót,
    Lan vẫn hồng, hương ngát bên đồi.
    Vào lớp thấy em ngồi chăm chỉ,
    Ra sân nghe ríu rít tiếng cười.

    Nhớ … em còn, hay đã … em quên?
    Dòng sông ấy, nước vẫn chảy hiền.
    Nơi chúng mình thường ra đùa giỡn:
    Vẫn nước đầy, vẫn cảnh thần tiên.

    Số lượt thích

  2. – Ở trên là:

    “Nhìn chung, sách giáo khoa đã cụ thể hoá được các yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng, đáp ứng cơ bản yêu cầu về phương pháp quy định trong chương trình; đảm bảo tính chính xác, khoa học; diễn đạt rõ ràng, chuẩn mực về ngôn ngữ.

    “Đã có những chuyển biến bước đầu về phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục.

    “Về cơ bản, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục đã và đang đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa.”

    – Và ở dưới là:

    “Nhìn chung, chương trình còn nghiêng về trang bị kiến thức lý thuyết; chưa coi trọng kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng sáng tạo, tự học của học sinh… Chất lượng giáo dục phổ thông đại trà còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới và so với một số nước tiên tiến.”

    “Một bộ phận giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế về năng lực sư phạm, năng lực quản lý; cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục chưa bảo đảm việc triển khai chương trình có hiệu quả.”

    – Tạm kết luận ban đầu:

    Một, “Á Đù” đây là tư duy của những kẻ sẽ trực tiếp điều hành và tham gia “trận đánh lớn” sắp tới?

    Hai, xin “lạy ông cơ chế, lạy bà tư duy” (Thơ Nguyễn Duy)

    Ba, hãy chỉ ra diểm giống và khác nhau giữa “trò hề” và “trò lố” của “trận đánh lớn” qua văn bản này? Có nên tin “mấy cha nội” này không?

    Cuối cùng, “càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều (thơ Cụ Nguyễn Du)

    Số lượt thích

    • Ngày tươi sáng, tôi vào trang HTN và đọc được cái nick name Hết Buồn Rồi thì chắc là rất vui.
      Bạn đọc một văn kiện và phân tích nó? Thật ngưỡng mộ bạn vì tôi đã mất đi hứng thú này. Nhưng đọc các Comment là việc tôi vẫn làm. Bạn có kỹ năng phân tích bài viết rất sắc sảo. Giỏi như người bóc cái vỏ bánh chưng trong ngày Tết và cắt lát nó ra để ai cũng thấy cái nhân trong đó là những gì. hì hì 😀
      Một bài dài đọc không ngại. Nếu chưa hiểu thì đọc lại và cái hay dần dần được phát lộ. Đọc rồi đêm chưa ngủ thì nghĩ tới một ý vào đó còn nhớ và lại thấy thêm phần thú vị. Đọc một văn kiện do một người giỏi văn chấp bút chắc gì đã hấp dẫn hơn người viết thư thuê trước cửa Bưu Điện Trung Tâm thành phố Sài Gòn?
      Một văn kiện rõ ràng như bộ luật Giao Thông. Ai chạy xe cũng phải học để lấy bằng nhưng nó không đi vào thực tiễn cuộc sống phỏng có giá trị gì không?
      Tôi cũng không hơi đâu bàn cách thay đổi thời gian sáng của đèn tín hiệu xanh, đỏ, vàng nhằm “cải thiện” tình trang Giao Thông. Cải thiện làm sao được khi luật GT đang được thực hiện như ở Việt nam hiện nay?

      Số lượt thích

  3. Dài dòng, đầy mâu thuẫn, giáo điều!
    SGK mà biên soạn theo kiểu hành văn này thì sẽ tốn kém, tốn thời gian, sẽ cho ra lò những con người nói nhiều, làm ít, nói mà không hiểu những gì đang nói, tóm lại là giáo điều!

    Đề nghị bác bộ trưởng bộ GD nói với cấp dưới thu gọn lại ý chính trong một tờ A4, chữ 12, không có dính đến tuyên truyền chủ trương của Đảng, vì đây không phải là ….trường ĐẢNG!

    Mà sao lại có vụ bán đấu giá bản quyền bộ sách do bộ GD biên soạn? Chất lượng soạn văn bản thế này mà được đem ra đấu giá thì ai đấu? Lại mấy NXB của nhà nước lại phải mua lại bản quyền mới được in ư? Tiền nhà nước chạy vòng kiểu này chỉ làm mấy con cò béo vì tranh thủ nước đục thôi. Rồi giá thành SGK lại còn đắt hơn trước ấy chứ.

    Các bác các bạn nào bấm LIKE đề án này có thể giải thích giùm mình được không nhỉ?

    Số lượt thích

  4. Chính phủ làm bao giờ cũng tốn kém hơn tư nhân. Thường tình là như vậy, nếu thế thì là chúng ta đang đi ngược. Trừ khi là chính phủ có lối định hướng riêng.

    Hãy để cho tư nhân soạn thảo, xuất bản. Bộ GD mua lại cho học sinh dùng, sẽ tiết kiệm được ít nhất 50% ngân sách. (không phải kinh tế gia, chỉ đoán vậy)

    Tôi ngạc nhiên: tại sao TH biết, NQ biết, RLB biết mà Bộ GD không biết! Còn namviet thì sao?

    Số lượt thích

    • Đội ơn bác Phan Như Huyên đã nhắc tên :D. Cảm thấy Hân Hoan Hạnh Phúc lắm bác Phan Như Huyên ơi. Bác Phan Như Huyên, ban Biển Xanh…(xin lỗi gọi tên húy của Cô Giáo Thanh Hải) ở nước ngoài. Đêm qua nằm chưa ngủ và tự hỏi “Không biết người ở xa có biết các học sinh yêu quý của chúng ta….đi học như thế nào không nhỉ?”. Đi học là đông từ đầu tiên của việc học ạ. Phải biết đi rồi mới biết học ạ.
      Một ngày nào đó có khi ta sẽ bàn đến việc Đi Học Thế Nào :D.
      Viết đến đây thấy phải đôi ơn X10 lần ban biên tập Học Thế Nào chỉ nhắc nhở nếu sai sót. Xin lỗi và cảm ơn trước 😦

      Số lượt thích

    • Đúng ra là bộ GD biết hết vì cũng toàn cán bộ được đào tạo ở nước ngoài, chỉ có điều thay vì bộ GD ra chủ trương, thì Đảng ra chủ trương. Thành ra bộ GD hết nhiệm vụ, đành nghĩ ra việc soạn sách, rồi bán đấu giá, rồi lại mua lại sách từ các NXB đã mua bản quyền từ bộ, rồi bán lại cho học sinh. Vậy em cũng tự hỏi là ai được lợi, ai bị thiệt? Có phải thiệt nhất vẫn là học sinh và phụ huynh, hay nói rộng ra thì là nền GD VN.

      Số lượt thích

    • Khủng hoảng GD thì chẳng ai được lợi, mà cả nước bị thiệt. Đừng hỏi lỗi tại ai? Ai cũng có lỗi, nhưng tôi thấy ba lỗi lớn:
      1.Sự can thiệp của các cường quốc,
      2.Lãnh đạo của ta không đoàn kết,
      3.Lãnh đạo ta không có người tài đức, hoặc có mà hèn, không dám đứng lên lãnh đạo.

      Ngày xưa, khi sinh hoạt, chúng tôi thường hát bài sau đây, nay thấy hợp hoàn cảnh:
      “Đừng mong ai cho ngày hòa bình,/
      Đừng mong ai cho mình tấm áo,/
      Đừng mong ai cho mình hạt gạo,/
      Vì/ người nào/ thương ta cho bằng ta đâu!/

      Đừng mong ai/ đừng tin ai/
      Anh/ chị này/ đừng mong chờ nữa/
      Bằng tay ta/ bằng tim ta/
      Ta/ xây lại/ căn nhà của ta.

      Đường/ ta đi tuy nhiều nhọc nhằn/
      Niềm/ tin ta/ biến thành khí giới/
      Thì/ gian nan/ sẽ thành nụ cười/
      Ngày/ một ngày/ vinh quang không còn xa đâu/
      Ngày/ một ngày/ vinh quang không còn xa đâu …”

      Số lượt thích

      • Hôm nay vào trang Học Thế Nào và thấy vẫn như hôm qua.
        Đọc bài thơ của Bác Phan Như Huyên (Đoán bác từ Hoa Kỳ).Bỗng nhiên muốn hỏi Bác câu hỏi (vừa là đánh đố). “Khi nào người ta ….nói Thật”. Biết về điều này rất bổ ích cho người muốn học tập ạ!

        Số lượt thích

        • Namviet đoán đúng, tôi sang Mỹ, vào Hè 75, khi đang trên đường về nhà. Lúc ấy, tôi không hề có ý nghĩ rằng mình sẽ đi đâu. Trên danh nghĩa, tôi vẫn là “ngụy.” Chính trị là như thế. Tôi không hề thích chính trị, vì thường, chính trị là giả dối, là hai mặt, mặc dù cũng có lý do để biện minh cho nó.

          Làm GD thì thật thà hơn. Nhưng khi ông thầy chạy chọt hay luồn cúi để lấy điểm, ta bảo rằng: ông thầy đó politic quá. Có những thầy thì lại né, né làm cái này, né nói cái kia. Tại vì sợ liên lụy, thôi thì im đi cho rồi, ta gọi đó là “nín thở qua sông.”

          Tôi biết namviet cũng có giải đáp cho những câu hỏi này:
          Khi nào thì người ta dám nói sự thật?
          Khi nào thì người ta thích nói sự thật?
          Khi nào thì người ta phải nói sự thật?
          Khi nào thì người ta không nói sự thật?
          Và khi nào thì người ta đành nói sự thật?

          Thử hỏi, trên đời này có cái gì là “thật”? Khi mà của cải, danh vọng, cả đến cái thân này cũng là hư không, duy có một điều mà ai cũng trân quý… Một đệ tử hỏi thầy mình: Con chó có phật tính không? Ông thầy không trả lời có hay không, mà tặng cho đệ tử mình chữ “vô.” Chữ đó có nghĩa là hư vô, hay vô thường cũng vậy, nhớ thế thôi, bạn nhé.

          Số lượt thích

        • Cảm ơn bác Phan Như Huyên rất nhiều. Lần trước bác đã cho “Công- Phản- Hòa” ( tha hồ nhấm nháp để cảm nhân hương vị). Hôm qua là thứ Bảy, hôm nay “….Nhật” cũng ngày nghỉ. Cháu biết vậy những vẫn vào ra HTN liên tục là….lãi to với bài viết của Bác. Thật thú vị vì cách trả lời bằng hỏi của bác. Cháu thấy bác là người Thầy thật tuyệt vời. Cảm ơn Bác đã mang niềm vui cho cháu và chắc có cả những ai vào đây đọc được những dòng Bác viết.

          Số lượt thích

      • Đừng cảm ơn tôi, cảm ơn HTN!

        Số lượt thích

        • Vâng ạ!
          Thế thì cháu thay câu cảm ơn bằng câu. “Cháu cảm thấy điều bác chia sẻ trên là điều thật tốt đẹp với cháu”. Vậy câu cảm ơn trên cháu đã thay thế rồi ạ.
          Cháu rất thích những cái hình, nhưng hình tròn cháu thích nhất. Về con số cháu cũng rất thích số không và nghĩ nhiều nó. Ngày còn đi học cháu khoái cô giáo cho điểm O môn Văn hơn là điểm một(Cháu cũng tự thấy lạ). Hồi đi học cứ làm bài kiểm tra Văn là lũ HS chúng cháu gấp cái lề thật dài để bài viết tính được nhiều trang giấy. Không hiểu gì, không biết gì nhưng phải phân tích hoặc nghị luận điều không biết gì (cũng không hiểu đó là cái chi chi) về thơ của Hoàng Trung Thông. Không cảm thấy, không hiểu nhưng phải viết về điều đó thì….ôi thôi. Thà O điểm còn hơn.
          Phép “Công Phản Hòa” dùng để làm Văn. Nếu không làm Văn có thể được ứng dụng vào đời sống. Dùng trong giao tiếp cũng rất thú vị ạ. Đó là phép giữ gìn Hạnh Phúc Gia Đình nữa.
          Cháu thích các số 0, thích hình tròn. Cũng được nghe câu nói nhiều lần và câu nói được nhắc đi nhắc lại “Sắc sắc không không” từ trên sân khấu Chèo, hay trong nhà Chùa. Đã có lần cháu trèo lên đỉnh núi Yên Tử để cảm nhận vị Thánh Trần Nhân Tông (Tổ Sư phái thiền Trúc Lâm Yên Tử).
          Một loạt hình ảnh dữ liệu thông tin như vậy đổ về. Hóa ra cách đếm nhẩm để chữa mất ngủ không hay bằng cách dùng thời gian chưa ngủ để nghĩ về….chữ “VÔ”. Chữ “vô” để hiểu cũng khó. Đưa chữ “vô” vào thực tế quả là khó hơn không biết ngần nào.
          Cháu cảm thấy chư “vô” bác cho hôm qua rất nhiều hữu ích. Vậy là chữ đấy chưa chắc là chư như người ta có lúc hiểu 😀 . Chữ vô thật kỳ diệu và biến hóa.

          Số lượt thích

  5. “Trừ khi là chính phủ có lối định hướng riêng.” Ngoại lệ bao giờ cũng hiếm. Kính bác chỉ dùng mười từ mà được giá cao nhất.
    Cái lối đấy là cái lối nào? Tưởng tượng người trả lời sẽ…..hừm! hừm! Mất trật tự! Nhiễu sự điều bí mật của ta. Ha! Ha! :v :v

    Số lượt thích

  6. Trường học (nơi có tập thể các Thầy Cố Giáo) nên là nơi biên soạn sách. Đây cũng sẽ là nơi soạn trương trình, giáo án giảng dạy. Người ta chỉ có thể dạy điều gì người ta biết, cho đối tượng muốn tìm hiểu về điều đó. Không có gì khổ bằng việc các thầy, cô giáo được đào tạo chuyên môn dạy tiếng Nga. Thầy cô “được phân công” điều động về trường học. Thời gian trôi đi, tạm ổn định nơi làm việc, quen với đồng nghiệp, học trò thì có kế hoạch chuyển đổi sang dạy….Tiếng Anh. Tất nhiên với người có lý luận sắc bén, họ sẽ nói “Các Thầy, Cô là những người có chuyên môn được đào tạo dạy ….ngoại ngữ”. Số đông Thầy, Cô đều đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi phù hợp tình hình mới. Nếu ai không thích ứng được? Điều này có thể là do kém năng lực, kém chuyên môn.
    Rất có thể có Thầy, Cô yêu nghề sẽ nghỉ ở nhà để nghiên cứu tiếng Nga, văn học Nga trong thời gia rỗi rãi ( thời các Thầy các cô hay nói câu “Em mất dạy rồi”). Biết đâu mai ngày tiếng Nga lại cần cho nhu cầu đào tạo con người mới…. Điều này quả thật không dám đoán. Đoán trúng vẫn còn sớm mà không trúng là định hướng trật lất.

    Số lượt thích

  7. Các bậc cha mẹ ở Việt nam nên có sẵn “Đề Án Đổi Mới Cách Dạy Con Đầu Lòng. Nhằm chuẩn bị cho con khi chào đời”. Thật không có gì tốt hơn đây là lúc thêm vào bớt ra lượng kiến thức đã đưa vào, trót đưa vào, chưa đưa vào. Bậc làm Cha, Mẹ hay chuẩn bị làm Cha Mẹ hơn lúc nào hết …Đây là thời điểm càng cần học.
    Hãy quan sát những loài động vật như…. mèo mẹ và đàn con. Đàn già con được mẹ dắt đi kiếm ăn lúc gà mới nở v.v.v Chưa có dịp quan sát gà trống nuôi con. Thời đại Internet nên thông tin sống động bằng hình thật dễ tiếp cận. Rất khác thời tin tức bên ngoài truyền tải qua Radio. Nghe đài? Có đài được nghe, có đài không được phép nghe. Vệc phân tích thông tin thật khó chính xác. Học cũng là một việc tiếp thu thông tin từ bên ngoài vào để lưu lại dưới trạng thái nhớ. Nhớ để biết điều gì là đúng, là tốt nên làm và điều gì không tốt, nguy hiểm, cạm bẫy v.v.. để tránh xa. Con đến tuổi nào đó chúng phải học để biết đâu là lửa, đâu là điện, đâu là hồ nước, vực sâu v.v. để tránh xa. Cũng không thể cấm trẻ không cho chúng biết, tìm hiểu, tiếp cận những thứ nguy hiểm đó bằng cách….cấm.
    Vài dòng của một người bỏ học nửa chừng sinh ra, sống và học tại nước Việt Nam DCCH và CHXHCN Việt Nam mạo muội góp vào diễn đàn. Rất mong nhận được sự góp ý để… bỏ điều sai, mài ý điều đúng làm lương thực nuôi tinh thần. 😀
    Xin cảm ơn các bậc tiền bối trên trang HTN.

    Số lượt thích

    • Ôi, bác Nhật Quang, em thấy vụ quan sát những loài động vật để con người tập làm cha làm mẹ là hơi có vấn đề đấy ạ. Vì trong thế giới động vật, ngoài những điều dễ thương cũng có những điều ….đúng là rất …động vật. Nghĩa là mang bản năng động vật, quan sát xong là phát hãi. Hồi năm 1990 chúng em học cấp 3 đến nhà cô bạn thấy đàn mèo có hành vi ….khác với người, thắc mắc thì nghe nó kể chuyện mà ngất xỉu luôn. Thành ra con người là động vật bậc cao, không chỉ giống động vật ở việc kiếm ăn chăm con, mà còn nhiều hơn thế nữa ạ.
      Theo cá nhân em thì ở thời đại Internet chúng ta có thể Học qua việc tiếp cận với các nền văn hoá khác, các dân tộc khác. Chỉ khi ta mở rộng lòng, tiếp thu cái hay cái mới thì mới có tầm nhìn rộng hơn và ta bớt đi những suy nghĩ còn hẹp hòi, nông cạn. Mà thế giới kiến thức thì bao la nên ta có thể Học bất kỳ lúc nào ta muốn. Còn Đề Án cách dạy con đầu lòng như Bác nói, thì em thiết nghĩ nó không thể cứng nhắc như vậy. Với ai cũng thế thôi, cái gì là đầu tiên cũng đầy bỡ ngỡ. Đứa con đầu lòng của mình không thể giống với em bé được minh hoạ trong sách Cẩm nang nuôi dạy trẻ, cũng chẳng thể giống với con bên nhà hàng xóm được. Thành ra, đối với một người có tâm lý bình thường, thì khi sinh con sẽ đồng nghĩa là lên chức cha mẹ. Từng ngày từng giờ, con lớn thì cha mẹ cũng trưởng thành ra. Tất nhiên quá trình “trưởng thành” này rất gian nan, có lúc cũng bế tắc. Nhưng với sự chọn lọc thông tin như Bác nói thì sẽ thu lượm được một số kinh nghiệm hay mà có thể thử nghiệm trong việc nuôi dạy con đầu lòng. Quan trọng nhất vẫn là lắng nghe xem con mình nó phản ứng thế nào với những việc mình làm. Đối với học sinh thì giáo viên cũng nên làm như vậy, Bác nhỉ?!

      Số lượt thích

      • Thật sung sướng vì được giải tỏa điều nặng trĩu trong lòng. (Nghĩ rằng ý kiến đưa ra có điều gì đó….không phù hợp). Thấy ngộ ra HTN nghỉ ngày thứ Bảy, Chủ Nhật? Vậy là mình chưa phạm quy quá mức độ.
        Cảm ơn HTN, bạn Thanh Hải đã biết đến ý kiến của tôi và đã đưa lên trên này. Đúng là những điều cảm thấy, hiểu nhưng để người khác hiểu còn phải có một khả năng nhất đinh về dùng từ. Để người khác hiểu đúng. Khả năng viết rõ ý của tôi thật là hạn chế. Không trao đổi sẽ không biết rõ hơn khiếm khuyết của mình.
        Cái ý quan sát động vật nuôi con. Tôi muốn đề cập về bản năng, tạo hóa (thiên chức) trao cho những cá thể cái. Con cái thực hiện việc sinh sản, bảo vệ, chọn lựa và dạy các kỹ năng tồn tại cho cá thể mới sinh tới lúc chúng có thể sống độc lập.
        Loài Người và động vật cũng có một số trường hợp khác thường. Chim Chích ra sức mớm mồi nuôi chin Tu Hú phá tổ, phá trứng của mình. Nếu chim Chích có ít trí khôn nó có thể nhận một số chỉ dấu ở loài Tu Hú non. Tu Hú non luôn kêu gào đòi ăn (có thể sánh với kinh phí của con người) nó ngầm phá trứng và chin Chích non. ( trong mắt chim Chích. Cái trứng nó đẻ ra phải đẹp, cần ấp cho nở).
        Cô giáo lớp tôi kể cho cả lớp nghe về đêm bộ đội và dân thường bí mật rút khỏi Hà nội. Đêm 17-2-1947) trên cầu Long Biên quân Pháp canh gác Gầm cầu Long Biên là nơi đoàn dân quân lặng lẽ, rón rén, thở khẽ. Tất cả đi theo người dẫn đường lần mò trong đêm. Đứa bé trong tay bà mẹ ọ ẹ tỉnh giấc và có thể cất tiếng khóc…..ghê quá không thể kể tiếp được. Nỗi ghê sợ có thể giống hay hơn …… (Đoán bạn Thanh Hải thấy ghê khi nghĩ về loài mèo ăn thịt con mình sinh ra).
        Loài vật là động vật do tạo hóa sinh ra giống như loài Người cũng là do tạo hóa sinh ra. Loài người biết truyền dạy cho thế hệ sau qua tiếng nói và chữ viết (dạng Văn). Loài Người là động vật Nhân Văn nhất Địa Cầu (loài Người tự nhận thế). Nếu dùng Giáo Dục để thế hệ sau tốt hơn thế hệ trước? Nhưng loài Người cũng có tính Tham vì thế lại ứng dụng giáo dục nhau làm những điều nghịch với Đạo Đức. Loài Người trở nên nguy hiểm hơn khi dùng trí tuệ có được để tàn hại nhau. Còn nham hiểm hơn loài…. Tu Hú.
        Nếu được ước? Được chia sẻ? Tôi sẽ ước, sẽ chia sẻ để làm sao cho chin Chích biết đâu là trứng chim Chích và đâu là trứng Tu Hú
        Xem cái này thấy giận chim Chích mẹ không biết cái trứng Tu Hú để vứt nó đi. Giá mà có ai chỉ cho nó hay lấy bút đánh dấu cho nó phân biệt. ( Tôi biết mình lẩm cẩm nên muốn điều không thể 😀 )

        Số lượt thích

        • Cũng nên trách cả mẹ tu hú, nếu được bác NQ nhỉ, vì đã đi đẻ nhờ lại còn gieo tai hoạ cho loài chim khác.
          http://www.khoahoc.com.vn/khampha/the-gioi-dong-vat/56672_chim-tu-hu-ba-me-bac-tinh-va-dua-con-sat-thu.aspx
          Một để án đổi mới chương trình GD nói chung và SGK nói riêng cũng phải lường trước những bất cập, tính đến những rủi ro có thể gặp như mấy nhà chim chích. Giống như nguồn tài chính không được đầu tư đúng nơi, đúng chỗ, đúng đối tượng, sẽ thay vì học sinh được lợi thì những kẻ buôn đi bán lại được lời. Đến khi mọi người nhìn ra hậu quả thì quá muộn rồi. Tiền mất, tật mang! Do vậy nên lãnh đạo bộ GD phải tỉnh táo, không thể đưa ra những đề án tốn kém mà về thực chất vẫn thế.

          Số lượt thích

        • Ai ác hơn ai?

          Chim chích chòe
          Nó kêu chích chòe
          Chim chích chòe
          Nó kêu chích chòe…

          Nó đậu cành chanh,
          Nó đậu cành chanh,
          Nó kêu chích chòe
          Nó kêu chích chòe

          Chim chích chòe
          Nó kêu chích chòe
          Tôi ném hòn sỏi
          Lăn cổ xuống ao.
          Nó kêu chích chòe,
          Nó kêu chích chòe.

          Đem về
          Vừa xáo vừa xào
          Được ba bát đầy
          Là được ba bát đầy.

          Chim chích chòe
          Nó kêu chích chòe
          (Ông thầy ăn một, này
          Bà cốt ăn hai, này)
          Cái đầu cái tai
          Đem về biếu chúa
          Chúa hỏi chim gì?
          Là chim chích chòe.

          Từ đầu lịch sử đến giờ, Thú giết Người hay Người giết Thú nhiều hơn?
          Cũng từ đầu lịch sử đến giờ, Thú giết Người hay Người giết Người nhiều hơn?

          Nếu thiên đình mà có tòa án, và nếu con thú mà có đủ tiền để mướn luật sư, thì có lẽ loài người đã bị tử hình chết hết bảy đời rồi!

          Số lượt thích

        • “Chê-trách” Khi còn nhỏ tuổi, tôi thường không muốn nhận điều này. Nhưng ngẫm lại thấy Chê-Trách (không phải quát tháo) đúng với chất giọng…êm ái là để dành cho đối tượng mình yêu thương.
          Kẻ trộm gà không vì bị người mất chê (thận chí rủa sả rất độc địa) mà từ bỏ gian tâm.
          Được cho (ban cho)chỉ một lời phê bình đúng để nhớ lấy. Từ đó tự rút kinh nghiệm đó nên coi là đặc ân. Thứ này bây giờ rất hiếm vì nó đồng nghĩa là một lời nói thật từ một bậc Thầy.
          Không ai muốn dùng lời chê trách để nhằm thay đổi hành vi của phiến quân IS. Nếu họ muốn dùng lời chê trách để chăn hành vi đó ? Lên án hành động như vậy tôi hiểu là người ta muốn biểu thị thái độ không đồng tình. Nhưng mà chưa chắc đã đúng thế . Trong đám đông lên án đó, không ai dám chắc chắn không có phiến quân (có thể là thủ lĩnh) ẩn náu. Dã tâm và lời nói rất khác nhau.
          Bao giờ có dịp tôi mong được luận bàn cách nhận ra người có tâm khác với những lời phát ngôn. 😀

          Số lượt thích

        • Bác Phan Như Huyên Kính mến!
          Những nhà triết học (Một tầng lớp người có trí thông minh và rất giỏi lý luận) nghĩ ra câu nói “Nếu không biết là không có tội”. Nhưng cháu chưa nghe, hay đọc được đã có ở đâu câu nào có câu “Nếu biết, nhưng giả vờ không biết” thì tội ở mức nào ạ.

          Số lượt thích

        • Đọc bài Đồng Dao xưa cháu thấy các “Cụ trẻ” ngày xưa được học mọi nơi thật là sướng. Đọ bài đó để thư xem “cụ” nào có trí nhớ hơn “cụ” nào. Trong bài Đông Dao có đầy đủ Văn – Sử – Địa – Sinh Vật Học- Vật Lý- Môi Trường- Toán Học- Xã Hội Học- Chính Trị Học- Đạo Đức và có lẽ còn nhiều hơn nữa (mong được đọc bài của Bác Phan Như Huyên và các bạn khác). Phải chăng đây là cách học TÍCH HỢP Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo nước CHXHCN Việt Nam đã khai quật được?

          Số lượt thích

  8. Hôm nay vào tran Học Thế Nào và thấy vẫn như hôm qua. :v
    Đọc bài thơ của Bác Phan Như Huyên (Đoán từ Hoa Kỳ). Bông muốn hỏi Bác (vừa là đánh đố). “Khi nào người ta ….nói Thật”. Biết về điều này rất bổ ích cho học tập ạ!

    Số lượt thích

  9. Mình đã đi xa nội dung của Đề án, chỉ tại con chim Tu hú. Cái cụm từ “không biết không tội” là cụm từ của nhà đạo, luật lệ của Xã hội không cho phép mình không biết, NQ ạ. HTN đã có công tóm tắt Đề án, nhưng vẫn còn dài. Đề nghị HTN tóm tắt thêm lần nữa để cái điều học hỏi được cụ thể hơn. (nói cách khác, là hấp dẫn hơn … Tu hú)

    Số lượt thích

    • “a) Quán triệt đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết 29 và các nghị quyết khác của Ban chấp hành Trung ương; tuân thủ các quy định của Hiến pháp (Điều 61) và của Luật Giáo dục.”
      Đọc kỹ cái này và thấy tắc.
      Theo lệ từ xưa. Người Thầy chỉ dạy những điều gì người Thầy đó biết, hiểu và tìm hết tâm trí cách giảng giải truyền đạt lại cho người học hiểu được điều đó. Dạy một điều còn mù mờ. Không giải thích được điều dạy cho học trò và thâm trí không dạy trong giờ học nhưng vẫn kiểm tra và cho phép sử dụng quyền năng để đánh giá học trò theo ý chủ quan.
      Điều đó sảy ra nhất định là phản lại nền Giao Dục thật sự.
      Người Thầy sẽ được học trò kính trọng nếu dám dạy, dám nói về sự thật. Nói về một sự thật và nhất định không nói khác về điều đó.
      Theo nguyên tắc đó trường học sẽ buộc phải trả lương cao và tuyển người giỏi làm Thầy. Nội dung GK phải là sự thật và sẽ được Thầy Trò tự do bàn luận về nội dung SGK để quyết định có tiếp thu nội dung đó hay không.
      Vài điều suy nghĩ chủ quan ạ. 😀

      Số lượt thích

    • SGK tầm vóc

      Hôm qua em đi học,
      Em hỏi mẹ: học là gì?
      Mẹ bảo: học là mở,
      Mở cổng trường, mở cửa lớp,
      Mở trí tâm mà thấm nhập
      Những cái hay, cái đẹp ở đời.

      Vào lớp học em lại hỏi:
      Học là gì, hả cô?
      Cô trả lời: học là theo,
      Đứng theo, ngồi theo, nói theo …
      Cứ làm theo những điều hay lẽ phải,
      Một ngày kia, em sẽ lớn thành người.

      Ra sân chơi, em lại hỏi:
      Thưa thầy, học là gì?
      Thầy đứng lại chau mày:
      Học là tìm con ạ!
      Tìm những gì con thích,
      Tìm những gì làm cho mọi người vui.

      Về đến nhà, em lại hỏi:
      Bố ơi, học là gì?
      Học là làm việc, mày hỏi lạ!
      Cứ lêu lổng chẳng có ích chi đâu,
      Càng làm, con càng biết, làm sao cho tốt thêm,
      Càng làm, con càng thấy, việc làm là hạnh phúc.

      Tối đến, em hỏi bà:
      Bà ơi, học là gì hả bà?
      -Lại đây bà ôm nào, học là tập sống.
      Sống như người chưa từng được sống,
      Sống mà biết rằng: mình đang sống,
      Bà cháu mình đang sống, chính là đang học vậy.

      Số lượt thích

  10. Trong một buổi họp lớp thường niên. Có một cậu bỏ học từ năm lớp Tám nhưng vẫn tham gia nhóm họp lớp. Cậu cười “toe toét” và tâm sự: Hồi đó trong giờ học, mấy đứa bọn tớ toàn….đánh bài Tây ăn tiền. Cậu quyết định bỏ học, ông bố có vẻ xuôi xuôi. Nhưng ông vẫn muốn vớt vát giữ lấy một cơ hội. Thời gian năm 1979 trước cải cách GD. Học trò chỉ cần cố một năm nữa là có thể có tấm bằng lớp 10 để dễ xin việc. Bố cậu nhờ người em họ (giáo viên giỏi tốt nghiệp trường Sư Phạn Bắc Thái) khuyên bảo. Mục đích giúp cậu nghĩ lại. Chán học (có thể là lười) cậu phá bĩnh bằng cách hỏi ông chú họ “Học xong (ý hết lớp10 tốt nghiệp cấp 3) để làm gì?
    Thời đó chưa tới thời điểm khủng hoảng Giáo Dục bộc lộ và được công nhận (Phải sáu năm sau 1985). Nhìn bộ mặt không có vẻ gì ân hận trong buổi họp mặt. Thấy thật là không phù hợp tí nào. H cậu lớp trưởng học giỏi nhất lớp đang định cư tại Czech republic cười cười trong buổi họp. Hồi đó tớ giúp tất cả các bạn chúng mình giải các bài toán trong giờ kiểm tra. Tại Czech republic cậu công chứng cho cô bạn cùng lớp đang định cư tại Đức, một số giấy tờ (việc tự nguyện của xã hội Tây Âu) và lại gặp nhau trong buổi họp mặt.
    Khôn, dại, đúng, sai? Chẳng ai biết trước thế nào. Chắc phải đợi ngấp nghé đoạn cuối của cuộc đời. Có lẽ lúc đó người ta mở ống xem có những gì tích cóp trong cuộc đời và kiểm kê.
    Người có tuổi hay tính chuyện chia tài sản cho hậu sinh là vậy chăng? Chắc hẳn trong đó là nhưng gì đẹp nhất hay quý nhất. Chẳng mấy ai tích cóp những vật họ thấy vô giá trị.
    Được nghe chuyện người có tuổi là một điều thú vị dù họ có học ngành Sư Phạm hay không.

    Số lượt thích

  11. Nếu coi sgk là phương cách tốt đưa tinh hoa nhân loại vào giáo dục trong lúc năng lực và động lực “chợ cóc” như thế này thì nên tạm dừng đề án. Cho mua,nhập khẩu, phát hành vài chục bộ đầy đủ sgk các nước quanh ta và các nước (đặc sắc về văn hoá, văn minh) dùng tiếng mẹ đẻ 6-10 thứ tiếng thông dụng nhất thế giới để làm tài liệu tham khảo. Nhà nước nên tài trọ hoặc đầu tư nhằm làm cho giá mua được với tận người nghèo. Cũng nên phản hành cả bản dịch ra tiếng Việt.
    Sau một thời gian, từ chỗ lấy ý kiến rộng rãi toàn dân, hình thành nhóm soạn thảo được tuyển chọn theo phương pháp “dân chủ trực tiếp” đảm nhiệm soạn ra các bộ sgk mới được tích hợp tinh hoa trong và ngoài nước. Dự thảo các bộ sách này phải “trưng cầu dân ý” và tất nhiên nhà nước và nhà xuất bản phải lo vấn đề bản quyền nếu soạn giả và người dân muốn đưa bài từ tài liệu tham khảo vào. Nhà nước tất nhiên cũng dựa vào luật lệ và “triết lý gd” thứ thiệt nếu có được kịp thời để bảo vệ “bản sắc” tốt kể cả kề thừa đáng kể cách sách gk cũ.

    Số lượt thích

    • XD xin đính chính: tài trọ = tài trợ; phản hành = phát hành; cách sgk cũ = các…

      Số lượt thích

    • Tôi thông cảm với ý kiến của bạn Xuân Dương với tư cách phía người bỏ tiền đi học. Là người phải bỏ tiền gửi con đi du học còn khoái hơn nữa. Mất tiền lo lắng vì con phải xa nhà. Lòng cha mẹ nào không nhớ nhung và đầy lo lắng (bớt lo hơn cho con học ở nhà dù không đưa đón được)?. Du học tại nhà, với chất lượng ngoại, chi phí như giá mua hàng giả ai không thích?
      Giáo dục là vô hình. Không thể cân, đong, đo đếm để so sánh. Để có thể chứng minh ngay lập tức sự hơn, kém, tính ưu việt. Nhu cầu sử dụng người phải phù hợp, đáp ứng nhu cầu Việt nam. Nếu ta bàn mua một chiếc xe con của nước ngoài thay vì đầu tư sản xuất một hiệu xe Chiến Thắng, Tự Lực, Thành Công (tưởng tượng) thì đó là vấn đề hữu hình. Có thể nhìn thấy và đưa ra quyết định lựa chọn lựa ngay lập tức.
      Thử đứng ở vị trí BGD&ĐT lại thấy phải nghĩ khác.

      Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: