How We Learn

Tín dụng sinh viên và đại học vị lợi nhuận: ta kiểm soát nó hay để nó kiểm soát ta? – Phạm Hiệp

Cùng với đổi mới tuyển sinh, viễn cảnh phá trần học phí trường công và câu chuyện đại học vị lợi nhuận hay không vì lợi nhuận là hai vấn đề thu hút quan tâm nhất của xã hội trong thời gian vừa qua đối với giáo dục đại học.

 

Hai vấn đề tuy khác nhau nhưng cùng dẫn đến những mối lo chung: gánh nặng học phí và trả nợ tín dụng cho sinh viên và phụ huynh; vấn đề bất bình đẳng giữa người có thu nhập khác nhau trong cơ hội tiếp cận với giáo dục đại học; hay mối e ngại học phí cao nhưng sinh viên không được thụ hưởng chất lượng đào tạo tương xứng.

Từ góc độ là người dân thường, có bạn bè có con/em là sinh viên đại học, tôi hoàn toàn chia sẻ những lo lắng này. Bốn, năm năm học đại học là thời gian bản lề của cả cuộc đời con người và việc đầu tư tài chính cho những năm học đó cũng không phải là nhỏ. Bên cạnh đó, chất lượng đào tạo đại học trên mỗi cá nhân còn có tác động ngoại biên tới toàn xã hội. Rõ ràng, nhà nước không thể bỏ ngơ và phải có trách nhiệm can thiệp vào những vấn đề này nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân. Nhưng can thiệp như thế nào cho hiệu quả?

Từ góc độ là người nghiên cứu về giáo dục, tôi quan sát thấy có hai cách thức can thiệp, theo hai cách ngược nhau:

– Cách thức thứ nhất của những người theo trường phái coi giáo dục là hàng hoá công: không tăng học phí, nhà nước cần phải đầu tư thêm nữa cho giáo dục đại học; tín dụng cần phải thay bằng học bổng; đại học phi lợi nhuận cần phải khuyến khích, còn vị lợi nhuận cần phải hạn chế, thậm chí cấm.

– Cách thức thứ hai ngược lại, coi giáo dục đại học là một thị trường; nhà nước chỉ đầu tư vào một số ngành nhất định mà xã hội cần; học phí không cần phải khống chế mức trần; nhà nước hỗ trợ sinh viên thông qua tín dụng để trang trải học phí và sinh hoạt; ngoài ra, đại học vì lợi nhuận cần được khuyến khích và mở rộng hoạt động.

Gần như không phải đóng học phí trong suốt thời gian học đại học và sau đại học; theo lẽ tự nhiên tôi vốn là người ủng hộ cách thức thứ nhất.

Nhưng rồi, tôi nhận ra mình thực ra thuộc nhóm người may mắn, nhóm người được ưu tiên. Và để giải quyết bài toán vĩ mô, bài toán cho mọi người, không thể lấy một trường hợp đặc biệt ra để khái quát hoá cho số đông. Thực vậy, chúng ta cần một cách tiếp cận khác.

Dần dà, tôi nghiêng sang ủng hộ cách thức thứ hai.

Tuy vậy, quá trình thay đổi tư duy của tôi cũng diễn ra khá khó nhọc bởi nâng học phí, vay nợ sinh viên, đại học vị lợi nhuận đều là những khái niệm, nếu nhìn thoạt qua thì khó có thể thấy có điểm gì hướng tới các mục tiêu cơ bản của giáo dục đại học (chất lượng, số lượng và bình đẳng). Những tài liệu tương tự như một bài báo gần đây đăng trên một tờ báo về “quả bóng ngày càng phình to” của tín dụng sinh viên và sự thất bại của giáo dục tư vị lợi nhuận tại Mỹ phản ánh băn khoăn của tôi trong một thời gian dài.

Một cách ngắn gọn, bài báo nêu ra ba vấn đề chính đối với giáo dục đại học Mỹ, cụ thể:

– Một là, sinh viên tại các trường vị lợi nhuận tại Mỹ phần lớn đến từ những gia đình nghèo nhất với thu nhập trung bình năm 2013 là 32.000 USD/năm, so với con số tương ứng của sinh viên các trường công và tư phi lợi nhuận là 63.000 và 72.000.

– Hai là, so với đại học phi lợi nhuận, chỉ có một tỷ lệ rất ít doanh thu tại các trường vị lợi nhuận ở Mỹ chi cho giảng dạy: năm 2013, trung bình trường vị lợi nhuận ở Mỹ chỉ chi 17.2% doanh thu cho giảng dạy, con số tương ứng cho việc quảng cáo và chia cổ tức là 22.7% và 19.4%.

– Ba là, gần một nửa (47%) số trường hợp vỡ nợ tín dụng sinh viên tại Mỹ là đến từ sinh viên đại học vị lợi nhuận.

Những thông tin trên có vẻ như sẽ làm chắc thêm niềm tin của những người tin vào cách thức can thiệp thứ nhất – trong đó có tôi trước kia bởi nó phản ánh bức tranh “xám xịt” về tín dụng sinh viên cũng như đại học vị lợi nhuận. Tuy vậy, khi nhìn kỹ hơn, có thể thấy, viễn cảnh về bức tranh xám đó vẫn là quá xa xỉ nếu nhìn vào tình hình thực tế ở nước ta hiện nay.

Thực vậy, những gia đình nghèo nhất ở Mỹ đành phải cho con em học ở các trường vị lợi nhuận. Điều này thật tệ, nhưng ở Việt Nam, con em những người nghèo nhất có khi mới chỉ học hết cấp 2 là phải bỏ học. Chỉ một phần nhỏ doanh thu của đại học tư vị lợi nhuận ở Mỹ được tái đầu tư cho giảng dạy; điều này cũng có thể đúng ở Việt Nam. Nhưng ở Việt Nam, chúng ta cần nhớ, năng lực sử dụng đồng tiền hiệu quả tại đại học tư (phần lớn là vị lợi nhuận) lại hơn rất nhiều so với đại học công – nơi vốn luôn bị đè nặng bởi hành chính, quan liêu và thậm chí là tham nhũng. Số vụ vỡ nợ tín dụng sinh viên đại học tư vị lợi nhuận tại Mỹ quả thực lớn; nhưng xem xét kỹ, lý giải phù hợp cho thực trạng này lại bắt nguồn từ vấn đề của thị trường lao động Mỹ chứ không hẳn hoàn toàn do chất lượng đào tạo tại các trường tư vị lợi nhuận.

Đến đây, nếu bạn vẫn không tin quan điểm của tôi thì tôi xin đặt lại một phản đề cho bạn: nếu không áp dụng chính sách hai cao như tôi vừa phân tích thì đâu là giải pháp? Đầu tư của nhà nước thì đã lên tới ngưỡng không thể tăng được nữa, và nếu có tăng thì khu vực cần ưu tiên là một số ngành khoa học cơ bản hay nông  nghiệp hoặc là giáo dục phổ thông chứ không phải là tất cả các trường đại học, cao đẳng trong cả nước. Nguồn thu khác như từ dịch vụ, chuyển giao khoa học công nghệ hay hiến tặng cũng khó khả thi, nếu xét trên năng lực đáp ứng nhu cầu thị trường của các trường đại học hiện nay cũng như văn hoá thích từ thiện vào tôn giáo hơn giáo dục của tầng lớp đại gia Việt.

Còn cứ giữ nguyên cơ chế tài chính hiện nay (không phá trần học phí, không thay đổi tín dụng sinh viên, không khuyến khích đại học vị lợi nhuận) thì chất lượng vẫn thế, khả năng mở rộng giáo dục đại học vẫn thế, bất bình đẳng vẫn thế và thực tế thì, sinh viên vẫn phải đóng một khoản “học phí” khác, vay một khoản “tín dụng” khác cao hơn mức mức học phí, tín dụng thực rất nhiều; và hẳn nhiên, giáo dục vị lợi nhuận, bằng nhiều hình thức vẫn tồn tại và tồn tại ở khắp nơi.

Để kiểm chứng điều này, bạn chỉ cần đi vào khuôn viên của bất kỳ trường đại học nào trong cả nước và hãy chịu khó phỏng vấn một vài sinh viên xem trong một năm họ phải đóng bao nhiêu khoản phụ phí cho nhà trường? bao nhiêu lần phải “đi thày”? Bố mẹ họ đang chuẩn bị bao nhiêu tiền để “chạy việc” cho họ sau khi tốt nghiệp? Hoặc nếu không “đi thày” và không “chạy việc” thì họ đang tốn bao nhiêu tiền đóng học cho những trung tâm Anh ngữ, kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý…? Rồi nữa, bạn lại đi tiếp xung quanh trường đại học đó, bạn hãy đếm xem có bao nhiêu “hiệu cầm đồ”, bao nhiêu tờ rơi dán trên khắp các cột điện, tường quảng cáo về dịch vụ cho vay nóng với lãi suất cắt cổ dành cho sinh viên?

Nếu câu trả lời cho tất cả câu hỏi trên của bạn là “không” thì chắc là tôi đã nhầm, bạn đúng, cách thức thứ nhất mới là giải pháp. Còn nếu tất cả câu trả lời là “Có”, thì đã đến lúc bạn bình tĩnh lại và nhìn nhận thẳng vào thực tế rằng, dù muốn hay không thì tín dụng sinh viên và giáo dục vị lợi nhuận vẫn tồn tại ở bậc đại học ở Việt Nam. Vấn đề là nếu ta không chủ động kiểm soát nó thì đến lượt, nó sẽ kiểm soát ta, vậy thôi.

 

Advertisements

Tagged as:

3 phản hồi »

  1. Cũng như người Nông Dân miền Tây vay vốn để trồng mía. Mọi việc sẽ tốt đẹp vì vốn vay cùng với sức người sẽ góp phần tạo sức bật về kinh tế. Ngân hàng khỏi phải trả tiền lương cho nhân viên của mình làm cái việc mời khách hàng vay tiền. nông dân có sức, kinh nghiệm, vón để cơ giới hóa nâng cao năng xuất v.v. v..Lý thuyết kinh tế là như vậy nhưng lý thuyết không mấy khi nhắc đến vấn đề….giá mía thấp. Nông dân đốt mía vì giá mía bán không đủ trả chi phí thu hoạch và chi phí thu hoạch và chi phí….xin nhà máy mua mía do mình làm ra.
    Vay vốn (Tiền) điều đầu tiên cần nghĩ đến là việc trả nợ để được trở lại là người tự do. Người vay tiền tuy còn tự do về thể xác nhưng linh hồn còn tự do hay không thì chưa chắc. :). Khi cần vay tiền cũng cần nhớ không phải ai có tiền ta cũng có thể vay. Tuy là đi vay nhưng vẫn phải tìm nơi cho vay đủ tin cậy. Sự tin cậy là sự ổn định của đồng tiền và sự ổn định chính sách của nơi cho vay. Đơn giản nhưng điều đó sẽ trở nên phức tạp nếu có sự thay đổi bất kỳ không lường trước được.

    Số lượt thích

    • Chính trị – Xã hội / Giáo dục
      ‘Xuất khẩu’ giáo sư, tiến sĩ: Tại sao không?
      (Giáo dục) – Nếu xuất khẩu được giáo sư, tiến sĩ thì cứ xuất bởi nó vừa giải quyết lao động dư thừa vừa tiếp tục đào tạo năng lực cho đội ngũ này.

      Việt Nam thua Lào, Campuchia:Tự hào công nghệ đào tạo tiến sĩ!
      ĐBQH: “Đào tạo được tiến sĩ nhưng không làm được ốc vít”?

      Cứ mạnh dạn vay vốn nếu chắc chắn tương lai. 😀

      Số lượt thích

  2. Có thực sự các thế hệ sinh viên ĐHBK ra trường làm đúng ngành, nghề – trong khi ĐHBK sở hữu những học sinh luôn có điểm cao nhất và bản lĩnh nhất của HS tốt nghiệp phổ thông??
    http://laodong.com.vn/xa-hoi/vi-sao-pho-hieu-truong-dh-bach-khoa-ha-noi-bi-to-dao-van-phai-kiem-diem-301468.bld

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: