How We Learn

Thảo luận về Đề án đổi mới chương trình, SGK (P2) – Quốc hội

Học Thế Nào: Sáng 20/11, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Học Thế Nào xin đăng lại toàn bộ bản gỡ băng phiên thảo luận mà Văn phòng Quốc hội thực hiện. Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi chia ra thành 4 phần.

 

Phần 2

Đàng Thị Mỹ Hương – Ninh Thuận

Tôi xin có ý kiến như sau. Trước hết, tôi tán thành cao với việc cần thiết phải ban hành nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông về chủ trương có một chương trình nhiều bộ SGK và chủ trương cho Bộ GD&ĐT tổ chức biên soạn SGK với những lý do như đề án, Tờ trình Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng đã nêu rất cụ thể. Tuy nhiên, sau khi xem báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận của các tổ về Đề án cho thấy còn có nhiều ý kiến trái chiều, có ý kiến đồng tình, có ý kiến còn băn khoăn cho rằng chưa cần thiết phải ban hành nghị quyết mới thay thế Nghị quyết 40 năm 2000 của Quốc hội. Băn khoăn về chủ trương một chương trình nhiều bộ SGK có làm rối hay không, chủ trương có một bộ SGK do Bộ GD&ĐT tổ chức biên soạn có khách quan hay không, có vừa đá bóng vừa thổi còi hay không. Tôi xin nêu chính kiến của mình như sau.

Theo tôi Quốc hội ban hành nghị quyết về đổi mới chương trình, SGK là một nội dung cần thiết. Thực tế chương trình, SGK hiện nay đã được tổng kết, đánh giá cho thấy còn rất nhiều bất cập. Một số SGK hiện hành chưa thật cân đối giữa yêu cầu khoa học và yêu cầu sư phạm. Một số nội dung của môn học chưa đảm bảo tính hiện đại còn nhiều kiến thức hàn lâm, còn nghiêng về trang bị kiến thức lý thuyết, chưa coi trọng kỹ năng thực hành, phát triển khả năng vận dụng kiến thức, khả năng sáng tạo, tự học của học sinh. Vấn đề giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh cũng chưa được đặt ra một cách khoa học. Thêm vào đó, hình thức tổ chức giáo dục chủ yếu là dạy học trên lớp, chưa coi trọng việc tổ chức các hoạt động xã hội, hoạt động trải nghiệm. Phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục, việc thi, việc kiểm tra còn chưa phù hợp, chưa hướng tới mục tiêu phát triển hài hòa phẩm chất và năng lực của học sinh. Với những bất cập như đã nêu, tôi mong muốn sớm có nghị quyết của Quốc hội về Đề án đổi mới chương trình, SGK phổ thông nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Chính phủ tổ chức triển khai thực hiện đề án phù hợp với lộ trình đổi mới như đã xác định, có nghị quyết thì mới có cơ sở để thực hiện đổi mới chương trình, SGK, đổi mới các điều kiện về nguồn lực, phương pháp tổ chức dạy học một cách khoa học, đảm bảo chất lượng, khắc phục được những bất cập mà các đại biểu đã nêu.

Về chủ trương có một chương trình và nhiều SGK, theo tôi đây là một chủ trương đúng mang lại nhiều lợi ích, tránh sự độc quyền. Vì có nhiều bộ SGK để tạo cạnh tranh khoa học, lành mạnh, để huy động được trí tuệ của đội ngũ tác giả SGK gồm nhiều thành phần và như thế cũng tạo điều kiện nhiều hơn để nâng cao chất lượng SGK. Có những SGK khác nhau sẽ tạo nhiều thông tin đa dạng và phong phú, từ đó có cơ hội để người sử dụng có nhiều cách tiếp cận phù hợp với các nhu cầu, đặc điểm khác nhau của người sử dụng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể khuyến khích, thu hút các tổ chức, cá nhân tham gia biên soạn SGK để có nhiều bộ SGK đảm bảo được mục tiêu, yêu cầu đổi mới giáo dục, thật sự có những bộ SGK chất lượng, hiệu quả.

Để được như thế, tôi xin đề nghị cần xác lập ngay trong đề án các điều kiện để thực hiện việc khuyến khích, thu hút các tổ chức, cá nhân tham gia biên soạn SGK, cần cụ thể các quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân khi tham gia biên soạn SGK một cách minh bạch, thuyết phục. Đồng thời cần chuẩn bị phương án khi có số ít hoặc không có các tổ chức, cá nhân tham gia biên soạn SGK hoặc có tham gia biên soạn SGK nhưng cho ra những bộ sách chậm hơn so với tiến độ, hoặc cho ra những bộ sách được Hội đồng quốc gia thẩm định SGK thẩm định là chưa đạt yêu cầu, chưa đảm bảo được mục tiêu đổi mới của chương trình, SGK.

Với ý này, tôi tán thành với chủ trương cho Bộ GD&ĐT tổ chức biên soạn một bộ SGK. Theo tôi, có như thế thì mới đảm bảo được sự chủ động về thời gian, công việc và kiểm soát được chất lượng nội dung cần thiết trong quá trình triển khai thực hiện lộ trình, kế hoạch đổi mới chương trình, SGK trên quy mô toàn quốc và đồng thời cho cả 3 cấp học. Việc xây dựng bộ SGK đồng thời ở 3 cấp học không phải là một việc dễ làm, không đơn giản để có một cá nhân hay một tổ chức nào ngoài Bộ GD&ĐT có thể đảm đương để đảm bảo tiến độ công việc theo lộ trình.

Tuy nhiên, để minh bạch và tránh việc trùng lắp về cơ chế tổ chức hoạt động biên soạn SGK và cơ chế tổ chức Hội đồng quốc gia thẩm tra chương trình, SGK giáo dục phổ thông. Đề nghị Ban soạn thảo cần cụ thể quy trình về việc thành lập Hội đồng  quốc gia thẩm tra chương trình SGK, giáo dục phổ thông, quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động, số lượng, cơ cấu thành viên hội đồng, thể hiện tính hoạt động độc lập của Hội đồng ngay trong đề án, để khi bộ SGK được Bộ GD&ĐT tổ chức biên soạn cũng được Hội đồng thẩm định một cách độc lập, khách quan như những bộ SGK khác.

Tiếp theo, về nội dung đề án, tôi quan tâm đến vấn đề giáo dục đối với các dân tộc thiểu số. Tôi thấy đề án có lưu ý nhưng chưa đậm nét, cần chú ý rằng các dân tộc thiểu số trên khắp các vùng miền của nước ta rất cần sự quan tâm đặc biệt về đổi mới chương trình SGK phù hợp với đặc điểm của từng dân tộc, để các dân tộc thiểu số đó có thể phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước theo tinh thần của Hiến pháp đã được quy định ở Khoản 4, Điều 5 Hiến pháp 2013.

Về kết quả đầu ra của giáo dục, nội dung này đề án có chú ý đến tính thích hợp và văn hóa nhưng về tính khả thi chưa được nêu rõ. Tôi đề nghị cần xác định ngay trong đề án mốc thời gian xuất hiện nhu cầu văn hóa để thực hiện nội dung giáo dục dạy nghề cho phù hợp, khắc phục tình trạng thừa thầy, thiếu thợ như hiện nay. Còn xác định cụ thể mốc  thời điểm hết chương trình trung học cơ sở gắn với đào tạo trung cấp nghề và mốc thời gian hết chương trình trung học phổ thông gắn với đào tạo cao đẳng nghề. Trong giai đoạn này rất cần thiết phải có sự gắn kết theo hướng xã hội hóa giữa các trường dạy nghề với các doanh nghiệp như trung cấp nghề với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mỗi địa phương hoặc cao đẳng nghề gắn với doanh nghiệp lớn hơn v.v… tôi nghĩ nếu đề án được bổ sung, nội dung này sẽ tăng tính khả thi, tạo niềm tin cho gia đình người học, người dạy và cho cả các chủ doanh nghiệp, những người góp phần đào tạo nghề cho lao động. Tôi xin hết. Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội.

 

Chu Lê Chinh (Chu Lé Chừ) – Lai Châu

Chương trình giáo dục phổ thông và SGK hiện hành được xây dựng và biên soạn theo Nghị quyết 40 năm 2000 của Quốc hội khóa X, đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc từ năm 2002- 2003. Đến nay qua hơn 10 năm triển khai thực hiện, nhìn chung chương trình, SGK hiện hành có bước tiến bộ, từng bước đổi mới sự nghiệp giáo dục nước nhà, góp phần quan trọng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn vừa qua. Tuy nhiên, từ nhiều nguyên nhân khác nhau, chương trình, SGK hiện hành vẫn còn những hạn chế, bất cập. Đó là chương trình giáo dục phổ thông chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới và hình thành phát triển nhân cách của học sinh. Mục tiêu phát triển năng lực cá nhân nêu trong Luật giáo dục chưa được cụ thể hóa trong chương trình hiện hành. Nội dung một số môn học còn nặng tính hàn lâm, chưa thiết thực với học sinh. Quan điểm tích hợp chưa được quán triệt đầy đủ, thiếu tính liên thông giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Thực hiện chủ trương phân luồng sau trung học cơ sở và trung học phổ thông còn nhiều hạn chế cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện. Một bộ phận giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế về năng lực sư phạm, năng lực quản lý. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới vừa thiếu vừa yếu kém nhưng chậm được khắc phục. Chất lượng giáo dục phổ thông còn thấp, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dạy chữ và dạy người, định hướng nghề nghiệp còn nhiều bất cập, chưa được quan tâm đúng mức.

Trước thực trạng trên, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định một trong những định hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trước hết là phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó nhấn mạnh đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học, tích cực chuẩn bị để từ sau năm 2015 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới. Nhằm cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về đổi mới giáo dục toàn diện nêu trên, vừa qua ngành giáo dục đã tích cực triển khai Nghị quyết 29 ngày 4/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 75 ngày 24/6/2014 của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII yêu cầu đối với ngành giáo dục tiếp tục hoàn chỉnh Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông trình Quốc hội xem xét quyết định vào kỳ họp thứ 8 để triển khai tổ chức thực hiện trong giai đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo.

Kính thưa Quốc hội, Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông được Ban soạn thảo chuẩn bị công phu, đã khảo sát thực tiễn ở các cơ sở giáo dục và lấy ý kiến tham gia của các địa phương, do đó Đề án cơ bản đáp ứng được các yêu cầu và trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp này. Để góp phần hoàn thiện Đề án, tôi xin tham gia làm rõ thêm 3 nội dung như sau:

Một, về mục tiêu, yêu cầu đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, mục tiêu, yêu cầu đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông lần này phải theo hướng chuyển từ tập trung trang bị kiến thức, kỹ năng sang tập trung phát triển phẩm chất, năng lực của người học, đảm bảo hài hòa giữa dạy chữ với dạy người và định hướng nghề nghiệp. Tạo điều kiện cho học sinh phát triển hài hòa cả về thể chất và tinh thần. Thực hiện giáo dục toàn diện đạo đức, tri thức, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản, đặc biệt quan trọng là giáo dục lý tưởng cách mạng, giáo dục truyền thống văn hóa, lối sống, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, năng lực thực hành cho học sinh. Nội dung chương trình phải đảm bảo chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Đảm bảo hoàn chỉnh, linh hoạt, liên thông thống nhất trong các cấp học, kết hợp và phân hóa hợp lý có kết quả. Thực hiện đổi mới chương trình SGK phải quán triệt đầy đủ quan điểm đổi mới và phát triển là tất yếu khách quan nhưng phải tính kế thừa để giữ gìn truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa dân tộc, là tư tưởng cốt lõi xuyên suốt của quá trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.

Hai, về chủ trương một chương trình giáo dục phổ thông thống nhất nhưng khả thi, mềm dẻo, linh hoạt. Trên cơ sở kết quả khảo sát thực tiễn tại các cơ sở giáo dục cho thấy, chương trình giáo dục hiện hành nhìn chung vượt quá khả năng đáp ứng về đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ sở giáo dục cũng như khả năng tiếp thu của học sinh. Việc thực hiện cứng nhắc một chương trình chung sẽ không mang tính khoa học giáo dục, không phù hợp với học sinh từng vùng miền. Vấn đề này tôi thống nhất với đề nghị của cơ quan thẩm tra và đề nghị ban hành một chương trình giáo dục phổ thông thống nhất trong cả nước. Nhưng phải đảm bảo tính khả thi, phải có sự mềm dẻo, linh hoạt trong tổ chức, phù hợp với điều kiện kinh tế, đặc thù về kinh tế, xã hội và đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị của từng cơ sở địa phương. Trên cơ sở đó, cơ sở giáo dục có thể vận dụng sáng tạo, triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục phù hợp với điều kiện của từng đơn vị trường.

Ba, về các điều kiện đảm bảo thực hiện chương trình SGK đổi mới. Đồng thời với đổi mới chương trình SGK, phải tính toán kỹ đảm bảo ba điều kiện cần và đủ, đó là: Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng cũng như về cơ sở vật chất trường lớp học, dạy học, kinh phí thực hiện chương trình đề án. Do đó, đề nghị cần làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển mạng lưới trường, lớp học. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhất là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý công tác ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng dân tộc thiểu số. Cơ sở vật chất trường, lớp học, trang thiết bị dạy học ở nhiều địa phương đặc biệt ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên đang còn nhiều khó khăn, vừa thiếu, vừa yếu không đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục căn bản và toàn diện. Một số mục tiêu phát triển trường phổ thông dân tộc nội trú, trường chuyên, trường bán trú dân nuôi, xóa phòng học tạm  vẫn còn chưa đạt yêu cầu đề ra.

Đối với tỉnh Lai Châu hiện nay cần đầu tư thay thế khoảng 1000 phòng học và 200 phòng học nhờ, 120 phòng ở chỗ học xây bán trú, 1200 nhà công vụ cho giáo viên. Với nhu cầu vốn, đề nghị Trung ương hỗ trợ đầu tư từ giai đoạn năm 2015 – 2020 khoảng 6000 tỷ đồng. Giai đoạn năm 2021 – 2030 khoảng 6000 tỷ đồng. Đầu tư 200 bộ thiết bị dùng chung, 700 bộ thiết bị làm quen với máy tính, 150 bộ thiết bị dùng ngoài trời, với kinh phí khoảng 90 tỷ đồng. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương xem xét sớm khắc phục thực trạng để triển khai tổ chức thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đạt kết quả, đạt mục tiêu như đã xác định. Về kinh phí thực hiện đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, tôi cơ bản thống nhất với Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, với tổng kinh phí được khái toán là 462 tỷ đồng. Tuy nhiên, tôi đề nghị cần có cơ chế quản lý, giám sát chặt chẽ để sử dụng kinh phí một cách hiệu quả, hạn chế phát sinh, điều chỉnh tổng mức đầu tư so với khái toán ban đầu như một số dự án đang gây bức xúc trong dư luận xã hội hiện nay. Tôi xin hết ý kiến. Xin cảm ơn Quốc hội.

 

Hồ Thị Thủy – Vĩnh Phúc

Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, là nền tảng cho sự phát triển của đất nước trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nguồn lực còn hạn hẹp. Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm tạo mọi điều kiện để chăm lo cho nền giáo dục nước nhà, có thể sánh vai với các cường quốc năm châu, góp phần thực hiện sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Tuy nhiên, sau 3 lần hô hào đổi mới cho tới nay, nền giáo dục nước nhà vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, chất lượng giáo dục phổ thông nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục cũng như yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và còn thấp so với các nước tiên tiến. Chương trình SGK còn thiên về truyền đạt kiến thức, chưa chú trọng đúng mức rèn luyện tư duy sáng tạo và năng lực tự học, chưa cân đối với dạy chữ với dạy người, giáo dục đạo đức lối sống, lịch sử văn hóa dân tộc cũng như định hướng nghề nghiệp. Trên cơ sở nghiên cứu đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, tôi thống nhất với mục tiêu yêu cầu đổi mới như dự thảo Nghị quyết, vì chúng ta ai cũng biết giáo dục phổ thông là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, là khởi đầu của quá trình học tập suốt đời. Để đạt được mục tiêu yêu cầu đặt ra thì việc đổi mới giáo dục phổ thông cần được thực hiện một cách đồng bộ, bao gồm: Đổi mơi chương trình, SGK, đổi mới phương pháp dạy học cùng với đổi mới đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị và đổi mới căn bản việc thi, kiểm tra đánh giá chất lượng.

Kính thưa Quốc hội,

Một chương trình nhiều bộ SGK là tư tưởng chỉ đạo đổi mới giáo dục phổ thông lần này. Đây là sự thay đổi rất lớn, tác động đến hàng triệu học sinh, hàng ngàn giáo viên và các nhà lãnh đạo trong ngành giáo dục các cấp. Tôi đồng tình với chủ trương một chương trình, nhiều bộ SGK như Tờ trình của Chính phủ. Theo đó, chương trình cần đảm bảo tính liên tục từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông, phù hợp với từng cấp học, đảm bảo những kiến thức, tri thức cơ bản theo lứa tuổi và rèn luyện học sinh về mặt sức khỏe, đạo đức, hội nhập nhưng vẫn giữ được truyền thống của dân tộc. Nội dung có tính khả thi, nhất là đối với học sinh dân tộc thiểu số và học sinh ở những địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, phù hợp với điều kiện đảm bảo thực tế của nhà trường nhất là đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất kỹ thuật. Việc cần làm ngay và trước tiên là Bộ GD&ĐT cần xây dựng một chương trình chuẩn mới cho từng cấp học, môn học và phải chịu trách nhiệm trước xã hội, trước nhân dân về chương trình xây dựng đó.

Tôi đồng ý về chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng tương ứng với hai giai đoạn. Giai đoạn giáo dục cơ bản gồm cấp tiểu học và trung học cơ sở và giai đoạn định hướng nghề nghiệp cấp trung học phổ thông. Theo dự thảo của nghị quyết, từ năm học 2018 – 2019 bắt đầu triển khai áp dụng chương trình SGK, giáo dục phổ thông mới. Như vậy, chỉ trong 3 năm các bộ môn SGK cần biên soạn xong và được thẩm định. Tôi e rằng, thời gian như vậy sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, không đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu của việc đổi mới chương trình SGK đã đặt ra. Vì vậy, tôi đề nghị việc biên soạn SGK mới cần được thực hiện theo lộ trình. Trước hết cần rà soát để xem những nội dung gì trong bộ SGK cũ còn sử dụng được thì tiếp tục kế thừa. Các nội dung chưa hợp lý thì thay thế chứ không nên thay toàn bộ SGK một lúc trong thời gian ngắn, vừa tốn kém, vừa ảnh hưởng đến chất lượng. Tuy nhiên, khi chưa có bộ SGK mới hoàn chỉnh thì cần có sự thống nhất chỉ đạo của cơ quan quản lý giáo dục về việc lựa chọn nội dung trong SGK hiện tại để làm tài liệu giảng dạy và khuyến khích các thày, cô giáo sưu tầm tài liệu giảng dạy phù hợp với nội dung và điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục.

Vấn đề biên soạn SGK và sử dụng SGK khi chúng ta thống nhất một chương trình đang có nhiều ý kiến trái chiều và được xã hội quan tâm. Theo tôi, dù Bộ Giáo dục đào tạo tham gia biên soạn SGK hay tổ chức cá nhân biên soạn các bộ SGK khác đều phải tuân thủ nội dung chương trình chuẩn cho từng cấp học, môn học đã được Hội đồng giáo dục quốc gia thẩm định, phê duyệt. Phải đặt chất lượng lên hàng đầu và phải đáp ứng với yêu cầu đổi mới chương trình.

Tôi đồng tình việc Bộ GD&ĐT tổ chức biên soạn một bộ SGK với lý do như Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã nêu. Tuy nhiên, việc thẩm định SGK cần được công khai, khách quan, độc lập. Việc lựa chọn SGK để giảng dạy ở các cơ sở giáo dục cần được bàn bạc dân chủ, có sự thống nhất của giáo viên, học sinh và phụ huynh, tránh sự độc quyền trong thẩm định và sử dụng SGK. Phải đặt mục tiêu vì lợi ích của đông đảo học sinh và chất lượng giáo dục lên hàng đầu.

Chương trình SGK mới phải dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ hiểu, dễ học, dễ dạy, dễ điều chỉnh, gây hứng thú và sáng tạo cho cả người học và người dạy, ít tốn kém, không lãng phí mà hiệu quả thể hiện đúng quan hệ hữu cơ giữa dạy chữ và dạy người, giữa phẩm chất và năng lực và có sự ổn định lâu dài. Việc đổi mới chương trình SGK cùng đồng thời với việc đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục một cách khách quan, độc lập thì chất lượng SGK sẽ quyết định sự lựa chọn của người học chứ không phải sách khoa do ai biên soạn. Khi thực hiện một chương trình nhiều bộ SGK đòi hỏi người giáo viên không chỉ giỏi chuyên môn mà cần có bản lĩnh, thay đổi tư duy dạy học từ một chiều, bị động sang hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, thay đổi cách kiểm tra, đánh giá phẩm chất, năng lực của học sinh và tránh bệnh thành tích. Để thực hiện được nội dung này đòi hỏi việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên được quan tâm trước một bước.

Theo nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình “Việc sửa đổi chính sách đối với nhà giáo, cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên là giải pháp cốt lõi để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục”. Theo đó việc đào tạo không chỉ đáp ứng yêu cầu về chất lượng, mà phải đảm bảo cơ cấu giáo viên hợp lý, phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 đặt ra. Cần ưu tiên cơ sở vật chất và chính sách thu hút các nhà giáo, nhà khoa học, học sinh giỏi vào các cơ sở đào tạo ngành sư phạm. Gắn đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo trong các trường sư phạm với việc bồi dưỡng, đào tạo bổ sung theo chu kỳ cho giáo viên. Cần quan tâm từ khâu quy hoạch, bổ nhiệm, các chính sách nhằm thu hút những giáo viên giỏi tham gia làm công tác quản lý trong ngành giáo dục.

Một vấn đề nữa cũng hết sức quan trọng là nhà nước cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật để triển khai thực hiện đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông. Sự vào cuộc tích cực của các cấp chính quyền địa phương và toàn xã hội trong việc đổi mới chương trình, SGK lần này. Kính thưa Quốc hội, phụ huynh và xã hội không sợ tốn kém, không sợ không có kinh phí, mà sợ sản phẩm của đổi mới giáo dục không đáp ứng được như kỳ vọng của xã hội, phụ huynh và học sinh. Xim cảm ơn Quốc hội.

 

Nguyễn Thanh Thảo – Đồng Tháp

Về Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 40 của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, tôi chỉ xin phân tích kết quả thực hiện: Trong Phụ lục 1 kết quả xếp loại hạnh kiểm và học lực của học sinh từ năm học 2006 – 2007 đến năm học 2012 – 2013 ở cấp tiểu học chỉ xét kết quả, xếp loại, hạnh kiểm và học lực môn tiếng Việt và Toán. Trong khi chương trình giáo dục tiểu học có 11 môn bắt buộc và 2 môn hoạt động giáo dục, chứng tỏ các cấp quản lý chỉ quan tâm vấn đề dạy chữ, tập trung ở hai môn Toán, tiếng Việt, chưa quan tâm đủ và đúng mức việc giáo dục phát triển các kiến thức, kỹ năng quan trọng không kém đã được thiết kế trong chương trình và mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện về trí, đức, thể, mỹ. Nội dung các môn tự nhiên xã hội, lịch sử, địa lý, khoa học còn mang tính hàn lâm dù viết cho đối tượng học sinh tiểu học. Ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, tỷ lệ học sinh giỏi từ năm học 2006-2007 tăng dần, đến năm 2012-2013 tỷ lệ học sinh yếu kém giảm dần. Nếu nhìn vào những con số thì đây là một kết quả đáng mừng, nhưng nếu nhìn ra những vấn đề xã hội thì đây là những con số đáng nghi ngờ. Ở phụ lục 2, kết quả học sinh giỏi quốc gia năm 2005 chưa đổi mới đại trà chương trình, SGK thì tỷ lệ học sinh đạt giải là 50,5%, năm 2007 là năm đầu tiên mới thực hiện đại trà chương trình, SGK, tỷ lệ đạt giải là 44,08%, năm 2014 tỷ lệ đạt giải là 59,73%. Qua phân tích những con số trên, chúng ta chưa thấy rõ hiệu quả của việc đổi mới chương trình, SGK.

Về những thực trạng ở cơ sở, khó khăn, bất cập về giáo viên, cán bộ quản lý, tuy tỷ lệ giáo viên trên lớp ở từng cấp học nhìn tổng thể đạt yêu cầu theo quy định nhưng tình trạng thừa, thiếu cục bộ trong từng bộ môn, ở từng trường là một thực tế, là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, quản lý điều hành hoạt động giáo dục của các cấp.

Về cơ sở vật chất, trang thiết bị, theo niên giám thống kê năm 2013, đến tháng 4 năm 2014, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia của cả nước là 45,35% trường tiểu học, 30,5% trường trung học cơ sở, 16,43% trường trung học phổ thông. Những trang thiết bị bàn ghế, phòng chức năng phục vụ cho nhu cầu giảng dạy theo nội dung mục tiêu của chương trình chưa đủ, không đảm bảo chất lượng, không sát nhu cầu thực tiễn của từng đơn vị địa phương, thiếu tính đồng bộ gây nên tình trạng vừa thừa, vừa thiếu, vừa lãng phí. Thời gian giữa lượng kiến thức cần chuyển tải đến học sinh và thời gian thực hiện có sự chênh nhau rất lớn. Đây là một yếu tố rất quan trọng để kiến thức từ SGK được chuyển tải đến người học, hầu như giáo viên chỉ lo dạy cho kịp chương trình để kịp tiến độ thời gian cho các kỳ thi nên không đủ thời gian để học sinh thẩm thấu kiến thức. Việc tổ chức phụ đạo cho học sinh yếu trong thực tế gặp rất nhiều khó khăn, gia đình của đa số học sinh yếu kém thường thiếu quan tâm nên việc phối hợp giữa học sinh và phụ huynh hầu như không đạt yêu cầu. Ngoài ra, giáo viên còn phải phụ trách nhiều công việc khác mang tính hành chính, phong trào, làm giảm thời gian đầu tư cho chuyên môn. Việc quản lý hoạt động dạy 2 buổi/ngày còn nhiều bất cập, có phần bị biến tướng thành dạy thêm hợp pháp, chưa nhằm phục vụ nhu cầu học tập của học sinh, khả năng giảng dạy của giáo viên dẫn đến tiêu tốn thời gian, công sức, tiền của, gây mệt mỏi, quá tải cho cả học sinh, giáo viên và gia đình.

Việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục bắt buộc như hoạt động sinh hoạt tập thể ngoài giờ lên lớp, hướng nghiệp nghề phổ thông và thực hiện các nội dung nâng cao bám sát ở từng trường, từng địa phương còn mang tính hình thức, qua loa, kém chất lượng, gây lãng phí thời gian và ngân sách nhà nước nhưng các hoạt động này hầu như không được kiểm soát, quản lý cũng như tổ chức đánh giá tổng kết hiệu quả giáo dục mà các hoạt động này mang lại cho học sinh. Kết hợp những kết quả ở các cấp học, các cuộc thi cấp quốc gia có thể thấy đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo Nghị quyết 40 của Quốc hội chưa thể hiện sự ưu việt đáng kể so với khi chưa đổi mới. Điều này làm tăng tính hoài nghi của đại biểu Quốc hội và toàn xã hội đối với Đề án đổi mới chương trình, SGK theo Nghị quyết 29 Trung ương 8 khóa XI lần này.

Kiến nghị nội dung chương trình, SGK mới cần cung cấp những kiến thức cơ bản, phổ thông thiết thực cho cuộc sống, tăng tính ứng dụng thực tiễn của từng đơn vị kiến thức trong từng môn học, sau mỗi đơn vị kiến thức cần cung cấp thông tin về tài liệu tham khảo cả bản in lẫn bản điện tử để người học và người dạy có thể chủ động tìm hiểu, đào sâu hơn kiến thức đã học theo nhu cầu của bản thân. Cân đối giữa dung lượng kiến thức và quỹ thời gian để thu nạp kiến thức, vận dụng kiến thức, bố trí những nội dung thí nghiệm thực hành ngoại khóa, sau mỗi đơn vị kiến thức với thời gian đủ rộng, để giáo viên hướng dẫn và học sinh tiến hành nghiên cứu thí nghiệm một cách thực thụ. Nội dung phải phù hợp khả năng của học sinh, mang tính thực tiễn cao, cho phép linh hoạt, dùng thí nghiệm thay thế phù hợp điều kiện thực tế của từng trường và địa phương.

Về các điều kiện cần thiết để chương trình SGK đi vào cuộc sống có hiệu quả tốt.

Về con người, tôi thống nhất việc lập đề án đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng cán bộ quản lý, nhà giáo. Nhưng đề nghị song song đó, cần có đề án sắp xếp lại đội ngũ cán bộ và giáo viên, có cơ chế chính sách hỗ trợ khuyến khích những cán bộ, giáo viên không đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của chương trình SGK mới nghỉ hưu sớm. Không nên áp dụng hình thức tập huấn qua mạng, vì sẽ không đảm bảo chất lượng, không đủ tính tương tác giữa người tập huấn và giáo viên.

Về cơ sở vật chất, trang thiết bị cần chuẩn bị đủ các điều kiện về trường, lớp, phòng chức năng, trang thiết bị đồng bộ phục vụ cho việc dạy và học.

Về thời gian, đề án chia lộ trình thực hiện thành 3 giai đoạn. Theo tôi, ở giai đoạn 1 biên soạn đến đâu thì đưa về địa phương, cơ sở lấy ý kiến đến đó. Để việc lấy ý kiến không quá dồn dập, nhồi nhét, dẫn đến kém chất lượng và việc điều chỉnh cũng dễ dàng hơn, đề nghị kéo dài thêm một năm. Ở giai đoạn 2 khi tổ chức dạy thí điểm cũng cần kéo dài thêm 1 năm, để giáo viên, học sinh ở các trường địa phương được chọn làm thí điểm có đủ thời gian nhìn nhận, góp ý sâu hơn, chuẩn xác hơn, Bộ cũng có thời gian điều chỉnh thẩm định kỹ hơn. Giai đoạn 3 sẽ rút ngắn một năm và cả 3 giai đoạn kéo dài thêm 1 năm. Như vậy, sẽ ít bị dồn ép về khối lượng công việc cũng như về khả năng cân đối tài chính của ngân sách thực hiện đề án. Cần cân nhắc việc thực hiện chương trình đồng loạt ở cấp tiểu học, vì như thế gây sốc cho học sinh, gây khó khăn cho trường ở địa phương khi tổ chức cho giáo viên làm quen với chương trình mới, áp dụng các văn bản hướng dẫn thực hiện, chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đi kèm.

Về cơ chế quản lý, hệ thống văn bản pháp lý, song song với việc đổi mới chương trình Bộ cần hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện, để khi thực hiện đại trà không còn tình trạng cơ sở giáo dục, địa phương lúng túng không biết thực hiện như thế nào cho đúng. Văn bản hướng dẫn thực hiện cần chuẩn xác, chi tiết, rõ ràng, tránh việc hiểu và làm theo nhiều cách khác nhau, việc phải bổ sung, đính chính văn bản như hiện nay. Điều kiện làm việc của giáo viên, cần có cơ chế chính sách hỗ trợ cho giáo viên, trang bị những thiết bị chuyên môn hỗ trợ cho giáo viên như máy tính, máy ảnh, máy quay phim.

Thực tế, đa số giáo viên không được ngân sách hỗ trợ trang thiết bị, mà hầu như họ phải tự trang bị cho mình. Như thế là thiếu công bằng và không hợp lý. Về sự hỗ trợ của toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội, các bậc phụ huynh cần quan tâm đúng mức, đúng cách hơn đối với việc giáo dục con em. Cần tạo điều kiện thuận lợi để các cháu học tập, nhưng phải để cho các cháu có tính độc lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc học của bản thân, không quá dựa dẫm vào gia đình, nhà trường, nhà nước. Các bộ, ngành có liên quan như chính quyền địa phương phải phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với ngành giáo dục, tạo điều kiện để ngành giáo dục phát triển. Xin hết.

(Còn tiếp)

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Hướng cải cách

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: