How We Learn

Sách giáo khoa lịch sử: hiện trạng và giải pháp – Bùi Thiết

(Góp bàn về sách giảng dạy lịch sử trong trường phổ thông)

 

  • Thứ nhất, cho các em học sinh cấp tiểu học được học lịch sử từ sớm, không phải là từ lớp 6 mới được học. Có thể từ lớp 2-3 trong chương trình học đã có môn lịch sử như loại Truyện kể lịch sử của lớp 4-5 hiện nay, và từ lớp 4-5 đã có bài học lịch sử. Như vậy trong nhũng năm học phổ thông, các em đã có được kiến thức lịch sử nhiều hơn hiện nay. Khác với các môn học khác, kiến thức lịch sử sẽ đi theo suốt đời dù khi ra trường học sinh không chuyên về bộ môn sử thì kiến thức về lịch sử vẫn rất cần cho một đời người. Một công thức hóa học có thể quên, một phương trình toán học có thể không cần phải nhớ… nhưng mỗi một sự kiện lịch sử, nhất là lịch sử dân tộc, thì đều cần cho mỗi một con người, dù người đó làm bất cứ nghề gì.

  • Thứ hai, rút bớt kiến thức lịch sử chiến tranh xuống, thay vào đó là lịch sử phát triển của tư tưởng, văn hoá-văn minh, lịch sử phát triển của hình thái kinh tế-xã hội Việt Nam.

  • Thứ ba, điều chỉnh lại những kiến thức trên cơ sở các tư liệu mới thu được. Đã là sách giáo khoa lịch sử, thì mỗi một đánh giá, nhận định, kết luận lịch sử đều phải có bằng cứ, không tên nói chung chung thay nói phỏng chừng.

  • Thứ tư ngoài giáo trình chính ra, cần biên soạn các sách tham khảo lịch sử, không nhất thiết bắt học sinh phải học ơ lớp mà là để nâng cao kiến thức, ở đó có thể nói kỹ hơn một số nội dung đã học, bàn về các phỏng đoán, các giả thiết về lịch sử, lịch sử cho từng vùng. Hiện nay, một số học sinh các dân tộc ít người không được học về lịch sử của chính dân tộc mình mà môn dân tộc học thì chưa có ở phổ thông. Cần thêm vào các bài giảng, bài đọc về lịch sử kinh tế, khoa học kỹ thuật, lịch sử văn hoá và giao lưu nhân loại…

    Cơ cấu một chương trình giảng dạy lịch sử như vậy là cách truyền thụ tốt nhất, hữu hiệu nhất kiến thức lịch sử cho học sinh và ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, các em hiểu lịch sử đầy đủ hơn.

  • Thứ năm, một khi đã có chủ trương biên soạn lại sách Giáo khoa lịch sử cho học sinh phổ thông, thì đội ngũ những người viết là rất quan trọng. Không nên để những người coi việc viết sách giáo khoa là làm thêm, làm tay trái, nghĩ rằng viết cho học sinh thì viết thế nào chẳng được. Một số tác giả tuy có kiến thức rất sâu nhưng không đầu tư trí tuệ thời gian, dễ dãi trong cách viết, nên tầm kiến thức của tác giả không thể hiện được ở trong sách.

Sách giảng dạy lịch sử cho học sinh phổ thông hiện nay, theo chỗ tôi biết gồm có hai loại: một là Truyện kể lịch sử dành cho cấp I, hai là Giáo khoa lịch sử dành cho cấp II và III. Trong phạm vi bài này, tôi sẽ không bàn về việc có nên hay không nên đối với hai loại sách trên, mà đi vào nội dung lịch sử mà cả hai loại sách đã thể hiện.

Giảng dạy lịch sử dù cho đối tượng nào, thì mục đích cũng nhằm trang bị cho người học nhận thức được quy luật phát triển của lịch sử, quy luật phát triển của nhân loại. Từ đó, giúp cho người học không chỉ hiểu về qúa khứ, mà xác định vị trí vai trò của mình cũng như thế học mình, thời đại đang sống đối với lịch sử đất nước, quy luật phát triển có tính chất chỉ đạo tiến trình của lịch sử, theo quan điểm tiến bộ nhất, đó là quy luật tiến triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế-xã hội; có nghĩa là vào các thời đại khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế khác nhau, trên cơ sở đó mọi biểu hiện xã hội cũng khác nhau. Trên đại thể, cho đến nay, lịch sử nhân loại đã trải qua 4 hình thái kinh tế-xã hội, đó là: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản, và ngày nay một số quốc gia và dân tộc theo con đường xã hội chủ nghĩa để tiến vào hình thái kinh tế-xã hội cộng sản văn minh. Lịch sử nhân loại là như vậy, lịch sử Việt Nam, trên cơ bản cũng không thể khác được, chỉ có điều là nhanh hay chậm, rõ nét hay mờ nhạt mà thôi. Vậy trong toàn bộ giáo trình Giáo khoa lịch sử và Truyện kể lịch sử dành cho học sinh phổ thông, người ta không đặt ra vấn đề cơ bản đó, không có một định nghĩa dù chỉ là phổ thông nhất về quy luật phát triển đó, không đề cập đến khái niệm về kinh tế-xã hội, không dạy cho học sinh biết thế nào là thời nguyên thủy, thời kỳ chiếm hữu nô lệ, học sinh cũng không biết gì về thời kỳ phong kiến và tư bản, như là kiến thức vỡ lòng và hành trang vào đời đầu tiên trong lịch trình tìm hiểu lịch sử nhân loại. Tôi cho rằng, học sinh ở các cấp phổ thông rất cần hiểu và thừa khả năng hiểu biết những quy luật đó, không chờ đến tuổi trưởng thành mới được học tại các trường đại học hay các lớp lý luận dành cho viên chức nhà nước: nhỡ ra các em không được vào đại học hay không có cơ may trở thành viên chức nhà nước, thì vĩnh viễn các công dân đó phong bao giờ được học về quy luật phát triển chủ đạo của lịch sử! Và việc một số công dân vi phạm các quy luật của lịch sử, nếu có xảy ra cũng là điều thường tình, và cái lỗi đó có một phần đáng kể của nền giáo dục không giảng dạy đến nơi đến chốn. Thay vào việc trình bày quy luật phát triển chủ đạo của lịch sử, Truyện kể lịch sử và Giáo khoa lịch sử trong cơ cấu chương trình của mình đã nhằm làm nổi bật lên quy luật chiến tranh, lấy sự trình bày về chiến tranh làm động lực phát triển của lịch sử, và được trang bị rất khéo trong khuôn sáo của cái gọi là lịch sử dựng nước và giữ nước, nhưng thực chất của dựng nước là chinh chiến, sau chiến tranh mới có nước và nhà nước “đẻ ra từ họng súng”, còn giữ nước thì rõ ràng được thực thi bởi chiến tranh bảo vệ đất nước, và chưa bao giờ người ta trình bày việc dựng nước và giữ nước như là công việc kinh doanh phát triển đất nước về mặt kinh tế-xã hội, lấy kinh tế làm chủ đạo, theo kiểu “có thực mới vực được đạo”. Xin đơn cử: trong Truyện kể lịch sử lớp 4, có 27 bài, gồm 53 bài đọc thì đến một nửa dành cho chủ đề chiến tranh, một số khác dành cho các đời vua, các nhân vật lỗi lạc, còn lại vẻn vẹn có 5-6 bài đọc gì đó giành cho chủ đề lao động sản xuất nói chung. Trong Truyện kể lịch sử lớp 5, với 28 bài học, gồm 69 bài đọc, thì hơn 45 bài đọc dành cho chủ đề chiến tranh. Những học sinh ở lứa tuổi non trẻ và ngây thơ, được trang bị toàn những kiến thức theo kiểu “chưởng lịch sử” như vậy ngoài chuyện đánh đấm, mưu mẹo, hơn thua mưu bá đồ vương, tranh hùng xưng thế… che lấp hết mọi chuyện làm ăn ở đời, dường như mọi của cải đã có sẵn đâu đó từ trong chiến tranh ấy mà ra.

Tiếp theo Truyện kể lịch sử là các sách Giáo khoa lịch sử của 7 lớp còn lại, định hướng chinh chiến, chiến tranh, vũ lực vẫn chi phối toàn bộ giáo trình.

Tôi không phản đối việc giảng dạy lịch sử chiến tranh, nhưng khi giảng dạy về chiến tranh đừng quên những lĩnh vực khác, nhất là về kinh tế văn hoá-xã hội, về sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật; đừng để chiến tranh làm lu mờ lịch sử, hay lịch sử của đất nước chỉ là lịch sử của chiến tranh triền miên. Trong một chừng mực nào đó, khi ca ngợi chiến tranh yêu nước, cũng đồng thời lên án chiến tranh với sự hủy hoại của nó; trong khi giáo dục tinh thần sẵn sàng chiến đấu cũng đồng thời dạy cho mọi người lòng tỉnh táo, cảnh tỉnh với chiến tranh, và đặt ra các phương pháp giải quyết xung đột, nếu còn khả năng giải quyết bằng hòa bình, không bằng vũ lực. Nói tóm lại là cần bớt đi nhiều hơn nữa sự giáo dục vũ lực cho học sinh, thông qua chương trình giảng dạy lịch sử ở bậc phổ thông: Giảng dạy lịch sử dù cho đối tượng nào, đều phải tôn trọng sự thật lịch sử (bởi vì lịch sử là sự thật, mỗi sự thật, sự kiện lịch sử chỉ có thể xảy ra trong một không gian và vào một thời gian cụ thể nào đó mà thôi, và muốn hiểu thấu đáo một sự thật lịch sử phải đặt nó vào trong không gian và thời gian cụ thể nhất định). Vậy mà trong Truyện kể lịch sử và Giáo khoa lịch sử có một số sự kiện lịch sử không để nhằm vào trình bày quy luật lịch sử mà là để minh họa cho một quan điểm phi lịch sử nào đó. Sau đây là một số dẫn chứng vi phạm nguyên lý lịch sử, bịa đặt ra lịch sử, thuộc lịch sử cổ đại Việt Nam được đưa vào Truyện kể lịch sử và giáo khoa lịch sử (còn những sai sót thuộc trung cận và hiện đại có dịp sẽ nói đến sau):

1. Về Núi Đọ và con người cổ nhất ở Việt Nam

Hơn 30 năm trước, người ta tìm thấy hàng loạt phác vật đồ đá đẽo ở di chỉ Núi Đọ (Thanh Hóa), chỉ có như vậy và không kèm theo bất kỳ một chứng cứ nào nữa (như hài cốt người, địa tầng, vật cộng sinh…) và nguyên tắc không cho phép, xác định niên đại tuyệt đối cho văn hoá Núi Đọ đến những 40-80 vạn năm trước? Hơn chục năm nay đã tìm thấy những phác vật rìu tay như vậy ở di chỉ Quan Yên (cách Núi Đọ chừng dăm km), và niên đại của Quan Yên chừng 5.000- 6.000 năm. Như vậy thì Núi Đọ và Quan Yên cùng một khung niên đại hậu kỳ đồ đá mới. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã thảo luận và tán thành niên đại muộn đó. Trong khi không có bằng chứng nhân học cho Núi Đọ sách Giáo khoa lịch sử lớp 6 đi xa hơn nhiều đến điều vô lý khác, gán cho người Núi Đọ một cuộc sống khá lý tưởng là họ đã có gia đình, theo mẫu hệ, mỗi gia đình có 4-5 người gì đó, lại có ở lều. Lưu ý rằng, nếu có người Núi Đọ, thì họ mới chỉ là người vượn, giai đoạn đầu của thời nguyên thủy và gia đình mẫu hệ, theo quan điểm tiến bộ, hình thành vào cuối thời nguyên thủy, khi sắp chuyển sang xã hội chiếm hữu nô lệ, chỉ cách ngày nay chừng 5.000 năm!

2. Về lịch sử 4.000 năm

Không rõ nguyên cớ từ đâu, người ta đi đến mệnh đề: “Lịch sử 4.000 năm dựng nước”, hay đất nước có 4.000 năm văn hiến? Các nhà nghiên cứu đã làm (rồi các nhà soạn sách giáo khoa mô phỏng theo) các điều phi lý lịch sử như sau:

Đẩy văn hoá khảo cổ học Phùng Nguyên (có niên đại 4.000-3.000 năm cách ngày nay) vốn là di chỉ đá mới của lịch sử thời nguyên thủy, vào phạm trù của thời đại đồ đồng thau, tức là mở đầu cho thời đại các Vua Hùng. Mà trong hàng chục di chỉ văn hoá Phùng Nguyên, ngay ở Phùng Nguyên cũng không có lấy một công cụ đồ đồng thau để chứng minh. Trong Giáo khoa lịch sử lớp 6, trang 19-20, người ta đưa ra chứng lý đồ đồng ở Phùng Nguyên, và lên bản đồ có 4 di chỉ có đồ đồng thau trong cả nước là Phùng Nguyên, Hoa Lộc, Cồn Chân Tiên, Bến Đò, cả 4 di chỉ này, theo các báo cáo khai quật khảo cổ học, không ở nơi nào có đồ đồng thau, dù chỉ là mảnh vụn? Vậy vì sao lại được lên bản đồ? Trong khi đó hàng trăm di chỉ có đồ đồng thau không đưa vào bản đồ?

  • Quên hẳn một ghi chép quan trọng trong sách Việt sử lược (thế kỷ XIII) rằng vị Vua Hùng đầu tiên sáng lập ra nhà nước Văn Lang, tương đương với đời Chu Trang Vương (696-682 tCN). Đấy là bộ sử tin cậy ghi chép về thời cổ đại.
  • Quên hẳn di chỉ khảo cổ học Gò Mun (có niên đại 3.000-2.700 năm tCN) là di chỉ thuộc đồ đồng thau, và là di chỉ đồng có niên đại sớm nhất nước ta, dấu ấn vật chất cho thời đại Hùng Vương.
  1. Vấn đề trị thủy thời cổ

    Cho đến nay, các ngành khoa học có liên quan chưa tìm được dấu vết của công cuộc trị thủy-thủy lợi từ thời các vua Hùng về trước. Thư tịch cổ Trung Hoa, như Thủy kinh chúthừa nhận hay xác nhận rằng, thuở đó dân ta theo thủy triều lên xuống mà làm, điều đó chứng tỏ vào thời đó chưa có trị thủy-thủy lợi, cư dân đã nắm chắc quy luật dựa vào mùa nước mà cày cấy, vả lại chưa tràn về chiếm lĩnh toàn bộ đồng bằng sông Hồng, nên chưa cần đến trị thủy-thủy lợi. Vậy mà chỉ với truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh người ta đã nghĩ rằng việc Sơn Tinh đắp cao núi Ba Vì (mà thực ra không ai đắp được núi cả) để giữ Mỵ Nương khỏi bị Thủy Tinh cướp mất lại là việc làm thủy lợi. Cái huyền thoại về cách “giữ vợ” của Sơn Tinh như vậy không thể sang ngang lịch sử thủy lợi được. Việc ca ngợi Sơn Tinh là không phải cách, và thậm chí xếp Thủy Tinh vào thế lực phản động trong lịch sử cũng cần được xem lại. Đó là chưa nói ai đã sáng tạo ra huyền thoại Sơn Tinh-Thủy Tinh này, và nhằm mục đích gì?

    Truyền thuyết Sơn Tinh- Thủy Tinh nên được nhìn nhận lại và có cách giải mã thích hợp, nếu là lịch sử được phản ánh trong đó thì không phải là lịch sử của thủy lợi.

    Một số vấn đề thuộc lịch sử cổ đại vừa trình bày không phải là tất cả mà còn thiếu những điều khác nữa. Theo chỗ tôi hiểu, dù là Truyện kể lịch sử hay Giáo khoa lịch sử được biên soạn theo chương trình cải cách giáo dục, có hai nguồn:

  • Thứ nhất, là bộ Lịch sử Việt Nam hai tập của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (1973 và 1985) hai tập này trình bày lịch sử đất nước từ khởi nguồn cho đến 1945 theo cách riêng, có nghĩa là theo quy luật của lịch sử “dựng nước và giữ nước” như đã đề cập đến.
  • Thứ hai, là giáo trình lịch sử Việt Nam – của hai trường Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm, đặc biệt là giáo trình lịch sử Việt Nam của Đại học Tổng hợp, bộ mới công bố tập 1 từ năm 1983. Nếu Lịch sử Việt Nam của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, trình bày những vấn đề trên theo những mệnh đề ngắn gọn thì ở giáo trình Lịch sử Việt Nam tập 1 của Đại học Tổng hợp, triển khai thành từng chương dài và chi tiết hơn, có vẻ khoa học hơn. Nhưng thực ra bộ giáo trình này, với tập 1 (sau gần 20 năm chưa có tập 2) đã chứa đựng nhiều điều không chính xác, như có dịp tôi đã chứng minh.

Trong tình hình mới đầy biến động cả trong xã hội và các ngành khoa học, những người quan tâm đến lịch sử như chúng tôi không đòi hỏi bất kỳ một sự “cải cách” hay “đổi mới” nào cả, chỉ yêu cầu trình bày lịch sử gần đúng như cái nó đã tồn tại, nhận thức lại cho đúng quy luật của lịch sử…

Từ thực trạng trên và do yêu cầu của việc nâng cao kiến thức lịch sử ở bậc phổ thông, chúng tôi đề xuất một số ý kiến sau đây về chương trình giảng dạy lịch sử và giáo trình lịch sử cho học sinh phổ thông.

  • Thứ nhất, cho các em học sinh cấp tiểu học được học lịch sử từ sớm, không phải là từ lớp 6 mới được học. Có thể từ lớp 2-3 trong chương trình học đã có môn lịch sử như loại Truyện kể lịch sử của lớp 4-5 hiện nay, và từ lớp 4-5 đã có bài học lịch sử. Như vậy trong nhũng năm học phổ thông, các em đã có được kiến thức lịch sử nhiều hơn hiện nay. Khác với các môn học khác, kiến thức lịch sử sẽ đi theo suốt đời dù khi ra trường học sinh không chuyên về bộ môn sử thì kiến thức về lịch sử vẫn rất cần cho một đời người. Một công thức hóa học có thể quên, một phương trình toán học có thể không cần phải nhớ… nhưng mỗi một sự kiện lịch sử, nhất là lịch sử dân tộc, thì đều cần cho mỗi một con người, dù người đó làm bất cứ nghề gì.
  • Thứ hai, rút bớt kiến thức lịch sử chiến tranh xuống, thay vào đó là lịch sử phát triển của tư tưởng, văn hoá-văn minh, lịch sử phát triển của hình thái kinh tế-xã hội Việt Nam.
  • Thứ ba, điều chỉnh lại những kiến thức trên cơ sở các tư liệu mới thu được. Đã là sách giáo khoa lịch sử, thì mỗi một đánh giá, nhận định, kết luận lịch sử đều phải có bằng cứ, không tên nói chung chung thay nói phỏng chừng.
  • Thứ tư ngoài giáo trình chính ra, cần biên soạn các sách tham khảo lịch sử, không nhất thiết bắt học sinh phải học. Ở lớp mà là để nâng cao kiến thức, ở đó có thể nói kỹ hơn một số nội dung đã học, bàn về các phỏng đoán, các giả thiết về lịch sử, lịch sử cho từng vùng. Hiện nay, một số học sinh các dân tộc ít người không được học về lịch sử của chính dân tộc mình mà môn dân tộc học thì chưa có ở phổ thông. Cần thêm vào các bài giảng, bài đọc về lịch sử kinh tế, khoa học kỹ thuật, lịch sử văn hoá và giao lưu nhân loại…Cơ cấu một chương trình giảng dạy lịch sử như vậy là cách truyền thụ tốt nhất, hữu hiệu nhất kiến thức lịch sử cho học sinh và ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, các em hiểu lịch sử đầy đủ hơn.
  • Thứ năm, một khi đã có chủ trương biên soạn lại sách Giáo khoa lịch sử cho học sinh phổ thông, thì đội ngũ những người viết là rất quan trọng. Không nên để những người coi việc viết sách giáo khoa là làm thêm, làm tay trái, nghĩ rằng viết cho học sinh thì viết thế nào chẳng được. Một số tác giả tuy có kiến thức rất sâu nhưng không đầu tư trí tuệ thời gian, dễ dãi trong cách viết, nên tầm kiến thức của tác giả không thể hiện được ở trong sách.
    Tôi đề nghị nên hướng tới một đội ngũ chuyên viết sách giáo khoa lịch sử, họ phải là những nhà khoa học. Phải viết sách, phải sáng tạo được những cuốn sách giáo khoa lịch sử đích thực, có tầm cỡ cho học sinh học, làm cho các em yêu thích môn lịch sử, một môn học không thế thiếu được trong hành trang vào đời của tất cả các thế hệ. Muốn có được như vậy, cách tốt nhất là tổ chức những cuộc thi tuyển viết sách giáo khoa lịch sử để chọn những bản thảo tốt, có tính khoa học và sư phạm cao làm giáo trình chính thức. Những người tham gia viết sách có thể hợp tác với nhau để viết được một cuốn sách giáo khoa lịch sử tốt. Hoặc một cách tổ chức nào đó theo hướng tuyển chọn, mà những người có tiếng nói tuyển chọn là các thầy giao dạy lịch sử các cấp.

Hi vọng rằng ngành giáo dục, nhất là những người có trách nhiệm chỉ đạo chương trình dạy lịch sử phổ thông quan tâm hơn nữa đến sách giáo khoa lịch sử và sách tham khảo lịch sử, để bộ môn học lịch sử làm đúng và đạt hiệu quả về giáo dục lịch sử cho học sinh, sao cho mỗi công dân Việt Nam đều biết lịch sử dân tộc một cách đầy đủ và chính xác.

Bùi Thiết

Đối Thoại Sử Học (1999).

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Hướng cải cách

16 phản hồi »

  1. Cảm ơn bài viết …

    Số lượt thích

  2. Sát Thát là cuốn truyện tranh tôi biết đến Lịch sủ nước nhà chống ngoại xâm, các anh hùng dân tộc, các nhà lãnh đạo (các vị vua). Cuốn tuyện với hình vẽ li ti nhưng chi tiết. Học được bao nhiêu thứ từ cách quan sát chi li như xem nhưng con tem bưu điện. Nhìn vẻ mặt nhân vật thấy được người hiền, kẻ ác. Người ngay gian và nhưng nhân vật lịch sử không thể quên. Trần Hưng Đạo múc nước tắm cho Trần Quang Khải là hình ảnh vẽ nhưng nhớ mãi. Thằng bé bôn tuổi chưa biết chữ thế mà nhớ mãi những tích lịch sử trong truyện tranh. Đi học thì không quên câu truyện đau xót vì sự lú lẫn của An Dương Vương vì thế mà thân bại danh liệt nước mất nhà tan. Ông ta bỏ qua mọi cơ hội coi thù là bạn. Được sự giúp đỡ của Thần Kim Quy mà coi nhẹ
    Đoc bài của tác giả thấy thú vị nhưng lại có cảm giác như tác giả chưa nắm rõ…. “triết lý giáo dục mới”.
    Nếu coi Giáo Dục là phương tiện để đạt mục tiêu hướng đi đâu đó thì …..chẳng biết đường nào mà dạy mà học. :(. Bởi ai dám nói chính xác nơi đến là đâu? Viết sách cũng khó vì bắt đầu từ không biết hướng. Lỡ đi ngược lại thì mất
    công viết

    Số lượt thích

  3. Bao giờ có nhà toán học làm lãnh đạo thay cho mấy nhà sử học đang làm lãnh đạo thì tỉnh, thành và đất nước mới quy củ được. Sách sử nên để nhà toán học chỉ đạo thì mới đưa được hàm lượng logic, khoa học, có độ mở, tương quan giữa các môn học với nhau vào. Đơn giản vậy thôi!

    Số lượt thích

    • Tôi ganh với các bạn học toán rồi. Các bạn học toán được tự do đi tìm sự thực, đào bới sự thực, còn tôi thì học lịch sử, không được tự do đi tìm sự thực hoặc đào bới sự thực. Sự thực của tôi phải được định hướng hoặc bị định hướng… Làm như thế thì đâu còn thú vị gì nữa!

      Nếu các bạn học toán mà bị định hướng như tôi, vd, phương trình bậc hai không được quyền có nghiệm số âm, bắt buộc như vậy, không được quyền có nghiệm số âm, thì bạn nghĩ sao?

      Số lượt thích

      • Định hướng cho toán học có cái hay làm cho toán dễ hơn, bở ăn, nhiều người lao, chứ không hiếm hoi như bây giờ nhưng ai dám bẻ queo vậy, lộ mặt ra ngay. Người ta đang bẻ queo lịch sử,làm dở tưởng hay, kéo lùi phát triển, mang tội nghìn năm, hãm hại muôn dân thì còn được vinh danh, tưởng thưởng. Ảo tưởng đang thắng thế!

        Số lượt thích

  4. Hôm nay tôi sub cho một lớp World History. Tôi vẫn thích Lịch sử, đúng ra là Sử-Địa, vì các em học sinh có vẻ thông minh và linh hoạt (Tôi không chê các em học toán đâu nhá, tuy thông minh nhưng các em có vẻ hoạt ngầm!)

    Lớp Lịch sử này (lớp 10), các em đang ôn thi. Trên tường, tôi thấy các bài viết-vẽ, khởi đi từ Cuộc cách mạng kỹ nghệ, đến Chủ nghĩa đế quốc, đến Thế chiến I, đến Thế chiến II, đến Chiến tranh lạnh. Tôi hỏi một em, sau Chiến tranh lạnh thì đến cái gì? – We are not there yet! – Vậy thì các em đang học cái gì, World War II? – (Smiling) we are jumping around…

    Curious, tôi mở sách, các em đang học Chapter 26, Africa and the Atlantic World (buôn bán nô lệ, sự chống đối, hậu quả, vv). Thì ra đây là lớp AP History, các em học rất sâu và rất kỹ. Tôi mở đến chương cuối cùng, Chapter 40, trang 1131, A World Without Borders, chương này, các em sẽ học the Global Economy (kinh tế toàn cầu), Cross-cultural Exchanges (trao đổi văn hóa), Global Communications (thông tin toàn cầu), Global Problems (những vấn nạn toàn cầu), và Crossing Boundaries (vượt qua biên giới). Đúng là những vấn đề của chúng ta hiện nay.

    Nói đến đây, chúng ta thử nhìn về biển Đông. Theo tôi, đây là vấn đề tất nhiên, phải như vậy mới là “Đạo.” Cuối cùng, “AI” là người kiểm soát TG mới là thiết yếu. Bạn nghĩ là ai ? Chắc chắn không phải là một cá nhân hoặc một đảng?

    Số lượt thích

    • Đầu năm xin được mở hàng câu đố của Bác Phan Như Huyên. Xin gửi lời Kính Chúc tới các bác, các bạn. Trong gia đình Học Thế Nào cùng toàn gia một năm mới Mạnh khỏe – An Bình. Luôn được thấy Hạnh Phúc.
      Xưa như trong truyện cổ người Á thường nhắc đến việc nhằm hướng Tây để thỉnh kinh.
      Cái đích trong đời nhiều người hướng tới là “đi Tây” (di trú, Du hoc, du lịch ở phía Tây. Bất cứ món đồ nào để nhấn mạnh giá trị của nó người ta lại nói. “Đồ Tây Đấy”, anh ấy đi Tây về v.v..vCông du Tây Âu cũng coi như thành công.
      Ai kiểm soát TG không dám chắc. Nếu loài “Thiêu Thân” (côn trùng hay động vật thích ánh sáng rồi đổ tại ngọn dèn kiểm soát nó? e không phải vì chúng muốn tìm đến.
      Với nhiều người phương Tây gắn liền với Văn Minh. Mao Trạch Đông cứ muốn “Gió Đông thổi bạt Gió Tây” 😀 . Tại sao cứ muốn lấn lướt cái gì đó ? Chắc do Tâm thế của kẻ yếu kém nên ghen tị thôi.
      Trên đài cũng hay nói đến thế lực của Phương Tây. Sức mạnh đó nó chi phối thế nào? tới đâu? Đúng đólà phương người ta phải để ý. Phương Tây có chi phối TG hay không nhưng có làm người ta phân Tâm. ở Phương Tây không có “Phật Tổ Như Lai” như một số người Hoa nghĩ nhưng có Người và trí tuệ Văn Minh của họ làm cả thế giới kính nể. Người Do Thái thông minh như vậy cũng được khai thác tốt. :D. Tóm lại Phương Tây nơi có Xã Hội đồng lòng biết cách khai thác, thu hút và sở hữu giữ gìn hữu trí tuệ.. Đó là sức mạnh của họ 😀

      Liked by 1 person

      • Văn minh Đông phương đã một thời chói sáng.

        Đế quốc La mã ngày xưa (năm 166), đã lục lội sang Viễn đông, trầm trồ khen ngợi tơ Tàu, nên mới có “đường tơ lụa”.

        Marco Polo mạo hiểm sang Á châu (1275), làm việc 14 năm trong triều đình Mông cổ, thời Hốt tất liệt. Về nhà (Venice), ông kể chuyện mà chẳng ai tin, vì toàn là những chuyện lạ lùng.

        Có nghĩa là Tây phương có “kiến thức,” Đông phương có “tay nghề.” Kiến thức ấy, tay nghề ấy, Đông và Tây gặp nhau ở Tân Thế giới.

        Cuộc mạo hiểm của Marco Polo đã làm dấy lên phong trào di dân Mỹ châu bắt đầu từ Kha luân bố năm 1492. Vàng tìm thấy ở California đã thu hút cả đến người Á châu, từ năm 1849. Những con đường xe lửa xuyên lục địa đã làm đổ bao nhiêu mồ hôi và máu của người Tầu và người Mễ tây cơ thời hậu bán thế kỷ 19.

        Người lãnh đạo TG không được quá cứng (Tây) không được quá mềm (Á), chỉ có thể tìm thấy trước tiên ở Mỹ châu. TG muốn hòa bình phải biết khoan dung (tolerance) và chấp nhận (acceptance), chấp nhận văn hóa, tôn giáo của người khác. Bốn mươi năm qua, người VN tản cư khắp thế giới. Chính người Mỹ đã bật đèn xanh cho dân VN, không phải chỉ miền Nam mà cả miền Bắc “vượt biên,” đem theo tài sản của dân tộc là chữ “nhẫn” (endurance).

        Số lượt thích

      • Đừng chống Mỹ, hãy chiếm Mỹ! Vì ai chiếm được nước Mỹ là chiếm được cả thế giới! Làm thế nào? Người VN ta có bí quyết gì không? (chắc chắn không bằng bạo lực đâu nhé)

        Số lượt thích

  5. Lịch sử thì cần phải trung thực chứ bóp méo thì còn gì lịch sử. Ví dụ: quân địch chết như rơm như rạ hàng ngàn người nhưng quân ta thì chẳng nói gì cả. Ví dụ vụ cải cách ruộng đất ở Miền bắc cũng cần đưa vào lịch sử một cách trung thực.

    Liked by 1 person

  6. In sách giáo khoa cũng giống in tiền. Tiền qua tay bao nhiêu người với vòng đời hàng nhiều năm, hỏng thì thu, đổi, thay. Rất hiệu quả. Quan trọng không kém tiền, theo nghĩa là phương tiện đổi trao, sách giáo khoa cũng là phương tiện “lưu thông” tri thức.
    Làm sách giáo khoa phải “thiết kế” cẩn trọng, được “thi thiết kế” hoặc đấu thầu thiết kế. Đừng o bế trong ngành GD để “chia” mấy đồng soạn sách. Chuyên ngành thiết kế này không tạm nghỉ như thiết kế đồng tiền, mà hoạt động liên tục để hoạt động nâng cấp cải tiến sách giáo khoa được sống khỏe trong cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Sau các sản phẩm biên soạn, thiết kế được chọn, nhà nước, bộ GDĐT chỉ làm việc đấu thầu đặt hàng.
    Lịch sử phải có ít nhất một bộ sách chính thống và cho phép đa dạng hoá nhiều bộ sách và sách tham khảo khác nhau. Đưa vào phim, sản phẩm nghe nhìn, sách điện tử, đồ và trò chơi, sách đố chữ, các chuyên mục trên phương tiện thông tin đại chúng, các hình thức thi đố, lễ hội… Sách sử rất cần phù hợp nhận thức theo lứa tuổi, đặc biệt phải chú trọng thích hợp với tuổi nhỏ nhằm kích thích đam mê của trẻ về sử, một cách tự nhiên, bên cạnh các lĩnh vực tri thức khác.
    Tự do tư tưởng, tự do học thuật, tự do thị trường sẽ giúp phát triển giáo khoa ngành sử, chuyện dã sử…cũng như giáo khoa khác, sách khác.

    Số lượt thích

  7. Rất vui được tham gia góp ý vói các bạn về chủ đề dạy Lịch sử. Xem video clif mói đây trên VTV va Vietnamnet, Dantri về chuỵen thanh niên VN ở HN nhầm Nguyễn Du là anh em với Nguyễn Huệ, ko biết gò Dống đa có gì, lỗi ko chỉ là do ngành GD, mà còn do thiếu su GD gia đình. Bạn Hoàng sa co đề xuất ko chống Mỹ mà chiếm Mỹ. Tôi nghĩ phải dạy cho con cháu cách chiếm lòng tin chiến lược của Mỹ. Bí quyết u? Đó là ngành GD phải biết hướng vào dạy ý thức và kỹ năng công dân toàn cầu va nang luc giao luu van hoa cho thanh niên sv, đặc biệt la biết so sánh trường hợp giữa Mỹ và Việt nam. Khá thú vị khi đọc sách của Mark A. Ashwill và Dương Hoàng Oanh (chapter 7) phân tích về điều này, nhấn mạnh chương trình tư duy Phần mềm của thanh niên Mỹ và thanh niên Việt là khác nhau vì sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sư khác nhau, da duoc cài đặt khác nhau! Quan niệm về Nationalism và Patriotism của thanh niên 2 nước cũng khác nhau. Người Mỹ cũng có nhiều yếu điểm để phát triển tư duy và kỹ năng toàn cầu hoá, còn nguòi Việt, ngoài một số nhược điểm, cũng có cái thế mạnh để tiếp cận toàn cầu hoá nhanh hơn thanh niên Mỹ! Nếu đúng như thoả thuận mới đây (ơn giời cụ tổng đã sang Mỹ) Mỹ sẽ đưa gv volunteers dạy tiếng Anh vào các vung nông thôn VN (là tôi biết từ báo chí Việt) thì khi có tiếng Anh thông thạo, thanh niên Việt sẽ nhanh chóng tiếp cận các năng lực giao lưu văn hoá để trở thành công dán toàn cầu. motj khi toàn cầu hoá đã tháo bỏ rào cản thương mại hoá thì ( nho phat trien GD tôn giao, truoc het là Buddhism) cũng sẽ tháo dỡ rào cản về tình thương và lòng trắc ẩn! Vấn đề là Những nhà hoạch định chính sách GD VN có nhận thức được điều này không? Tôi cứ nghĩ mãi về việc 2 lần tổng thống Mỹ (Bill Clinton) và Phó TT Mỹ biết lẩy Kiều khi tiếp lãnh tụ Việt, họ có giỏi Kiều đâu, nhưng họ biết nghe loi các chuyên gia cố vấn để thu phục khách ngoại quốc, còn lãnh đạo ta, ko khắc phục đưoc cai bệnh Fantastic face (sĩ diện hão) chẳng thèm nghe ai khuyen bao cả, nên chỉ biết nhe răng cười khi ngoại giao toàn cầu, chi nhanh nhau nang coc ruou thoi! Có lẽ tôi cau mong nếu đuọc thì nền GD Viet hãy dạy cho thế hệ tre lãnh đạo tương lai nước Việt biết và có duoc năng lực giao lưu văn hoá toàn cầu, có kỹ năng tối thiểu của công dân toàn cầu thông qua các bài học về lịch sử cổ đại, trung đại và cận đại nữa! Tư duy toán học chỉ là một yếu tố thuận lợi chứ ko phải các nhà toán học giỏi hơn nguòi khác khi lên làm lãnh đạo đâu các bạn ơi!

    Số lượt thích

  8. Nếu các ban đọc bài Huyết lệ và khát vọng trong tạp chí Viet-My tháng 7/2015: VIETNAM-US Relations: New horizons, thì sẽ thấy quan hệ của 2 dân tộc Việt Mỹ rất đặc biệt. Đó là từ các tầng sâu VH, từ cơ duyên về địa chính trị-kt, khiến cả hai có sự tương giao từ rất sớm. Nhớ lại bài phát biểu quá hay và hùng biện của TT Bill Clinton tại VNU HN hơn 10 năm trước khi lần đầu đến VN, có nói đến mong muốn bang giao 2 nước từ 200 năm trước, nguòi Mỹ đã trồng rau thơm, rau húng ở Mỹ vì họ thích mùi vị VN. Nhưng nhiều lẫn lỡ làng mội quan hệ bang giao này mà hảo ý bang giao trong sáng, sớm nhất của nước ngoài đem đến VN chính là tư nước Mỹ. lịch sử VN ghi: năm 1832 TT Andrew Jackson gửi tới vua Minh Mạng thư đề nghị đặt QH thương mại. Ông Edmund Roberts phái bộ ngoại giao Mỹ mang đến băng tàu Peacock. vua Minh Mạng giao Ngoại lang Nguyễn Tri Phương đón tiếp. Nhưng do khác biệt về tập quán lễ nghi và sự vô duyên của LS nên Nguyễn Tri Phương không neo đuọc con tàu Peacock, 13 năm sau 1845 con tàu Constitution của US mang thuyền trưởng John Percival cập cảng Đà nẵng, do cuộc đụng độ của binh lính 2 bên ngoài ý muốn nên mối bang giao tan vỡ. Ngay sau đó TT Mỹ Zachary Taylor viết thư xin lội vua Tự Đức về sự cố 1845. Rất tiếc Tự Đức bất mãn, nên cơ hội Việt Mỹ xích lại gần nhau bị vuột mất.. Đến thập kỷ 70 TK XIX, vì muốn tìm “nguòi cũ” từ bên kia TBD, Tự Đực cử sứ thần Bùi Viện sang Hồng kong đẻ đáp tàu biển sang Mỹ xin nhờ Mỹ giúp đánh Pháp. Gặp TT Ulysses Grant ( nhiệm kỳ 1868-1876) nhưng ko có văn bản ngoại giao cần thiết trong tay để nguòi Mỹ có thể ký những cam kết giấy trắng mực đen! Lóc cóc về VN, hai năm sau mói trở lại Mỹ vói đầy đủ thủ tục ngoại giao trong tay. tiếc thay con tạo xoay vần, Mỹ-Pháp lúc này đã bắt tay nhau để thoả thuận ăn chia trong các ván bài khác. Mối thiên duyên lại một lần dang dở và Bùi Viện ôm mối tủi hơn quay về đất Viet để một thời gian ngắn sau trút hơi thở cuối cùng tại quê nhà ở Phủ Kiến Xương ! Nay là đất Thai Bình. Rồi những đêm trăng ở Tân Trào mà đội “con Nai” sang giúp Việt minh chống Pháp, khắp Việt Bac lúc đó ai cũng biết huấn thị của Cụ Hồ dứoi dạng ca dao “bộ đội Mỹ là bạn của ta/ Cứu phi công Mỹ mói là Việt Minh…” . Rồi đến trận Điện biên phủ trên không, ông TNS My dang CH bang Arizona bị bắn hạ roi xuống hồ Trúc Bạch đuọc nguòi dân Hà nội cứu sống! Từ đó họ mới tích cực bình thường hoá quan hệ,. nhưng phải nói hình ảnh những nguòi dan đen đất Việt nén đau thương, mò tìm duoi bun mảnh xương tàn của phi công Mỹ trên Vĩnh phú đã làm xúc động Bill Clinton và nguòi Mỹ! Phải chăng đó chính là lòng khoan dung, trắc ẩn của dân ta, đã thấm nhuần đạo Từ Bi của DỨC Phật giáo hoá hơn 2,5 thế kỷ qua đã dẫn đến ngày hôm nay? Chúng ta và con cháu cần làm gì để trân trọng cái hoà bình phải trả gia bằng máu quá đat và tàn khốc của lịch sử cận đại? Mỗi lần tiếp các nhà GD hoa kỳ, tôi đều dẫn họ đến cùng thắp huong ở tượng đài kỷ niệm chiến tranh ở phố Khâm Thiên vói cầu mong các nhà GD của hai nuóc không để thanh niên hai nuóc lắp lại những chương buồn đẫm lễ trong lịch sử nữa! Muốn vậy chúng ta, chính chúng ta phải dạy cho con cháu minh cái hay, cai đẹp của nhân dân mình, không kiêu ngạo nhưng cũng ko quỳ gối khuất phục trước bất cứ thế lực bạo cường nào! tự hào nhưng phải khiêm nhường, không kiêu căng tự mãn!

    Số lượt thích

    • Những chi tiết thầy Maitinh cung cấp rất là hay và khả tín. Tôi đọc thấy hồi HCM ở hang Bắc Pó, thì gián điệp Mỹ OSS (tiền thân của CIA) đã nhảy xuống bàn tính chuyện bí mật gì đó rồi. Nhưng sau khi WW2 kết thúc, thì Tây phương lại sợ Communism, nên mới có Cold War, mới có Vietnam War. Đau đớn thay cho dân tộc ta!

      Nhưng chưa quá nỗi tuyệt vọng! Chiến tranh này đã làm cho người VN có quyền tự hào. Đau thương này đã làm cho người VN có quyền hãnh diện. Máu, mồ hôi, và nước mắt đã tạo ra được một thế hệ anh hùng. Tôi vẫn tin là như vậy!

      Cải tổ GD đã được nói đi nói lại rất nhiều lần, khiến cho các nhà lãnh đạo không ai còn nghi ngờ, rằng thì là, chỉ cần họ xắn tay lên là được việc. Thời gian quả là cấp bách. Không thể đặng đừng! Điều cần làm đang thực sự xẩy ra…

      Số lượt thích

  9. Chúng ta ở biển mà không làm nổi con tàu. Thiếu toán học nên thiếu một một nền kỹ trị. Nguyên nhân, không dám nghĩ dám làm, tức thiếu tự do? Sâu xa: gần Tàu quá? Hãy tự trách mình, biết trân quý từng giá trị, kể cả kinh nghiệm của thất bại và tụt hậu. Thua keo này bày keo khác, các cụ cũng đã nói câu đó rồi, nhưng mới ở tầm “keo vật”?
    ” Phen này ông quyết đi buôn cối…”

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: