How We Learn

Nhà Trần thời hậu chiến – Vương Trí Nhàn

Trên con đường lấy lịch sử để giải thích hiện tại, có một việc tôi đang muốn dành thời gian để  làm là đọc lại sử nước mình những năm sau chiến tranh – ta hay gọi là hậu chiến.

Câu hỏi đặt ra hôm nay: đánh xong quân Nguyên, xã hội VN thời nhà Trần ra sao? Và tôi tìm thấy một số tư liệu như sau.

Dưới con mắt Đào Duy Anh 

Trong cuốn Lịch sử VN- từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX,  Đào Duy Anh dành hẳn một chương, chương XXV, nói về Bước suy đốn của nhà Trần, trong đó nói rõ việc đầu tiên Trần Nhân Tông cho làm sau khi quân Nguyên rút lui năm 1285 là duyệt lại hộ khẩu trong nước.

Để làm gì? Theo Đào Duy Anh, để tìm cách “lấy tiền của mà tu bổ những tổn hại do chiến tranh gây nên.”

Tiếp đó, Đào Duy Anh kể ra nhiều việc nhà Trần đã làm sau 1288, nhằm “ra tay bóc lột nhân dân thêm nữa”.

“Ngay năm 1290, sử đã chép có nạn đói lớn [….] Sau khi đã ra sức tham gia kháng chiến trong quân đội hay trong dân quân, người nông dân thấy đời họ không được cải thiện mà lại còn bị bóc lột hơn xưa, họ rất lấy làm bất bình mà đã rục rịch phản đối. Không thể dùng ngay thủ đoạn khủng bố, Trần Khâm ( tức Nhân Tông—VTN ) lại nghĩ ngay đến việc dụng binh đối với các nước nhỏ láng giềng  để đánh lạc hướng bất bình của nhân dân” (Sđd, bản của Nxb Văn hóa Thông tin, 2002, tr. 258-259)

Theo cách miêu tả của Trương Hữu Quýnh và Nguyễn Đức Nghinh

Trên đây tôi đã bắt đầu từ cuốn  sử của Đào Duy Anh.

Khốn thay là từ 1958 tới 1980, Đào Duy Anh bị vướng vào vụ Nhân văn  nên các tác phẩm của ông, kể cả cuốn trên, không được in lại. Tuy một số phương diện tư tưởng của ông có được các học trò xuất sắc ở thế hệ sau … tiếp tục, nhưng thực tế là người ta càng ngày càng xa rời cái chiều hướng mà Đào Duy Anh theo đuổi để đi vào một thứ sử học đơn giản và vụ lợi, cốt phục vụ các mục đích chính trị trước mắt.

Cũng may mà những năm trước 1975, tình hình cũng chưa đến nỗi hoàn toàn bi đát.

Theo dư luận chung, một trong những cuốn xuất sắc nhất thời ấy là  Lịch sử chế độ phong kiến VN của khoa Sử đại học tổng hợp viết trước 1975, cuốn I sách này dành để viết về VN trước thế kỷ XV.

Nhưng tôi hiện không có cuốn đó trong tay, chỉ đành dựa vào bộ Lịch sử Việt Nam quyển I, tập II, bao quát giai đoạn từ thế kỷ VII tới 1427 của Khoa Sử Đại học sư phạm, nxb Giáo dục Hà Nội, 1970.

Ở  cuốn sách này, tôi tìm được những trang sử mà mình muốn biết và muốn mọi người cùng biết.

Sau chương V nói về cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông, chương VII cuốn sử do Trương Hữu Quýnh và Nguyễn Đức Nghinh biên soạn mang tên Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIV.

Ngay phần mở đầu chương, cùng với việc nêu rõ tầm cỡ chiến thắng, các tác giả viết:

“…ba năm chiến tranh ác liệt chống chọi với kẻ địch nổi tiếng về tính chất cướp bóc và phá hoại đã để lại những hậu quả quan trọng cho sản xuất và đời sống nông dân. Liền sau đó hai năm 1290, 1291 là những năm đói lớn, một thăng gạo trị giá một quan tiền, nhiều người dân phải bán ruộng đất và con trai con gái để lấy lương ăn.”(tr 258)

Hoàn cảnh hậu chiến khó khăn, hẳn không ai lạ gì. Các nhà sử học tôi muốn giới thiệu trong bài này chỉ hơn hẳn các nhà sử khác là không lảng tránh mà coi đó là một đối tượng cần phải miêu tả.

Trong sự hạn chế của một nền sử học viết trong hoàn cảnh 30 năm chiến tranh, họ dường như muốn cảnh báo trước về những khó khăn mà con người hậu chiến hiện đại sẽ phải chịu đựng.

Theo sự chỉ dẫn của các tác giả, người ta được biết những năm đó, nguy cơ của một cuộc xâm lược lần thứ IV của quân Nguyên vẫn chưa hết.

Nhưng có cái lạ mà khi đọc lại chúng tôi hết sức ngỡ ngàng, đó là chỉ hai năm sau, lập tức vua và quí tộc nhà Trần đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược các nước láng giềng ở phía Tây và phía Nam, tức Ai Lao và Chiêm Thành.

Và có ít đâu, cuộc chiến Việt Nam Ai Lao thời ấy kéo dài hàng nửa thế kỷ ( xem tr. 260), mà cuộc chiến với Chiêm Thành lại còn dây dưa lâu hơn – trận chiến cuối cùng mà quân nhà Trần tiến hành ở Chiêm Thành là vào 1396 (tr.263).

Các bộ lịch sử VN viết trong những năm chiến tranh có thói quen ca tụng tất cả những cuộc chiến tranh mà ông cha ta đã tiến hành trong quá khứ.

Nhưng ngay ở đoạn viết về cuộc chiến tranh sang đánh Ai Lao của Trần Nhân Tôn  năm 1290 và 1294, các tác giả của Khoa Sử trường Đại học Sư phạm đã vượt ra ngoài thói quen đó.

Các ông nói rõ đây là những cuộc hành binh phi nghĩa.( Tr 259)

Nhìn lại cả  một thế kỷ chiến tranh ở mặt trận Tây – Nam, các tác giả bảo rằng nó đã huy động “những khả năng lớn lao của dân tộc” chỉ “để thỏa mãn những tham vọng về đất đai uy thế và quyền lực” của vua chúa thời ấy mà thôi( sđ d tr 263).

Để miêu tả đến cùng tâm lý bệnh hoạn mà vua chúa thời ấy mắc phải,  các tác giả  Trương Hữu Quýnh và Nguyễn Đức Nghinh lại còn ghi lại một cuộc bàn bạc trong triều đình nhằm tố cáo lý do giả tạo mà ông vua vừa chiến thắng quân Nguyên nêu ra để buộc mọi người làm theo ý mình.

Ở tr 259, sách kể khi đánh Ai Lao, bầy tôi có người can ngăn rằng giặc Nguyên vừa mới rút lui, vết thương chưa hàn gắn được, không nên gây việc binh đao, thì vua trả lời đại ý rằng “sau khi giặc rút lui, các nước bên cạnh tất bảo là quân mã của ta mỏi mệt, có ý coi thường, cho nên cần phải khởi đại binh để ra oai với nước khác”.

Tóm tắt tình hình chinh chiến với Chiêm Thành,  các tác giả cho biết:

“ từ 1361, quân nhà Trần lui dần vào thế phòng ngự, chuyển cuộc  chiến tranh ở đất nước người về đất nước mình, nhân dân lao động phải gánh chịu những thảm họa của chiến tranh trực tiếp và ghê gớm hơn.”

“…sức sản xuất bị đình trệ  và có lúc bị phá hoại nặng nề đưa đến nạn đói lưu niên. Chỉ tính từ 1290 đến 1379 đã có 13 lần đói trầm trọng…(tr. 265)

Xét chung tình hình quốc gia, xưa nay dân ta hay nói sau khi chiến thắng quân Nguyên, đây là giai đoạn “ngàn năm thăng bình”.

 Thăng bình là từ cũ nay ít dùng. Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Mộng Hùng ( S. 1975) lý giải là “lên cõi bình trị trên toàn đất nước”, tiếp đó ghi lại câu thơ Nguyễn Khuyến “ “Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo” làm dẫn chứng .

Nhưng theo các tác giả cuốn sách đang nói, tình trạng thăng bình — và nghĩa giản dị hơn là một cuộc sống yên ổn — không đến với dân chúng.

Cuộc sống “an cư lạc nghiệp mà người dân Đại Việt muốn sau những năm chống quân Nguyên căng thẳng, không thể tìm thấy được trong cả thời gian rất dài gần hết thế kỷ XIV” ( sđ d tr. 264).

Tại sao vậy? Tạm nêu  lý do:

a/ Bao trùm trong những người quản lý quốc gia là  tâm lý đắc thắng kiêu ngạo “ bụi Hồ không dám động”.

b/ Khi đã mất hết cảm giác chính xác về thời cuộc, tầng lớp quí tộc cầm quyền những năm sau chiến tranh tự cho phép mình rơi vào ăn chơi sa đọa.

Có thể hình dung sự ăn chơi của vua quan nhà Trần thời hậu chiến  là vô cùng bỉ ổi, bởi họ có lý có lẽ hẳn hoi.
Nói theo chữ nghĩa thời nay, họ lao vào hưởng thụ một cách có ý thức.
Với tư cách là người chiến thắng họ cho mình cái quyền đó. “Cuộc chơi năm nay lại hơn những cuộc chơi năm xưa” – trong một bải thơ  vua Trần đã nói như vậy( sđd tr 263).

Ta hãy chú ý đến một khoảng cách là 40 năm hậu chiến.
Đây là thời Dụ Tông.

Tiếp theo AnhTông (1293-1314), Minh Tông(1314- 1329) Hiến Tông (1329—1340), vị vua này trị vì từ 1341 – 1369.

Lịch sử Việt Nam của Lê Thành Khôi viết ở bên Pháp từ 1950 và mới được dịch ở ta 2014, trong  chưa đầy hai trang ngắn ngủi nói về sự suy tàn của nhà Trần ( tr 225-227), cũng phải đề cập tới Trần Dụ Tông.

Ông vua này được miêu tả là người “chỉ nghĩ đến rượu chè chơi bời và phung phí công quỹ vào việc xây cung điện.”

Trở lại với cuốn LSVN của khoa Sử ĐHSP, thời kỳ Dụ Tông nhiều chùa tháp và cung điện được xây dựng. Vua sai đào hồ lớn ở vừờn ngự,  chất đá thành núi, bốn mặt khai sông cho nước thông vào để làm chỗ vui chơi. Sau đó còn đào một hồ nhỏ khác bắt dân Hải Đông chở nước mặn về chứa vào hồ để nuôi hải sản (tr 263-264).

Thời kì Dụ Tông cũng là thời kì những kẻ bất tài khéo nịnh được thăng quan tiến chức, viên chính chưởng phụng ngự Bùi Khoang giả vờ uống hết 100 thưng rượu mà được thăng tước.( tr 264)

Từ những ghi chép và bình luận của Ngô Thì Sĩ

Trên đây là mấy tài liệu lấy ra từ các bộ sử đương đại. Dưới đây là các bằng chứng xa xưa hơn.

Khi nói về các bộ cổ sử, người ta phải nói tới Đại Việt sử ký toàn thư của Lê Văn Hưu và Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn.

Nhưng thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu còn giới thiệu một vài bộ sử khác, bộ nào cũng có những khía cạnh mới.

Một tác giả như Ngô Thì Sĩ (1726-1780) đã mang lại cho cổ sử những ghi chép người khác hoặc bỏ qua, hoặc ghi không rõ, và nhất là những bình luận độc đáo, mang dấu ấn một tư duy sử học gần với con người hiện đại.

Chung quanh thế kỷ XIV mà chúng ta đang nói, đọc vào cuốn của Ngô Thì Sĩ thấy nhiều ý tứ phê phán mạnh bạo hơn, nên trong bài này tôi muốn cùng bạn đọc lần vào các trang  sử của người thân sinh Ngô Thì Nhậm, với sự lưu ý trước rằng, nhiều chi tiết có thể đã thấy ở cuốn Toàn thư, cũng như ở  Cương mục.

Tài liệu tôi dùng lần này là bản Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, bản dịch của Viện nghiên cứu Hán Nôm, in 1997.

Xin phép bắt đầu bằng cách  nói tạt ngang về một chuyện có liên quan tới sự lạ lùng của ĐVSKTB.

Gần đây báo chí nói nhiều tới việc Nhân Tông thượng hoàng (trị vì từ 1279 tới 1293) đi tu.

Một lần khoảng 2010, gặp nhau ở Sài Gòn, anh Trần Đĩnh —  bằng sự lịch lãm của một người đã qua sống qua ba chục năm chiến tranh và hết sức thông thạo mọi đường ngang ngõ tắt của các trung tâm quyền lực – đã giải thích với tôi, chắc là Nhân Tông thấy chiến tranh khủng khiếp quá, nên tìm cách tách mình ra khỏi thời sự mà suy nghĩ đấy thôi.

Cũng là một cách ghi nhận tâm lý hậu chiến!

Thật thú vị khi đọc Ngô Thì Sĩ lại bắt gặp một ý tưởng tương đồng.
Tiếp theo đoạn ca ngợi Thượng hoàng Nhân Tông, tác giả ĐVSKTB đứng trên lập trường nhà nho dấn thân, để chỉ ra trong hành động đi tu này vài ý nghĩa tiêu cực.

Ngô Thì Sĩ viết “Vua Nhân Tông tinh thông kinh điển, vốn có giác ngộ, trong thiên hạ không vật gì đáng bận tâm. Nhưng đường đường là đấng thiên tử mà ẩn náu nơi hang cùng ngõ hẻm, sớm hôm cùng một hai nhà sư trên núi không có hám của cải,  sống trong cảnh thái bình cho đến hết đời, công nhiên dùng Phật học mà dẫn dắt con cháu, đưa cả thiên hạ vào giáo lý đạo Phật, lỗi ấy không gì lớn hơn. (Tr 394 sđd)
Trở lại với cái mạch chung của thế kỷ XIV.

Trên nét lớn, sau khi đọc các nhà sử học đã dẫn ra ở trên, người ta chỉ có thể đi đến kết luận rằng sau một thời đại anh hùng là một thời kỳ đen tối và  thế kỷ XIV là một thời kì đau đớn trong lịch sử nước ta.

Sau khi Nhân Tôn bỏ việc đi tu, người kế tục ông là Anh Tôn đã nổi tiếng về chơi bời hư hỏng.

Các sách sử cũ đều viết và Ngô thì Sĩ cũng viết rằng một lần khi Thượng hoàng Nhân Tôn từ Thiên Trường về Kinh sư, mọi người trong ngoài đều không biết; vua uống rượu xương bồ quá say, Thượng hoàng đi xem khắp cung điện suốt hai khắc đồng hồ, chuẩn bị đi ăn cơm, vua vẫn chưa tỉnh.

Cũng vua Anh Tông này, theo cách miêu tả của Ngô Thì Sĩ phải kể là vị vua rất lông bông.“Vua thích vi hành, cứ ban đêm ngồi kiệu cho mười hai người thị vệ theo, đi khắp trong kinh kỳ đến gà gáy mới về cung” (Tr 394 sđd )

Ở trên đã nói, nếu lấy khoảng cách là 40 –đến 50 năm sau chiến thắng thì ông vua nhà Trần trị vì lúc ấy là Trần Dụ Tông.

Ông này mới thật hoàn toàn tiêu biểu cho tình trạng suy đồi của vua quan nhà Trần thế kỷ XIV.

Về Dụ Tông những năm cuối đời, Ngô Thì Sĩ  có lần buông một câu gọn ghẽ: “Việc làm rối loạn đạo trời, khiến cho Dụ Tông tinh còn mà thần mất, người khỏe mà tâm đã chết, tối tăm càn rỡ vào tận máu thịt”.

Thời Dụ Tông cũng là thời Chu Văn An dâng sớ xin chém mấy người gian nịnh. Bởi vậy, Ngô Thì Sĩ  lại viết thêm:

“Cho dù Chu Văn Trinh muốn lấy nghĩa lý mà chữa, cuối cùng cũng không chữa nổi.” (tr 443)

Trong bài viết về Trần Khánh Dư, tính chung cả hàng ngũ vua quan đương thời, tôi đã từng tạm khái quát “từ những người anh hùng có công, nhiều người trong họ trở thành những viên quan cai trị có tội”.

Nhưng mà đấy mới chỉ là nói một cách chung.

Thực ra ban đầu các vị ấy đâu đã phải hoàn toàn hư hỏng.

Về sự suy đồi đạo lý của họ, Ngô Thì Sĩ đưa ra một sự so sánh:

+năm 1296, một viên quan thượng phẩm là Nguyễn Hưng phạm luật đánh bạc liền bị đánh chết(tr 396).

+thế mà đến năm 1362, vua Dụ Tông lại gọi người vào chơi bạc, để mưu đóng vai nhà cái một vốn bốn lời “một lần đặt là 300 quan, ba lần đã gần nghìn quan rồi”.

Dụ Tông cũng ban lệnh cho tư nô cày một mẫu đất ở bờ bắc sông Tô Lịch để trồng hành trồng tỏi, rau dưa rồi đem bán kiếm tiền.
Rồi làm cả quạt mang bán (tr. 453).

Theo cách miêu tả của  Ngô Thì Sĩ, Dụ Tông có một tính cách rất hiện đại là biết dùng bộ máy quyền lực để kiếm tiền trong quan lại cấp dưới và cả dân.

ĐVSKTB ở tr 455 kể một chuyện xảy ra từ đời vua cha là Minh Tông. Thấy một nhà buôn là Ngô Dẫn giầu lên nhờ kiếm được ngọc quý, vua gả ngay con gái cho Ngô Dẫn. Nhưng Dẫn cậy mình giàu có, lấy vợ lẽ và ở với vợ lẽ, lại tỏ ý khinh bỉ công chúa. Đến đời Dụ Tông. Nghe lời than phiền của em, Dụ Tông liền tỏ uy quyền bằng cách  ra lệnh tịch thu toàn bộ của cải.

Về việc vua Dụ Tông đào hồ làm nơi vui chơi mà trên kia cuốn LSVN của khoa Sử ĐHSP đã viết, Ngô Thì Sĩ còn ghi rất rõ:

+ trên hồ này, trên bờ trồng tùng trúc và các loại cây cùng hoa quý cỏ lạ.

+ Lại nuôi nhiều chim quý, thú lạ ở trong vườn.

+Đối với hồ nước mặt, sai bắt các con vật ở biển như đồi mồi cá, ba ba đen về nuôi, lại sai người ở Hóa Châu (Thuận Hóa) chở cá sấu thả vào.

Ngô Thì Sĩ cho rằng cả Tùy Dạng Đế,– nhân vật nổi tiếng tàn bạo trong lịch sử Trung Quốc — cũng không tìm được niềm vui tương tự.

Sau khi bảo rằng cách vui của Dụ Tông lúc ấy “có thể nói là vui mà quên chết” Ngô Thì Sĩ viết tiếp  “Người mải kiếm tiền và mải vui sẽ là người lơi lỏng lơ là trong việc trị nước”.

Ông thầm nói với hậu thế chúng ta “Giả sử chuyển trí tuệ khôn khéo ấy để trị dân trị nước thì làm gì lo đến sự bại vong” (tr 456).

Mở rộng ra nữa, ông cảnh báo về hậu quả mọi tội lỗi của các nhân vật quốc gia: “trong thì mê gái đẹp, ngoài thì mê săn bắn, thích rượu, ham âm nhạc. Làm nhà cao, đắp tường đẹp. Phạm điều này trong bốn điều này chưa từng ai không bị diệt vong ( cũng tr 456).

Về đức hạnh của các quan đầu triều đương thời, Ngô Thì Sĩ có nêu một trường hợp là Trần Khắc Chung.

Ông này thường “cùng với học sĩ Nguyễn Sĩ Cố đánh cờ hàng mấy ngày liền, đến nổi ngồi ngay bàn cờ mà ăn cháo, không nghỉ chút nào, được thua một vài quan tiền cũng cố làm. Bạn bè có việc mở tiệc đầy năm cho con hoặc mừng nhà hoàn thành, hễ mời là đến. Nhà thầy thuốc có món ăn cũng mò mà đến, quân lính thết đãi ăn uống thì khen vợ họ để nịnh (sđd tr. 431).

Trang 445 của cuốn ĐVSKTB kể năm 1354 có nạn đói, ngoài ra nhân dân lại khổ vì trộm cướp, có người xưng là cháu ngoại của Hưng Đạo Vương tên là Tề tụ hợp các gia nô bỏ trốn ở các xứ Lạng Sơn, Nam Sách.
Con cháu các cụ có người cũng không sống nổi, hỏi người thường ra sao?

Trong việc các vua Trần nửa cuối thế kỷ XIV đối xử với Chiêm Thành, các nhà sử học hiện đại thường cũng quên không ghi rõ một điều mà Ngô Thì Sĩ cùng nhiều ngòi bút sử học chân chính hồi xưa đã viết. Đó là nhiều lần người Chiêm đã vào cướp phá cả những vùng như Thuận Hóa, và quân ta thua chạy. Đến đời Nghệ Tông, quân Chiêm đến sát kinh sư. Đến đời Duệ Tông thì xâm phạm xe vua.

Có lần một vua Chiêm là Chế Mỗ bị người trong nước đánh đuổi, vua Trần chở che và cho người đưa về, nhưng thất bại, Chế Mỗ chết trong cảnh đơn độc trên đất Việt.

Nói chung trong cách đối xử với các vua Chiêm, vua ta nhiều khi tiền hậu bất nhất, dám tùy tiện làm nhiều chuyện mà trong quan hệ giữa các quốc gia  không được phép.

Nhìn chung về đội ngũ quan chức của nhà Trần suốt thế kỷ XIV, đọc Ngô Thì Sĩ, người ta có thể nhận xét là sau khi đánh xong giặc Nguyên, chả ai biết làm gì để khôi phục lại tình hình đất nước đã tiêu điều tan nát trong chiến tranh. Trên thì không có chính sách, cấp dưới thì không có người hiểu biết mà cố vấn cho vua.

Một đoạn có giọng văn bia Ngô Thì Sĩ về Dụ Tông, mà cũng là về tình trạng đổ đốn của con cháu các bậc anh hùng năm xưa:

“Dụ Tông lên ngôi 15 năm, sử chép 6 lần nhật thực, hạn hán đế 3 lần. Một lần sâu keo mất mùa hàng năm. Đến khi ấy từ mùa xuân đến mùa thu núi lở động đất lụt hạn, sét đánh, không tháng nào là không có. Trời phạt tội dâm ác đến cực độ, răn đe nảy ra chính sự lười biếng, thế mà cha con vua tôi trong một thời vẫn bình thản như thường. Kẻ trên không có lòng thành khẩn xét mình, kẻ dưới không có lời tâu cứu giúp thời cuộc, coi thường điều trời răn không biết sợ. Khinh bỏ việc người không biết lo.( VTN nhấn mạnh). Sang năm sau, Minh Tông qua đời, Dụ Tông thỏa lòng xa xỉ, giặc giã nổi lên từng bầy, việc thờ cúng không ra lề lối, ngôi báu nhà Trần suýt di chuyển về họ Dương” ( tr 448).

Mấy điều tổng kết tạm thời:

I/Nếu lịch sử Việt Nam thường chỉ được quy kết vào lịch sử chống ngoại xâm, thì việc ghi chép về các thời hậu chiến của người đương thời đã ít, đến các sử gia hiện đại, việc này lại càng bị lảng tránh.

Điều đó có thể  giải thích như sau:

I/ Đối với người xưa, nó chứng tỏ xã hội Việt Nam thực ra vẫn chưa thực sự hình thành, quốc gia chúng ta vẫn giống như một đạo quân hơn là một xã hội sống bằng làm ăn kinh tế và hướng tới phát triển.

Đối với các sử gia đương đại, nó càng chứng tỏ chúng ta chỉ mới có một nền sử học phục vụ cho cuộc chiến đấu trước mắt. Dù đã mấy chục năm ra khỏi chiến tranh nền sử học ấy vẫn chỉ xoay đi xoay lại các bài bản cũ, cách làm cũ.  Chúng ta thiếu các nhà trí thức biết nhìn lịch sử trên cả chặng đường dài và bằng con mắt của con người hiện đại.

II/Khi miêu tả các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, các nhà sử học hôm nay thường chỉ ghi chép những điều tốt đẹp mà không ghi những mất mát đau thương mà chiến tranh mang lại.

Mà mất mát đau thương nhất của chiến tranh ở VN là gì?

Là cả cơ chế xã hội bị giải thể, trong đó bộ phận quan chức là bộ khung xã hội thì trở nên suy đồi  không thể cứu vãn.

Ta thường chỉ nói tới mặt tích cực của quan chức trong thời chiến.
Cái đó thì đáng trọng thật.
Nhưng mặt khác phải thấy sinh ra trong thời chiến, họ chỉ biết việc binh đao mà không biết gì việc làm ăn và quản lí xã hội.
Được làm vua thua làm giặc, kẻ võ biền chiến thắng tự dành cho mình tính chính danh trong việc quản lí đất nước.
Cậy là có công cứu nước, họ buộc cộng đồng mãi mãi mang ơn và tự cho mình có toàn quyền bóc lột đàn áp dân chúng.

Trong việc học hỏi và tiếp thu văn hóa Trung Quốc, chúng ta thường chỉ học lỏm về một số phương diện văn hóa; còn  chính bộ phận văn hóa quyền lực là phần văn hoá rất thâm hậu trong văn hóa Trung Quốc thì chúng ta lại không hề tiếp nhận không học theo một cách bài bản.

III/Một thực tế của các vương triều hình thành sau khi chiến thắng là chỉ được một hai đời, đến các đời sau đều đồi bại đi rõ rệt. Trên đã nói những người đánh giặc giỏi chưa chắc đã là những người quản lý xã hội giỏi. Giờ phải nói thêm con cháu các bậc anh hùng trong thời chiến không mấy khi là những kẻ tử tế biết sống ra người trong thời bình. Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành là thế. Nhà Trần là thế. Sau này là Nguyễn Huệ. Quang Trung xuất sắc bao nhiêu thì đến Quang Toàn hèn kém bấy nhiêu.

Tôi nhớ một nhà xã hội học lớp trước đã nhận xét là ở Việt Nam chỉ có giai cấp cầm quyền mà không có bộ phận quý tộc được hình thành nhiều đời và có văn hóa. Chỉ có triều Nguyễn ở đầu thế kỉ XIX rút kinh nghiệm được các triểu trước và tạo sự liên tục suốt bốn đời vua liền. Đó là  bước tiến bộ của lịch sử. Nhưng với con người thời nay, với các sử gia Hà Nội trong 70 năm qua,  thì triều Nguyễn lại không hề được quan tâm và rút kinh nghiệm. Chỉ toàn những lời đả kích phê phán.

Advertisements

Tagged as:

25 phản hồi »

  1. Đọc bài này, ý tưởng thì có nét hay nhưng tôi lại cứ thấy không ổn. Vì không phải người thuộc lòng được các sách sử, cũng không thể bỗng dưng tra cứu nên tạm chưa kiểm chứng thông tin. Trước hết tôi nêu vài chi tiết gợn lên ngay khi đọc.
    Chi tiết vua Trần Nhân Tông duyệt hộ khẩu ngay sau chiến tranh mà giải thích là “để tìm cách “lấy tiền của mà tu bổ những tổn hại do chiến tranh gây nên.”” tôi thấy quá lố bịch. Duyệt hộ khẩu là việc cần thiết để quản lý, là việc đương nhiên phải làm sau một cuộc “bất ổn”.
    Rồi việc sau khi thắng quân Nguyên, vua ta lại đem quân đánh mấy nước nhỏ. Dám chắc các nước ấy nhỏ hơn nước ta không? Lúc ấy Chiêm Thành không hề nhỏ hơn nước ta đâu. Có chắc nước ta chủ động gây sự chứ không phải bị gây sự trước? Sao lại không phải là mấy nước ấy nhân nước ta vừa trải chiến tranh còn yếu nên đem quân sang cướp phá trước?
    (mệt quá! mai bàn tiếp)

    Liked by 2 people

    • Trong câu này “sau khi giặc rút lui, các nước bên cạnh tất bảo là quân mã của ta mỏi mệt, có ý coi thường, cho nên cần phải khởi đại binh để ra oai với nước khác” có từ “nước khác” không khỏi khiến ta nghi rằng nó không phải nguyên văn lời vua nói. Nhưng cứ cho rằng vua có nói thế thì vẫn lý giải được. Các nước khác “có ý coi thường” như thế nào nếu không phải là đem quân xâm lấn, nhũng nhiễu biên giới? Nếu thế vua đem quân đi đánh đâu có sai. Như vậy không thể đủ căn cứ để khẳng định vua Trần đem quân đi “xâm lược” Ai Lao và Chiêm Thành.
      Cuộc chiến kéo dài năm chục hay một trăm năm không có nghĩa là đem quân đi đánh liên tục, thường xuyên hàng năm. Nói kiểu ấy thì hoá ra cuộc chiến VN và giặc phương Bắc luôn diễn ra suốt 2000 năm nay?
      Đoạn chiến tranh chuyển về trong nước cũng khiến tôi suy nghĩ. Đem quân đi đánh bị chê là xâm lược, để giặc vào trong nước rồi đánh thì dân khổ vì chiến tranh. Vậy cách nào là tốt? Không chiến tranh hẳn là tốt nhất. Nhưng mấy bác viết sử có chỉ ra được cơ hội để tránh chiến tranh không?
      Vậy đoạn bàn về chiến tranh phía Tây, Nam là không đủ sức thuyết phục.

      Liked by 1 person

    • Đấy gọi la mở mang bơˋ cõi hay xâm lược Chiêm thành hả ad

      Số lượt thích

    • Tiếp :
      “Hoàn cảnh hậu chiến khó khăn, hẳn không ai lạ gì. Các nhà sử học tôi muốn giới thiệu trong bài này chỉ hơn hẳn các nhà sử khác là không lảng tránh mà coi đó là một đối tượng cần phải miêu tả.”
      Các nhà sử học mà tác giả đây giới thiệu không lảng tránh. Đúng. Nhưng các nhà sử học từ xưa cũng không hề lảng tránh. Nếu họ lảng tránh không ghi chép thì mấy nhà sử học này làm gì có căn cứ mà viết? Nghĩa là việc không lảng tránh sự thật là việc thường của người ghi sử, không đáng để khen.
      Cái đáng bàn hơn là các nhà sử học này (và tác giả bài này) trích, nối toàn những chi tiết riêng theo ý đồ cá nhân:
      – Tại sao trích cái nạn đói mà không trích nốt cái việc nhà nước xá thuế, phát chẩn cứu đói, khuyến khích dân mua ruộng, khai hoang … để ổn định sản xuất nông nghiệp?
      – Tại sao trích các nạn đói nối tiếp với các cuộc chiến với Chiêm trong khi sau những năm được mùa vua mới đem quân đi chiến tranh bên Chiêm?
      – Tại sao trích các nạn đói mà quy trách nhiệm hoàn toàn cho vua đem quân đánh Chiêm? lại không thấy mất mùa có rất nhiều nguyên nhân khác như hạn hán, lũ lụt, thiên địch, …?
      – Tại sao trích câu thơ “Cuộc chơi năm nay lại hơn những cuộc chơi năm xưa” mà dám khẳng định vua ăn chơi có chủ ý? Nếu chơi lành mạnh, văn hoá thì càng chơi hơn năm xưa bao nhiêu càng đáng khen bấy nhiêu chứ?
      – Tại sao nêu việc vua Anh Tôn say mà không nêu việc sau đó vị vua này không bao giờ uống rượu nữa, cũng như việc chính vị vua này nghiêm cấm đánh bạc?
      – Tại sao nhìn việc vua Nhân Tông (lúc ấy là thượng hoàng rồi) đi tu là đi hưởng thái bình mà không nhìn đó là đi lo việc nước, là một nước cờ chính trị để ổn định đất nước? (thời đó trở về trước (thời Lý) toàn dân mộ đạo Phật, vua đi tu sẽ dễ kết nối với dân hơn; vua đi tu không chỉ ngồi trên núi mà còn đi vào dân chúng để hiểu đời sống dân chúng, hơn hẳn thỉnh thoảng vi hành; trong đạo Phật còn nhiều người giỏi, vua đi tu đắc đạo khiến họ thấy rằng lo việc nước cũng là một cách tu hành mà tham gia giúp nước; ….)
      Trong khoảng chưa đầy hai trang a4 mà bài viết này xuất hiện bấy nhiêu cái cần phải “tại sao” như trên thì nhiều rồi. Xâu chuỗi những cái tại sao đó vào có thể phán đoán tác giả bài này chịu ảnh hưởng sâu tư tưởng những “nhà sử học hiện đại” ở trên; còn những nhà sử học trên thì sống trong tư tưởng : phong kiến, vua quan là phải sai; tiến lên CNXH mới đúng.
      Hix. Có thành kiến trước khi viết sách sử thì làm sao đáng tin cậy đây? có đáng đọc tiếp?
      Lại bàn thêm về người làm sách sử. Không chỉ sách sử ngày nay đọc phải tỉnh táo để khỏi bị nắn dòng tư tưởng. Những sách xưa cũng đáng dè dặt. Bởi vì các bạn không mấy người đọc được nguyên gốc mà toàn đọc các bản dịch. Nhưng những bản dịch lại không đúng nguyên tắc của việc dịch sách. Ví như trong Đại việt sử kí toàn thư có rất nhiều chỗ mà chữ không rõ (vì mờ, vì cổ quá mà người dịch không đọc được) người dịch đoán ra mà dịch. Rồi nhiều chỗ “người dịch cho là sử cũ ghi sai” đã đi tham khảo thêm các sách lịch sử Tàu thời Minh, Thanh để “sửa lại cho đúng”! Việc làm đó sai nguyên tắc dịch sách là: dịch nguyên văn, sai để sai, không rõ để không rõ. Hơn nữa sách Tàu cũng có đúng đâu? Nhiều sách vở họ còn cố tình xuyên tạc. (Thời nhà Thanh, Càn Long đã cho “cạo, sửa” rất nhiều sách đã cướp được của nước ta từ thời Minh. Hoặc những bằng chứng nguỵ tạo về Hoàng Sa, Trường Sa gần đây là rõ nhất.)

      Số lượt thích

  2. Sau chiến tranh, VN vẫn có mối giao hảo với phương Bắc.

    Lịch sử, hay thì có hay, nhưng nhiều chủ quan. Tôi cho rằng, vì chủ quan mà sinh ra nhiều ý.

    Cái quan trọng nhất vẫn là hôm nay, làm sao cho dân giàu nước mạnh, làm sao cho xã hội tốt đẹp, tôi được vui, mọi người được vui, nhà nhà hạnh phúc.

    Tôi vẫn nghĩ, VN gần Tàu hơn các nước khác; có nghĩa là, thực tế phải can qua như vậy.

    Tôi vẫn nghĩ, VN phải “xây dựng” một nước Tàu “văn minh” hơn, “nhân đạo” hơn, “tình người” hơn; có nghĩa là, phải can thiệp tích cực hơn.

    Tôi vẫn tin vào con người á châu, tôi không tin là họ thiếu thiện chí.

    Theo Khổng tử, trị nước cần 3 yếu tố: lương thực, binh lính, và lòng tin của dân. Trong ba điều ấy, chẳng may phải bỏ một thì phải bỏ cái gì? bỏ binh lính. Trong 2 điều còn lại, nếu phải bỏ một thì phải bỏ cái gì? bỏ lương thực. Tóm lại, lòng tin của dân chúng vào chính quyền là quan trọng nhất. (Khổng Tử của Nguyễn Hiến Lê)

    Liked by 1 person

  3. Tôi biết mỗi người có một chính kiến riêng,nhưng vơí tôi để đánh giá lại những việc mà tiền nhân đã làm thì hậu bối chúng ta còn chưa đủ tri thức và tư cách đâu,đừng bao giờ mang hai chữ nhân văn để xét lại quá khứ,tôi chưa biết được mục đích sâu xa của bài viết này là gì nhưng tôi nghĩ tác giả đã có những suy nghĩ chủ quan khi viết nó.Tôi chợt nhớ đến một câu nói,nuế bạn bắn vào quá khứ một viên đạn thì quá khứ sẽ trả lại bạn bằng một cú đại bác!!!!!!!!!

    Số lượt thích

    • Trong suy nghĩ và hành động không bao giờ tránh khỏi chủ quan. Có khách quan mấy cũng chỉ tiến gấn đến sự thật mà thôi. Như Mậu thân ở Huế, mới chưa đầy 1/2 thế kỷ đã lộn xộn rồi, huống chi mấy trăm năm. Nói về lịch sử xin đừng xuyên tạc là đủ rồi.

      Liked by 1 person

      • Bạn nói chí lý : “Trong suy nghĩ và hành động không bao giờ tránh khỏi chủ quan. Có khách quan mấy cũng chỉ tiến gấn đến sự thật mà thôi.”
        Và : “Nói về lịch sử xin đừng xuyên tạc là đủ rồi. ” lại càng đúng. Nhưng thực hiện thế nào?
        Người viết sử cổ nhất và trung thực nhất mà tôi biết là Khổng Tử với tác phẩm mà nay gọi là Kinh Xuân Thu. Trong đó tuyệt đối chỉ ghi chép sự kiện (dù không đầy đủ các mặt) mà không bình luận khen chê.
        Còn lại các sách sử phong kiến kém hơn thì ghi chép sử xong có bình luận. Và các sách sử ngày nay lại càng kém khi ghi sử lại lồng ngay ý kiến cá nhân vào nữa.
        Nhưng người đọc sử không phải người ghi sử thì có quyền bình luận, suy nghĩ. Và người đọc sử cần phải suy nghĩ, bình luận để mang lại hiểu biết. Hơn thế ngày nay việc đọc sử càng khó khi người ghi sử kém quá khiến sự việc ghi chép trở nên méo mó.

        Số lượt thích

  4. Một bài viết rất hay! Lịch sử cần được nhìn nhận càng nhiều khía cạnh thì càng mới mẻ, càng có lợi chứ!?

    Số lượt thích

    • Vâng. Thì người đọc cũng đang nhìn theo hướng khác của tác giả bài viết thôi chứ không hàm ý chê bai gì trong các lời trò chuyện này cả.

      Số lượt thích

  5. Canh Sử

    Tôi có thể ví học sử như nấu một bát canh (vd, canh rau đay nấu với cua đồng). Vật liệu sẵn sàng, mỗi học viên nấu theo kiểu của mình, theo thói quen của mình, rồi khen là ngon, cho thế là đúng. Thực ra, chẳng ai biết chắc bát canh đầu tiên, nêm nếm, ngon ngọt ra sao.

    Vậy ta phải học sử làm sao, và áp dụng thế nào vào đời sống? Martin Luther King khuyên: Chúng ta phải học hỏi sống chung thế nào như anh em; nếu không, chúng ta sẽ cùng bị tiêu diệt như những con ma dại.

    Số lượt thích

    • Học hỏi thế nào để có thể chung sống như anh em với một tên sát nhân chẳng hạn? Ôi giá Luther Kinh có khuyên điều ấy thì tốt quá. hihi hehe.

      Số lượt thích

      • Sát nhân phạm pháp có nhiều lý do: bị xúi dục, do bịnh hoạn, vì căm thù, hiểu lầm, hành động không ý thức, vv. Nếu trong anh em ta có người vướng phải tội phạm này, thì ta phải làm gì, giúp đỡ bằng cách nào?

        Số lượt thích

      • ví dụ hiện nay có đứa cháu giết cả bà để lấy vài đồng chơi game, có đứa (chưa đủ 18 tuổi) giết gần hết cả nhà người ta cướp vàng. Tôi cho rằng nếu sống chung được với chúng như anh em ắt phải là siêu nhân hoặc thần thánh. Là người thường có thể làm được không?

        Số lượt thích

        • Bác loi thoi, nếu mà bác xem những kẻ sát nhân ấy đã được nuôi dạy như thế nào, thì có thể là bác sẽ động lòng thương chúng nó đấy. Cho nên tôi muốn làm sao cho khi con làm bậy, thì bố mẹ cũng phải bị trừng trị theo, họ phải theo học một lớp cải tạo về nuôi con, dạy con, hoặc là lao động công ích phục vụ cộng đồng. Và phần lớn những thằng giết người man rợ ấy, nếu không phải là chúng “ngáo đá” (ngáo đá thì người vốn hiền cũng sát nhân như thường), thì chỉ cần cho chúng ăn no nhiều cơm rau, và bắt tập thể dục kha khá, là chúng hiền đi ngay. Nhưng tất nhiên là tôi không muốn sống gần chúng, còn nếu bắt buộc phải sống gần, thì tôi chịu khó biếu chúng đồ ăn ngon lắm :-), thành ra chúng lại đâm quý mình, bênh vực mình.

          Số lượt thích

        • như tôi với loi thoi – sống tử tế với nhau trong xã hội cũng đã là anh em rồi, không nhất thiết phải là anh em cùng cha cùng mẹ

          Số lượt thích

  6. Nói tới đánh giá về sử của các sử gia, thì đương nhiên đó là cái nhìn chủ quan trên căn cứ vào các chi tiết thu lượm được. Vậy nên luôn tồn tại ở đây những quan điểm trái chiều vì người chính nhân đánh giá khác mà người tiểu nhân lại nhận định khác.
    Đơn cử ngay như việc đánh giá “Ngô Thì Sĩ viết “Vua Nhân Tông tinh thông kinh điển, vốn có giác ngộ, trong thiên hạ không vật gì đáng bận tâm. Nhưng đường đường là đấng thiên tử mà ẩn náu nơi hang cùng ngõ hẻm, sớm hôm cùng một hai nhà sư trên núi không có hám của cải, sống trong cảnh thái bình cho đến hết đời, công nhiên dùng Phật học mà dẫn dắt con cháu, đưa cả thiên hạ vào giáo lý đạo Phật, lỗi ấy không gì lớn hơn” quả thật khiến tôi ngỡ ngàng và bật cười. Người dám từ bỏ ngai vàng, vinh hoa sau khi đã trải qua quá nhiều khổ hạnh của nạn binh đao để tìm tới phật pháp và đưa vào giác hạnh trong dân, mục đích dể an dân bền lâu và để giải khổ cho dân từ trong tâm can, đó là điều xưa nay hiếm và đáng ngưỡng mộ ngàn đời cớ sao lại là tội.
    Nói theo tác giả Thì Sĩ thì các ông vua, quan tham quyền cố vị ắt sẽ là người được ông tôn vinh và ngưỡng mộ. Đúng là cái nhìn bỉ ổi và thô thiển của một người nói về lịch sử.
    Mỗi người nghiên cứu có cách đánh giá riêng và tôi tôn trọng những đánh giá của kẻ hiền tài, còn những kẻ có tri thức học thuật nhưng cái nhìn thiển cận và hẹp hòi thì không đáng để đọc, để xem.

    Liked by 1 person

    • Bạn nói rất đúng. Ngô thì Sĩ đánh giá theo quan điểm của nhà Nho kiểu Tàu, đương nhiên là hẹp hòi. Cho nên tôi mới nói người ghi chép sử thì không nên bình luận xen vào. Còn thì người đọc thì thoải mái bình luận, trao đổi (kể cả cãi nhau tí cho rôm). Bởi nếu đọc mà không bình thì không có lý do, động lực để suy ngẫm. Mà đọc không suy ngẫm thì tôi thua cái máy foto.

      Số lượt thích

  7. TUI KHONG THICH LICH SU , vI LICH SU CHI LA SU DOI TRA , , nGAN NGU pHAP

    HTN: Viết một câu tiếng Việt lộn xộn, không dấu, thì là gì?

    Số lượt thích

  8. Ông Vương Trí Nhàn thực ra muốn lấy chuyện xưa mà phê phán nay, nên bất công với nhà Trần. Về “nay” thì ông đúng! Chưa có triều đại nào mau hư hỏng, bệ rạc sau chiến thắng, một cách .. thần tốc như triều đại ngày nay!
    Các triều đại xưa như Lý, Trần, Lê.. cho đến Nguyễn thì..
    Vua đầu.. dựng nên triều đại.. vua thứ hai xây dựng chính quyền, tổ chức.. Vua thứ ba ..rảnh hơn thì lo phát triển văn hoá, vua thứ tư, thứ năm .. cũng .. ok.. sau đó là.. chơi! Và mất nước! Hay bị quyền thần lấn lướt.. Cần độ 1 thế kỷ hay hơn mới suy thoái.
    Triều nay.. suy thoại ngay.. vua thứ hai!
    Nhà Trần không phải là mấy.. vua XHCN Nên ông VTN khiên cưỡng khi lấy đó mà.. ví von.
    Tôi đọc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và thấy vua Anh Tông không hề là ông vua.. bê bối như VTN trích dẫn! Có gì to chuyện khi một ông vua trẻ.. nhậu và bị bố rầy!
    Ông lên ngôi năm 18 tuổi, bị Thượng Hoàng bắt tội.. nhậu và doạ truất ngôn năm 23 tuổi, lúc ấy thực ra ông chỉ là ông vua.. tập sự! Ông..đẹp trai (có ghi trong sử!), tính “quậy”! như đi chơi đêm để bị du côn nó ném gạch vào đầu. Thế nhưng cá tính quậy của thanh niên không là bằng chứng cho sự suy thoái! Ông Clinton còn quậy hơn.
    Đọc sử thì thấy Triều Anh Tông không tệ! Sau ộng đến Minh Tông, Hiến Tông cũng thế. Chỉ tới Dụ Tông thì mới suy! Khoảng cách là 3 đời, khoảng 60 năm!
    Sứ thần Ngô Sĩ Liên nhận xét về ông:
    Tên là Thuyên, con trưởng Nhân Tông, mẹ là Khâm Từ Bảo Thánh hoàng thái hậu, ở ngôi 21 năm, nhường ngôi 6 năm, thọ 45 tuổi, băng ở cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường, táng ở Thái Lăng. Vua khéo biết kế thừa, cho nên thời cuộc đi tới thái bình, chính trị trở nên tốt đẹp, văn vật chế độ ngày càng thịnh vượng, cũng là bậc vua tốt của triều Trần. Song tụ họp nhà sư trên núi Yên Tử, làm nhọc sức dân dựng gác Ánh Vân, thì chẳng phải là tỳ vết nhỏ trong đức lớn đó sao

    Đọc sử cũ rất thú vị, rất “đời” và rất “người”. Anh hùng Trần Hưng Đạo.. quậy tới bến! Người yêu ông là công chúa Thiên Thành, vua định gả cho người khác, ông nửa đêm trèo tường vào phòng nàng làm.. sự đã rồi! ván đóng thuyền, vua cũng đành chịu! Cha ông, An Sinh Vương Trần Liễu thì phạm tội.. hiếp dâm cung nữ. Sử cũng chép tuốt không che dấu.

    Ta đang sống ở triều đại mà Thái Tổ, Thánh Tông.. cứ như.. thánh. Suốt đời chỉ vì nước, không cần phụ nữ!

    Liked by 1 person

    • Các bác nói mỗi bác một ý nhưng bác nào cũng có lý. Tôi tuy rất bí về sử nhưng cũng có ý thế này. Đại Việt sử ký toàn thư của Lê Văn Hưu là Bộ sử có thể nói là tin tưởng nhất mà tôi được đọc .các triều đại được ghi lại tương đối đầy đủ Văn phong hiểu được. Quan trọng nhất là phản ánh mặt được và không được của các triều đại rất thật không một chiều hướng dư luận như ngày nay của một số người chép sử.

      Số lượt thích

  9. Tôi cách đây nhiều năm đọc cuốn Ba lần chiến thắng giặc Nguyên-Mông của các tác giả Hà Văn Tấn-Phạm Thị Tâm và có một lần đọc cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam của Trần Ngọc Thêm. Xin lỗi các tác giả nếu việc trích dẫn thiếu chính xác, vì đã lâu không còn mấy tài liệu đó mà vào thư viện để tra cứu thì chưa thể.
    Ý chính công trình của GS Thêm nói rằng nguồn gốc Lạc thư, Hà đồ là của người Việt cổ chính là nền tảng của tử vi, tướng pháp và ngũ hành? Vì vậy tôi nuôi ý định mong “đủ tuổi” sẽ nghiên cứu văn hoá tâm linh và đọc kỹ Kinh Dịch để xem người cổ (Việt hay Trung Hoa) đã nhận thức, đúc kết về tự nhiên như thế nào. Đặc biệt GS Thêm đưa ra giả thuyết người Việt cổ là “giống” gốc của người TQ và nhiều vùng khác. Không biết giả thuyết này đang đi đến đâu?
    Về tác phẩm của GS Tấn thì viết rất đầy đủ, kỹ lưỡng hay về cuộc kháng chiến thần thánh chống giặc của nhà Trần. Tiếc rằng tác giả không viết tiếp, biên tập giai đoạn hậu chiến của nhà Trần nên dù có “đường dẫn” của tác giả VTN, tôi sẽ phải tìm cho được các tài liệu khác nhau về nhà Trần thời hậu chiến để “chiêm ngưỡng” cho liên tục các trang sử.
    Lâu nay, tôi có một số trăn trở, mong được giúp đỡ, giải đáp.
    – Chính sử, văn hoá vật thể vốn đã yếu mà “truyền thuyết” và phi vật thể có nguy cơ thui chột, đi xuống trong giai đoạn hiện nay vì dường như ngành sử đang bị ” nghiền nát” một cách không tuyên bố?
    – Ngoài bị xâm lược trực tiếp thì ngoại bang có lẽ ra sức tiêu diệt chính sử và những lực lượng viết sử có nguy cơ cho họ? Có vẻ sử ta thường hay chỉ trích “vua ta” như Nguyễn Ánh, Trần Trọng Kim… nhưng khá “lễ độ” với vua TQ?
    – Sử từ thời nhà Thanh (Pháp – Thanh) đến nay không được duy trì đáng kể, ở cả người làm sử và người đọc sử, nhất là mối quan hệ với TQ?
    Ở Trung Quốc họ vẫn không né tránh lịch sử cận, hiện đại đặc biệt trong quan hệ với Nhật Bản và láng giềng. Nghe nói bảo tàng Nam Kinh họ còn tổ chức như một trung tâm “tố giác” phát xít Nhật. Ta có cần phải “né tránh” trong làng sử hay không?
    – Phim lịch sử của TQ rất thành công và VN chiếu rất nhiều, thậm chí tạo nên nhu cầu “thiết yếu” cho thế hệ trẻ, có hiện tượng “thuộc sử Tàu, quên sử ta” ngay trong lứa tuổi học sinh?
    – Sử đìa phương (thực ra không nên đặt ra trung ương địa phương trong làm sử) của ta còn yếu hơn nhiều và mong sao, không chỉ nói về chiến tranh mà cái chính là quá khứ con người,thành quả phát triển, xã hội và tự nhiên xung quanh được ghi chép,nghiên cứu cho toàn diện.
    Chính vì vậy băn khoăn của tác giả VTN là dễ hiểu. Cảm ơn các tác giả.
    Liệu nhà nước và bộ GDĐT sẽ quan tâm và đúng mức hơn cho văn hoá, lịch sử, coi ngành sử thật sự là ” phần hồn” hệ trọng của dân tộc?

    Số lượt thích

  10. Tôi muốn trở lại đời nhà Trần tí nữa, vì còn nhiều thú vị.

    Con người ai cũng muốn hạnh phúc, ai cũng muốn được tự do, được tự chủ (các Hiến pháp, các Tuyên ngôn, các quy ước, đã ra lệnh như vậy). Thế rồi, con người lại “giăng dây” thêm, lập ra Luật (không được ăn trộm…), lập ra Lễ (tiên học lễ…), rồi nhân nghĩa trí tín… rồi đủ thứ điều lệ khác…, đó là chưa kể đến thói quen, tập tục, tôn giáo, và chủ nghĩa. Tất cả là để đè nén, áp lực lên con người, từ khi sinh ra cho đến khi chết (thế mới gọi là “văn minh”, chết một cách “văn minh” !)

    Điều dại dột nhất của con người là đặt ra ranh giới, ranh giới về địa lý, ranh giới về giai cấp, ranh giới về chủng tộc, ranh giới về giầu nghèo, …Có ranh giới là có tranh giành, là có chiến tranh; càng nhiều ranh giới thì chiến tranh càng nhiều. Lý thuyết cộng sản cố dẹp tan giai cấp, nhưng lại xây thêm “tường Bá linh”; thế giới tự do thả lỏng con người, nhưng lại dùng tiền bạc làm cái bẫy; tôn giáo giải thoát, nhưng lại đặt ra nhiều tín điều để buộc con người lại.

    Hãy nhìn thế giới hôm nay, người ta đang đánh nhau vì những cái ranh giới nhân tạo đó, ISIS, Ukraine, Biển Đông, Cambodia, Mễ tây cơ & Hoa kỳ, … Tôi không nhớ đời nhà Trần ranh giới nước mình ra sao. Và sau ba lần đánh thắng quân Nguyên, các vua đã làm gì để xóa mờ ranh giới đó. Đúng vậy, muốn bớt chiến tranh, người ta phải biết xóa nhòa những ranh giới, những ranh giới mà từ lúc đầu không bao giờ có. Phật không có ranh giới, Chúa không có ranh giới, Đạo không có ranh giới.

    Hãy xóa bỏ ranh giới để ta được hạnh phúc, được tự do. A. Einstein, đời sống tốt đẹp là đời sống cho kẻ khác. Đó không phải là một cách xóa bỏ ranh giới hay sao ?!

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: