How We Learn

Một số góp ý, phản biện bản khuyến nghị VED, HTN (tổng hợp)

I. Phạm Thi Ly – Đối thoại với “Đối thoại giáo dục”

Những nỗ lực của nhóm Đối thoại Giáo dục (VED) rất đáng trân trọng. Người viết bài này đồng ý với rất nhiều quan điểm họ đã nêu ra. Tuy vậy, chúng tôi muốn thảo luận thêm một số điểm đã nêu trong bài tổng kết nghiên cứu của nhóm về phương hướng cải cách GDDH Việt Nam, từ góc nhìn của người trong cuộc và là người quan sát hệ thống.

Về cải cách quản trị ở tầm hệ thống

VED cho rằng việc thiết lập cơ cấu Hội đồng Trường của các trường ĐH cần gắn liền với việc nhà nước phân quyền làm “chủ” đại học cho địa phương và các bộ, ngành liên quan, và đề xuất giao các trường ĐH về địa phương, bắt đầu từ những tỉnh, thành phố có khả năng tự chủ ngân sách. Lý do chính là tăng cường cạnh tranh, tăng thêm nguồn lực cho các trường, giảm nhẹ gánh nặng bao cấp ngân sách cho trung ương.

Mặc dù không phản đối những lý do trên đây, chúng tôi cho rằng cần phải nhìn vấn đề toàn diện hơn, cân nhắc đến những hiệu ứng tiêu cực có thể có của giải pháp nói trên. Đề xuất này có thể đã dựa trên mô hình Hoa Kỳ, khi các trường ĐH công thuộc về chính quyền tiểu bang. Tuy nhiên, điều kiện của Việt Nam rất khác. Hệ thống GDDH Việt Nam hiện tại có thể nói là phức tạp hiếm thấy so với các nước trong khu vực và thực tiễn quốc tế nói chung, khi các trường ĐH đang được quản lý bởi ít nhất 13 bộ ngành khác nhau, và bởi hơn 60 bộ máy chính quyền cấp tỉnh. Hệ quả của điều này là hệ thống GDDH thiếu một sự điều phối ở tầm quốc gia vốn rất cần thiết để tạo nên một hệ sinh thái đại học hài hòa bao gồm những loại trường khác nhau với những sứ mạng khác nhau để phục vụ nhu cầu đa dạng của nền kinh tế.

Thêm nữa, trong quản lý hệ thống, có một vấn đề tồn tại đã lâu mà chưa được giải quyết, đó là tình trạng hiện tại không có sự phân biệt rõ ràng về sứ mạng và tính chất của các trường. Các đại học quốc gia được kỳ vọng là nơi dẫn đầu về hoạt động nghiên cứu thì lại đang đào tạo quá nửa số SV của mình trong các hệ phi chính quy (vốn phải là chức năng nhiệm vụ của đại học mở thay vì ĐH nghiên cứu – việc theo đuổi đào tạo khôngchính quy với quy mô quá lớn hầu như chắc chắn sẽ làm suy giảm năng lực nghiên cứu của các ĐH nghiên cứu); trong lúc các đại học mở thì đang chạy đua để có thành tích nghiên cứu khoa học, nhằm tạo uy tín để thu hút SV. Dù thuộc loại nào, theo mô hình gì, thuộc quyền quản lý của ai, tất cả các trường đều muốn đa ngành, đa lãnh vực, đa phương thức, đa hệ thống, theo nghĩa đuổi theo thị trường sinh viên, mở ra bất cứ ngành nào, bất cứ hệ nào mà nhà trường tìm được sinh viên, kể cả cao đẳng, trung cấp, tại chức, từ xa… nhằm tạo ra thu nhập, mà thiếu hẳn sự điều phối hệ thống và gắn kết với thế giới việc làm, và do vậy đã làm cho nguồn lực bị phân tán và rất khó xây dựng tiêu chuẩn đánh giá kết quả hoạt động của các trường.

Bối cảnh trên đây khiến cho việc tái cấu trúc hệ thống trở thành nhu cầu bức thiết. Nhu cầu định dạng hệ thống đã được nêu ra lần đầu năm 2005 trong Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của chính phủ, được nhắc lại trong Đề án Đổi mới Giáo dục Đại học giai đoạn 2006-2020 (HERA): “Hệ thống giáo dục đại học sẽ bao gồm các phân tầng khác nhau với các trường đại học định hướng nghiên cứu thuộc tầng bậc cao nhất trong hệ thống”. Năm 2007, Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng đề xuất cấu trúc lại hệ thống nhằm hình thành ba tầng: tầng trên cùng là các trường đại học đẳng cấp quốc tế, tầng thứ hai là 20 trường đại học “định hướng nghiên cứu” và tầng thứ ba là tất cả các trường đại học và cao đẳng còn lại có “định hướng nghề nghiệp”. Tuy nhiên, vấn đề phân tầng được nêu ra trên đây đã không được hỗ trợ bởi bất kỳ các nguyên tắc hướng dẫn nào, cho đến khi có Luật GDĐH 2012. Thế nhưng kể cả sau khi Luật đã ban hành,chính phủ hiện cũng rất lúng túng trong việc thực hiện chủ trương phân tầng này. Giao các trường về địa phương sẽ làm cho việc tái cấu trúc hệ thống càng thêm khó khăn.

Một điều cũng rất đáng cân nhắc trong thực tế Việt Nam là năng lực và tầm nhìn của lãnh đạo cấp tỉnh. Tâm lý cục bộ địa phương và chạy theo thành tích có thể tạo ra những hệ quả không có lợi, đặc biệt là xói mòn tiêu chuẩn chất lượng và làm giãn rộng thêm khoảng cách về trình độ phát triển giữa các địa phương. Nó cũng có thể tạo ra lãng phí khi có những tỉnh đầu tư nửa tỷ đô la xây dựng một trường ĐH ở một địa phương chỉ có hai triệu dân, mà chưa có cơ chế nào giúp đánh giá hiệu quả của khoản đầu tư này và những đóng góp của nhà trường trong việc cải thiện đời sống của người dân địa phương. Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc phân cấp quản lý cần được nghiên cứu sâu hơn về tác động thực tế trong bối cảnh Việt Nam.

Vấn đề cốt lõi và cấp bách hơn chưa được đề cập đầy đủ trong những đề xuất quản trị hệ thống của VED, là những cơ chế thực hiện trách nhiệm giải trình của các trường, vốn là một yếu tố cực kỳ cốt yếu gắn với tự chủ ĐH và chưa được nhìn nhận thích đáng. Mở rộng tự chủ mà không gắn với một cơ chế hữu hiệu về trách nhiệm giải trình, là gắn chân ga mà không gắn chân phanh cho cỗ xe đại học. Khái niệm trách nhiệm giải trình (accountability) đã bị lẫn lộn với khái niệm trách nhiệm xã hội (social responsibility) và tự chịu trách nhiệm (self-responsibility) quá lâu, và cần được sửa sai.

Về tài chính ĐH

Nhận định chung của VED là GDDH Việt Nam thiếu nguồn kinh phí trầm trọng và đề xuất của nhóm là phải tăng đầu tư từ cả nhà nước lẫn các nguồn xã hội hóa trong đó có học phí. Các tác giả nêu ra các kênh chính để thực hiện tài trợ của nhà nước là: hỗ trợ trực tiếp từng trường, học bổng và cho vay, cấp kinh phí cho nghiên cứu khoa học. Mặc dù hoàn toàn đồng ý với các đề xuất này, quan điểm của chúng tôi là, thiếu nguồn lực chỉ là một phần của vấn đề, thậm chí không quan trọng bằng vấn đề hiệu quả sử dụng nguồn lực. Nếu không sửa được cơ chế quản trị và môi trường pháp lý để đảm bảo trách nhiệm giải trình, thì nguồn lực nhiều thêm cũng chỉ đổ sông đổ biển mà thôi.

Một điểm cần lưu ý trong vấn đề tài chính ĐH là, trách nhiệm giải trình là một điều kiện quan trọng, nhưng bản thân nó không đủ để tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực. Hai điểm quan trọng chưa được chú ý là: (1) cơ chế cấp kinh phí được đề xuất dựa trên tiêu chí đầu vào, nhưng không gắn với đầu ra và việc đánh giá hiệu quả; (2) sự quân bình giữa những cơ chế dùng công cụ tài chính để khích lệ sự ưu tú của các trường và nhu cầu điều tiết hệ thống.

Đảm bảo chất lượng

VED đề xuất tập trung vào kiểm định và công khai thông tin chất lượng, thay vì xếp hạng và đối sánh. Đối với kiểm định, VED khuyến nghị có cơ quan kiểm định độc lập và tiêu chí kiểm định chất lượng khác nhau cho các bậc học khác nhau (cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ) và cho các hình thức học khác nhau (chính quy, liên kết quốc tế, e­learning, từ xa). Ý tưởng này đã được nêu ra nhiều lần trong các thảo luận chính sách của giới nghiên cứu trong nước, nhưng chúng tôi muốn bổ sung và nhấn mạnh hơn đến các tiêu chí kiểm định khác nhau cho các loại trường khác nhau mà bản khuyến nghị của VED đã không nhắc đến. Ví dụ trường ĐH nghiên cứu thì cần đo bằng thành quả nghiên cứu khoa học, bằng số lượng và chất lượng công bố quốc tế, nhưng trường ĐH khoa học ứng dụng và đào tạo nghề thì cần đo kết quả bằng khả năng kiếm được việc làm và sự hài lòng của sinh viên, bằng đánh giá của các nhà tuyển dụng, bằng giá trị các hợp đồng chuyển giao công nghệ, bằng những mối quan hệ gắn kết với thế giới việc làm, v.v.

Mặc dù xếp hạng và đối sánh không phải là lĩnh vực ưu tiên trong các đề xuất của VED về đảm bảo chất lượng, chúng tôi cho rằng vấn đề này cần được chú ý nhiều hơn. Một mặt chúng tôi tán thành cách tiếp cận không nhấn mạnh đến các thành tích xếp hạng kể cả xếp hạng trong nước, vì nó sẽ thu hẹp sứ mạng và trọng tâm hoạt động của nhà trường, nhưng mặt khác, chúng tôi cho rằng đặt mình trong tương quan đối sánh quốc tế là một điều quan trọng để biết mình là ai và những chỗ nào mình có thể cải thiện để đạt đến chất lượng được quốc tế công nhận.

Vì vậy, khuyến nghị của chúng tôi là khích lệ việc thu thập thông tin đầy đủ về nhà trường và phân tích nó một cách chuyên nghiệp trong tương quan đối sánh khu vực và quốc tế nhằm phục vụ cho việc cải thiện từng trường cũng như cải thiện cả hệ thống.

Về nghiên cứu khoa học

Chúng tôi tán thành toàn bộ nhận định và đề xuất của VED, ngoại trừ một điểm chúng tôi đề nghị cân nhắc cho phù hợp với thực tế Việt Nam: Lấy trình độ nghiên cứu khoa học làm ưu tiên hàng đầu cho việc tuyển chọn giảng viên. Tất nhiên về nguyên tắc điều này là đúng, nhưng thực tế Việt Nam là đang có rất ít giảng viên thực sự có nghiên cứu khoa học (NCKH) theo các chuẩn mực phổ quát của hoạt động nghiên cứu quốc tế. Nếu thúc đẩy hoạt động NCKH mà không kèm theo các điều kiện khích lệ và các tiêu chuẩn đánh giá nghiêm ngặt theo chuẩn mực quốc tế, chúng ta sẽ chỉ kích thích những lối làm giả để chạy theo thành tích, và về lâu dài sẽ tạo ra hiện tượng loạn chuẩn, là điều có tác hại rất khó khắc phục cho sự phát triển của học thuật. Nói một cách nôm na, không làm thì tốt hơn là làm bậy.

Vì vậy, trong điều kiện thực tế hiện tại của Việt Nam, chúng ta có thể phải chấp nhận những con đường phát triển sự nghiệp khác nhau cho giới giảng viên trong giai đoạn trước mắt, và cần một đoạn đường dài để tạo ra động lực cho NCKH thực sự.

Hơn thế nữa, trường ĐH nghiên cứu không phải là mô hình ĐH độc nhất có giá trị và cần cho cuộc sống. Ngay cả Hoa Kỳ là nơi có một hệ thống GDĐH hàng đầu, cũng không phải trường nào cũng coi trọng tâm của mình là hoạt động nghiên cứu. Có rất nhiều trường liberal arts tập trung vào giảng dạy bậc cử nhân, chú trọng giáo dục tổng quát, và rất có uy tín do những đóng góp to lớn của nó đối với việc thúc đẩy phát triển xã hội.

Trong hoàn cảnh nguồn lực hạn hẹp của Việt Nam, văn hóa nghiên cứu của các trường còn rất non trẻ, động lực nghiên cứu khoa học rất yếu, cũng như năng lực nghiên cứu của số đông giảng viên còn hạn chế, thì càng cần cân nhắc đến những bước đi phù hợp trong việc xây dựng năng lực đội ngũ.

Dân chủ nội bộ và tự do học thuật

Quả là các trường ĐH Việt Nam đang thiếu những cơ chế thực hiện dân chủ và tự do học thuật. Đề xuất của VED về việc thể chế hóa những cơ chế tham vấn như Faculty Senate hay Student Senate, có thể là những bước đi ban đầu nhằm tăng cường tiếng nói của các bên liên quan trong quá trình ra quyết định của nhà trường.

Hiện nay, trong các văn bản pháp quy lẫn trong thực tế, các trường ĐH Việt Nam đang có Hội đồng Khoa học và Hội đồng Tư vấn (cấp trường và cấp khoa), nhưng những thể chế đó cũng không làm thay đổi một hiện trạng là vai trò của giới chuyên môn hiện rất yếu. Tăng cường dân chủ nội bộ và tự do học thuật là điều không thể tránh né để xây dựng uy tín của nhà trường và sự tôn trọng của xã hội, cũng như của cộng đồng quốc tế. Nó liên quan trực tiếp đến chất lượng đào tạo và giảng dạy của nhà trường.

Tuy vậy, để điều này có thể trở thành hiện thực, thì xác lập các thể chế là điều cần nhưng chưa đủ. Các tổ chức tham vấn này hoàn toàn có thể trở thành hình thức, trừ khi có những cơ chế công khai hóa hoạt động của nó và gắn nó với quá trình xây dựng văn hóa tổ chức của nhà trường.

Về vai trò của khu vực tư và chính sách đối với trường ngoài công lập.

Khuyến nghị của VED không đề cập đến lĩnh vực này. Tuy vậy chúng tôi cho rằng khu vực tư sẽ đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong GDDH cũng như trong nền kinh tế, trong lúc chính sách đối với ĐH tư rất lúng túng và mâu thuẫn.

Vì vậy, rất cần đề cập đến một quan điểm chung đối với khu vực này. Chúng tôi đề xuất tiếp tục những nỗ lực của nhà nước hiện nay trong việc tạo điều kiện và hành lang pháp lý cho khu vực tư, công nhận cả các trường vì lợi nhuận lẫn không vì lợi nhuận, và khích lệ đầu tư dài hạn.

Kết luận

Học hỏi kinh nghiệm quốc tế và hướng tới những chuẩn mực được quốc tế công nhận là điều rất cần khi chúng ta bước vào sân chơi toàn cầu. Tuy nhiên dung hòa giữa những giá trị phổ quát toàn cầu và hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam là điều hoàn toàn không dễ dàng. Nó đòi hỏi một quá trình làm việc cùng nhau giữa những người trong nước và sự hỗ trợ của đồng nghiệp quốc tế. Vấn đề không chỉ là những rào cản trong thể chế, mà còn là những gì nằm sâu trong văn hóa và nhận thức. Nó không chỉ cần quyết tâm chính trị mạnh mẽ của giới lãnh đạo, mà còn cần sự can đảm vượt qua những thói quen cố hữu và đường mòn tư duy của từng người. GDĐH là lĩnh vực mà những điều này thể hiện rất rõ.

II. Mai Văn Tỉnh – Góp Ý

Thực ra, cách đây gần chục năm đã có một nhóm đối thoại GD trong nước do Gs Hoàng Tuỵ đứng đầu, các chính khach ( bao gồm giới lãnh đạo đảng, CP,các bộ ngành) cũng dỏng tai nghe rồi bỏ đấy. Theo qua sát của tôi, càng đối thoại về GD, các cơ quan có trách nhiệm càng có phản ứng tinh vi hơn và kết quả là chẳng lam cái gì cả! VED có tinh quốc tế hơn vì là các nhà trí thức Việt kiều, chu yeu owr My, mục tiêu kiến nghị và đối thoại có vẻ mềm dẻo hơn, nhưng về tâm huyết và nhiệt thành thì ko có gì hơn nhóm của Gs Hoàng Tuỵ, có khác chăng họ trẻ hơn, không gay gắt hơn và biết hướng vào dư luận của các bên có liên quan! Xem cách trả lời BBC của VED tôi không hy vọng VED sẽ làm gì nhiều, mà cảm thấy cấc anh đang bị ru ngủ bởi lối tu duy nghĩ rằng các cơ quan Bộ GD, bộ KH công nghệ đang lắng nghe! Thật sai lầm! Họ đút vào ngăn kéo rồi một lúc nào đó chuyển cho các bà đồng nát thanh lý!
Về vấn đề Hội đông trường là mot trong nhung cái khó nhất của cải cách GD ĐH ở Việt nam nói riêng và các nước cộng sản nói chung! Tôi sẽ có bài viết phân tích cụ thể về vấn đề này, vì tôi đã trực tiếp nghiên cứu về lý luận và thực tiên các Hội đồng uỷ thác, hội đông quản trị trường CĐCĐ ở Canada và Mỹ, tìm hiểu nhiều quy chế Hội đồng trường trên thế giói và đã soan , trực tiếp kiến nghị Bộ trưởng GD & ĐT Việt nam lưu ý van đề này khi còn làm ở MOET. Tôi có thể nói rằng ý tưởng áp dụng mô hình HĐ uỷ thác hay quản trị của phương Tây vào Hội đồng trường ở Cơ sở GD ĐH tại Việt nam là không hợp lý, thiếu hiểu biết về lý luận và thực tiễn; ko duoc chap nhan, con những nhà cầm quyền, còn đang tại vị cho răng trong thiét chế có DCS cầm quyền, không cần có một Hôi đông trương kiểu mới thay cho bộ tu Đảng, Chính, Công Thanh lâu nay là một sai lầm, ngu xuẩn không the tha thứ được về mặt khoa học chính trị của một chính đảng cầm quyền. Có nhiều lý thuyết về sự thay đổi, nhưng trên tất cả, tuyệt với hơn tất cả là lời dạy của ĐỨC Phật Thich ca mâu ni. về sự vô thường và vô ngã! Mọi sự vật trên đời đều thay đoi, đều nằm trong môi tương quan, phụ thuộc lẫn nhau! Vay lam sao mà có thể duy ý chí một cách duy tâm đến mức ngây thơ cho rằng thể chế cộng sản này là vô địch, ton tai mai không cần thay đổi? Họ – những nguòi có thẩm quyền về hoạch định chính sách cho Gd ĐH vì dốt nát, thiếu học thức, sĩ diễn hão, co chap nên cứ khăng khang bám víu vào quan điểm cho cái mô hình hội đồng mang tính mặt trân truyen thong của họ là bất biến! Trên thực tế nó đang thay đổi, và có thể ở chừng mực nào đó đang thối nát den muc không thể chấp nhân đuọc ngay cả đối với các đảng viên kỳ cữu của ĐCS. Tất nhiên không thể phủ nhận vai trò của một đảng cầm quyền, dù là độc đảng hay đa đảng cũng vậy thôi. Vậy mô hình hội đồng trương hiệu quả cho các cơ sở GDDH Việt nam trong tiến trình đổi mới là cái gì! Xin sẽ có bài viết phân tích riêng, ko thể nói trong mục ý kiến phản hồi ngan này.

Tôi đã vài lần phải chuẩn bị cho Gs Hoàng Tuỵ và nhóm của ông đến nói chuyện ở tại Bộ GD ĐT, các lãnh đạo rất cung kính lắng nghe, hai đời bộ trưởng GD sau ông Nguyễn Minh Hiển còn rất nhớ mang rưou vang ngon đến biếu và thăm hỏi GS Hoàng Tuỵ cac dip lễ Tết hy vọng ông nói nhẹ hơn, nhưng với tính thẳng của một trí thức yêu nước, ông vẫn nói và viết bài gay gắt, xong kiên nghị của nhóm GS Hoàng Tuỵ ko có kết quả. Lý do vì “Trung ngôn thì nghịch nhĩ”. Tôi,ko có đường link các bài viết và kiến nghị của nhóm này, nhưng HTN có thể tra cuu giúp bạn trên báo điện tử Vietnamnet. Một vài báo khác như Tuong lai của Bộ KHCN bị đóng cửa. Như tôi đã nói, chiến thuật kiến nghị của VED có khôn ngoan, mềm dẻo hơn, các anh trẻ hơn nhóm Gs Hoàng Tuỵ, nhưng nếu chỉ để đuọc Thủ tướng tiếp trong nhà trắng ở HN, hay các lãnh đạo Bộ nhạn lời nghiên cứu thì cũng sẽ không có két quả gi cho nguoi dan và đất nuóc. Tôi hy vọng trang HTN của Gs Ngô Bảo Châu sẽ là diễn đãn tranh luận cho mọi ý kiến trái chiều sòng phẳng, không mỵ dân, không lấy lòng lãnh đạo, mà phải mổ xẻ vấn đề trong bối cảnh lịch sử văn hoá, chính trị củavđất nước, trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, có những áp lực ngày càng tăng từ các cỗ máy chuyển tải thể chế siêu quốc gia như UNESCO, WB,OECD, IMF vaf EU để buộc các nước có nền kinh tế mói nổi như VN phải cải cách thể chế theo tiến trình toàn cầu hoá. Như một nhà NC đã nhận xét, “không một nơi nào trên thế giói chịu tác động của quốc tế hoá và toàn cầu hoá khác hơn là University.” . Kiến nghị của nhóm Hoàng Tuỵ chủ yếu bắt CP tăng lương cho giáo viên, kể cả vay nuóc ngoài, do vậy không thuyết phục! Họ ko nhìn thấy Việt nam chỉ là một điểm trong hệ thống GD ĐH toàn cầu đã vàvđang thay đổi, buoc phải thay đổi kể cả theo hướng mà nhà cầm quyền ko muốn! Xin lưu ý rằng mọi sự bắt chước có thể xảy ra nhưng ko luôn dẫn đến kết quả mong muốn, nhất là GD ĐH Mỹ quá khác xaGD ĐH Việt Nam! dù cho trong những ngày này, tuần này Tổng bí thư ĐCS VN sang Mỹ trao giấy phép 😄 Fulbright university in Vietnam, nhưng ko có nghĩa là mọi mô hình của GD ĐH mỹ sẽ phù hợp với VN! Tôi không ảo tưởng hy vọng vào tuần trăng mật Việt Mỹ sẽ đem lại thay đổi lớn cho GD ĐH VN trong tuong lai gần, còn nhiều trở lực lớn, mà trước hết là cái lọi ích nhóm lơn, nhóm nhỏ đã và đang cản trở tiến trình cải cách này ở VN!

III. Kiều Dung

  1. A) Đại học dân lập:
    Có lẽ không nên bắt buộc mức điểm sàn cho ĐH dân lập bởi học đại học là quyền của tất cả mọi người. Kinh doanh đại học cũng là quyền của tất cả mọi người. Tuy nhiên Bộ Giáo Dục cũng có thể đánh giá xếp hạng tín nhiệm ĐH dân lập hàng năm hoặc 3-5 năm một lần. Những ĐH nào đáp ứng một số tiêu chí cơ bản, (ví dụ điểm xét tuyển sinh viên đầu vào đạt mức sàn nào đó theo quy định của Bộ Giáo Dục, số lượng giảng viên cơ hữu có trình độ Master, PhD, số lượng xuất bản tại các tạp chí uy tín) thì sẽ được cấp giấy chứng nhận ĐH Khả Tín theo hàng năm hoặc đánh giá lại theo 3 năm, 5 năm.
  2. B) Đại học công lập:
    Như cái link ở đây nói đã đề xuất tăng mức học phí đại trà 17-18 triệu/năm. Thật ra có thể tăng ở mức 30 triệu cho năm. Hơn nữa cũng nên phân loại mức học phí theo vùng miền. (Để so sánh, mức học phí của hệ thống chương trình liên kết do Việt nam cấp bằng hiện nay vào khoảng 40 triệu/năm là khá ổn rồi)

Tuy nhiên, tăng học phí cao thì phải đi kèm với phát triển hệ thống Ngân hàng/Tín dụng Sinh viên cho phép sinh viên vay tiền với lãi suất rất thấp, thời hạn trả nợ lâu, ví dụ cho phép trả nợ trong vòng 10-15 năm.

Thật ra ở Mỹ cũng rất nhiều người nghèo không có tiền cho con học đại học. Nhưng con cái họ dễ dàng vay tiền chính phủ để học hoặc đăng lính để được quân đội nuôi.

Có hai cách có thể tăng tiền tài trợ cho giáo dục.

1) Bán Giấy Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự
Hiện nay nghĩa vụ quân sự là bắt buộc đối với mọi thanh niên nam từ 18-28 tuổi. Trước giờ vẫn có 1 số người “chạy” tiền để trốn nghĩa vụ. Nay chính phủ có thể bán Giấy Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự để tăng quỹ hỗ trợ giáo dục. Mỗi giấy có thể bán với giá 30-50 triệu/người, tùy theo khu vực. Chỉ nên bán ở 1 nơi duy nhất để tránh tiêu cực, ví dụ cho phép 1 cơ quan của Bộ Giáo Dục hoặc Bộ Quốc Phòng bán giấy này. Người mua sẽ chuyển tiền qua bưu điện hoặc tài khoản ngân hàng. Lập database công khai tên người mua, tuổi, địa chỉ để tăng tính minh bạch.
Tổng số thanh niên 18 tuổi đông gấp 15-20 lần số thanh niên 18 tuổi được vào các trường công lập. Thế nên số tiền thu được sẽ không nhỏ. Nếu quá nhiều người mua, dẫn đến thiếu hụt quân nhân thì có thể tăng số tiền lên. Số tiền thu được sẽ ưu tiên tài trợ cho các trường quân đội trước, còn lại thì tài trợ cho các trường công lập khác.

2) Lệ Phí Hỗ Trợ Giáo Dục Quốc Gia dành cho du học sinh.
Mỗi người trước khi xuất cảnh du học sẽ phải trả Lệ phí Hỗ Trợ Giáo Dục Quốc Gia rồi trình giấy biên nhận cho hải quan. Có thể trả Lệ Phí này ở một cơ quan của Bộ Giáo Dục theo tài khoản, hoặc theo đường bưu điện. Chỉ nên 1 cơ quan duy nhất của Bộ Giáo Dục quản lý thu tiền lệ phí để giảm tiêu cực. Mức phí có thể từ 5 triệu – 40 triệu, tùy quốc gia và tùy độ dài của khóa học. Ví dụ học một chương trình 1 năm ở Trung Quốc phải trả 5 triệu, trong khi 1 chương trình học đại học 4 năm ở Mỹ có thể phải trả 40 triệu cho toàn khóa. Mỗi lần học một chương trình mới phải nộp lệ phí một lần. Theo link dưới đây, riêng năm 2013, VN có 125000 người đi du học. Năm 2015 có lẽ có khoảng 150000 người du học. Như vậy, nếu tính trung bình mỗi người du học phải trả 20 triệu, thì sẽ đủ tiền hỗ trợ cho 200000 sinh viên đại học công lập trong nước, mỗi người 15 triệu đồng/năm. Đây là một con số đáng kể bởi tổng số sinh viên đại học công lập từ năm 1 đến năm 4 chỉ khoảng 600000 thôi.
Số tiền thu được có thể dành để cấp học bổng cho sinh viên khá giỏi và sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

http://www.thanhnien.com.vn/giao-duc/hoc-phi-dai-hoc-tang-vot-462076.html
http://www.hotcourses.vn/study-abroad-info/latest-news/luong-sinh-vien-vietnam-du-hoc-trong-nam-2013-tang-15/

 

IV. Ngô Doãn Đãi

Năm nhóm vấn đề được Nhóm Đối thoại Giáo dục đưa ra các khuyến nghị và lộ trình thực hiện đúng là những vấn đề quan trọng cần được thảo luận kỹ càng về cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam và các tác giả đã phân tích đúng hiện trạng trong cả 5 nhóm.

Những khuyến nghị đưa ra trong 4 nhóm: “Cải cách tài chính”, “Đảm bảo chất lượng”, “Nghiên cứu khoa học và giảng dạy”, “Dân chủ nội bộ và tự do học thuật”, theo tôi, về cơ bản là phù hợp và nếu được nghiên cứu áp dụng, chắc chắn sẽ đem lại kết quả tốt đẹp cho việc cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam.

Tôi đặc biệt đồng tình và ủng hộ các khuyến nghị sau:

“Các trường được toàn quyền quyết định các vấn đề số lượng tuyển sinh, mức học phí, chương trình và chất lượng đào tạo…” trong “Cải cách tài chính”;

“Kết quả kiểm định chất lượng độc lập cần được xem như tiêu chí trong việc phân bổ ngân sách… bổ nhiệm/tái bổ nhiệm các nhân sự cấp cao trong trường đại học” trong “Đảm bảo chất lượng”;

“Giảm số môn bắt buộc, giảm số giờ lên lớp … tăng giờ hướng dẫn thực hành và làm bài tập” trong “Nghiên cứu khoa học và giảng dạy”;

“Thành lập các nghị trường giảng viên và sinh viên … có thể tham vấn trực tiếp cho Ban giám hiệu” trong “Dân chủ nội bộ và tự do học thuật”.

Tuy nhiên, theo tôi, một số khuyến nghị sẽ không thể thực hiện được.

Khuyến nghị về việc trường đại học Việt Nam cần có “Hội đồng ủy thác” kiểu “Board of trustees”.

Đề nghị này không thực tế vì trong các trường đại học của Việt Nam hiện tại, theo Điều 56, Luật Giáo dục 2005, “tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường lãnh đạo nhà trường”. Quan hệ giữa “Hội đồng trường” và Đảng ủy nhà trường hiện nay cũng chưa được Luật Giáo dục 2005 quy định rõ và nếu có thì tổ chức này cũng chỉ được thành lập một cách hình thức, không có thực quyền.

Việc thành lập “Hội đồng ủy thác” cũng sẽ không khác gì việc thành lập“Hội đồng trường” hiện nay. “Hội đồng ủy thác” không được bầu hiệu trưởng như Board of Trustees trong các trường đại học ở Hoa Kỳ vì ở Việt Nam hiệu trưởng các trường đại học “do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận” (Điều 20, Luật Giáo dục đại học).

Khuyến nghị về việc phân quyền làm chủ đại học cho địa phương.

Đề nghị này cũng không phù hợp với thực tế Việt Nam vì đa số các trường đại học hiện nằm ở hai thành phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và hai thành phố ở miền Trung là Huế và Đà Nẵng. Các tỉnh, thành phố này sẽ không đủ sức để quản lý nhiều trường đại học cấp quốc gia như vậy và cũng sẽ không có gì thôi thúc họ phải cạnh tranh với các tỉnh, thành có trường đại học địa phương mới thành lập. Các tỉnh, thành có đại học địa phương cũng không đủ sức tham gia cuộc “cạnh tranh giữa các tỉnh thành phố” như nhóm tác giả hy vọng.

Để các khuyến nghị trong nhóm vấn đề “Cải cách mô hình quản trị đại học” có thể thực thi, thì trước hết Luật Giáo dục cần xác định rõ quan hệ giữa vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng và quyền hạn trách nhiệm của Hội đồng trường hay Hội đồng ủy thác.

 

V. Đinh Bá Anh

Tôi cho rằng Khuyến nghị cải cách giáo dục đại học của Nhóm Đối thoại Giáo dục là rất sâu sắc, về cơ bản đã chạm được những vấn đề cốt tử của đại học Việt Nam.

Nếu khuyến nghị này được hiện thực hóa, nó có thể tạo ra trong tương lai một nền đại học có chất lượng cả về giảng dạy lẫn nghiên cứu, đồng thời mang lại cơ hội tiếp cận tri thức lớn hơn cho tất cả công dân Việt Nam, là chìa khóa để Việt Nam vươn lên thành một nước công nghiệp hiện đại, sánh vai với các nước khác trong khu vực.

Mặc dù vậy, tôi không nghĩ rằng khuyến nghị này sẽ được các nhà lãnh đạo chính trị Việt Nam tiếp nhận trong thời gian tới. Vì thiếu sức ép cần thiết.

Nền chính trị Việt Nam hiện vận hành dựa trên các nhóm lợi ích và sức ép (từ nhân dân hoặc từ bên ngoài), chứ không phải dựa trên viễn kiến của giới lãnh đạo tinh hoa dựa trên tinh thần khai minh.

Các nhóm lợi ích lớn ở Việt Nam hiện chưa có nhu cầu xây dựng đại học hiện đại, vì nó chưa mang lại lợi nhuận trước mắt cho họ so với các lĩnh vực khác (trong khi lại tiềm ẩn rủi ro cao);

Nước ngoài cũng không có nhu cầu ép Việt Nam cải cách giáo dục (đối với một số nước thì giáo dục Việt Nam càng yếu kém có khi lại càng hay);

Các giảng viên đại học – dù than thở – vẫn sống được khá tốt theo một cách nào đó, trong khi nhân dân nhìn chung không quan tâm giáo dục vận hành theo cách gì, miễn là con cái họ có bằng tốt nghiệp.

Ngược lại, nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, dù chất lượng tồi tệ, vẫn mang lại lợi ích không nhỏ cho một số nhóm có quyền quyết định, đồng thời vẫn thỏa mãn nhu cầu của những người tham gia vào nó. Nghĩa là nó không có sức ép nào để phải cải cách cả. Trừ phi Việt Nam xuất hiện một tài năng chính trị, người vừa có đủ quyền lực, vừa có đủ viễn kiến, ý chí và quyết tâm thực hiện cải cách, còn không thì tất cả chỉ vẫn chỉ dừng lại ở những khuyến nghị của những nhóm trí thức thiểu số, như tình hình đã luôn như vậy, từ mấy chục năm nay, mà thôi.

 

VI. Giáp Văn Dương

Tôi có một lý thuyết rất đơn giản để bày tỏ quan điểm của mình. Đó là đặt câu hỏi: Có nó, hay không có nó, thì vui hơn/tốt hơn?

Trong trường hợp này, tất nhiên là có bản tổng kết nghiên cứu và khuyến nghị của nhóm đối thoại giáo dục thì tốt hơn, và cũng vui hơn, vì thế tôi rất ủng hộ.

Điều làm tôi băn khoăn là đề xuất tăng học phí như nhóm đề xuất sẽ làm giảm cơ hội vào đại học cho học sinh nông thôn. Đi ra từ nơi đó nên tôi biết rất rõ, với mức học phí hiện thời, thì với đa phần học sinh xuất thân nông thôn, việc học đại học thực sự là gánh nặng cho cả gia đình.

Dù nhóm có đề nghị chính sách tín dụng dành cho sinh viên nghèo thì tôi cũng không mấy tin tưởng. Cũng giống như nhà ở xã hội, chính sách nghe ra thì rất tốt, nhưng lợi ích thực tế rất khó về đến tay người nghèo.

Tôi coi việc đầu tư cho giáo dục, tức đầu tư cho con người, là một loại đầu tư hạ tầng. Đó là hạ tầng con người. Vì thế, cần đặt trong góc nhìn đối sánh với các loại đầu tư hạ tầng khác. Chẳng hạn, nếu so với dự án sân bay Long Thành vừa được Quốc hội thông qua, thì thấy chỉ riêng kinh phí đầu tư cho dự án này đã đủ để miễn phí cho sinh viên đại học cả nước trong 30 năm với mức học phí hiện thời.

Nếu được lựa chọn, tôi sẽ chọn miễn học phí cho sinh viên cả nước, thay vì làm sân bay mới vào thời điểm này.

Khi hạ tầng con người được đầu tư, trình độ nhân lực tăng lên, thì họ sẽ tự tạo ra sự phát triển trong mọi lĩnh vực. Sân bay có thể chậm 10 năm, nhưng lợi ích và tác động xã hội của việc miễn phí cho toàn bộ sinh viên trong mấy chục năm là vô cùng lớn.

Ngoài ra, hai yếu tố đang có tác động rất mạnh đến giáo dục đại học, là công nghệ và chính trị, thì rất mờ nhạt trong bản tổng kết này.

Hy vọng trong các nghiên cứu tiếp theo, nhóm sẽ bổ khuyết thêm những nghiên cứu và khuyến nghị liên quan đến hai lĩnh vực này.

 

VII. Trần Thanh Dũng, Châu Phúc

GDĐH Việt Nam cũng tăng trưởng quá nóng trong hai thập niên qua, và cũng đang đối mặt với tình trạng cử nhân thất nghiệp. Số người vào ĐH giảm liên tục từ năm 2011 đến nay, nhiều ngành ở một số trường đã phải đóng cửa do không tuyển đủ người học. Nếu chính sách không kịp thời can thiệp, sự phát triển của GDĐH sẽ chựng lại và chúng ta sẽ không có đủ lực lượng lao động kỹ năng cao cần thiết cho hội nhập kinh tế toàn cầu.

Liệu ngân sách có thể tăng thêm nguồn tài trợ?

Từ năm 1998 đến nay, Chính phủ đã tăng dần đầu tư cho giáo dục, từ mức hơn 13% lên 20% tổng chi ngân sách nhà nước và hiện nay chiếm khoảng 5% GDP (trong lúc Trung Quốc, Philippines, Thái Lan và Hàn Quốc lần lượt là 2,5; 3,2; 4,2; 4,2% GDP). Với tỉ lệ chi ngân sách cho giáo dục như trên, Việt Nam thuộc nhóm nước có tỉ lệ chi cho giáo dục cao nhất thế giới. Nếu chỉ tính riêng GDĐH thì khoản chi này chiếm 11,2% tổng chi của ngân sách nhà nước (tăng dần từ 9,1% năm 2001 đến nay) và chiếm 1,2% GDP (so với Thái Lan 0,6%, Indonesia 0,5%, Hàn Quốc 0,9%, Nhật Bản 0,8%, 2010). Đầu tư ngân sách cho mỗi sinh viên tăng từ 1,051 triệu đồng (năm 2001) đến 6,133 triệu đồng (năm 2010), hiện vào khoảng 7 triệu đồng/năm/sinh viên (1).

Trong lúc đó, theo The Economist ngày 3-5-2015, nợ công của Việt Nam đang ở mức 89,07 tỉ USD, chiếm 46,6% GDP. Các chuyên gia Viện Kinh tế Việt Nam cho biết mức chi tiêu công của Việt Nam đang ở mức rất cao so với các nước, chiếm hơn 30% GDP. So sánh với Hong Kong, Đài Loan, Singapore, Indonesia, mức chi tiêu các chính phủ này chỉ từ

15-18% GDP. TS Lê Đăng Doanh cho rằng ngân sách dùng để trả nợ công trong năm 2015 khoảng 282.000 tỉ đồng, tương đương 31% tổng thu ngân sách. Trong khi chi thường xuyên ngân sách khoảng 72%. Cộng lại là hơn 100% tổng thu ngân sách. Rõ ràng là không còn đồng nào để đầu tư. Báo cáo của Viện Kinh tế cũng nêu rõ thu ngân sách lại thiếu bền vững. Vì vậy, khả năng để tăng thêm đầu tư nhà nước cho GDĐH là ít khả thi.

Có một thực tế là học phí ở trường công hầu như không tăng trong hai thập niên qua nếu ta điều chỉnh theo tỉ lệ lạm phát. Hiện mức học phí trung bình của trường ĐH công lập vào khoảng 560.000 đồng/tháng, trường tư là 2.395.980 đồng/tháng. Nhìn vào mặt bằng giá cả hiện nay, mức học phí này còn thấp hơn cả tiền gửi trẻ ở nhà trẻ.

Vậy chúng ta có thể nói gì về khả năng chi trả của người dân? Nếu tính gộp các chi phí liên quan đến học ĐH, tổng chi phí cho việc học ở ĐH công chiếm đến 97% tổng thu nhập của các gia đình thuộc nhóm thu nhập thấp (dưới 5 triệu đồng/tháng) và chiếm 38,5% đối với nhóm thu nhập trung bình (từ 5-10 triệu đồng/tháng). Nếu học trường tư, tỉ lệ này lên tới 122% thu nhập của gia đình nhóm thu nhập thấp và 58,6% đối với nhóm thu nhập trung bình (2). Điều này có nghĩa là bất kỳ chính sách tăng học phí nào cũng cần quan tâm thích đáng đến việc hỗ trợ sinh viên từ các gia đình có thu nhập thấp, nếu không sẽ làm giảm lập tức số người được đào tạo bậc cao, và quan trọng hơn làm giãn rộng khoảng cách về cơ hội và tạo ra bất ổn xã hội.

Điều này đã được đề cập nhiều lần trong các thảo luận về chính sách, kể cả trong bản khuyến nghị của VED. Điều đáng nói hơn là cơ chế để thực thi điều này. Bản khuyến nghị của VED đã nêu ra một điểm đáng chú ý, chúng tôi cho rằng nó cần được thể chế hóa bằng quy định, là bắt buộc các trường công cũng như tư dành ra một tỉ lệ nhất định trong tổng thu học phí cho quỹ học bổng, với các tiêu chuẩn và quy trình xét chọn học bổng công khai. Cách làm này thực chất là dùng tiền của người giàu để chi cho người nghèo, và mở ra một cánh cửa cho bất cứ ai cũng có thể bước vào ĐH nếu có nỗ lực xứng đáng.

Nhưng còn những giải pháp khác vốn ít được bàn đến hơn, đó là tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực ở khu vực công và chính sách đối với khu vực tư.

Hiệu quả sử dụng nguồn lực ở trường công lập

Theo một nghiên cứu được thực hiện năm 2011 (trong một dự án do Ủy ban Tài chính – ngân sách Quốc hội chủ trì), hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước cho giáo dục trong giai đoạn 2000-2010 ở Việt Nam là thấp và thuộc loại thấp nhất trong khu vực và trên thế giới (3).

Sở dĩ mọi đề xuất tăng học phí đều vấp phải phản ứng mạnh mẽ của xã hội không hẳn chỉ vì mọi người đã quen với tư duy bao cấp, mà một phần quan trọng là vì niềm tin của công chúng đối với các trường công lập nói riêng và khu vực công nói chung rất yếu. Điều này là hệ quả trực tiếp của việc thiếu một cơ chế hữu hiệu về trách nhiệm giải trình. Yêu cầu về “Ba công khai” của bộ (tài chính, đội ngũ và cơ sở vật chất) đã ban hành từ năm 2009 nhưng có rất ít trường thực hiện một cách đầy đủ và nghiêm túc, những trường không có báo cáo “Ba công khai” trên trang web hoặc có một cách sơ sài thì cũng không sao cả.

Mặc dù mức thu học phí ở các trường công hiện rất thấp, chỉ khoảng 5,6 triệu đồng/năm/sinh viên, nhưng cộng với chi ngân sách khoảng 7 triệu đồng/năm/sinh viên, thành hơn 12 triệu đồng/năm/sinh viên. Đó là chưa tính khoản bao cấp về đất đai, trường sở. Hiện chưa có con số chính thức nào cho biết nếu tính thành tiền đất đai và cơ sở có sẵn của các trường công thì con số này trung bình là bao nhiêu. Nếu tạm ước tính dựa trên số tiền thuê cơ sở vật chất của một trường tư thì con số này không dưới 3 triệu đồng/năm/sinh viên. Như vậy, suất đầu tư ở trường công hiện nay xấp xỉ 15 triệu đồng, tức khoảng 50% GDP đầu người, một con số không nhỏ so với các nước. Con số này của Việt Nam, theo thống kê năm 2012 của UNESCO là 41,24% GDP đầu người, trong lúc ở Hoa Kỳ là 20,08%, Pháp và Phần Lan 37%, Úc 20%, Nhật 24,1%, Hong Kong 30,3%, Campuchia 27% và Malaysia là 60,9% (4).

Vì vậy, giải pháp hợp lý cho các trường công không phải chỉ là tăng học phí, mà còn là, và chủ yếu phải là, cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Một nhà quan sát nhận định rằng ở một số trường ĐH công hiện nay, nếu có tiền, lãnh đạo không chắc là biết tiêu vào đâu để mang lại hiệu quả cho lợi ích chung, vì thật ra họ không hiểu ĐH phải vận hành như thế nào thì có chất lượng. Không sửa được điều này thì rất khó kêu gọi sự đồng thuận của xã hội trong việc tăng học phí và hỗ trợ các trường ĐH.

Hiệu quả sử dụng nguồn lực ở các trường công lập là hệ quả trực tiếp của cơ chế quản trị ở cấp trường và cấp hệ thống. Cùng với đề xuất tăng đầu tư, VED khuyến nghị tăng cường tự chủ tài chính cho các trường, cụ thể là “được toàn quyền quyết định các vấn đề như số lượng tuyển sinh, mức học phí, chương trình và chất lượng đào tạo, chi tiêu (…). Có cơ chế giám sát nội bộ và từ bên ngoài để chống lạm dụng quyền tự chủ này. Có cơ chế cung cấp thông tin cho người dân lựa chọn trường”. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng tự chủ tài chính mà không gắn với quyền tự chủ trong việc lựa chọn lãnh đạo nhà trường, trong quản trị nội bộ, và không gắn với cơ chế giải trình trách nhiệm với các bên liên quan thì không có mấy ý nghĩa trong việc cải thiện chất lượng và hiệu quả.

Cần gắn việc cung cấp tài trợ của Nhà nước cho các trường công với việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các trường, thông qua những thước đo hợp lý và công khai. Và đánh giá chất lượng công việc của lãnh đạo các trường bằng kết quả đạt được (về chất lượng người học, thành tích nghiên cứu, đóng góp phục vụ cộng đồng…) trong tương quan với chi phí mà Nhà nước đã cấp, học phí đã thu, thông qua công khai báo cáo thường niên của các trường.

 

VIII. Lương Hoài Nam

Tôi cho rằng các nội dung về cải cách tài chính ĐH mà VED phân tích và đề xuất là vô cùng quan trọng đối với cải cách GDĐH. Tinh thần xuyên suốt của cả năm lĩnh vực VED nêu là tự chủ ĐH. Nhưng thật khó có tự chủ ĐH khi trường ĐH không có giải pháp tự chủ thật sự về tài chính. Sự rõ ràng, minh bạch về tính phi lợi nhuận của ĐH công sẽ tạo cho các trường có uy tín cơ hội tiếp nhận các khoản tài trợ giáo dục từ các tổ chức, cá nhân để phát triển cơ sở vật chất, cũng như để tạo lập các quỹ, các chương trình học bổng cho sinh viên giỏi, sinh viên nghèo.

Về đề xuất của VED giao ĐH về cho các địa phương, mục đích quan trọng của VED là nhằm tạo ra một môi trường giáo dục cạnh tranh. Muốn có chất lượng giáo dục tốt, cần phải có cạnh tranh thật sự giữa các trường ĐH trong việc thu hút giảng viên giỏi, phát triển cơ sở vật chất nhà trường, thư viện, phòng thí nghiệm và các điều kiện khác. Tuy nhiên, VED hiểu rằng việc này không hề dễ dàng, cần một lộ trình thay đổi nhiều yếu tố liên quan.

Theo tôi, khó khăn lớn nhất cho đề xuất này của VED là cơ chế hình thành ngân sách trung ương và địa phương ở nước ta và ở các nước mà VED tham chiếu rất khác nhau. Ở nhiều nước có sự tách bạch giữa thuế trung ương và thuế địa phương (tỉnh, thành phố). Ngân sách của chính quyền trung ương được hình thành từ thuế trung ương, ngân sách của chính quyền địa phương dựa trên thuế địa phương, ít khi có sự phân bổ ngân sách từ trung ương xuống địa phương (vì thế nên mới có tình huống chính quyền địa phương bị phá sản!).

Ở nước ta không có sự tách bạch về thuế và ngân sách như vậy. Tất cả các khoản thuế được thu về ngân sách trung ương và phân bổ về các địa phương theo tỉ lệ khác nhau giữa các tỉnh, thành phố. Việc phân bổ ngân sách từ trung ương xuống địa phương chủ yếu được thực hiện thông qua các ngành, trong đó có ngành giáo dục cho các khoản đầu tư và chi tiêu giáo dục. Với chính sách thuế và phân bổ ngân sách như hiện nay, rất khó hình dung làm thế nào để Nhà nước phân bổ ngân sách cho trường ĐH mà địa phương là chủ, là người quản lý cao nhất.

Trong các phân tích, khuyến nghị của VED về cải cách giảng dạy và nghiên cứu khoa học, tôi đặc biệt đánh giá cao khuyến nghị thu hút các giảng viên, các nhà khoa học giỏi ở nước ngoài vào Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu. Nhật Bản đã làm rất mạnh việc này trong cải cách giáo dục thời Minh Trị và sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây cũng là điều mà nhiều trường ĐH ở Hàn Quốc, Trung Quốc lâu nay đang làm.

Những giảng viên của ta bị hẫng hụt về kiến thức, trình độ sẽ có điều kiện và động lực để trau dồi, vươn lên khi làm việc trong môi trường có các đồng nghiệp nước ngoài. Nếu chỉ bằng nội lực thì rất khó để các trường ĐH nước ta sớm phát triển được đội ngũ giảng viên giỏi. Các sinh viên cũng không thể chờ chất lượng giảng viên ĐH khá lên.

Về tự do học thuật, VED khuyến nghị những thiết chế rất đáng quan tâm như nghị trường giảng viên, nghị trường sinh viên, các ủy ban trường, nhằm tạo ra và duy trì tính dân chủ thật sự trong dạy và học, trong tuyển dụng và đánh giá. Nếu ai có sự lo lắng về “tự do học thuật”, cách tiếp cận của VED có thể làm yên lòng rằng nó hoàn toàn không có nghĩa là giảng viên muốn dạy thế nào thì dạy, sinh viên muốn học thế nào thì học.

Ngược lại, việc dạy và học được kiểm soát tốt bởi các thiết chế dân chủ, để mọi vấn đề dạy và học được trao đổi, tham vấn một cách dân chủ, tránh mọi biểu hiện, hành vi áp đặt hành chính phản giáo dục của người quản lý trường hoặc cơ quan quản lý ngành. “Tự do học thuật” với cách hiểu và tiếp cận của VED giúp nâng cao chất lượng GDĐH theo các chuẩn mực quốc tế, không bao giờ làm hại hay đi ngược lại mục đích này.

Advertisements

Tagged as: , , , , , , , ,

26 phản hồi »

  1. Đối thoại dưới chế độ độc dảng trị, chỉ là “nước chảy lá môn”. Vô ích.

    Like

  2. Các bạn ơi, đừng lo là cải cách hay không cải cách! Hơn 80 ngàn sinh viên học sinh đã và đang du học bên Mỹ, đã làm cho VN hiện nay là quốc gia có lượng du học sinh lớn nhất ở Mỹ từ Đông Nam Á. Khi số đó về nước thì không biết điều gì sẽ xẩy ra? À quên, hơn phân nửa sẽ nhắm mắt ở lại phục vụ cho đq Mỹ.

    Cái đáng lo ngày hôm nay là hãy dạy dỗ con cái biết tự lập tự cường, đừng lệ thuộc ngoại bang như Phan Chu Trinh đã từng dạy năm xưa. Ba điều ấy là Dân Khí, Dân Trí, và Dân Sinh.

    Like

  3. lấy đâu ra 80000 bác Sa ơi, 16000 thôi

    HTN: Trong tiếp tân của phó tổng thống Hoa Kỳ tiếp đoàn tổng bí thư, phó tổng thống Joe Biden nói số lượng du học sinh Việt là 17 ngàn. Ông cũng nói con số này là do tổng bí thư Trọng nói. Cuối bài nói chuyện Biden cũng nói về đại học Fulbright. Ông có nói đùa là ông quen Tom Vallely đã 40 năm, trong 15 năm gần đây thì Tommy nói suốt về đại học này. 15 năm là con số tham khảo cho thấy tốc độ chính sách đại học ở VN nhanh thế nào.

    Like

    • Cám ơn bác Hiệp, cám ơn HTN. Tôi cũng nghe 17 nghìn. Tôi còn nghe bác TBT lập đi lập lại cụm từ “xây dựng lòng tin” tới ba lần với Ptt Biden. Hy vọng bác cũng xây dựng lòng tin với các nhà giáo dục bên nhà nữa.

      Có lẽ ĐH Fulbright sẽ rất thú vị. Nhắc lại là đầu năm ngoái (2014), Khu học chính Garden Grove (Cali) đã chấp thuận mở chương trình VELI (Vietnamese English Languague Immersion) từ Mẫu giáo đến lớp 12. Chắc chắn Fulbright sẽ có những giáo viên trao đổi với VN.

      Like

  4. Hãy để cho trẻ tự học, bằng cách xây dựng một “ngôi trường trên mây” (A school on cloud, Sugata Mỉtra).

    Cái học ngày nay đã thay đổi (tôi thấy thay đổi rõ ràng từ hơn năm nay): người ta đang chuyển hóa từ đe dọa sang thú vị. Đe dọa là những hình phạt, những la mắng, những bài thi, vv, có khả năng đóng chốt những tế bào thần kinh, tức là, có khả năng ngăn chận sự học hành nơi học viên. Ngược lại, thú vị là những khuyến khích, những vui thích, những chia sẻ trong khi học, có khả năng đem đến những tiến bộ bất ngờ (xem thêm clip của Sugata Mỉtra trên HTN).

    Năm vừa qua, trong khi sub tại các trường ở hai Học khu Santa Ana và Garden Grove (Cali), tôi thấy học sinh đã được phát chromebook; cuối năm, trước khi hè về thì nhà trường thu lại những cuốn sách giáo khoa và đồng thời cũng thu lại những chromebook đó.

    Những lợi ích của chromebook: 1.học sinh có thể biết được thông tin của nhà trường mỗi ngày ngay cấp thời; 2.học sinh làm bài, nộp bài ngay trên chromebook; 3.học sinh có thể xem tin tức hằng ngày do CNN soạn sẵn cho học sinh cả nước; 4.học sinh được hướng dẫn thêm, vào những chương trình độc lập hoặc tự chọn, có điểm thưởng, ví dụ Khan Academy; 5.thêm vào đó, chrombook rẻ tiền, dễ dùng, và không bị vi rút quấy rối.

    Năm tới này, tôi dự kiến có thêm nhiều chương trình độc đáo hơn nữa. Có thể đó là một loại “trường trên mây” không chừng! (trường trên mây nghe như ảo tưởng nhưng nó lại đang là sự thật hiển nhiên!). “Đại học trên mây” cũng là cách cải tổ GD.

    Like

  5. Ban Hoang sa noi dung, dã có sự nhất trí công nhận các đặc điểm và xu thế này trong lĩnh vực GDĐH voi DH ao (Virtual university) va co cac khai niem moi nhu:
    + ý niệm về nhà máy tri thức; trường đại học doanh nghiệp; Chủ nghĩa tư bản học thuật;
    + quan niệm nền công nghiệp GDĐH; khái niệm Khuôn viên hợp nhất. vv…

    Fulbrigh university Vietnam la co that, located in Saigon (HCMC), phia My muon am tham 😄 trong vai chuc nam, phia VN rum beng sang tan Whasington DC trao giay phep XD. Ca hai ben se deu nin tho cho doi no toa sang. Chi biet rang khi mot vat the la di vao nam trong mot he thong no se lam cau truc he thong thay doi va cung se phai chiu su tac dong cua he thong do. Hay cho ket qua toi du doan trong it nhat 2 thap ky nua. Toi tin la Dan ta se co loi, khong phai nhu cac DH Viet-Duc, Viet-Phap ma CP vay WB va ADB hang tram trieu USD de 😄 ma chua thay tac dung gi, con chau chung ta e co tra no mai sau.

    HTN: Không rõ bác Mai Tinh lấy thông tin ở đâu mà nói “phía Mỹ” muốn âm thầm xây dựng trong vài chục năm. FUV, tiền thân là FETP, có làm gì lén lút mờ ám đâu mà phải âm thầm. Hơn nữa, giấy phép cho thủ tướng cấp tháng 4 năm ngoái cũng là một việc công khai, chủ trương và viễn định của FUV cũng được nói rõ trên báo chí. Bác có xem bài bài báo trong các link dưới đây. Chuyến đi của TBT thì phía chính quyền địa phương trao cho FUV giấy phép đầu tư (tức là với giấy phép này FUV có thể xây dựng hạ tầng ở khu công nghệ cao được). Ngoài ra, nếu bác để ý, trong VED cũng có người của FUV/FETP.

    ĐH Fulbright tại VN phát triển sau đại học trước

    Từ chiếc vé xem kịch đến một trường đại học

    Like

  6. Không biết VED có tìm được số thống kê hoặc làm khảo sát về chi phí cho học hành ở nước ta? Tôi cho rằng CP bình quân đầu người hoặc đầu hssv, tỷ lệ CP toàn XH về gd so với GDP, GNI của ta khá cao vì cái lẽ “học gạo” của ta, hssv rất dễ “bóc lột” tiền bố mẹ bởi ai cũng hy vọng con sẽ “làm nên”. Các nguồn gồm ngân sách, tài trợ trong và ngoài nước, các trường (ĐH) tự “doanh”, học phí, phí học thêm, gia đình thường “thắt lưng buộc bụng” để chi cho con ăn, học… Vì không có minh bạch trong XH nên khó biết chính xác. Số liệu công bố của CP hay các nguồn thống kê chính thức không chính xác và vì vậy thấp hon nhiều so với thực tế cả tuyệt đối lẫn tương đối.
    Không thấy VED đề cập cải tiến cách người ta đưa được CP đến với trường,lớp, giáo viên, học sinh để việc dạy, học, nghiên cứu khoa học được hưởng hết cái gọi là kinh phí gd. Tức phải chống tham nhũng và lãng phí trong giáo dục, tiền vào đúng mục đích, ý nghĩa cao cả của nó. Đừng để gd mang tiếng thiếu kinh phí chỉ vì tiền chui ra ngoài phần lớn. Nhất là kinh phí xây dựng trường, sách giáo khoa, thiết bị, phòng thí nghiệm, dã ngoại…
    Cách tiền được thể hiện trung thực, minh bạch, công bằng, phân phối hợp lý có lẽ quan trọng không kém tạo thêm nguồn và có thể đang đủ chứ không thiếu như VED đang nhận định?

    Like

  7. Tôi đã định hoàn thành bài viêt phản biện gợi ý của VED áp dụng mô hình Board of Trustees của Đại học Mỹ vào Việt nam, nhưng chờ xem nguòi đứng đầu CPV sang trao giấy phép 😄 FUV như thế nào, các dư luận trái chiều về sự kiên hiếm có, lạ thường này doi với lãnh tụ của cả hai quốc gia từng là cựu thù. Nhưng, tình cờ sáng nay đọc bài viết ” Tư bản hàn lâm” của học giả Đúc Wolfgang Kemp va Thánh ca Hàn lâm của học giả Mỹ Thomas Frank đăng trên Baffler thì thấy điều mình suy nghĩ và lo âu quả là không sai. Nhưng liệu Tư bản hàn lâm của ĐH Mỹ có gặp gỡ cùng lợi ích của nhóm Tư bản đỏ ở VN trong giai đoạn hiện nay hay không? Chỉ biết rằng nhờ khái niệm non prifit mù mờ trong Chính sách của nhà cầm quyền VN, không ít các tư bản đỏ đã va dang xuất hiện trong GD ngoài công lập ở nước ta! Rất mong các anh trong nhóm VED hay đoc và tìm hiểu kỹ trước khi kiến nghị hướng đi cụ thể cho các lãnh đạo VN trong cải cách GD ĐH sao cho dân nghèo ta có lợi, sao cho có sự bình đẳng cho nhân dân hai nuóc trong khai thác cái mô hình FUV non- profit theo Luật đầu tư nước ngoại này cua CP VN, đừng để sự liên minh, liên kết ma quai mới đang hình thành giữa Tư bản học thuât hay hàn lâm của Mỹ với nhóm tư bản đỏ ở VN, chỉ khổ cho dan đen chúng ta thôi! Hãy xem xét tính ưu việt trong hệ thống phúc lợi của GĐ ĐH ở Đúc nữa!
    Chúc các anh nhiệt tình va tỉnh táo hơn nữa! chúc thành công!

    Like

  8. Khi còn làm việc ở Bộ GD, tôi phát hiện ra một điều thú vị là không hề có trường ĐH Dân lập, phải gọi là trường ĐH quan lập, vì đăng sau bất kỳ trường ngoài công lập nào cũng đều có một vi Quan hay một nhóm Quan to đứng ra để lobby thành lập trường thu siêu lợi nhuận! Trường nào chỉ có Quan bé thì đánh nhau, mâu thuẫn kiện cáo và đổ vỡ…chả thế mà các cụ gia 70-80 tuổi cũng cố sống cố chết nhuên tình vih Sự nghiệp GD, hay vì thu lợi nhuận khủng?

    Like

  9. Tôi thấy việc VED gửi khuyến nghị lần này giống như việc Ông Nguyễn Trường Tộ đệ trình cải cách lên các vua nhà Nguyễn năm xưa.
    Việc phát triển giáo dục nước nhà nói riêng , phát triển đất nước nói chung là việc hệ trọng liên quan đến tương lai của đất nước, đến nhiều thế hệ con cháu chúng ta sau này.
    Đât nước Singapore mất 40 năm để phát triển đất nước họ từ một làng chài đến một đất nước phát triển như ngày nay, trong đó họ chú trọng và đã làm được một việc quan trọng nhất, đó là phát triển giáo dục , dùng phát triển giáo dục như là một phương tiện , đòn bậy để phát triển đất nước. Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Newzeland,….nói chung cũng làm theo cách này.
    Ngay từ những ngày đầu đất nước dành độc lập, Bác Hồ cũng đã đề cao vai trò giáo dục trong tổng thể phát triển của đất nước. Nghị quyết của Đảng cũng đã nhiều lần nói rằng ” Giáo dục là quốc sách ” nhưng trong thực tế thì giáo dục là cái tệ nhất trong những cái tệ trong suốt 40 năm xây dựng đất nước sau ngày 30/4/1975.
    Đến giờ này, đất nước chúng ta không tìm được một ông Bộ trưởng giáo dục nào xứng tầm với nhiệm vụ phát triển Giáo dục Việt Nam. Cách đây vài năm, nhà nước đưa Ông Nguyễn Thiện Nhân từ TP HCM ra để làm Bộ trưởng Giáo dục. Thú thật chúng tôi , phụ huynh học sinh lúc ấy rất kỳ vọng vào ông ấy . Nhưng rồi chúng tôi cũng sớm thất vọng , mọi thứ cũng ” vũ như cẩn” chỉ có một vài việc ồn ào lúc đầu mà thôi. Ông Bộ trưởng Giáo dục đương nhiệm là người nhận nhiều phiếu tín nhiệm thấp trong 2 lần bỏ phiếu tín nhiệm trong Quốc hội
    Những đề xuất của VED là những đề xuất chiến lược, có những vần đề có thể phải làm hằng chục năm sau, nhưng nó là những việc cần phải làm , bởi vì ai ai cũng làm như vậy. Đừng có lấy tư duy hiện tại để xem xét, đánh giá và kết luận chuyện của tương lai.
    Khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời bến nhà rổng, thì có ai thời ấy có thể tín rằng người này mang lại nền độc lập cho dân tộc Việt Nam chúng ta không ? Nhưng tại sao người thanh niên này lại làm được điều vĩ đại này. Đơn giản vì đó là Bác Hồ của chúng ta, là người có lòng yêu nước, có chí hướng, có thực tài biết cách biến cái ước mơ ấy thành hiện thực, và điều quan trọng là không để những khó khăn hiện tại thời ấy làm cản bước cho những suy nghĩ, mong muốn, kế hoạch trong tương lai, cho dù kế hoạch , mong muốn này rất xa vời với cái hiện tại thời ấy. Do vậy đừng có đem cái hiện thực, khó khăn bây giờ để cho rằng khó thực hiện những đề xuất của VED. Khó cũng phải làm , cho dù phải thay da , đổi thịt, cho dù phải thay đổi những qui tắc, thay đổi cơ cấu tố chức,…. nếu thấy cần thiết.
    Theo tôi, điều quan trọng nhất mang tính quyết định ờ đây không phải là chúng ta bàn luận sẽ phải cải cách gì , tranh luận cái này làm được , cái kia chưa làm được,…. Mà chính là thái độ của tiếp nhận khuyến nghị của những người lảnh đạo của Đảng, của Chính phủ, nói cụ thể hơn là khi nào ngài TBT, CTN, TT,…sắn tay vào việc này thì mới có hy vọng.
    Khi đó thì các nhà chuyên môn giáo dục sẽ có dịp thảo luận sâu vào nội dung của những khuyến nghị.

    Like

  10. Tôi đề nghị HTN đính chính lại comment của mình đối với nhận xét của tôi! Tôi không dùng chữ “lén lút”, đố là từ ngữ của HTN đấy nhé, xin đọc kỹ, tránh hiểu lầm và đổ oan cho nguòi khác! Âm thầm lẵng lẽ là cách làm của những nhà chiến lược dài hạn, không ăn xổi ở thì! Thông tin tôi lấy ở đâu ư? Ở báo chí chính thống của nhà nước ta, từ Vietnamnet , Dân trí. Tôi còn nhớ rõ, ngay trước sáng 10/7 ( ÚS time) nhiều tờ báo Mỹ o Whasington DC không biết lấy đâu ra thông tin ai trao giấy phép đầu tư FUV cho ai, ở đâu? Họ hy vọng phía các bạn VN có thông tin sớm hơn, không phải vì có kênh rò rỉ nào mà vì thời gian đi trước 12 tiếng, nhất là báo chi Việt lại quá nhấn mạnhhais đoàn TBT sẽ trao giấy phép này! Theo thiển ý cá nhân tôi, phía Mỹ họ âm thầm lặng lẽ vì FUV là sự kiện chưa có tiền lệ ở nước nào cả! Chương trình Fulbright thì có nhiều xong FUV là cái đầu tiên ở VN! Trong buổi lễ trao giấy phép đầu tư, họ nói Bí thưvLee Thanh Hải là đại diện cho BQL khu công nghệ cao, con phía học giả Mỹ ông Thomas Walley Chir laf ddaij dieenj cho nhoms quanr lys chuowng trinhfvFulbright owr DdH Harvard thoi, so tien dau tu lúc thì laf 20 triệu Usd, lúc là 70 triệu, báo chí VN đưa tin sau khi trai giấy phép là 100 triệu cho năm đầu 😄 kể cả khai giảng vào tháng 9 năm 2016 với 3 trường thành viên, trong đó có trường khoa học XH&nV đào tạo bậc cử nhân! Tôi biết tin ai? Cái anh việt kiều làm thuê cho chương trình Fulbrigh liệu có biết hẻt không mà nói là đào tạo SĐH truóc? Tôi nghị ngay GS Thomas Valley có nhiều cái cũng ko biết truóc, các nhà ngoại giao cả hai phía thì quá kín miệng, còn có nhiều kênh thông tin đằng sau họ nữa bạn HtN a! Quỹ VEF đúng ra là bằng tiền DEBT của chính quyền saigonf mà Chính phủ ta hứa trả thay, nhưng trên thực tế, tôi hỏi nguòi có trách nhiệm trong VÈ thì CP ta hauf nhu ko funding mấy cho VEF! Tôi thiết nghĩ, FUV project là niềm tin và hy vọng của nhân dân hai nước, là cái giá phải trả bằng cả cuộc chiến mà cả hai phía đều tổn thất! Đừng quá ảo tưởng và cũng không nên nôn nóng kết luận điều gì, tất cả còn đang ở phía trước! Nhà cầm quyền Mỹ cũng nói và khẳng định (tôi nói theo bảo của ta tại HN) là họ đầu tư ko phải cho vài năm , mà cho vài chục năm! vậy việc gì mà một cường quốc như Hoa kỳ phải âm thầm lén lút như từ ngữ của HTN? Là nhà chiến luọcnđầu tư dài hạn, họmkhoong lao vào ăn xổi ở thì một cách vội vã như mấy nước chưvhaauf của họ ở ĐNA đâu bạn ạ! Ông Nguyên Du giết chết Kim trọng baengf chữ “lẻn” vào đêm khua, bạn HTN đừng hạ thấp nước Mỹ bằng từ “lén lút” nhé! Xin cam ơn đã cho tôi giãi bày suy nghĩ của mình trên trang
    HTN!

    HTN:

    Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ngày 3-6 (năm 2014) đã ký công văn 821 đồng ý chủ trương đầu tư Dự án thành lập Trường Đại học Fulbright Việt Nam theo loại hình trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận, do Quỹ tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam (TUIV) đầu tư tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Dự án Đại học Fulbright Việt Nam lần đầu tiên được đề cập một cách chính thức trong Tuyên bố chung của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Barack Obama hồi cuối tháng 7-2013, và sau đó được khẳng định lại một lần nữa trong chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry vào tháng 12-2013.

    Nguồn: http://vietstock.vn/2014/06/se-co-dai-hoc-fulbright-viet-nam-1351-350958.htm

    Ông Vallely cũng nói về FUV trên Vietnamnet từ tháng 1/2015:

    http://vietnamnettv.vn/talk-vietnamnet/tro-chuyen-voi-cha-de-truong-fulbright-vn-p3-dai-gia-viet-va-van-hoa-thien-nguyen-a218983-c140.html

    Like

  11. Tôi đi thẳng vấn đề bác Thắng nói ở trên.
    Bác Nhân làm rất đúng. Chống bệnh thành tích và tiêu cực thi cử trong GD. Nghĩa là chống căn bệnh gian dối, thiếu trung thực, căn bệnh ung thư đã di căn của đất nước. Bác thất bại vì sao? Bệnh phải chữa vào gốc, nhưng hàng bộ máy NN, đặc biệt cấp cao cao ấy, có muốn trung thực không? Tuyên truyền, tin đồn, rỉ tai…tung ra, bác Nhân trụ làm sao được.
    Hiện tương Singapore. Họ đi lên từ con số không, hai bàn tay trắng. Ngay từ đầu họ nói thật với dân, sang cầu viện Mỹ cũng là đi tìm cái thật. Mỹ cũng vậy, lúc đầu cũng hai bàn tay trắng, nhưng quả cảm, sáng tạo và lao động không mệt mỏi, cộng với sự thật trong hiến pháp, pháp luật, thẳng tưng trong chính trường mà họ trở nên giàu, mạnh, dẫn đầu, lãnh đạo…
    Không ai hiểu hết Mỹ nhưng các bác có con học Mỹ có thể tin những điều trên.
    Sing đã khôn ngoan “chơi” theo kiểu Mỹ. Không phải dễ…

    Like

  12. Tôi có 3 vấn đề muốn trao đổi:

    – Vấn đề thứ nhất: Cá nhân tôi cho rằng trước hết cần khẳng định bản khuyến nghị của VED là rất đáng trân trọng. Để đưa ra bản khuyến nghị này hẳn các thành viên của VED đã phải làm việc rất nghiêm túc và trên hết là qua bản khuyến nghị cho chúng ta thấy có một sự trăn trở và ước muốn đóng góp công sức của VED đối với nền GD nước nhà nói chung. Vì vậy, tôi cho rằng có một số ý kiến, bình luận phản biện lại VED nhưng dường như hơi thiếu nghiêm túc (những ý kiến này thường không bàn luận vào vấn đề cụ thể mà VED đã đề cập hoặc không lại đẩy sang vấn đề khác mang tính chất cá nhân, soi mói nhiều hơn…). Dù muốn dù không tôi cho rằng những người tham gia bàn luận trước hết nên thể hiện sự trân trọng và cảm ơn VED về bản khuyến nghị này rồi sau đó muốn bàn, muốn trao đổi thẳng thắn thế nào thì cứ thoải mái.

    – Vấn đề thứ hai: Tôi muốn phản biện lại ý kiến và lập luận của TS Giáp Văn Dương. Trong khi phản biện lại VED liên quan đến khuyến nghị của VED về việc tăng học phí, tiến sĩ GVD đã có một thao tác so sánh theo tôi là rất không ổn và dĩ nhiên là không thuyết phục (ít nhất và với cá nhân tôi). Vì sao? Theo tôi, quan điểm của VED ở chỗ này là muốn nâng cao chất lượng đại học nhất định phải có sự đầu tư về mặt tài chính tương xứng. Sau khi đã phân tích thực trạng, VED thấy rằng cần phải tăng học phí. Tuy vậy, sợ rằng tăng học phí sẽ hạn chế cơ hội học đại học của người dân nên VED đề ra giải pháp cần có sự can thiệp của chính phủ liên quan đến chính sách về quỹ tín dụng ưu đãi cho sinh viên. Theo tôi, về mặt lý thuyết lẫn thực tế trên thế giới và VN mấy năm gần đây có thể nói khuyến nghị của VED là phù hợp, có cơ sở để thực thi. Thế nhưng, để phản bác lại quan điểm này của VED TS GVD đã lập luận như sau (xin trích lại nguyên văn):

    “Dù nhóm có đề nghị chính sách tín dụng dành cho sinh viên nghèo thì tôi cũng không mấy tin tưởng. Cũng giống như nhà ở xã hội, chính sách nghe ra thì rất tốt, nhưng lợi ích thực tế rất khó về đến tay người nghèo.Tôi coi việc đầu tư cho giáo dục, tức đầu tư cho con người, là một loại đầu tư hạ tầng. Đó là hạ tầng con người. Vì thế, cần đặt trong góc nhìn đối sánh với các loại đầu tư hạ tầng khác. Chẳng hạn, nếu so với dự án sân bay Long Thành vừa được Quốc hội thông qua, thì thấy chỉ riêng kinh phí đầu tư cho dự án này đã đủ để miễn phí cho sinh viên đại học cả nước trong 30 năm với mức học phí hiện thời.Nếu được lựa chọn, tôi sẽ chọn miễn học phí cho sinh viên cả nước, thay vì làm sân bay mới vào thời điểm này. Khi hạ tầng con người được đầu tư, trình độ nhân lực tăng lên, thì họ sẽ tự tạo ra sự phát triển trong mọi lĩnh vực. Sân bay có thể chậm 10 năm, nhưng lợi ích và tác động xã hội của việc miễn phí cho toàn bộ sinh viên trong mấy chục năm là vô cùng lớn”.

    Qua đoạn trích trên có thể nói, TS GVD đang tránh tráo vấn đề trong khi tranh luận, phản biện. Tôi nghĩ rằng TS GVD có quyền không tin việc thực thi chính sách tín dụng của Nhà nước nhưng không thể lấy chuyện này90ể phản biện lại lập luận của VED là muốn nâng cao chất lượng GD ĐH nhất định phải tăng chi phí đầu tư (trong đó có vấn đề tăng học phí).

    Bên cạnh đó, TS GVD “ví von” việc đầu tư sân bay Long Thành với việc đầu tư cho con người (mà ông quan niệm cũng là đầu tư cho “cơ sở hạ tầng”) và ông cho rằng nếu có quyền quyết định ông sẽ lấy kinh phí đàu tư sân bay Long Thành để miễn giảm học phí cho sinh viên trong 30 năm với mức học phí hiện thời để phản biện VED thì theo tôi là rất không ổn về mặt lập luận khoa học. Ở đây tôi chưa bàn (nhưng cũng tôn trọng quan điểm cá nhân của TS GVD) về việc ông đã có sự “ví von” như trên tuy vậy tôi có thể khẳng định lập luận này của TS GVD là không có cơ sở và rất mâu thuẫn. Bởi lẽ, phải khằng định một lần nữa, vấn đề mấu chốt ở đây là muốn nâng chất lượng cho “đầu ra” của sản phẩm giáo dục Đại học (sinh viên khi ra trường) thì nhất định chi phí đầu tư phải tương xứng. Điều này là không bàn cãi (nếu nhìn vào mặt bằng chung về chi phí đầu tư cho một sinh viên ở các trường ĐH ở VN hiện nay). Nói cách khác, với việc thu học phí như hiện nay thì các trường Đại học không thể làm gì hơn nếu muốn tạo ra một nguồn nhân lực tốt như mong muốn của xã hội. Thế thì, TS GVD lại bảo rằng sẽ sử dụng chi phí đầu tư sân bay Long Thành để “miễn giảm học phí cho sv Việt Nam trong 30 năm với phí học phí hiện thời” thì thử hỏi ông dựa vào đâu và lấy gì đảm bảo 30 năm nữa nguồn nhân lực ở VN sẽ nâng cao? Tôi hoàn toàn không tin nếu giữ mức học phí hiện thời thì TS GVD sẽ tạo ra một đội ngũ sinh viên sau khi tốt nghiệp ĐH có trình độ mang tầm quốc tế để trở lại phục vụ và phát triển đất nước nói chung.Với cách làm này tôi nghĩ cùng lắm TS GVD chỉ có thế đáp ứng được nhu cầu về “lượng” trên diện rộng chứ không thể nâng cao về “chất”. Điều đó cũng có nghĩa là một sự “giẫm chân tại chỗ” vìcũng không thay đổi được gì.

    Từ phân tích trên, tôi cho rằng quan điểm của VED là thuyết phục và có cơ sở hơn quan điểm của TS GVD (ít nhất là trong nhận thức và thao tác lập luận). Còn dĩ nhiên, ở đây vấn đề Nhà nước VN thực thi chính sách về quỹ tín dụng cho sinh viên vay để đóng học phí như thế nào là chuyện khác.

    – Vấn đề thứ ba: Xin được trao đổi (cũng là khuyến nghị cá nhân tôi muốn “đặt hàng” với VED) một vấn đề mà theo tôi VED không bàn đến: VẤN ĐỀ THAM NHŨNG TRONG GIÁO NÓI CHUNG VÀ DỤC ĐẠI HỌC NÓI RIÊNG. Dĩ nhiên, để đưa ra khuyến nghị liên quan đến vấn đề này nhất định cũng cần thời gian để phân tích thực trạng nghiêm túc. Tuy vậy, nếu ai là người trong cuộc hiện nay tôi tin rằng sẽ nhìn thấy rất rõ vấn đề này. Theo tôi, đây là vấn đề cần nghiêm túc nhìn nhận nếu không tất cả những khuyến nghị của VED nhằm thay đổi, cải tổ GDĐH là rất khó khả thi. Vì sao khó? Vì như đã nói trong khi chúng ta không có tiền không đủ tiền để đầu tư vậy mà còn bị ăn cắt, ăn bớt nữa. Ngoài ra đầu tư cho GD theo tôi là một sự đầu tư có tính đặc thù, sản phẩm của GD là sản phẩm rất “đặc biệt”: Con Người. Vì thế, tham nhũng trong GD là loại tham nhũng tệ hại và kinh tởm nhất. Tham nhũng trong GD hiện nay ở VN là rất trầm trọng và cực kỳ nguy hiểm. Đây là một trong những nguyên nhân mấu chốt nhất góp phần nãy đã hủy hoại nền GD nước nhà.

    Like

  13. Cá nhân tôi thì nghĩ những gì anh Giáp Văn Dương nói là có lý. Bản thân tôi không hề muốn xây dựng sân bay Long Thành và ít nhiều cũng có những tham luận về vấn đề này. Để tiền đó đầu tư cho Giáo Dục thì tốt hơn.

    Cá nhân tôi vô cùng ngưỡng mộ các thành viên của VED về thành tích học tập, nghiên cứu khoa học của các anh chị cũng như những đóng góp ý kiến của các anh chị cho nước nhà. Tôi đoán các anh chị đã tham khảo một số trường ở Việt Nam vốn đã tăng học phí cao và sinh viên vẫn theo học nhiều. Các trường này do thu học phí cao nên có điều kiện trả lương cao cho giảng viên từ đó họ yên tâm công tác. Kết quả là các trường này ngày càng phát triển. Nhưng đó chỉ là một vài trường hợp là nhỏ lẻ. Theo quan sát thực tế của cá nhân tôi, chất lượng sinh viên của các trường học phí cao về mặt bằng chung vẫn chưa cao hơn so với với một số trường có học phí thấp.

    Còn vấn đề tăng học phí theo diện rộng theo tôi là không nên và tôi kiên định phản đối. Bản thân tôi nghĩ, các anh chị VED không xuất thân từ gia đình thật sự nghèo khó nên không thể nào thấm thía được cái nghèo khó nó như thế nào, nên đề nghị tăng học phí diện rộng. Các anh chị bảo rằng phát học bổng cho sinh viên nghèo học giỏi, điều đó khó lắm. Đã gọi là phát học bổng thì đầu tiên phải là học giỏi còn điều kiện kinh tế thì là chuyện phụ. Thực tế là đã nghèo thì rất khó học giỏi trừ những trường hợp hiếm. Với mức sinh hoạt phí và học phí hiện nay vốn đã là những gánh nặng vô cùng to lớn đối với những gia đình nghèo khó rồi.

    Nên chăng là vấn đề học phí thì vẫn tiếp tục chia làm nhóm như hiện nay. Một nhóm là học phí cao (kể cả trường công), một nhóm học phí thấp và nhà nước tiếp tục tài trợ. Rồi từ từ chuyển dịch chuyển hai nhóm này

    Tôi cũng đồng ý với một phần với Bạn ‘Rất là buồn’ là “tham nhũng trong GD của Việt Nam rất là trầm trọng”. Nhưng tôi không nghĩ đây là loại tham nhũng tệ hại và kinh tởm nhất. Vì đã tham nhũng thì tất cả giống nhau thôi. Anh không thể nói, tôi trong ngành toà án tham nhũng là nhận tiền và giảm án cho tội phạm, có hại ai đâu nào? Hay tôi là cảnh sát giao thông, tham nhũng là nhận tiền không ghi giấy phạt, có hại ai đâu? Thật ra cái nào cũng đáng kinh như nhau.

    Tôi nghĩ VED không thể nào tham gia phản biện về vấn đề tham nhũng trong Giáo dục như bạn “Rất là Buồn” mong muốn. Tôi dám cá độ đấy bạn ạ.

    Like

    • Xin nói bạn Tam Nguyen rõ ý tôi:

      – Một, tôi tôn trọng quan điểm của tất cả mọi người cụ thể ở đây là quan điểm của VED, của TS Giáp Văn Dương và của Tam Nguyen ở trên. Về chuyện không ủng hộ việc xây dựng sân bay Long Thành của TS Giáp Văn Dương và Tam Nguyen tôi cũng xem như 1 quan điểm mang tính cá nhân và tôi khẳng định là tôi cũng tôn trọng. Tuy vậy, vấn đề chúng ta đang tranh luận ở đây là nếu muốn có nguồn nhân lực tốt thì chi phí đầu tư cho gd dại học phải tương xứng và VED khuyến nghị giải pháp tăng học phí trong đó Nhà nước triển khai chính sách quỹ tín dụng để sinh viên vay nhằm tránh tình trạng sinh viên nhà nghèo không có cơ hội vào đại học. (Đây là chuyện mà các nước trên thế giới đã và đang làm, thời gian qua VN cũng làm nhưng hiệu quả không tốt lắm – nhưng đây là vấn đề khác). Vì vậy hãy xoáy vào vấn đề này để trao đổi bàn luận và không nên đánh tráo khái niệm, đẩy vấn đề đi quá xa để rồi cuối cùng không giải quyết được gì. Ví như ở trên tôi có phản biện lại TS GVD rằng: “TS GVD có quyền không tin việc thực thi chính sách tín dụng của Nhà nước nhưng không thể lấy chuyện này để phản biện lại lập luận của VED là muốn nâng cao chất lượng GD ĐH nhất định phải tăng chi phí đầu tư (trong đó có vấn đề tăng học phí)”. Đây là gì nếu không phải là một cách đánh tráo khái niệm trong khi tranh luận?

      Cũng xin nói thêm, TS GVD cho rằng “coi việc đầu tư cho giáo dục, tức đầu tư cho con người, là một loại đầu tư hạ tầng”. Tôi tôn trọng quan điểm này nhưng tôi lại có suy nghĩ khác. Tôi cho rằng đâu tư cho giáo dục tức đầu tư con người là loại đầu tư rất “đặc biệt” – nó thiên về đầu tư cho “thượng tầng” hơn là “hạ tầng”. Không biết quan điểm này của tôi có được tôn trọng không?

      – Hai, tôi nói tham nhũng trong giáo dục là tệ hại và kinh tởm nhất không có nghĩ là tham nhũng ở những chỗ khác không tệ hại hay không kinh tởm. Trong tranh luận xin đừng suy diễn như vậy.

      – Ba, Tam Nguyen nếu được hãy đọc bài viết này của GS Nguyễn Văn Tuấn nhé: “Thói ngụy biện của người Việt”. Tại đây nè: http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/05/thoi-nguy-bien-o-nguoi-viet.html

      Xin cảm ơn!

      Like

      • Thấy bạn “Buồn” khí thế quá nên tôi tiếp lời. Tôi đồng ý với việc “nâng cao chất lượng GD ĐH nhất định phải tăng chi phí đầu tư” của VED. Tôi từng là “người dạy học” và đã được từ trả 40 ngàn/ giờ và cả 400 ngàn/ giờ. Tôi thừa nhận cách dạy tôi nó có sự khác biệt với mức thu lao chênh lệch như vậy. Hihi. Bạn ‘Buồn” yên tâm, tôi cũng vốn đã thụ hưởng không ích lợi lộc trong cái chính sách tăng chi phí đầu tư cho GD. Nói rỏ như vậy để bạn thấy là tôi không bao giờ lăng tăng trong kiến nghị thêm tiền cho giáo dục. Nhưng tôi không đồng ý tăng học phí trên diện rộng. Trên một số trường Đại học nào đó thì tôi đồng ý. Còn đó là trường nào thì hãy để CP quyết định. Nhưng phải còn trường cho học sinh nghèo.

        Tôi không nghĩ anh Dương thay đổi chủ đề gì cả. Ý của anh Dương là đưa giải pháp có thể “tăng đầu tư” nhưng không thông qua việc tăng học phí. Anh ý nói, mình từ nhà quê ra, cũng giống như tôi, nên hiểu rỏ cái nỗi khổ của con nhà nghèo như chúng tôi.

        Còn chuyện bàn về tham nhũng trong GD tôi không suy diễn gì cả. Bạn nói “tham nhũng” trong giáo dục là ghê tởm nhất, tôi không đồng ý. Theo tôi, tham nhũng là ghê tởm như nhau trong tất cả các lĩnh vực, chả có cái nào ghê tởm hơn cái nào. Đừng nói gì là ghê tởm nhất? Bạn không đồng ý thì cứ chứng minh đi nhé, tôi sẽ phản biện lại. Là một người có tư tưởng phản biện tốt, thì không nên dùng chữ “nhất”. Theo tôi, chữ này không critical thinking.

        Tôi dân nhà quê mà, hai lúa mà. Tôi nghĩ sao nói vậy, nên chả có gì gọi là ngụy biện cả bạn ạ.

        HTN: Thái độ tranh luận như thế này không ổn chút nào. Nhân tiện, khi người ta nhắc khéo mình bằng cách đưa đường link về ngụy biện thì nên bớt chút thời gian đọc và suy nghĩ.

        Like

        • Tôi nghĩ là tôi không thể trao đổi tiếp với bạn Tâm Nguyễn. Xin lỗi và cảm ơn bạn! Xin lỗi HTN vì tôi có hơi nói chuyện cá nhân, đi ngoài lề một chút!

          Like

  14. Mấy thông tin chính thức về FUV mà HTN trích dẫn trên thì ai chả biết! Xin hãy đọc kỹ bài trả lời phỏng vấn trên Vietnamnat của nhà báo Vietj Lâm vói ông Thomas Valeyly thi sẽ rõ chinh ông ta cung rất băn khoăn về cách quản trị FUV. 23 năm về truóc tôi từng cùng một cố vấn GD cộng đông của 2 doi TT Mỹ khảo sát Hải phòng, Quảng ninh cho họp tác GD DH Viet Mỹ nên có biết đôi chút về tầm nhìn chiện luóc dài hạn của CP Hoa kỳ cho VN đó bạn HTN a! Nguòi mà tôi đã làm việc từng là tác giả cải cách GD Nhat bản, Hàn quốc và Đài loan sau 1945 đấy! Bạn hay đọc kỹ Tu bản hàn lâm của Pham Thị Hoài dịch thì sẽ rõ hơn, kể cả bài Thánh ca hàn lAm nữa! Hy vọng trong nhóm VED ko có anh nào khát vọng trở thành GS ngôi sao! Thế ky 21 Gs Ngô Bảo Châu phải làm cái gì hay hơn hoặc ít ra cũng như Văn minh tân học sách của Ngô Đuc Kế ở đầu TK 20.

    HTN: Vậy là bác hiểu rõ câu chuyện FUV, có điều cách bác diễn đạt làm người “ngoài nghề” hiểu lệch đi. Ví dụ họ có thể hiểu FUV/FETP đang “âm thầm” tạo “diễn biến” bằng công cụ giáo dục. Tất nhiên ai hiểu thế nào là việc của người ta, nhưng nói chung nên hạn chế gây hiểu sai. Vì có thể có ai đó dùng cách hiểu sai này để đi chụp mũ.

    Like

  15. Nhiều tài liệu nc đã khẳng định đầu tư công cho GD ĐH là đầu tư ngược, chỉ tạo đk cho con nhà giàu thôi! Tôi rất ủng hộ các ý tưởng của VED, nhưng chi mong cac anh tỉnh táo hơn, nhĩ đến môt xã hội công bằng và văn minh mà nhiều vị lanh đạo đảng đang nói đi nói lại! Làm sao cho nguòi giỏi thuộc nhà nghèo ở nông thôn, mièn núi tiếp cận GD ĐH? Bài toán không nan giải. , Chính phủ nói nhiều, làm ít! Tại sao trong bài Tư bản hàn lâm nhà văn Phạm Thị Hoài dịch từ tiếng Đức sang tiếng Việt đã cho thấy họchi đại học ở Mỹ là trung bình 47.000 eu/năm, trong khi đí học phí ở 7 tieu bang cũ của Tây Đúc chỉ là 500 eu/năm, thậm chí từ năm học 2014-2015 xoá bỏ chế độ học phí DH? Đức giàu hơn Mỹ sao? Hội đông quản trị trường NYU xây hai khu học xa nước ngoài kiểu như FUV ở Thượng hải và Abudabi để hút hàng tỷ USD xay khu văn hoá kieu moi o sau Mahatan cho ai hưởng tại NY? Tư bản đỏ ở vN đang khao khát cơ hội làm ăn với nhưng loai tu ban han lam nhu NYU đó! Tôi cũng ủng hộ dự án Giápchool vói những tu duy sáng tạo, mong tạo điều kiện học tập mở cho thanh niên! Hãy nhìn xem chiến luóc cải cách GD ĐH của Hàn quốc thì rõ! Tôi ko muốn tranh luận nhiều, nhưmg mong các anh hãy tỉnh táo khi tư vấn cho CPVN, và luu ý rang ho thích nghe nhưng ko thích làm vì lúc nào cũng kêu khó! ăn thi rất nhanh, đi giày bóng nhoang, đeo cavat đi vi hành trên xe bus để làm gì? Cụ Hồ ngày xưa có vậy đâu? cụ phải lấy khăn che râu để vi hành vào đêm cuối năm! Ngày nay nguòi ta thích học và lam theo tờ giấy bác 500.000 in hình của Bác thôi, vì hình đó đẹp nhất! Làm sao cho có nhiều tờ giấy đó trong túi nông dân nghèo bán vải thiêu, bán dưa hấu ế? Họ có nghic đên đâu!

    HTN: Bác viết thế này: “nhưmg mong các anh hãy tỉnh táo khi tư vấn cho CPVN”. Có lẽ bác chưa hiểu hoặc hiểu nhầm khuyến nghị của VED. Xin phép nhắc lại như sau:

    BBC: Sau khi đưa ra các khuyến nghị nói trên, Nhóm chờ đợi gì từ phía các nhà lãnh đạo ngành giáo dục Việt Nam và chính phủ Việt Nam?

    Chúng tôi đưa ra khuyến nghị này trong tinh thần “chúng ta có thể làm gì” chứ không phải “các nhà lãnh đạo sẽ làm gì”. Chúng tôi tin rằng cách tiếp cận này lành mạnh và tích cực hơn là ngồi “chờ đợi” và suy đoán về phản ứng của những người làm lãnh đạo.

    Chúng tôi hy vọng các kiến nghị của mình được đọc và khơi mào thảo luận rộng rãi trong các nhà làm giáo dục, không phải chỉ ở cấp lãnh đạo. Chúng tôi chờ đợi sự lắng nghe và phản biện từ lãnh đạo ngành giáo dục và những chuyên gia về giáo dục đại học ở Việt Nam, những giảng viên, nghiên cứu viên, nhà quản lý đang làm việc trong và ngoài môi trường đại học Việt Nam. Những thảo luận như vậy luôn có ích cho việc hình thành một triết lý giáo dục và triết lý quản lý giáo dục. Kết luận cuối cùng của các nhà giáo không nhất thiết là trùng khớp với các kiến nghị của chúng tôi.

    Mục đích của nhóm VED là đưa ra một bộ kiến nghị rõ ràng và nhất quán, để làm cho đại học Việt nam tiệm cận với những giá trị phổ quát có ở đại học các nước phát triển. Nhưng chúng tôi không có ý coi bộ kiến nghị của mình là “kim chỉ nam” cho một nền giáo dục.

    Link: https://hocthenao.vn/2015/06/30/nhom-doi-thoai-giao-duc-tra-loi-bbc-tieng-viet-nhom-doi-thoai-giao-duc-ha-mi/

    Cũng lưu ý bác một chi tiết nhỏ, là hội thảo VED 2014 do VED và American Center tổ chức, các lãnh đạo ngành giáo dục có đến dự, phát biểu, phản biện, ….

    Link: https://hocthenao.vn/category/giao-duc-dai-hoc/ved-2014/

    Like

  16. Cám ơn HTN cho mấy đường link, đi xe bus xóc qua, mới chỉ đoc bai f của Phạm Hanh Minh, phân tích r ất hay bức tranh ĐH đẳng cấp TG, bài học tù Việtnam, các du an UwB, ADB. bộ GDdT, tác giả nố đúng nhưng chưa biết hết các uẩn khúc bên trong! Phải nằm trong chăn mói biết rận nó ở đâu! VEd khiêm tốn ko nhận là kim chỉ nam, nhưng nguòi dân chúng tôi mong muốn như vậy, không đuọc sao?

    Like

  17. Vừa có thông tìn “Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo phân bổ 3.100 tỷ đồng kinh phí Chương trình chính sách phát triển giáo dục đại học vay vốn Ngân hàng Thế giới cho các cơ sở giáo dục đại học công lập để thực hiện các dự án đầu tư, bảo đảm mục tiêu tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo.” (Có thể xem tại đây: http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Vay-Ngan-hang-The-gioi-3100-ty-dong-cap-cho-dai-hoc-cong-lap-post160063.gd).

    Không biết VED có biết vấn đề này không? Vì không biết làm gì hơn, tôi mạo muội kiến nghị với VED để VED (bằng uy tín của mình) có thể có ý kiến về vấn đề này với chính phủ VN. Vì theo tôi chuyện này ít nhiều cũng liên quan đến những khuyến nghị của VED về vấn đề tài chính cho giáo dục ĐH. (Vì không biết góp ý ở đâu nên tôi nói tại đây luôn, mong VED thông cảm).

    – Tại sao Chính phủ VN chỉ phân bổ kinh phí cho các cơ sở GD đại học công lập, còn các cơ sở GD ngoài công lập thì sao? Tại sao đây là tiền là của chung (Nhà nước đi vay và trả nợ là toàn dân đóng thuế vào) nhưng khi phân bổ lại có sự phân biệt như vậy? Đây là gì nếu không phải là sự bất bình đẳng, là phân biệt đối xử với các cơ sở GD đại học ngoài công lập? Vấn đề mà lâu nay nhiều người đã lên tiếng nhưng không ăn thua gì. Cách làm này chẳng khác gì một lần nữa Nhà nước hô hào xã hội hóa giáo dục nhưng trong nhận thức lại xem các cơ sở giáo dục ngoài công lập như đứa “con ghẻ” chẳng thèm quan tâm chăm sóc gì!

    Phải chăng đây cũng là cách làm vô tình tạo ra sự bất bình đẳng trong thụ hưởng chính sách giáo dục của Nhà nước đối với những học sinh, sinh viên học tại các cơ sở GD đại học ngoài công lập? Các vị phụ huynh và các em sinh viên ở các trường ngoài công lập chẳng lẽ không phải là đối tượng được Nhà nước hỗ trợ chăng? Thật là kỳ lạ!

    – Từ đây, có thể nói, ý kiến của Ts PhạmThị Ly ở trên thiết nghĩ VED cần phải hết sức lưu lý: “Một điểm cần lưu ý trong vấn đề tài chính ĐH là, trách nhiệm giải trình là một điều kiện quan trọng, nhưng bản thân nó không đủ để tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực. Hai điểm quan trọng chưa được chú ý là: (1) cơ chế cấp kinh phí được đề xuất dựa trên tiêu chí đầu vào, nhưng không gắn với đầu ra và việc đánh giá hiệu quả; (2) sự quân bình giữa những cơ chế dùng công cụ tài chính để khích lệ sự ưu tú của các trường và nhu cầu điều tiết hệ thống.”

    Xin cảm ơn!

    Like

  18. Thua ban Rat la buon, y kien cua ban rat dung, nhung toi tin VED ko the lam gi duoc, vi ngay ban than Thu t­uong NTD co muon danh uu ai cho cac truong ngoai cong lap cung phai bat luc va ko lam duoc. Vi sao? vi day la suc ep toan cau hoa tu co xe chuyen tai the che (WB, IMF…) no buoc phai chap nhan dieu kien vay nhu vay ho moi cho vay tien. La mot nguoi tung duoc MOET cu lam viec voi cac WB missions tu 1991/1992 cho nghien cuu tien kha thi, nghien cuu kha thi cac Higher Education Project using WB loan, sau do truc tiep tham gia quan ly Du an GDDH su dung von vay WB tu 1998-2008, toi biet qua ro y do cua WB cho vay la de ep buoc Chinh phu cai cach the che, WB chi cho phep dau tu vao cac truong cong lap thoi. Neu khong dong y thi se khong co cac khoan vay. Con cac truong ngoai cong lap thi phai theo co che cho vay lai, ma Vietnam lai khong muon hoac it ra chua biet quan ly viec cho vay lai cho cac truong ngoai cong lap nhu the nao.

    Cho nen khi doc bai phan tich rat tong hop cua tac gia Pham Minh Hanh ve buc tranh cac DH dang cap quoc te co yeu to nuoc ngoai tham gia VED 2014 ma HTN moi gui duong Link sang nay, toi danh gia rat cao cong trinh nghien cuu so sanh cua tac gia Pham Minh hanh, nhung gia nhu tac gia phan tich buc tranh nay theo quan diem (Toan cau hoa va thay doi to chuc cua GDDH – Mot khung phan tich” (Globalization and Higher Education organizational change – A framework for analysis cua MASSIMICILIANO VAIRA, khoa Khoa hoc Xa hoi, truong DH Torino, Italia) thi con thu vi rat nhieu va giai thich cho nhung thac mac cua Ban Rat La Buon neu ra day!
    Xin loi do Desstop cua toi bi loi fond chu Viet nen khong danh may tieng Viet co dau duoc, mong cac ban thong cam va luong thu nhe!

    Like

  19. Bác Maitinh có nhiều câu hỏi hay, tất nhiên tôi cũng cho rằng không nên đi sâu vào “chủ kiến” rất cá nhân của bác, vì ý kiến khác nhau sẽ làm nên tranh luận và “tự do” tư tưởng. Ví dụ “tư bản hàn lâm” thực ra là một “chủ kiến” nhưng đang thành công trong việc “thuyết phục bác”
    Tôi không nghĩ Đức và Mỹ là khác hay giống nhau và không dễ mà hiểu hết “triết lý” và bản chất xã hội hai hệ thống này. Tất nhiên họ xứng đáng là đồng minh vì cùng “kt thị trường”, ‘tự do” chẳng hạn nhưng khác nhau làm cho họ có thể bổ sung lợi ích cho nhau hoặc ít nhất họ “hoá giải”, thoả hiệp những khác biệt . Tôi ko hiểu lắm thì cứ hỏi các bác giải đáp giùm.
    ĐH Đức như bác nói tôi cũng có nghe, người ta giải thích đơn giản như sau. Người Đức có độ ” đồng nhất” cao về lòng tự trọng và cống hiến, họ trả thuế cao và sòng phẳng, cả bảo hiểm…nữa cho nên “ngân sách” các kiểu, cơ cấu chi ngân sách họ cũng giành cho gd cao. Hình như Bắc Âu cũng theo thiên hướng này thì phải?
    Nhưng tôi tin là họ chỉ “bao cấp ” mức “căn bản” ít rủi ro nhất vì con em họ cũng “tự trọng” còn người ngoài thì họ cũng “sàng lọc” để người nào tự trọng, giỏi, sẵn sàng cống hiến cho Đức thì vào. Họ có thiệt ko nhỉ?
    Mỹ phải khác chứ ko lẽ “giống” Đức ? Có thể ko khác, ở chỗ, phần “căn bản” họ đáp ứng ko kém Đức nhưng hơn hẳn chỗ “học phí cao” để Đức muốn có “đẳng cấp mỹ” thì mời đến học và trả tiền cho công bằng…
    Nói chung cuộc chơi và sàng lọc kiểu Mỹ góp thêm phần làm nên đẳng cấp khác hẳn. Tôi ủng hộ mặc dù rất yêu kiểu Đức hay Bắc Âu.

    Like

  20. Đọc thêm một số ý kiến các bác, giật mình vì ít “cập nhật” quá. Bất kể động thái “chính trị ” nào như bơm 3000 tỷ, xoá phí đường bộ cho xe máy…mà tốt cho dân cho GD, giảm “tận thu” đều đáng mừng. Quan trọng lâu bền đến đâu,hay sau khi “lên” thì lại “ấu trĩ”, “nhóm” đâu lại về đấy.
    Với VED, cái hay là chỉ ra “bài toán” có tính khuynh hướng, các bác lại nôn nóng làm được ngay.
    Nếu ra không tụt hậu thêm hoặc rút khoảng cách đừng quá chậm thì có hy vọng nhưng không ảo tưởng vì đang cách Mỹ quá dài. Có thể vài trăm năm? Khó có đột biến về hoàn cảnh nên đi được theo khuynh hướng của VED cũng cam go?

    Like

  21. Có một gợi ý nhỏ để VED và các bác trao đổi thêm, tôi đuọc biết từ sau năm 2000 CP Trung quốc không vay tiền WB cho GDDH nũa mà chỉ vay cho đầu tư vao các khu vục có thể thuong mại sinh lợi, vì lãi suất vay thuong mại thấp! CP Việt nam có nên cứ tiếp tục vay mà không quản lý đuọc hieu quả nguồn vốn ODA này không? Ông Bộ trưởng Bộ KHĐT hiên nay có vẻ săc sảo, nghĩ nhiều đến vốn nhân lưc và nói năng khá hơn ông Bộ trưởng tiền nhiệm Võ Hồng Phúc, nhưng xem ra cũng đang bất lực trong định hướng sử dụngODA cho GD.

    Like

  22. Ta đang cố gắng thoát Trung, nhưng tôi nghi cái gì hay của họ trong quan lý nếu phù hợp thì cũng nên học. Tuy nhiên, nhu các bác biết, quản lý vĩ mô của Trung quốc rất mạnh, còn của ta thì….hới khó nói! Lúc nào cũng kêu thiếu tiền cho Dân, nhunng lại tiẻu thừa tiền cho quan! Một lý do VN thích vay ODA là vì các quan chức hiểu đó là dự án Ồ Đấy À! Có lần ông PtT Vũ Khoan chủ tri cuộc họp ở Bộ KHĐT về quản ly ODA, tôi đã phát biểu rằng thưa PTT, chung tôi khổ lắm, đi đâu cũng bị hỏi các anh lam Ồ Đấy À, tức là sao ko có phong bì, nhất là bị kiểm toán gay gắt mà họ không thèm đọc hồ sơ dau thầu quốc tế bằng tiếng Anh!

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: