How We Learn

Một số góp ý, phản biện bản khuyến nghị VED (tiếp theo số 1) – HTN (tổng hợp)

1. Rất Là Buồn: Tham nhũng trong giáo dục (Ba ý kiến một đặt hàng)

Tôi có 3 vấn đề muốn trao đổi:

– Vấn đề thứ nhất: Cá nhân tôi cho rằng trước hết cần khẳng định bản khuyến nghị của VED là rất đáng trân trọng. Để đưa ra bản khuyến nghị này hẳn các thành viên của VED đã phải làm việc rất nghiêm túc và trên hết là qua bản khuyến nghị cho chúng ta thấy có một sự trăn trở và ước muốn đóng góp công sức của VED đối với nền GD nước nhà nói chung. Vì vậy, tôi cho rằng có một số ý kiến, bình luận phản biện lại VED nhưng dường như hơi thiếu nghiêm túc (những ý kiến này thường không bàn luận vào vấn đề cụ thể mà VED đã đề cập hoặc không lại đẩy sang vấn đề khác mang tính chất cá nhân, soi mói nhiều hơn…). Dù muốn dù không tôi cho rằng những người tham gia bàn luận trước hết nên thể hiện sự trân trọng và cảm ơn VED về bản khuyến nghị này rồi sau đó muốn bàn, muốn trao đổi thẳng thắn thế nào thì cứ thoải mái.

– Vấn đề thứ hai: Tôi muốn phản biện lại ý kiến và lập luận của TS Giáp Văn Dương (GVD). Trong khi phản biện lại VED liên quan đến khuyến nghị của VED về việc tăng học phí, tiến sĩ GVD đã có một thao tác so sánh theo tôi là rất không ổn và dĩ nhiên là không thuyết phục (ít nhất và với cá nhân tôi). Vì sao? Theo tôi, quan điểm của VED ở chỗ này là muốn nâng cao chất lượng đại học nhất định phải có sự đầu tư về mặt tài chính tương xứng. Sau khi đã phân tích thực trạng, VED thấy rằng cần phải tăng học phí. Tuy vậy, sợ rằng tăng học phí sẽ hạn chế cơ hội học đại học của người dân nên VED đề ra giải pháp cần có sự can thiệp của chính phủ liên quan đến chính sách về quỹ tín dụng ưu đãi cho sinh viên. Theo tôi, về mặt lý thuyết lẫn thực tế trên thế giới và VN mấy năm gần đây có thể nói khuyến nghị của VED là phù hợp, có cơ sở để thực thi. Thế nhưng, để phản bác lại quan điểm này của VED TS GVD đã lập luận như sau (xin trích lại nguyên văn):

“Dù nhóm có đề nghị chính sách tín dụng dành cho sinh viên nghèo thì tôi cũng không mấy tin tưởng. Cũng giống như nhà ở xã hội, chính sách nghe ra thì rất tốt, nhưng lợi ích thực tế rất khó về đến tay người nghèo.Tôi coi việc đầu tư cho giáo dục, tức đầu tư cho con người, là một loại đầu tư hạ tầng. Đó là hạ tầng con người. Vì thế, cần đặt trong góc nhìn đối sánh với các loại đầu tư hạ tầng khác. Chẳng hạn, nếu so với dự án sân bay Long Thành vừa được Quốc hội thông qua, thì thấy chỉ riêng kinh phí đầu tư cho dự án này đã đủ để miễn phí cho sinh viên đại học cả nước trong 30 năm với mức học phí hiện thời.Nếu được lựa chọn, tôi sẽ chọn miễn học phí cho sinh viên cả nước, thay vì làm sân bay mới vào thời điểm này. Khi hạ tầng con người được đầu tư, trình độ nhân lực tăng lên, thì họ sẽ tự tạo ra sự phát triển trong mọi lĩnh vực. Sân bay có thể chậm 10 năm, nhưng lợi ích và tác động xã hội của việc miễn phí cho toàn bộ sinh viên trong mấy chục năm là vô cùng lớn”.

Qua đoạn trích trên có thể nói, TS GVD đang tránh tráo vấn đề trong khi tranh luận, phản biện. Tôi nghĩ rằng TS GVD có quyền không tin việc thực thi chính sách tín dụng của Nhà nước nhưng không thể lấy chuyện này để phản biện lại lập luận của VED là muốn nâng cao chất lượng GD ĐH nhất định phải tăng chi phí đầu tư (trong đó có vấn đề tăng học phí).

Bên cạnh đó, TS GVD “ví von” việc đầu tư sân bay Long Thành với việc đầu tư cho con người (mà ông quan niệm cũng là đầu tư cho “cơ sở hạ tầng”) và ông cho rằng nếu có quyền quyết định ông sẽ lấy kinh phí đàu tư sân bay Long Thành để miễn giảm học phí cho sinh viên trong 30 năm với mức học phí hiện thời để phản biện VED thì theo tôi là rất không ổn về mặt lập luận khoa học. Ở đây tôi chưa bàn (nhưng cũng tôn trọng quan điểm cá nhân của TS GVD) về việc ông đã có sự “ví von” như trên tuy vậy tôi có thể khẳng định lập luận này của TS GVD là không có cơ sở và rất mâu thuẫn. Bởi lẽ, phải khằng định một lần nữa, vấn đề mấu chốt ở đây là muốn nâng chất lượng cho “đầu ra” của sản phẩm giáo dục Đại học (sinh viên khi ra trường) thì nhất định chi phí đầu tư phải tương xứng. Điều này là không bàn cãi (nếu nhìn vào mặt bằng chung về chi phí đầu tư cho một sinh viên ở các trường ĐH ở VN hiện nay). Nói cách khác, với việc thu học phí như hiện nay thì các trường Đại học không thể làm gì hơn nếu muốn tạo ra một nguồn nhân lực tốt như mong muốn của xã hội. Thế thì, TS GVD lại bảo rằng sẽ sử dụng chi phí đầu tư sân bay Long Thành để “miễn giảm học phí cho sv Việt Nam trong 30 năm với phí học phí hiện thời” thì thử hỏi ông dựa vào đâu và lấy gì đảm bảo 30 năm nữa nguồn nhân lực ở VN sẽ nâng cao? Tôi hoàn toàn không tin nếu giữ mức học phí hiện thời thì TS GVD sẽ tạo ra một đội ngũ sinh viên sau khi tốt nghiệp ĐH có trình độ mang tầm quốc tế để trở lại phục vụ và phát triển đất nước nói chung.Với cách làm này tôi nghĩ cùng lắm TS GVD chỉ có thế đáp ứng được nhu cầu về “lượng” trên diện rộng chứ không thể nâng cao về “chất”. Điều đó cũng có nghĩa là một sự “giẫm chân tại chỗ” vìcũng không thay đổi được gì.

Từ phân tích trên, tôi cho rằng quan điểm của VED là thuyết phục và có cơ sở hơn quan điểm của TS GVD (ít nhất là trong nhận thức và thao tác lập luận). Còn dĩ nhiên, ở đây vấn đề Nhà nước VN thực thi chính sách về quỹ tín dụng cho sinh viên vay để đóng học phí như thế nào là chuyện khác.

– Vấn đề thứ ba: Xin được trao đổi (cũng là khuyến nghị cá nhân tôi muốn “đặt hàng” với VED) một vấn đề mà theo tôi VED không bàn đến: VẤN ĐỀ THAM NHŨNG TRONG GIÁO NÓI CHUNG VÀ DỤC ĐẠI HỌC NÓI RIÊNG. Dĩ nhiên, để đưa ra khuyến nghị liên quan đến vấn đề này nhất định cũng cần thời gian để phân tích thực trạng nghiêm túc. Tuy vậy, nếu ai là người trong cuộc hiện nay tôi tin rằng sẽ nhìn thấy rất rõ vấn đề này. Theo tôi, đây là vấn đề cần nghiêm túc nhìn nhận nếu không tất cả những khuyến nghị của VED nhằm thay đổi, cải tổ GDĐH là rất khó khả thi. Vì sao khó? Vì như đã nói trong khi chúng ta không có tiền không đủ tiền để đầu tư vậy mà còn bị ăn cắt, ăn bớt nữa. Ngoài ra đầu tư cho GD theo tôi là một sự đầu tư có tính đặc thù, sản phẩm của GD là sản phẩm rất “đặc biệt”: Con Người. Vì thế, tham nhũng trong GD là loại tham nhũng tệ hại và kinh tởm nhất. Tham nhũng trong GD hiện nay ở VN là rất trầm trọng và cực kỳ nguy hiểm. Đây là một trong những nguyên nhân mấu chốt nhất góp phần nãy đã hủy hoại nền GD nước nhà.

Vừa có thông tìn “Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo phân bổ 3.100 tỷ đồng kinh phí Chương trình chính sách phát triển giáo dục đại học vay vốn Ngân hàng Thế giới cho các cơ sở giáo dục đại học công lập để thực hiện các dự án đầu tư, bảo đảm mục tiêu tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo.” (Có thể xem tại đây:http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Vay-Ngan-hang-The-gioi-3100-ty-dong-cap-cho-dai-hoc-cong-lap-post160063.gd).

Không biết VED có biết vấn đề này không? Vì không biết làm gì hơn, tôi mạo muội kiến nghị với VED để VED (bằng uy tín của mình) có thể có ý kiến về vấn đề này với chính phủ VN. Vì theo tôi chuyện này ít nhiều cũng liên quan đến những khuyến nghị của VED về vấn đề tài chính cho giáo dục ĐH. (Vì không biết góp ý ở đâu nên tôi nói tại đây luôn, mong VED thông cảm).

– Tại sao Chính phủ VN chỉ phân bổ kinh phí cho các cơ sở GD đại học công lập, còn các cơ sở GD ngoài công lập thì sao? Tại sao đây là tiền là của chung (Nhà nước đi vay và trả nợ là toàn dân đóng thuế vào) nhưng khi phân bổ lại có sự phân biệt như vậy? Đây là gì nếu không phải là sự bất bình đẳng, là phân biệt đối xử với các cơ sở GD đại học ngoài công lập? Vấn đề mà lâu nay nhiều người đã lên tiếng nhưng không ăn thua gì. Cách làm này chẳng khác gì một lần nữa Nhà nước hô hào xã hội hóa giáo dục nhưng trong nhận thức lại xem các cơ sở giáo dục ngoài công lập như đứa “con ghẻ” chẳng thèm quan tâm chăm sóc gì!

Phải chăng đây cũng là cách làm vô tình tạo ra sự bất bình đẳng trong thụ hưởng chính sách giáo dục của Nhà nước đối với những học sinh, sinh viên học tại các cơ sở GD đại học ngoài công lập? Các vị phụ huynh và các em sinh viên ở các trường ngoài công lập chẳng lẽ không phải là đối tượng được Nhà nước hỗ trợ chăng? Thật là kỳ lạ!

– Từ đây, có thể nói, ý kiến của Ts PhạmThị Ly ở trên thiết nghĩ VED cần phải hết sức lưu lý: “Một điểm cần lưu ý trong vấn đề tài chính ĐH là, trách nhiệm giải trình là một điều kiện quan trọng, nhưng bản thân nó không đủ để tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực. Hai điểm quan trọng chưa được chú ý là: (1) cơ chế cấp kinh phí được đề xuất dựa trên tiêu chí đầu vào, nhưng không gắn với đầu ra và việc đánh giá hiệu quả; (2) sự quân bình giữa những cơ chế dùng công cụ tài chính để khích lệ sự ưu tú của các trường và nhu cầu điều tiết hệ thống.”

Xin cảm ơn!

2. Phạm Thị Ly: Tăng hay không tăng học phí đại học?

(Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn/132828/Tang-hay-khong-tang-hoc-phi-dai-hoc.html)

(TBKTSG Online) – Nhiều người phản đối việc tăng học phí do lo ngại sẽ làm giảm khả năng tiếp cận giáo dục bậc cao của người thu nhập thấp, còn quan điểm của Nhóm Đối thoại giáo dục cho rằng chủ trương giữ học phí thấp để người nghèo có thể theo học là một cách tiếp cận sai lầm. Cần nhìn nhận về vấn đề này ra sao?

Bất bình đẳng là có thậtQuan điểm của Nhóm Đối thoại Giáo dục (VED) cho rằng chủ trương giữ học phí thấp để người nghèo có thể theo học là một cách tiếp cận sai lầm vì học phí thấp làm cho các trường không có đủ nguồn thu để cấp học bổng cho sinh viên nghèo; đồng thời đa số nguồn lực của trường phải dựa vào ngân sách nhà nước. Vì vậy, chỉ sinh viên từ gia đình khá giả mới đi học đại học được, và chi phí đào tạo các sinh viên này lại được nhà nước bao cấp là chủ yếu. Nói cách khác, như GS. Phạm Phụ đã nói, giữ học phí thấp là lấy tiền của người nghèo để nuôi người giàu.Có thể đặt ra một số câu hỏi như sau: Vì sao học phí thấp thì chỉ sinh viên từ gia đình khá giả mới đi học được? Hiện nay số sinh viên thuộc nhóm thu nhập thấp đang chiếm tỉ lệ như thế nào trong toàn hệ thống, và nếu tăng học phí, và tăng đến mức độ nào, thì có bao nhiêu sinh viên có thể được hưởng lợi từ việc tăng học phí này và bao nhiêu sinh viên sẽ mất cơ hội học tập vì học phí gia tăng, và cuối cùng, hệ quả của những điều này là gì? Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận đại học (ĐH) của người dân, bài này chỉ xem xét yếu tố khả năng tài chính.

Theo kết quả tổng điều tra mức sống hộ gia đình của Tổng cục Thống kê năm 2012, hiện đang có mức khác biệt rất cao trong khả năng tiếp cận ĐH giữa các nhóm thu nhập khác nhau ở Việt Nam: số người có bằng đại học trong độ tuổi 25-34 chỉ chiếm 0,4% trong nhóm thu nhập thấp nhất, trái lại, con số này ở nhóm thu nhập cao nhất là 20,1%. So với hai con số này của năm 2006 là 0,2 và 14,1 ta có thể thấy cả hai nhóm đều tăng, và tuy khoảng cách có được thu hẹp lại, nhưng cũng vẫn còn rất xa.

Xét riêng chỉ số công bằng giáo dục (EEI – phản ánh khả năng có được bằng ĐH trong các nhóm dân số khác nhau), thì con số này trong cả nước là 37,76%, kém xa so với các nước phát triển như Hà Lan, Anh, Canada, Mỹ lần lượt là 67%, 64%, 63%, 57% .

Nếu tính số sinh viên hiện nay, thì chỉ có 3% đến từ nhóm 20% dân số nghèo nhất. Xét cụ thể theo các nhóm thu nhập khác nhau ở Việt Nam, với nhóm thu nhập trung bình thấp chỉ số này là 31,61; và với nhóm thu nhập cao nhất là 60,66. Nói cách khác, tình trạng bất bình đẳng về cơ hội học tập ĐH đang rất nghiêm trọng. Đó chính là lý do Nhóm Đối thoại Giáo dục cho rằng hiện nay phần lớn sinh viên không thuộc những gia đình nằm trong tầng lớp thu nhập thấp nhất.

Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng cần cân nhắc nhiều hơn trước khi rút ra một kết luận như trên. Một tài liệu của UNESCO tính toán từ dữ liệu của Tổng cục Thống kê năm 2011 cho biết, 51% tổng số sinh viên hiện nay là từ nhóm 20% dân số giàu nhất. Con số này thoạt nhìn có vẻ khó tin, nhưng nó có thể đúng, nếu ta tính đến một điều là trong 20% dân số được gọi là giàu nhất, chỉ một số ít người thực sự giàu. Với nhóm này, thì con cái đã đi học ở nước ngoài, hoặc ít ra là những trường tư có học phí rất cao trong nước. Do đó việc tăng học phí, nếu diễn ra, sẽ ảnh hưởng lớn đến rất nhiều sinh viên (và rộng ra là rất nhiều gia đình). Nếu chúng ta tính đến một thực tế là, càng nghèo, thì người dân càng tha thiết cho con vào ĐH để mong thoát khỏi cuộc sống lầm than, thì sẽ thấy không ít gia đình đã phải bán nhà cửa, ruộng vườn, vay mượn để con cái theo đuổi việc học.

Vì vậy chúng tôi cho rằng nhận định sau đây của VED cần được xem xét thận trọng hơn: “(1) Học phí thấp làm cho các trường không có đủ nguồn thu để cấp học bổng cho sinh viên nghèo; (2) Học phí thấp dẫn đến đa số nguồn lực của trường phải dựa vào ngân sách nhà nước; (3) Vì hai lý do này, chỉ sinh viên từ gia đình khá giả mới đi học đại học được”. Chúng tôi cho rằng tuy cả hai nhận định (1) và (2) đều đúng, nhưng nó không nhất thiết dẫn đến cái kết luận (3) tiếp theo như trên.

Có một thực tế là khả năng chi trả của người dân rất có giới hạn. Về mặt tài chính, có hai lý do trực tiếp dẫn đến hiện trạng khả năng theo đuổi ĐH rất thấp trong nhóm thu nhập thấp. Một là chi phí theo học ĐH trường công hiện chiếm 96,89% tổng thu nhập của một gia đình thu nhập thấp (dưới 5 triệu đồng/tháng), còn nếu học trường tư thì chiếm đến 122,12%. Trong lúc đó, với gia đình thu nhập trên 10 triệu đồng/tháng thì chi phí học trường công chỉ chiếm 23,51% và trường tư là 32,67%. Nếu tính riêng học phí, thì học phí trường công chiếm 16,77% tổng thu nhập của gia đình thu nhập thấp, trường tư chiếm 40,70%.

Khuyến nghị chính sách

Ở các nước, có ba chiến lược chính đối với học phí ĐH: (i) học phí cao, mức hỗ trợ cao cho sinh viên; (ii) học phí trung bình, hỗ trợ trung bình; (iii) học phí thấp, mức hỗ trợ thấp . Cách thứ nhất có nhược điểm là, nó để lại một gánh nặng nợ nần cho sinh viên, và nếu như triển vọng việc làm không mấy sáng sủa, số người theo học ĐH sẽ giảm làm suy giảm chất lượng của nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Nếu ngân sách nhà nước phải bù quá nhiều cho khoản không thu hồi được thì thực chất cũng chẳng khác nào bao cấp, nhưng điều này lại kích thích thái độ thiếu trách nhiệm của người học.

Cách thứ ba, học phí thấp và hỗ trợ sinh viên thấp giúp làm tăng cơ hội vào ĐH, tăng số người được học ĐH. Tất nhiên nguồn thu của các trường sẽ giảm, nghĩa là hoặc ngân sách công phải tài trợ trực tiếp cho các trường, hoặc các trường phải tìm được những nguồn thu khác từ hiến tặng và dịch vụ phục vụ cộng đồng. Đây là cách Việt Nam đang làm, và “những nguồn thu khác” của các trường trong những năm qua chủ yếu là đào tạo tại chức, từ xa, một hình thức hủy hoại các tiêu chuẩn học thuật trong thực tế và làm cho bằng cấp trở nên mất giá như ngày nay.

Mặt khác, khoản thu học phí thấp đang được bù đắp bằng ngân sách nhà nước cấp trực tiếp cho các trường, có nghĩa là Nhà nước đang gián tiếp tài trợ cho 51% sinh viên trong nhóm 20% dân số có thu nhập cao nhất bằng tiền thuế của toàn dân trong đó có người nghèo. Điều này làm cho gánh nặng ngân sách tăng lên, nghĩa là phải tăng thuế, và những khoản tài trợ trực tiếp cho sinh viên thuộc nhóm thu nhập thấp phải giảm đi.

Trong khi đó, chiến lược thứ hai tìm cách cân bằng giữa nhu cầu của các trường, khả năng tài trợ của ngân sách địa phương, và khả năng chi trả của người dân, để ba bên cùng chia sẻ gánh nặng, thay vì trút gánh nặng từ bên này sang bên khác.

Trong trường hợp Việt Nam, có ba điểm cụ thể cần tính đến khi xác định chính sách học phí: một là khả năng của ngân sách và hiệu quả sử dụng nguồn tài chính công ; hai là khả năng chi trả của người dân và hiện trạng trong vấn đề bình đẳng cơ hội ; và ba là bức tranh thực tế về chất lượng đào tạo của các trường, về tình trạng thất nghiệp , về sự tham gia cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục quốc tế  cũng như của nguồn nhân lực từ các nước trong khu vực khi hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN.

Ngân sách nhà nước tài trợ trực tiếp cho các trường hiện nay khó lòng tăng vì vậy cần tập trung vào việc cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn ngân sách công thông qua xây dựng một cơ chế đánh giá chất lượng hoạt động của các trường thay vì chỉ dựa trên đầu vào.

Học phí sẽ phải tăng để đảm bảo chất lượng ở mức chấp nhận được, kèm theo mức hỗ trợ tương ứng bao gồm miễn giảm học phí, tín dụng và học bổng, nhưng điều cần lưu ý là chính sách học bổng phải được xây dựng một cách linh hoạt và khôn ngoan, bao gồm học bổng dựa trên thành tích lẫn học bổng theo nhu cầu cần được hỗ trợ. Nhà nước có chính sách hỗ trợ học phí, từng phần hoặc toàn bộ, cho những ngành học cần thiết cho sự phát triển bền vững của quốc gia nhưng thị trường không có động lực để đáp ứng nhằm khuyến khích người học và cân bằng nhu cầu về nguồn lực. Cùng với cơ chế này là chính sách bắt buộc tất cả các trường công cũng như tư dành ra một tỉ lệ nhất định trong tổng thu học phí để làm học bổng bao gồm nhiều loại khác nhau phù hợp với những đối tượng khác nhau.

Khuyến nghị thứ hai là chính sách tăng học phí phải gắn chặt với quá trình tăng cường trách nhiệm giải trình của các trường và công khai thông tin về mọi hoạt động của nhà trường, bao gồm những kế hoạch cải cách quản trị để mọi quyết định của nhà trường bao hàm được tiếng nói của các bên liên quan khác nhau. Làm sao các trường có thể thuyết phục được xã hội, nếu họ không có đủ năng lực biện minh cho những quyết định, hành động và kết quả công việc của mình?

Khuyến nghị thứ ba là tăng cường cạnh tranh thông qua mở rộng tự chủ trong việc xác định mức học phí tùy theo năng lực và uy tín của từng trường. Liệu Nhà nước có nên quy định mức trần học phí ở trường công hay không, là một câu hỏi khó trả lời, vì cả những lý lẽ ủng hộ lẫn phản bác đều mạnh mẽ. Chúng tôi cho rằng việc giao tự chủ xác định mức học phí cho nhà trường cần gắn chặt với một cơ chế hữu hiệu về trách nhiệm giải trình và công khai thông tin về nhà trường, như khuyến nghị của VED về đảm bảo chất lượng đã nêu ra. Nhà nước cần đặt các trường công cũng như tư vào một bối cảnh cạnh tranh, không chỉ cạnh tranh về uy tín, mà còn về chất lượng và giá cả, vì đó là động lực để cải thiện hiệu quả. Tất cả những việc nhà nước cần làm là đặt ra luật chơi để bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và công bằng.

Một vài kinh nghiệm quốc tế về xây dựng chính sách học phía) Học phí gắn với cơ chế khích lệ: Có chế độ miễn giảm đối với những sinh viên cam kết đạt được những mục tiêu nhất định và đạt được trong thực tế, ví dụ tốt nghiệp đúng hạn, không thi lại, v.v.b) Học phí linh hoạt khác nhau cho các khóa cơ bản và nâng cao, các môn có tín chỉ và không tín chỉ, các lớp trực tiếp và trên mạng, các môn trong chuyên ngành và ngoài chuyên ngành, môn tối thiểu và môn tự chọn, v.v.

c) Học phí khác nhau cho từng khóa, nhưng giữ nguyên từ lúc sinh viên vào trường cho đến khi sinh viên tốt nghiệp. Điều này giúp sinh viên có thể lên kế hoạch chính xác cho chi phí học ĐH của mình, đồng thời nhà trường cũng có một mức độ linh hoạt cần thiết để đáp ứng nhu cầu và bù đắp giữa các ngành và các khóa.

3. Trao đổi giữa Rất Là Buồn và Tâm Nguyễn

Tâm Nguyễn:

Cá nhân tôi thì nghĩ những gì anh Giáp Văn Dương nói là có lý. Bản thân tôi không hề muốn xây dựng sân bay Long Thành và ít nhiều cũng có những tham luận về vấn đề này. Để tiền đó đầu tư cho Giáo Dục thì tốt hơn.

Cá nhân tôi vô cùng ngưỡng mộ các thành viên của VED về thành tích học tập, nghiên cứu khoa học của các anh chị cũng như những đóng góp ý kiến của các anh chị cho nước nhà. Tôi đoán các anh chị đã tham khảo một số trường ở Việt Nam vốn đã tăng học phí cao và sinh viên vẫn theo học nhiều. Các trường này do thu học phí cao nên có điều kiện trả lương cao cho giảng viên từ đó họ yên tâm công tác. Kết quả là các trường này ngày càng phát triển. Nhưng đó chỉ là một vài trường hợp là nhỏ lẻ. Theo quan sát thực tế của cá nhân tôi, chất lượng sinh viên của các trường học phí cao về mặt bằng chung vẫn chưa cao hơn so với với một số trường có học phí thấp.

Còn vấn đề tăng học phí theo diện rộng theo tôi là không nên và tôi kiên định phản đối. Bản thân tôi nghĩ, các anh chị VED không xuất thân từ gia đình thật sự nghèo khó nên không thể nào thấm thía được cái nghèo khó nó như thế nào, nên đề nghị tăng học phí diện rộng. Các anh chị bảo rằng phát học bổng cho sinh viên nghèo học giỏi, điều đó khó lắm. Đã gọi là phát học bổng thì đầu tiên phải là học giỏi còn điều kiện kinh tế thì là chuyện phụ. Thực tế là đã nghèo thì rất khó học giỏi trừ những trường hợp hiếm. Với mức sinh hoạt phí và học phí hiện nay vốn đã là những gánh nặng vô cùng to lớn đối với những gia đình nghèo khó rồi.

Nên chăng là vấn đề học phí thì vẫn tiếp tục chia làm nhóm như hiện nay. Một nhóm là học phí cao (kể cả trường công), một nhóm học phí thấp và nhà nước tiếp tục tài trợ. Rồi từ từ chuyển dịch chuyển hai nhóm này

Tôi cũng đồng ý với một phần với Bạn ‘Rất là buồn’ là “tham nhũng trong GD của Việt Nam rất là trầm trọng”. Nhưng tôi không nghĩ đây là loại tham nhũng tệ hại và kinh tởm nhất. Vì đã tham nhũng thì tất cả giống nhau thôi. Anh không thể nói, tôi trong ngành toà án tham nhũng là nhận tiền và giảm án cho tội phạm, có hại ai đâu nào? Hay tôi là cảnh sát giao thông, tham nhũng là nhận tiền không ghi giấy phạt, có hại ai đâu? Thật ra cái nào cũng đáng kinh như nhau.

Tôi nghĩ VED không thể nào tham gia phản biện về vấn đề tham nhũng trong Giáo dục như bạn “Rất là Buồn” mong muốn. Tôi dám cá độ đấy bạn ạ.

Rất Là Buồn:

– Một, tôi tôn trọng quan điểm của tất cả mọi người cụ thể ở đây là quan điểm của VED, của TS Giáp Văn Dương và của Tam Nguyen ở trên. Về chuyện không ủng hộ việc xây dựng sân bay Long Thành của TS Giáp Văn Dương và Tam Nguyen tôi cũng xem như 1 quan điểm mang tính cá nhân và tôi khẳng định là tôi cũng tôn trọng. Tuy vậy, vấn đề chúng ta đang tranh luận ở đây là nếu muốn có nguồn nhân lực tốt thì chi phí đầu tư cho gd dại học phải tương xứng và VED khuyến nghị giải pháp tăng học phí trong đó Nhà nước triển khai chính sách quỹ tín dụng để sinh viên vay nhằm tránh tình trạng sinh viên nhà nghèo không có cơ hội vào đại học. (Đây là chuyện mà các nước trên thế giới đã và đang làm, thời gian qua VN cũng làm nhưng hiệu quả không tốt lắm – nhưng đây là vấn đề khác). Vì vậy hãy xoáy vào vấn đề này để trao đổi bàn luận và không nên đánh tráo khái niệm, đẩy vấn đề đi quá xa để rồi cuối cùng không giải quyết được gì. Ví như ở trên tôi có phản biện lại TS GVD rằng: “TS GVD có quyền không tin việc thực thi chính sách tín dụng của Nhà nước nhưng không thể lấy chuyện này để phản biện lại lập luận của VED là muốn nâng cao chất lượng GD ĐH nhất định phải tăng chi phí đầu tư (trong đó có vấn đề tăng học phí)”. Đây là gì nếu không phải là một cách đánh tráo khái niệm trong khi tranh luận?

Cũng xin nói thêm, TS GVD cho rằng “coi việc đầu tư cho giáo dục, tức đầu tư cho con người, là một loại đầu tư hạ tầng”. Tôi tôn trọng quan điểm này nhưng tôi lại có suy nghĩ khác. Tôi cho rằng đâu tư cho giáo dục tức đầu tư con người là loại đầu tư rất “đặc biệt” – nó thiên về đầu tư cho “thượng tầng” hơn là “hạ tầng”. Không biết quan điểm này của tôi có được tôn trọng không?

– Hai, tôi nói tham nhũng trong giáo dục là tệ hại và kinh tởm nhất không có nghĩ là tham nhũng ở những chỗ khác không tệ hại hay không kinh tởm. Trong tranh luận xin đừng suy diễn như vậy.

– Ba, Tam Nguyen nếu được hãy đọc bài viết này của GS Nguyễn Văn Tuấn nhé: “Thói ngụy biện của người Việt”. Tại đây nè: http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/05/thoi-nguy-bien-o-nguoi-viet.html

Xin cảm ơn!

Advertisements

Tagged as: ,

Categorised in: Giáo dục đại học, VED

2 phản hồi »

  1. Tôi xin góp một ý kiến về vấn đề tăng học phí đại học, từ quan điểm của bạn Tâm Nguyễn như sau: Bạn nói rằng nhà nghèo thì khó học giỏi – tôi không dám bình luận đúng hay sai, vì không đủ dữ liệu – nhưng chúng ta có thể chấp nhận rằng có nhiều trường hợp nhà nghèo và học hành không ra sao.

    Nhưng câu hỏi tôi muốn đặt ra – dù khá tàn nhẫn là – nếu nhà nghèo mà lại học dốt thì người đó đi học đại học làm gì? Từ khi nào đại học trở thành chốn nương thân của tất cả các thành phần tri thức? Đại học có phải chỉ dành cho tầng lớp tinh hoa hay không chưa dám nói tới, nhưng ít ra thì sinh viên cũng nên có học lực khá thì hãy thi vào và cố gắng học đại học chứ?

    Cuộc đời vốn bất bình đẳng. Sinh ra trong một gia đình nhất định là sự bất bình đẳng của tạo hóa, không ai có thể thay thế được. Sinh ra trong một gia đình nghèo đòi hỏi bạn phải nỗ lực nhiều hơn hẳn người khác. Nếu bạn không làm được, bạn phải chấp nhận.

    Like

  2. Tôi xin phép được chỉnh sửa một vài lỗi hành văn nhỏ trong comment của tôi như sau:

    Từ khi nào đại học trở thành chốn nương thân của tất cả các bậc học lực? … ít ra học sinh cũng nên có học lực khá …

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: