How We Learn

Mô hình dạy và học Escuela Nueva ở Việt Nam – HTN (tổng hợp)

Mô hình dạy và học Escuela Nueva ở Việt Nam – HTN (tổng hợp)

1.Vietnam Escuela Nueva A New and Exciting Way of Learning.

(Nguồn: http://www.worldbank.org/vi/news/feature/2012/10/10/vietnam-escuela-nueva-a-new-and-exciting-way-of-learning)

* Với mô hình Trường học mới, học sinh tham gia nhiệt tình hơn vào lớp học và giáo viên đóng vai trò hỗ trợ.

Trong một phòng học nhỏ ở Trường Tiểu học Bát Xát của tỉnh Lào Cao, Việt Nam, Nguyễn Minh Thư, một học sinh lớp hai, đang dẫn dắt nhóm bạn học cùng giải một bài toán. Cô giáo của Thư cũng ở trong lớp học, nhưng chủ yếu hỗ trợ khi nhóm của Thu gặp khó khăn.

“Chúng em thảo luận rất nhiều về bài học,” Thư nói,“Nếu các bạn không biết thì nhóm trưởng sẽ giúp tìm ra phương án đúng nhất và nhanh nhất.”

Trong lớp học ở Việt Nam, học sinh thường chỉ ngồi lặng lẽ suốt giờ học, lắng nghe và ghi chép lại những điều giáo viên giảng chứ không tham gia thảo luận nhóm. Nhờ dự án mới mang tên Trường học mới, Thư và hàng trăm học sinh khác từ sáu tỉnh của Việt Nam, phần lớn đến từ các gia đình dân tộc thiểu số, đã được hưởng lợi từ mô hình học tập lấy học sinh làm trung tâm này.

Mô hình giáo dục sáng tạo của thế kỷ 21

Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong tiếp cận giáo dục tiểu học với tỉ lệ tốt nghiệp đạt gần 100%. Tuy nhiên, thách thức chính trong việc tăng cường chất lượng dạy và học thì vẫn còn tồn tại.

Để giải quyết thách thức này, Chính phủ Việt Nam đang thực hiện nhiều cải cách trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, bao gồm việc áp dụng mô hình giáo dục tiên tiến từ Colombia. UNESCO đánh giá mô hình Trường học mới của Colombia là mô hình giáo dục tiểu học tốt nhất ở khu vực nông thôn Mỹ Latin. Đây cũng được coi là một trong những mô hình giáo dục sáng tạo nhất của thế kỷ 21.

Năm 2010, Chính phủ Việt Nam triển khai một dự án thí điểm áp dụng mô hình trường học mới ở 24 trường ở 6 tỉnh. Chương trình thí điểm rất thành công nên chính phủ quyết định mở rộng ra toàn bộ 63 tỉnh, thành phố với sự hỗ trợ từ Ngân hàng Thế giới và một khoản tài trợ trị giá 84,6 triệu đô la Mỹ của Quỹ Hợp tác Giáo dục Toàn cầu. Sẽ có thêm 440.000 học sinh tiểu học được hưởng lợi từ dự án này.

“Quan trọng nhất của mô hình trường học mới là đã chuyển từ phương thức giáo dục truyền thống sang một phương thức tiên tiến và hiệu quả hơn,” ông Trương Kim Minh, Giám đốc Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Lào Cai, chia sẻ. “Quá trình này bao gồm cả cải cách phương pháp dạy học, thúc đẩy quan hệ mật thiết hơn giữa nhà trường và cộng đồng, và nâng cao năng lực quản lý trường học cũng như cải thiện tài liệu học tập cho cả giáo viên lẫn học sinh.”

Mô hình này tập trung vào phương pháp học tập lấy học sinh làm trung tâm, cho phép học sinh sử dụng các tài liệu và dụng cụ học tập từ các góc học tập trong lớp để phục vụ nhu cầu của mình. Hướng dẫn học tập độc đáo với rất nhiều các hoạt động trong lớp cũng giúp kết nối học sinh với giáo viên đóng vai trò người hỗ trợ.

“Những kỹ năng về sáng tạo và giải quyết vấn đề, cùng với giá trị của sự chia sẻ và cộng đồng, cần phải được nuôi dưỡng từ sớm “, ông Suhas Parandekar, chuyên gia kinh tế, Ban Phát triển Con người, Ngân hàng Thế giới, chia sẻ. “Dự án sẽ giúp các giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục Việt Nam học tập và áp dụng phương pháp giảng dạy và học tập mới. Việc này sẽ giúp trẻ thu nhận được những kỹ năng và giá trị mà các em cần để thành công trong một thế giới phức tạp và năng động hiện nay.”

2. “Chủ tịch lớp” là chuyện phụ – Thanh Tuấn

(Nguồn: https://www.facebook.com/ethanhtuan?fref=nf&pnref=story)

Mô hình trường học mới (VNEN) của VN học tập từ mô hình Escuela Nueva của Colombia một trong những mô hình giáo dục tiểu học thành công nhất trên thế giới và từng được UNESCO khuyến khích là mô hình nên nhân rộng và áp dụng ở các nước khác.

Năm 2013, khi tham gia vào phỏng vấn và chụp hình giáo viên và học trò của chương trình này ở Lào Cai cho báo cáo toàn cầu EFA của UNESCO, tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy các học sinh học theo chương trình này có khả năng ngôn ngữ và chủ động tốt hơn rất nhiều so với các bé cùng lứa tuổi ở thành phố. Cách học của họ chủ yếu là trao cho học sinh quyền chủ động tự nghiên cứu môn học, mỗi bạn sẽ luân phiên làm nhóm trưởng, lớp trưởng và tự nghiên cứu bài học còn giáo viên chỉ là người hỗ trợ.

Lào Cai là địa phương đã triển khai chương trình này được vài năm và triển khai rộng khắp ở cả thành phố và các huyện của tỉnh và họ làm rất thành công, đặc biệt là ở thành phố. Các giáo viên của họ, ví dụ như cô giáo Van Anh Hoang là người đã áp dụng rất thành công phương pháp mới này và xem họ dạy mọi người sẽ rất ấn tượng với hiệu quả của chương trình mới.

Một số giáo viên có con học chương trình này khi tôi phỏng vấn nói họ rất ngạc nhiên khi vốn từ của con cái họ đã tăng rất nhiều sau khi học VNEN một thời gian (điều khá dễ hiểu vì các em được tương tác, trao đổi chủ động nhiều hơn trong lớp).

Tôi không ngạc nhiên khi thấy giáo viên ở TP HCM còn nhiều nghi ngại hay thực hiện không thành công vì các cán bộ quản lý chương trình thử nghiệm khi đó và người của UNESCO cũng nói thường các thành phố như HN, TPHCM, là nơi rất bảo thủ và các thầy cô ngại trước các thay đổi như này – Lào Cai họ đã triển khai từ lâu và có hiệu quả thay đổi rõ rệt. Tôi nghĩ câu chuyện “chủ tịch” chỉ là chuyện vô cùng phụ và có lẽ đơn thuần là vì cách dịch của người thực hiện chương trình chứ không phải là vấn đề chính trong câu chuyện này. Khi tìm hiểu chương trình này, hỏi các thầy cô ở thành phố thật sự là không trúng đâu.

3. Chuyện ở trường rẻo cao – Hạ Anh

(Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/205519/nhung-lop-hoc-day–khon-.html)

Ở lớp 5 Trường tiểu học Nậm Cắn 1, Hoa là Chủ tịch hội đồng tự quản. Làm “thủ lĩnh”,  không chỉ phụ trách các hoạt động học tập, văn nghệ trên lớp, Hoa còn cùng thầy cô đi vận động bạn bè tới trường.

Nằm trên rẻo cao huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An cách thành phố Vinh 300 km, thầy trò trường Nậm Cắn 1 đang bận rộn với không khí học tập của mô hình “trường học mới”.

Tại một buổi học chiều, thầy giáo Trần Văn Tuyến đang hướng dẫn học sinh lớp 3A bài học “Em đã làm gì để giúp đỡ cha mẹ?’.

Lớp học có 20 em, bàn ghế được kê thành 4 nhóm. Sau màn chào hỏi, các nhóm trưởng nhanh nhẹn đi về góc học tập, mang sách vở của nhóm ra bàn học, từng tốp 4 – 5 em chúi đầu vào thảo luận. Thầy Truyền lúc dừng lại ở nhóm này để nghe trò đọc tiếng Việt, lúc lại di chuyển về nhóm kia để xem  các trò đáp xung quanh nội dung bài học, như bạn ở nhà đã làm gì, từ này viết thế nào mới đúng chính tả,v…. Các nhóm trưởng không cố định theo năm, theo học kỳ mà được thay đổi để tạo điều kiện cho các em được thể hiện mình, bớt đi nhút nhát.

Học sinh ở đây chủ yếu là người Mông, khi đi học chưa thành thạo tiếng Việt, khá rụt rè trong giao tiếp. Dạy học ở Kỳ Sơn được 10 năm, mấy năm nay, thầy Truyền thấy học sinh của mình đã khác. Các em thích tới lớp hơn, thầy cô ít phải tới nhà vận động đến trường như trước. Trong lớp, bạn bè chịu khó đùa nghịch và bắt chuyện với người lớn.

Lầu Thị Hoa khoe với khách năm nay có kế hoạch đi thi học sinh giỏi toán dưới huyện. Cuối năm học, Hoa sẽ ra trường. Cô Nguyễn Thị Phương, Hiệu trưởng nhà trường còn nhớ mãi  ấn tượng về “điều chưa từng có trước đây”. Đó là chuyện các học sinh khối 5 năm ngoái đã tự tay tổ chức lễ chia tay nhà trường, tự chuẩn bị hoa quả bánh kẹo, trang trí khung cảnh và mời khách.

Anh Lầu Bá Thái, Phó Chủ tịch UBND xã Nậm Cắn chia sẻ, điều anh thấy rõ nhất ở những đứa trẻ là thay đổi thái độ từ rụt rè đến tích cực. Gần nhà anh có mấy cháu, trước đây có gặp thì cũng cắm mặt đi, không chào. Bây giờ thì biết chào hỏi và trả lời bằng tiếng phổ thông, chứ không dùng tiếng địa phương như trước.

Theo ông Nguyễn Hồng Hoa, Trưởng phòng Giáo dục huyện Kỳ Sơn, cả huyện có 3 trường tổ chức dạy hoc theo cách mới. Thấy cái mới, Kỳ Sơn cũng hào hứng, nhưng khi làm thì phải chọn hiệu trưởng “cứng tay” bởi không dễ thay đổi nếp dạy truyền thống của giáo viên, và nhất là nhận thức của người dân trong xã. Sau 3 năm thực hiện, chất lượng giáo dục những nơi này tnhúc nhích đổi thay. Như trường tiểu học Nậm Cắn 1, HS giỏi tăng từ 14% lên 18%, HS loại trung bình giảm đi.

“Học sinh được nói nhiều, vốn tiếng Việt tăng lên. Trước đây, khi đến làm việc tại các trường, HS cứ im lặng cắm cúi vào sách vở. Bây giờ, vào lớp, các em mạnh dạn hẳn” – ông Hoa vui vẻ.

Lăn lộn nhiều với giáo dục vùng cao và gắn bó với tiểu học hơn 20 năm, ông Trần Thế Sơn, Trưởng phòng Giáo dục Tiểu học (Sở GD-ĐT Nghệ An) chia sẻ: “Khi đến Nậm Cắn 1, nhiều anh em thốt lên vì trẻ con lớn nhanh và khôn ra hẳn”.

73 trường tham gia

Nậm Cắn 1 là 1 trong số 73 trường ở Nghệ An tham gia tổ chức dạy học theo mô hình “trường học mới” (VNEN). Ông Sơn vẫn còn nhớ, những ngày đầu triển khai cách dạy học theo tinh thần “thầy thiết kế, trò thi công” như thế này, nhiều cô giáo không dám đi giầy cao gót vì hay phải di chuyển trong lớp. HS chuyển từ tư thế “ngồi đẹp” (ngồi khoanh tay, hướng mặt lên bục giảng) sang ngồi thành từng nhóm, quay mặt vào nhau. Nhưng cái khó hơn cả là sự nghi ngại của phụ huynh. Một chuyên viên ở Phòng Giáo dục thành phố Vinh cho biết, trong năm đầu, chị thường xuyên tiếp nhận thắc mắc, rồi thuyết phục phụ huynh không cho con chuyển lớp.

4. Những lớp học bất tuân truyền thống – Hạ Anh

(Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/203124/nhung-lop-hoc-bat-tuan-truyen-thong.html)

Lớp học kê theo từng nhóm 4-6 em, học sinh thảo luận sôi nổi, cô giáo không chấm điểm số thường xuyên mà thay vào đó là các hình mặt cười, lời nhận xét động viên hoặc góp ý. Thay vì “lớp trưởng”, “tổ trưởng”, trong lớp sẽ có các “chủ tịch”, “trưởng ban”…Không gian lớp học vui tươi còn không khí thì bớt vẻ trầm lặng, nghiêm ngắn.

Đó là những cảm nhận khi có dịp dự giờ các lớp học đang được tổ chức theo mô hình “trường học mới tại Việt Nam” (Việt Nam Escuela Nueva, viết tắt là VNEN).

Năm học 2014-2015, hơn 2.000 trường tiểu học trong cả nước (chiếm 10%) thực hiện dạy học theo mô hình này (trong đó, có gần 1.500 trường học thực hiện theo dự án và hơn 800 trường  tự nguyện nhân rộng toàn phần).

Với các nhà quản lý giáo dục, mô hình này là một cách trả lời cho những đòi hỏi về đổi mới giáo dục, như “chuyển hoạt động dạy học của người thầy sang hoạt động tự học của học sinh, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, trang bị thêm nhiều kỹ năng còn thiếu của học sinh, cân đối giữa dạy chữ – dạy người”,v.v.

5. Tự quản – Tự học – Tự đánh giá – Quý Hiên

(Nguồn: http://www.tienphong.vn/giao-duc/mo-hinh-truong-hoc-moi-tu-quan-tu-hoc-tu-danh-gia-756727.tpo#VNEN)

Mô hình trường học mới được Bộ GD&ĐT kỳ vọng là giải pháp sư phạm tích cực nhằm phát triển phẩm chất, năng lực người học, đảm bảo hài hoà dạy chữ – dạy người, nhưng, việc tiến tới triển khai đại trà hiện gặp nhiều khó khăn.

Hầu hết học sinh ở các lớp VNEN thể hiện sự mạnh dạn, tự tin và chủ động tham gia các hoạt động giáo dục. Tình trạng dạy học áp đặt một chiều của giáo viên và lối học thụ động của học sinh được khắc phục đáng kể.

Cách thức tổ chức lớp học theo các nhóm đã tạo điều kiện cho học sinh được trải nghiệm, khám phá, tự chiếm lĩnh kiến thức. Mối quan hệ, tương tác giữa học sinh với giáo viên, và quan hệ giữa học sinh với nhau được tăng cường. Nhiều địa phương thấy mô hình hay đã chủ động triển khai thêm.

Vì thế, đến nay, trên cả nước có gần 2.500 trường tiểu học trên tổng số 15.000 trường thực hiện mô hình VNEN. Ngoài ra, từ năm học này, Bộ GD&ĐT cũng sẽ cho thí điểm mô hình VNEN ở cấp THCS tại 24 trường thuộc sáu tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Hòa Bình, Kon Tum, Đắk Lắk, Khánh Hòa.

Ngồi học theo nhóm

Mô hình VNEN khác gì với mô hình lớp học truyền thống, thưa ông? 

Thực tiễn cho thấy, mô hình truyền thống nặng về truyền thụ kiến thức có tính áp đặt, còn VNEN khắc phục nhược điểm này, đảm bảo sự hài hòa giữa dạy chữ và dạy làm người.

Đây là giải pháp đổi mới toàn diện, có tính hệ thống, bao gồm đổi mới cách dạy, cách học, cách đánh giá, cách thức tổ chức quản lý lớp học, quản lý nhà trường và đổi mới cả cách tham gia của cha mẹ học sinh, cộng đồng trong việc tổ chức hoạt động dạy học.

Có thể thấy sự khác biệt của mô hình VNEN so với mô hình nhà trường truyền thống trên nhiều phương diện, trong đó đáng chú ý là sự đổi mới về phương pháp.

Với mục tiêu lấy “hoạt động học” làm trung tâm, nên giáo viên không giảng giải, không truyền thụ kiến thức một chiều cho cả lớp nghe. Trong lớp, thầy cô hướng dẫn học sinh tự học theo nhóm và tập trung theo dõi các em để kịp thời hỗ trợ khi các em gặp khó khăn. Hình thức tổ chức lớp học cũng thay đổi căn bản.

Các em không ngồi hướng mặt đồng loạt lên bục giảng nữa mà ngồi học theo nhóm, có nhóm trưởng luân phiên điều hành. Mô hình này rất chú trọng hoạt động tự giáo dục của học sinh, bao gồm tự quản – tự học – tự đánh giá.

Công cụ tự quản quan trọng nhất là Hội đồng tự quản – một tổ chức của học sinh, vì học sinh, do học sinh bầu ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Ngoài ra, mô hình còn sử dụng các công cụ như góc học tập, góc cộng đồng, thư viện lớp học, các hộp thư “điều em muốn nói”, “hộp thư bè bạn”… để giáo dục.

Cách đánh giá học sinh ở những lớp họ VNEN cũng khác với lớp học truyền thống?

Đúng vậy, nhưng là ở những năm trước. Khi thực hiện mô hình VNEN, chúng tôi đồng thời triển khai đổi mới căn bản cách đánh giá học sinh. Thay vì chỉ đánh giá kết quả học tập thông qua điểm số như trước đây thì ở VNEN việc đánh giá bao gồm kết hợp định lượng (bằng cách cho điểm) và định tính (bằng nhận xét) của giáo viên, phụ huynh, học sinh trong quá trình học.

Cách đánh giá mới giảm được áp lực về điểm số, khuyến khích dạy – học thực chất, được xã hội đồng thuận. Vì thế, từ năm học 2014 – 2015, Bộ GD&ĐT đã áp dụng cách đánh giá mới ở tất cả các trường tiểu học trong cả nước chứ không chỉ thực hiện trong khuôn khổ các trường thực hiện mô hình VNEN. Đây được xem là một bước phát triển mới của giáo dục tiểu học.

Như Tiền Phong đã có bài phản ánh, nhiều giáo viên tỏ ra lo lắng học sinh không hiểu bài khi thực hiện mô hình VNEN. Ông nghĩ thế nào về điều này?

Trong lớp, thầy cô hướng dẫn học sinh tự học theo nhóm và tập trung theo dõi các em để kịp thời hỗ trợ khi các em gặp khó khăn. Hình thức tổ chức lớp học cũng thay đổi căn bản. Các em không ngồi hướng mặt đồng loạt lên bục giảng nữa mà ngồi học theo nhóm, có nhóm trưởng luân phiên điều hành.

Lo ngại này là một thực tế, bởi lâu nay giáo viên chúng ta vẫn quen giảng giải, truyền thụ một chiều và học sinh thụ động học theo những gì giáo viên truyền đạt. Bây giờ cách dạy, cách học hoàn toàn khác.

Ban đầu chưa quen thì lo lắng học sinh không hiểu bài, nhưng nếu giáo viên biết cách theo dõi, quan sát, tập cho học sinh cách học mới và đồng hành với các em trong quá trình học tập thì không những tất cả các em đều hiểu bài mà còn học đến đâu chắc đến đấy. Tất nhiên, để thay đổi nhận thức, nhất là từ bỏ thói quen “thuyết giảng” ăn sâu vào giáo viên là không dễ, cần có quá trình. Hiện chúng tôi đã có nhiều giải pháp để hỗ trợ giáo viên.

6. Khắc phục “bệnh” nói nhiều của giáo viên – Quý Hiên

(Nguồn http://www.tienphong.vn/giao-duc/khac-phuc-benh-noi-nhieu-cua-giao-vien-754357.tpo#qu%C3%BD%20hi%C3%AAn)

Giáo viên phải đi… dép lê

Cô Lê Thị Thu Hiền là giáo viên Trường Tiểu học thị trấn Đại Từ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Cách đây hai năm, Trường tiểu học thị trấn Đại Từ bắt đầu tham gia thí điểm tổ chức dạy học theo mô hình VNEN, cô Hiền là một trong số không nhiều giáo viên được nhà trường lựa chọn đi tập huấn ở tỉnh.

Năm học 2012 – 2013, cô trực tiếp dạy học sinh lớp 3, năm sau cô theo các em lên lớp 4 và năm học này, cô tiếp tục cùng các em lên lớp 5. Cô Hiền chia sẻ: “Lớp tập huấn đầu tiên chỉ giúp tôi hình thành bước đầu hình ảnh về một lớp học của mô hình trường học mới. Đại để đó là một môi trường học tập mà học sinh phải tự học, giáo viên thì không đóng vai trò thuyết giảng mà chủ yếu là hướng dẫn – hỗ trợ các em. Còn để thao tác một cách nhuần nhuyễn, thành thục như bây giờ tôi phải trải qua nhiều khóa tập huấn khác cộng với quá trình trải nghiệm thực tế. Hơn nữa, trong suốt quá trình dạy học tôi phải đọc và suy ngẫm nhiều sách vở – tài liệu tập huấn”.

Theo cô Hiền, để tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới, giáo viên vất vả hơn rất nhiều so với mô hình trường học truyền thống. Điểm nổi bật của mô hình VNEN là đổi mới về cách thức tổ chức lớp học. Trong lớp, các em ngồi học theo nhóm, hướng mặt về nhau để cùng trao đổi và tự học.

Quản lý lớp học là “hội đồng tự quản học sinh” cùng các “ban” trong lớp, do tập thể lớp bầu ra. Học sinh tự nguyện xung phong và được các bạn tín nhiệm. “Hội đồng tự quản học sinh” là công cụ hữu hiệu, một biện pháp giúp học sinh được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục. Học sinh có điều kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng tham gia, hợp tác trong các hoạt động.

“Dù chỉ đứng ở vị trí người hướng dẫn, nhưng không vì thế mà vai trò của giáo viên trở nên mờ nhạt. Cô giáo phải làm sao để bao quát được hoạt động của tất cả các nhóm (với lớp học truyền thống thì việc này dễ dàng hơn do tất cả học sinh đều phải hướng lên bảng), phải di chuyển liên tục và hợp lý từ nhóm này sang nhóm khác để cho việc hoạt động nhóm của các em là thực chất chứ không mang tính hình thức. Thời gian đầu, thậm chí chúng tôi còn không dám mang giày mà phải đi dép lê để đỡ đau chân”, cô Hiền kể.

Chữa “bệnh” nói nhiều

Học sinh không hiểu bài là nỗi ám ảnh trong hầu hết mỗi giáo viên tham gia thí điểm mô hình VNEN, khi mà mô hình này đòi hỏi giáo viên phải… nói ít, giảng ít, mà chỉ tập trung quan sát, hướng dẫn học trò tự học.

Cô Nguyễn Thị Thanh Thu, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Tân An, huyện Yên Dũng, Bắc Giang cho biết: “Theo mô hình tổ chức lớp học truyền thống, với mỗi bài học giáo viên đặt vấn đề cần giải quyết, sau đó để học sinh khai thác những nội dung cần tìm hiểu trong vấn đề đó, cuối cùng giáo viên chốt lại những gì cần ghi nhớ.

“Ban đầu nhiều cô giáo cứ thắc mắc, dạy thế thì học sinh làm sao hiểu được! Nhưng giờ thì các cô tự tin lắm rồi, vì so với học sinh của lớp truyền thống, học sinh VNEN rất chủ động, mạnh dạn, năng nổ, diễn đạt rất mạch lạc. Những em giỏi là giỏi thật sự, nhờ năng lực tự học của chính mình chứ không phải do được nhồi nhét”. 

Cô giáo Lê Thị Thu Hiền, Trường Tiểu học thị trấn Đại Từ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Nhưng khi dạy theo VNEN thì giáo viên chỉ là người hướng dẫn để các em tự trải nghiệm, làm việc cá nhân, chia sẻ trong cặp đôi, thảo luận trong nhóm để tự làm việc với nhau, tự chiếm lĩnh kiến thức, rút ra bài học. Ban đầu triển khai, giáo viên nào cũng chỉ lo học sinh của mình không hiểu bài, nên dạy được vài bài lại quay về giảng giải theo cách cũ; thậm chí có giáo viên buổi sáng dạy theo VNEN, buổi chiều dạy theo truyền thống”.

Theo cô giáo Nguyễn Thị Huệ, Trường Tiểu học Hùng Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, để chữa “bệnh” nói nhiều, giáo viên không còn cách nào khác là phải được thực hành mô hình VNEN.

“Tôi cũng như hầu hết các thầy cô khác, cứ lo học sinh không hiểu bài nên phải nói, nói thật nhiều! Nhưng qua thực tế ba năm làm VNEN, tôi rút ra được bài học quý giá: cứ để cho học sinh trải nghiệm, cứ để các em tự đúc kết, thì kiến thức thu được mới thực sự là của các em. Chỉ khi nào các em gặp khó khăn, tỏ ra không hiểu thì mới cần sự hỗ trợ, can thiệp của giáo viên. Quan trọng là giáo viên phải tìm ra cách gợi mở, giúp các em hình thành được kiến thức mới”, cô giáo Huệ nói.

7. Danh sách các nước áp dụng Escuela Nueva

http://www.escuelanueva.org/portal/en/escuela-nueva-model/escuela-nueva-in-the-world.html

8. Dự thảo:

http://vanban.moet.gov.vn/?page=1.28&view=853

Advertisements

Tagged as: , , ,

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Hướng cải cách

4 phản hồi »

  1. VNEN: 2500 trên 15000 trường là con số khá lớn. Xu hướng rất hiện đại, có khả năng khai triển trong các trường THCS và THPT. Lúc bấy giờ (5-10 năm) các Đại học sẽ thay đổi. Cần gì học nấy sẽ là sự thực. Không dám đoán tương lai xã hội VN sẽ ra sao (?)

    Số lượt thích

  2. Lấy học sinh làm trung tâm là một dịch chuyển lớn. Cần dịch chuyển triệt để hơn: Học sinh là chủ thể – Tự chủ.

    Số lượt thích

  3. Tôi nhớ đã làm thủ tục de Bo thuê một Gs nguòi nuóc có mô hình VNEN de Chuẩn bị cho đoàn lãnh đạo GD nuóc ta sang tham quan bên Nam Mỹ bởi WB muốn thế! Bà Vụ phó ca ngọi mô hình này mà chả hiểu cha đẻ của nó là ai và từ đâu ra? Tài liệu có đầy, dịch sang tiếng Việt họ có đọc đâu. Cha đẻ của dân chủ giáo dục chính là John Dewey mà từ những năm 40 TK truóccđã duọc giói thiệu vào VN! Ơn giời, bác Tổng bí thư đã samg thăm Mỹ, sao ta ko tìm hiểu nó ngay trên nước Mỹ và nghĩ xem nên vận dụng một cách sang tạo vào điều kiện cụ the của VN, đỡ phải đi lòng vòng qua nước khác! bác Hồ đã dạy phải vận dụng sáng tạo CHu nghia Mac Zlee vào đk cụ thể của VN mà!

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: