How We Learn

Trao đổi một số ý với Nhóm Đối thoại Giáo dục nhân đọc bản Khuyến nghị về phương hướng cải cách đại học ở Việt Nam – Nguyễn Xuân Thu

Trước tiên tôi xin cảm ơn Nhóm Đối thoại Giáo dục (Nhóm ĐTGD) do Giáo sư Ngô Bảo Châu chủ trì đã cho tôi có dịp đọc một tài liệu bàn về giáo dục đại học ở Việt Nam, một vấn đề cả nước đã và đang hết sức quan tâm từ hơn hai thập kỷ nay.

Đọc bản “Tổng kết nghiên cứu về phương hướng cải cách đại học ở Việt Nam” tôi thấy nổi cộm lên tấm lòng đau đáu của những nhà trí thức khoa bảng Việt Nam đang sống và làm việc trong nhiều quốc gia khác nhau về mộtmong ước có một nền giáo dục nước nhà thật sự tiến bộ để có thể đưa đất nước Việt Nam tiến kịp các nước phát triển.

Ngọn lửa giáo dục do Nhóm Đối thoại Giáo dục nhen nhúm lên qua tài liệu nói trên cũng làm cháy bỏng tâm can tôi, tâm can của một người ở lứa tuổi quá “thất thập” và đã có gần 60 năm gắn bó với giáo dục từ những năm ở phổ thông trung học rồi đến bậc đại học, và từ một người thầy giáo trẻ đứng lớp đến một ông già ngày đêm thao thức nghĩ về quê nhà.

Những góp ý dưới đây sẽ không theo sát thứ tự được trình bàytrong các khuyến nghị.

  1. Nên có ý kiến cải tổ đối với tất cả các loại trường đại học

Không giống như Nhóm ĐTGD, muốn đối thoại thay đổi có hiệu quả một nền giáo dục đại học, theo chúng tôi nghĩ, chúng ta không chỉ đưa ra ý kiến cải tổ đối với hệ thống các trường đại học công lập mà cả đối với các trường đại học ngoài công lập. Từ gần 30 năm nay Việt Nam không có mấy trường đại học, cao đẳng công lập mới ra đời. Nhưng số lượng các trường cao đẳng, đại học ngoài công lập tại Việt Nam trong cùng thời gian trên tăng lên chóng mặt và khuynh hướng xã hội hóa giáo dục cao đẳng, đại học ngày nay vẫn còn tiếp tục gia tăng. Do đó muốn cải tổ ráo riết giáo dục cao đẳng, đại học tại Việt Nam chúng ta nên bàn đến toàn bộ hệ thống giáo dục đại học ở cả hai khu vực.

  1. Phải thay đổi chức năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bàn về cải cách mô hình quản trị đại học, Nhóm ĐTGD chỉ đưa ra ý kiến và khuyến nghị cải tổ một phía, tức các trường đại học công lập. Theo ý kiến chúng tôi, muốn cải tổ triệt để một hệ thống giáo dục đại học, rất cần thiết cải tổ cả cơ quan chủ quản của các trường đại học tức Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trách nhiệm chính của Bộ GD&ĐT không phải là quản lý các hoạt động của giáo dục đại học mà là tập trung tối đa vào ưu tiên xây dựng các chính sách, tài trợ và theo dõi, kiểm tra sự thực thi các chương trình do Chính phủ và Bộ GD&ĐT đã ban hành[i].

Nhiều nước phát triển (như Mỹ và Úc) không có một Bộ Giáo dục riêng ở cấp liên bang. Ở cấp liên bang Mỹ, các bộ y tế, giáo dục và dịch vụ xã hội gộp lại thành một bộ. Ở Úc, bộ giáo dục, khoa học công nghệ và quan hệ lao động đứng chung thành một bộ[ii]. Các nhiệm vụ chính của bộ giáo dục chủ yếu có thể là:

(1) Xây dựng và phát triển các chính sách, chương trình nhằm đào tạo lực lượng lao động có kỹ năng cho đất nước, xây dựng tầng lớp lãnh đạo xuất sắc tương lại, tạo thêm việc làm cho người dân, gắn với thế giới qua các hoạt động văn hóa và thương mại, nuôi dưỡng một nền kinh tế dựa trên tri thức và sáng tạo[iii].

(2) Thành lập cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục độc lập (đây là một định chế pháp lý độc lập nhưng dưới quyền của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, không nằm ngoài Bộ GD&ĐT như khuyến nghị của Nhóm ĐTGD). Tổ chức này có mục địch xây dựng một chính sách về kiểm định và bảo đảm chất lượng giáo dục gồm kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo (training programs) và kiểm định hoạt động của các trường đại học cao đẳng (universities and colleges). Theo kinh nghiệm của Anh, Úc, New Zealand các tổ chức kiểm định chất lượng có những nhiệm vụ như sau: (1) quy định và đảm bảo chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng bao gồm kiểm định các chương trình đào tạo mới (accredit new programs) và tái kiểm định (re-accredit) các chương trình đào tạo sau mỗi năm năm và (2) đăng ký và đánh giá hiệu quả của các hoạt động tại các trường đại học và cao đẳng. Tất cả các hoạt động trong các trường đều phải được kiểm định chất lượng. Sau khi kiểm định, kết quả phải được công bố trên trang mạng của tổ chức chất lượng và các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người có thể biết chất lượng đào tạo và nghiên cứu tại các trườngđại học Úc (www.teqsa.gov.au).

Ngoài ra, Bộ GD&ĐT còn có nhiệm vu xây dựng rất nhiều chính sách và chương trình quan trọng khác, ví dụ chương trình quỹ tín dụng cho sinh viên vay tiền, chương trình giúp sinh viên khuyết tật, chương trình tạo cơ hội cho mọi sinh viên có thể con đường học vấn của mình, chương trình hợp tác quốc tế và phát triển du học sinh quốc tế…

(3) Lập ngân sách giáo dục và đào tạo trình Chính phủ và Quốc hội chấp thuận (Trong phần ngân sách dành cho giáo dục đại học có ấn định số sinh viên mỗi trường đại học được tuyển,dựa trên nhu cầu phát triển nhân lực (các trường đại học, cao đẳng không được tự do tuyển sinh theo như khuyến nghị của Nhóm ĐTGD) và phân bố ngân sách cho các trường đại học (tại Úc, theo luật, giáo dục là trách nhiệm của các tiểu bang)[iv].

(4) Trách nhiệm pháp lý bắt buộccác trường/đơn vị có nhận ngân sách do Bộ GD&ĐT quản lý phải giải trình ngân sách và báo cáo kết quả các hoạt động của mỗi chương trình. Mỗi chương trình được Bộ GD&ĐT xây dựng ra đều có các mục tiêu, các chương trình hoạt động và lộ trình thi hành, có ngân sách và các tiêu chí đánh giá cho mỗi chương trình.

Tại những nước phát triển, các hội đồng trường đại học là chủ nhân các trường đại học và có nhiệm vụ bổ nhiệm ban giám hiệu trường để quản lý các hoạt động của trường. Bộ GD&ĐT có trách nhiệm theo dõi và kiểm tra việc thực thi các chính sách về giáo dục và đào tạo do Chính phủ và Bộ GD&ĐT đã đề ra. Quản lý các trường đại học là trách nhiệm của các Hội đồng trường, không phải của Bộ GD&ĐT liên bang. Hội đồng trường đại học đóng tại tiểu bang nào báo cáo các hoạt động cho Bộ Giáo dục của Tiểu bang ấy (trách nhiệm luật định).

Cũng cần lưu ý rằng tại một số nước phát triển như Mỹ, Anh, Canada, Úc… ngân sách tài trợ cho các chương trình đào tạo bậc bậc đại học (Bachelor degree), kể cả văn bằng Thạc sĩ dự lớp (Master by course work) do Bộ Giáo dục Liên bang cấp. Còn ngân sách cho các chương trình đào tạo sau đại học như Thạc sĩ nghiên cứu (Master by research) và Tiến sĩ, gọi chung là “đào tạo nghiên cứu” (research training) do các Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (AustralianResearch Council) thuộc Bộ khoa học và Công nghệ và/hoặc các doanh nghiệp lớn tài trợ. Tại Úc, Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia tài trợ các chương trình đào tạo nghiên cứu cho các trường đại học và Tổ chức CSIRO (Tổ chức Khoa học ứng dụng trong Công nghiệp Liên bang)[v].

Do đó, bản Tổng kết nghiên cứu về phương hướng cải cách đại học ở Việt Nam của Nhóm ĐTGD nhằm đến việc cải tổ các trường đại học Việt Nam nhưng theo chúng tôi, phần lớn nội dung trong bản Tổng kết chú trọng đến nghiên cứu khoa học. Vậy, Nhóm ĐTGD nên chăng gửi bản Tổng kết này đến cả Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ GD&ĐT, nếu không có nhiều vấn đề không thuộc phạm vi giải quyết của Bộ GD&ĐT.

  1. Cải tổ các trường đại học

Các trường đại học thường có Hội đồng trường là chủ nhân của trường và ban giám hiệu chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động của trường theo đường lối, chính sách do Hội đồng trường đưa ra.

3.1 Hội đồng trường (University Council) hay Hội đồng Ủy thác như khuyến nghị của Nhóm ĐTGD hay Hội đồng Quản trị (theo Bộ GD&ĐT áp dụng trong các trường ngoài công lập). Hội đồng trường là chủ nhân thật sự của các trường đại học.

Hội đồng trường tại Úc được thành lập theo luật giáo dục của mỗi tiểu bang. Mỗi trường đại học có Điều lệ riêng. Thông thường Hội đồng trường có trên/dưới 15 thành viên, gồm 1/3 do Thủ hiến tiểu bang bổ nhiệm, 1/3 do trường đại học mời từ những người thành đạt trong xã hội và khoảng 1/3 là đại diện cho giáo viên, cho nhân viên hành chính, ban giám hiệu. Hội đồng trường có nhiệm kỳ 5 năm. Chủ tịch Hội đồng trường(Chancellor) do các thành viên của Hội đồng trường bầu ra.

Hội đồng trường có nhiệm vụ (1) bổ nhiệm và theo dõi hoạt động của hiệu trưởng, (2) chấp thuận sứ mệnh và chiến lược phát triển của trường, (3) giám sát sự điều hành trường, (4) xem xét ngân sách hàng năm và kế hoạch kinh doanh của trường và (5) xây dựng chính sách và các nguyên tắc hoạt động của trường. Hội đồng trường có nhiều tiểu ban như tiểu ban tài chính, tiểu ban xây dựng và tài sản, tiểu ban kiểm soát, tiểu ban quản lý rủi ro…

3.2 Ban giám hiệu: gồm có Hiệu trưởng (President) kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng trường (Vice-Chancellor) và các Phó Hiệu trưởng (Deputy Vice-Chancellors hoặc Provosts) do Hồi đồng trường bổ nhiệm. Mỗi trường đại học (university) có nhiều Khoa (Faculties). Đứng đầu mỗi khoa có Khoa trưởng (Dean). Dưới mỗi khoa có các Bộ môn (Department) đứng đầu là Trưởng Bộ môn (Head of Department). Dưới mỗi Bộ môn có các ngành học (Course), người đừng đầu mỗi ngành học gọi là (Course Leader).

Hội đồng Khoa học (Academic Board) có nhiệm vụ giúp Hội đồng trường (University Council) về các mảng nghiên cứu phát triển, xây dựng các chương trình đào tạo, cấp các loại văn bằng tốt nghiệp, và cho ý kiến về ngân sách hàng nămcủa trường. Hội đồng Khoa học cùng các khoa (Faculties) trong trường, các trung tâm, các ban, ngành trong trường chịu trách nhiệm trong việc cung cấp các chương trình hoạt động có chất lượng. Chất lượng của các hoạt động đào tạo, nghiên cứu, quản lý, tư vấn, dịch vụ đã trở thành lẽ sống còn và danh tiếng của một trường đại học.

Tại các nước phát triển, theo luật, sứ mệnh phát triển giáo dục và đào tạo là của mỗi tiểu bang. Bộ giáo dục liên bang có nhiệm vụ hỗ trợ giáo dục tại mỗi tiểu bang. Luật Giáo dục ra đời năm 2005 và Luật Giáo dục Đại học 2012 của Việt Nam (hiệu lực từ 01/01/2013) chỉ nêu lên vai trò giúp Bộ GD&ĐT quản lý giáo dục trong các tỉnh, thành phố (nhưng hình như không quản lý các trường đại học). Nhóm ĐTGD khuyến nghị nên ‘phân quyền làm “chủ” đại học cho địa phương’là một khuyến nghị mang tính rất tích cực, nhưng chưa rõ Việt Nam hiện nay đã sẵn sàng để đồng tình với khuyến nghị này chưa? Theo nghị định Chính phủ số 30/2012/ND-CP ngày 12/04/2012 về việc tổ chức và hoạt động quỹ từ thiện/xã hội, hiến tặng cho các cơ sở giáo dục được tính vào chi phí của doanh nghiệp. Do đó, nếu các tỉnh quản lý các trường đại học nằm tại các địa phương thì việc xin hiến tặng của các doanh nghiệp địa phương có lẽ sẽ dễ hơn.

  1. Tài chính đại học

Theo Nhóm ĐTGD, có ba thách thức tài chính lớn: (1) các trường đại học thiếu kinh phí một cách trầm trọng, (2) bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục đại học giữa người giàu và người nghèo xuất phát từ mức học phí quá thấp, và (3) cơ chế tự chủ và trách nhiệm giải trình về mặt tài chính còn nhiều bất cập.

Theo chúng tôi thấy, hiện nay bất cứ trường đại học nào trên thế giới ngay cả các trường đại học giàu nhất ở Mỹ cũng đều thiếu kinh phí. Sự thực các trường đại học ấy có nhiều hiến tặng nằm trong Endownment và chỉ được quyền tiêu tiền lời hàng năm từ ngân hàng). Như vậykhông phải chỉ riêng ở Việt Nam mới thiếu kinh phí, mặc dù Việt Nam đã dành một phần GDP không nhỏ cho giáo dục và đào tạo.

Về tính bất bình đẳng đã được Nhóm ĐTGD nêu lên, chúng tôi thấy rất rõ trong việc phân tầng các loại trường đại học Việt Nam (đại học cấp quốc gia, đại học cấp vùng và các trường đại họckhác). Các trường đại học tư thục không nhận được bao nhiêu sự hỗ trợ từ phía chính quyền. Các nước phát triển không có thông lệ phân tầng đại học như thế. Họ chỉ có phân loại các trường đại học (classification of university categories). Ví dụ ở Úc có nhóm gồm các trường đại học chú trọng nhiều đến lý thuyết, nghiên cứu, có nhóm gồm các trường đại học trong hệ thống công nghệ, các trường đại học có bộ phận cao đẳng, các trường dạy những ngành chuyên môn như y, dược, quản lý, hải dương học… Trường đại học ANU (Australian National University) vì nằm ở thủ đô nên đặt như vậy chứ không phải là một trường thuộc đẳng cấp quốc gia.Việc phân tầng đại học tại Việt Nam tạo nên sự ỷ lại, không công bằng và thiếu cạnh tranh.

Ngày nay các chính phủ không còn đủ tài nguyên để hỗ trợ tài chính cho sinh viên đi học như những thế kỷ trước. Muốn có một nền giáo dục chất lượng cao cả chính phủ và cá nhân sinh viên đều phải chia nhau trả. Theo chúng tôi, để có sự công bằng trong việc phân bố tài chính cho sinh viên và các trường đại học trước hết Việt Nam cần xây dựng một triết lý tài chính đại học (philosophy of financing higher education) hợp lý. Nguyên tắc là cá nhân và chính phủ (thuế của dân) cùng đóng góp vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Nếu một ngành học mà người sinh viên lúc ra trường được hưởng nhiều lợi tức vật chất và phần thưởng tinh thần (như bác sĩ, luật sư, kiến trúc sư) thì người sinh viên đó phải trả học phí cao hơn xã hội đóng góp (qua thuế do dân đóng góp). Nếu sinh viên khi ra trường làm việc phục vụ cho xã hội nhiều hơn (như trong các viện bảo tàng, viện khảo cổ) thì thuế của xã hội phải đóng nhiều hơn. Còn nếu xã hội và cá nhân người tốt nghiệp hưởng lợi ích ngang bằng như nhau thì cả thuế của xã hội và sinh viên cùng chia nhau chi trả.

Trong trường hợp một sinh viên mà không có đủ khả năng chi trả học phí và/hoặc sinh hoạt phí thì mỗi chính phủ có một chính sách riêng để cho sinh viên vay mượn và trả lại từ từ cho nhà nước sau khi tốt nghiệp và có việc làm ổn định. Tại Úc, có chương trình HECS (Higher Education Contribution Scheme) theo đó sinh viên cùng chính phủ mỗi bên cùng đóng góp một phần vào giáo dục đại học. Nếu sinh viên nào có tiền thì trả trước (được giảm giá), còn không thì trả sau khi tốt nghiệp[vi]. Nhờ chính sách ấy mà không có một sinh viên nào tại Úc muốn vào đại học mà không có cơ hội. Chúng tôi nghĩ, chính phủ Việt Nam có lẽ rồi cũng sẽ phải kiện toàn chính sách tín dụng cho sinh viên (Quyết định 157/2007/QĐ-TTgngày 27/9/2007 về việc tín dụng đối với học sinh, sinh viên) nếu chính phủ muốn đầu tư phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng để phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.

  1. Chất lượng giáo dục và đào tạo

Bản Tổng kết nghiên cứu của Nhóm ĐTGD có để dành nhiều trang phân tích hiện trang và đưa ra các khuyến nghị liên quan đến hoạt động của một trường đại học khá chính xác nhưng rời rạc và thiếu tính hệ thống.

Muốn có một trường đại học có chất lượng, trường ấy phải mạnh từ quản lý đến lãnh đạo. Quản lý gồm có mọi thứ, từ quản lý nhân sự, tài chính, kế toán, đến thư viện, phòng thí nghiệm, cơ sở vật chất, bến bãi thực tập. Lãnh đạo phải có tầm nhìn xa, phải có kế hoạch và chương trình để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Một trường đại học nổi tiếng một mặt ở quản lý, lãnh đạo nhưng cốt lõi của tiếng tăm là ở chất lượng của các chương trình đào và các chương trình đào tạo và nghiên cứu khoa học nổi trội của trường đại học (các chương trình tiên tiến và tài năng theo chúng tôi không xuất phát từ nhu cầu phát triển của đất nước mà tùy thuộc vào các trường đại học đối tác).

Muốn có và duy trì cả hai phần chất lượng ấy các trường phải có một bộ phận kiểm định chất lượng nội bộ cùa trường. Kiểm định chất lượng không phải chỉ xẩy ra khi có kiểm tra, thanh tra. Công tác kiểm định chất lượng là một việc làm thường xuyên, nó gắn kết với nhà giáo như là một phần của sự sống của con người. Một người khỏe mạnh từ thể chất đến tinh thần không phải chỉ thỉnh thoảng mới bồi bổ sức khỏe mà phải bồi bổ liên tục, thường xuyên.

Chất lượng của một chương trình đào tạo đã được hình thành từ khi mới thiết kế, xây dựng chương trình. Một chương trình có chất lượng không dạy tràn lan, khống chế trong một số môn học ngang bằng với các chương trình chuẩn quốc tế (ví dụ tốt nghiệp một văn bằng đại học ngành kế toán có 24 môn học trong ba năm), số giờ sinh viên bắt buộc phải tham dự trong lớp, phương pháp dạy và học, nội dung trình bày trong mỗi tiết học và người thầy phải trình bày tập trung tối đa (giáo trình bắt buộc phải được cấu trúc rất chặt chẽ, tránh không để cho giáo viên trình bày lang bang, lạc đề), cách thức tiến hành kiểm tra đánh giá, nội dung từng môn học, lịch học mỗi tuần, tỷ lệ phần thực tập, sách bắt buộc phải đọc, các nguồn sách tham khảo. Tóm lại, chất lượng hay chuẩn đầu ra của mỗi môn học theo như khuyến nghị của Nhóm ĐTGD (trang 14) đã được thể hiện sẵn trong môn học từ khi mới thiết kế, xây dựng.

  1. Nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở đại học

Đọc qua bản “Tổng kết nghiên cứu…” của Nhóm ĐTGD, một trong những mối quan tâm của Nhóm nổi cộm nhất là nghiên cứu khoa học. Nhóm ĐTGD đưa ra hai nhận địnhcốt lõi (1) “khả năng nghiên cứu khoa học yếu kém” và (2) “tài trợ nghiên cứu khoa học của nhà nước còn giàn trải.” Để khắc phục những bất cập này Nhóm đã đưa ra nhiều khuyến nghị nhưng chúng tôi đặc biệt chú ý tới hai khuyến nghị: (1) “Thiết lập một số vị trí với điều kiện làm việc và đãi ngộ đặc biệt để tạo ra những đầu tàu trong nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng” và (2) “thiết lập cơ chế tài chính để hỗ trợ chi phí cho các nhà khoa học nước ngoài sang Việt Nam làm việc”.

Theo chúng tôi nghĩ, “điều kiện làm việc và đãi ngộ đặc biệt” không những không tạo ra được những đầu tàu trong nghiên cứu mà qua kinh nghiệm ở Việt Nam nhiều lúc còn xây thêm thành lũy rất tai hại cho các hoạt động nghiên cứu, học thuật (đề nghị bỏ cụm từ “khoa học” trong “nghiên cứu khoa học”, chỉ cần sử dụng từ “nghiên cứu” là đủ). Làm việc theo đội, nhóm (teamwork) nhắm đến các mục tiêu nghiên cứu đã được xác định sẽ xây dựng nên những nhà khoa học xuất sắc trong nhóm.

Với suy nghĩ ấy, chúng tôi xin chân thành đưa ra đề xuất với Giáo sư Ngô Bảo Châu và Nhóm ĐTGD không nên kêu gọi Chính phủ Việt Nam thiết lập cơ chế để hỗ trợ chi phí cho các nhà khoa học nước ngoài sang Việt Nam làm việc” (vì sẽ tạo ra sự bất bình đẳng trong nghiên cứu, giáo dục) mà nên lập một quỹ quốc tế riêng ở ngoài Việt Nam nhằm hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu tại Việt Nam. Quỹ quốc tế hỗ trợ nghiên cứu Việt Nam(International Fund for Vietnam Research) nếu được thành lập, phải đặt trụ sở ở nước ngoài, có thể đặt tại Chicago nơi Giáo sư Ngô Bảo Châu đang làm việc. Quỹ quốc tế này có ba chức năng quan trọng liên quan đến phát triển nghiên cứu tại nước nhà: (1) lập chương trình gây quỹ hàng năm để giúp xây dựng và phát triển các chương trình nghiên cứu tại Việt Nam, (2) tìm những nhà nghiên cứu lớn ở nước ngoài, đặc biệt là những vị sắp hay mới nghỉ hưu(Việt kiều và các nhà khoa học quốc tế) có những công trình nghiên cứu trong những lĩnh vực mà nền kinh tế Việt Nam đang cần và mời họ tham gia với chức vụ là những Giáo sư Hợp tác (Adjunct Professor), và (3) điều phối các hoạt động nghiên cứu và hỗ trợ tài chính tượng trưng cho các Giáo sư Hợp tác.Quỹ quốc tế hỗ trợ nghiên cứu Việt Namcòn có nhiều tác dụng khác như có thêm sự tham gia chặt chẽ giữa ba loại đối tác chiến lược: các nhà khoa học trong nước và quốc tế, các cơ sở nghiên cứu và các trường đại học trong nước và quốc tế, và các doanh nghiệp đa quốc gia và các cơ sở sản xuất trong nước. Như vậy chúng ta sẽ có giáo dục, nghiên cứu và doanh nghiệp cả ba trong một. Đó là nền tảng phát triển mà Nghị Quyết 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 v/v thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014-2017 đã phác thảo và Nhóm ĐTGD đã nêu lên đây đó trong bản Tổng kết nghiên cứu của mình.

  1. Những điều bản Tổng kết nghiên cứu chưa nói đến

Qua tiếp xúc gần đây với một số giáo viên đại học và một số nhà quán lý giáo dục trong nước, có rất ít người quan tâm đúng mức đến chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo mặc dù từ năm 2009 Bộ GD&ĐT đã ra văn bản yêu cầu các trường đưa ra chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo.

Tại các nước phát triển, muốn xây dựng một chương trình đào tạo mới trong một khoa của trường, khoa phải ra quyết định thành lập một ban thiết kế chương trình mới. Ban này phải làm một cuộc nghiên cứu xem chương trình đó có cần thiết không? Nếu thấy rằng đó là một chương trình thật sự cần thiết thì họ đi đến làm một công cuộc nghiên cứu kế tiếp là soạn thảo một chương trình với những môn học cần thiết cho văn bằng ấy? Khi soạn xong, phải so sánh xem các môn học ấy có tương tác với các chương trình tương tự ở các trường đại học khác trong nước (số môn học, giờ tham dự lớp, nội dung, lịch học, phương pháp dạy và học, kiểm tra đáng giá, sách giáo khoa, sách tham khảo, năng lực và kinh nghiệm của giáo viên…) hoặc các trường tại những nước phát triển khác. Một khi bộ chương trình soạn xong, để có thể được chấp thuận, chương trình ấy phải được một ban tư vấn gồm những người chuyên môn và đại diện giới doanh nghiệp thông qua. Theo đó, mọi người khi đọc tài liêu ấy có thể thấy ngay chuẩn đầu ra hoặc những kỹ năng có được sau khi tốt nghiệp từ chương trình ấy.

Ở Việt Nam, các trường đại học không có truyền thống xây dựng một chương trình mới như ở các nước phát triển, do đó nhiều người còn xa lạ với chuản đầu ra của các chương trình đào tạo cũng là chuyện thường. Ở Việt Nam thông thường các giáo viên lấy các chương trình ấy từ trên Internet hay từ một tài liệu nào đó. Chúng tôi chưa thấy Nhóm ĐTGD đưa ra khuyến nghị xây dựng các chương trình đào tạo hay nghiên cứu mới hiện đang rất cần ở Việt Nam.

Ngoài chuẩn đầu ra của mỗi chương trình, nhiều giáo viên tại Việt Nam hiện nay chưa nắm rõ tầm quan trọng của Khung Trình độ Quốc gia (National Qualifications Framework) trong lúc vào cuối năm 2015 Việt Nam sẽ phải tham gia Hiệp định Đối tác Thương mại xuyên Thái Bình Dương. Một khi tham gia Hiệp định này Việt Nam bắt buộc phải có Khung trình độ tương đương với khung trình độ nghề nghiệp của các nước trong khu vực Thái Bình Dương. Nếu các trường đại học Việt Nam không đào tạo được lực lượng lao động có tay nghề bằng chuẩn ASEAN, lao động có kỹ năng cao, tức lương cao sẽ nằm trong tay lao động của các nước khác và các loại lao động phổ thông sẽ dành cho người Việt Nam. Ngoài ra, không chuẩn bị trước, chúng ta cũng sẽ phải gánh chịu thách thức vì hiện tượng chảy máu chất xám, một thách thức tạo ra thiệt thòi lớn cho Việt Nam. Những điều này cũng chưa đọc được trong bản Tổng kết của Giáo sư Ngô Bảo Châu. Có lẽ chúng tôi đã đòi hỏi quá nhiều ở Nhóm ĐTGD chăng?

Nguyễn Xuân Thu, Australia

(10/7/2015)

[i] Gồm ba lĩnh vực: các chính sách (policies), ngân sách (funding) và các chương trình hoạt động (programmes).

[ii] Mỹ có Bộ Giáo dục, Y tế và Dịch vụ xã hội (Edfucation, Health and Human Services). Sứ mạng giúp sinh viên đạt được mục tiêu học vấn của mình và chuẩn bị cho một sự cạnh tranh mang tính toàn cầu bằng cách xây dựng một nền giáo dục xuất sắc và bảo đảm cơ hội học tập đồng đều cho mọi người.

[iii] Mỗi bộ Giáo dục liên bang của Mỹ hay Úc có nhiều chương trình hoạt động khác nhau. Chương trình Kiểm định Chất lượng và Tiêu chuẩn Giáo dục Đại học (Tertiary Education Quality and Standards www.teqsa.gov.au) là một chương trình quan trọng tại Úc.

[iv] Chương trình Hỗ trợ Tài chính cho Sinh viên gọi là HELP (Financial Education Loan Program) của Chính phủ Liên bang Úc gồm 4 loại chính là: (1) HECS-HELP: cho sinh viên Úc vay để trả phần đóng góp học phí với chính phủ (Higher Education Contribution Scheme), (2) FEE-HELP: cho sinh viên Úc vay để trả học phí học tại các trường đại học tư thục, (3) OS-HELP: cho sinh viên vay để học tại các trường đại học ở nước ngoài, (4) VET-HELP: cho sinh viên Úc vay để trả học phí học trong các trường cao đẳng tại Úc.

[v] CSIRO (Commonwealth Scientific and Industrial Research Organisation) là một tổ chức nghiên cứu có gần 1000 cơ sở nghiên cứu trên toàn lãnh thổ Úc, New Zealand và trên thế giới, kể cả tại Trung tâm NASA của Hoa Kỳ. Tám lĩnh vực nghiên cứu chính của Tổ chức là Thiên văn, môi trường, y tế, khai thác hầm mỏ và chế tạo, loài vật và thảo mộc, nông nghiệp và sản xuất thực phẩm, công nghệ thông tin và năng lượng tái tạo.

[vi] Xem chú thích iv ở trên.

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Giáo dục đại học, VED

14 phản hồi »

  1. Lâu lắm mới được nghe tiếng nói của bác Xuân Thu về GDĐH VN, góp ý của bác cho đề xuất CCGD ĐH của nhóm VED chứng tỏ ngọn lửa GD trong trái tim bác vẫn như ngày nào từ đầu thập niên 90! Tuy trong kien nghij cải cách GDDH của VED không nói cụ thể về các trường NCL, nhưng tôi thát có một vài tham luân khác của họ ( như bài Đại học quốc tế có yếu tố nước ngoài của Pham Hạnh Minh) đã phân tích chính sách của CP cho Đại học đang va dang bóp chết các trường tư thuc còn đang non nớt.

    Về công tác Kiểm định các ĐH, xin lưu ý bác là Văn phòng Chính phủ mới có công văn yêu cầu Bộ đưa công tác KĐCL về cho Hiệp hội các trường DH và CĐ Việt Nam, không đặt các trung tâm kiểm định ở các ĐH QG, không đuọc cho,phép các cá nhân và tổ chức tư nhân làm chức năng kiểm định. Thiết nghĩ, đó cung chỉ là mấy công văn mang tính hành chính, chưa nói gì nhiều về thái đọ nghiêm túc của Chính phủ trong hoạch định công tác KĐCL GDdH một cách có chiến lược,lâu dài.

    Mới đây CP còn tiếp tục rót 3.100 tỷ vốn vay ODA của WB Cho cac truong CL tiếp tục gây sự bất công giữa các trường CL vaf NCL, và để xoa dịu dư luận PTT VD Dam chỉ đạo nghiên cứu định hướng cho các truong NCL tiếp cận vốn vay ODA! Vấn đề lại la ở chỗ hiệu quả sử dụng vốn ODA cho GD đến đâu? Nếu học theo nguyên tắc của Tàu”ai hưởng lợi vốn ODA thì nguòi đó phải trả” chắc chắn GDDH của ta đã khá hơn nhiều, và HĐQT của nhiều trường NCL sẽ từ chối không dám vay ODA như một công ty ở cảng Tiên Sa Đà nẵng đã làm như vậy.vừa qua!
    Vài lời tham góp vào ý kiên của bác cho kiến nghị của VED, mong bác vẫn khoẻ để chứng kiến cảnh đất nước vẫn đang đi lên, tuy có hơi luẩn quẩn, nhưng cũng hé lọ nhiều vấn đề mới đáng phải ngẫm nghĩ!

    Liked by 1 person

  2. Có lẽ ban biên tập trang nên liên lạc với thầy Nguyễn Xuân Thu để có bản chỉnh sửa sau khi đã khắc phục một số lỗi đánh máy. Email của thầy Thu: tnguyen@avepa.org.au

    HTN: HTN là một con robot được lập trình sẵn một số nhiệm vụ. Nó biết nhận bài vở qua email rồi đăng lên trang web. Đôi khi nó còn biết duyệt comment nữa.

    Liked by 1 person

  3. Giáo sư Thu hình như không cập nhật tình hình nước Mỹ cho câu này: “Nhiều nước phát triển (như Mỹ và Úc) không có một Bộ Giáo dục riêng ở cấp liên bang. Ở cấp liên bang Mỹ, các bộ y tế, giáo dục và dịch vụ xã hội gộp lại thành một bộ.”
    Bộ GD liên bang ở Mỹ có các website là http://www.ed.gov/
    và bộ y tế và dịch vụ xã hội là http://www.hhs.gov/
    Còn khi người ta nói U.S. Departments of Education and Health & Human Services như ở đây http://www.ed.gov/news/press-releases/us-departments-education-and-health-human-services-announce-birth-5-watch-me-thrive chẳng hạn thì đơn giản là gộp 2 bộ lại để nói thôi.

    Liked by 1 person

    • Cảm ơn Maitinh đã cho biết những thông tin mới. Theo tôi, trao chức năng kiểm định chất lượng cho bất cứ tổ chức chuyên môn có năng lực về kiểm định chất lượng, không nhất thiết trao cho AVUC (Hiệp hội các trường ĐHCĐ Việt Nam). Tại Úc, Bộ Giáo dục không trao cho Universities Australia (Hiệp hội các hiệu trưởng của các trường đại học Úc, một tổ chức như AVUC của Việt Nam) mặc dù Universities Australia rất mạnh, có trong tay tổ chức IDP (có văn phòng ở Việt Nam và trên 100 nước trên thế giới).

      Từ những năm đầu của thế kỷ 21, chính phủ đã phân phối một số tiền lớn thuộc quỹ ODA để mua trang thiết bị cho nhiều phòng thí nghiệm trong các trfường ĐHVN và các trung tâm nghiên cứu của VAST (Vietnam Academy of Scienc e and Technology). Nếu được chính phủ bảo trợ và khuyến khích tôi nghĩ một số trường NCL sẽ không ngần ngại vay vốn ODA.

      Xin lỗi vì phải viết tiếng Anh vì tôi không nhớ tên một số tổ chức trong nước. NXT

      Liked by 1 person

    • Cảm ơn anh/chị Phan đã có ý kiến. Thú thật gần đây vì tuổi tác và mắt yếu nên ít theo dõi thông tin về giáo dục của các nước trừ lúc cần. Do đó tôi chậm cập nhật về việc việc tách, nhập các bộ. Điều tôi muốn nói là bộ giáo dục liên bang của các nước ấy chỉ có nhiệm vụ lập chính sách và phân phối ngân sách. Họ không điều hành các hoạt động giáo dục tại các tiểu bang. Mong anh/chị hiểu cho. NXT

      Liked by 1 person

  4. KĐCL các trường ĐH là một van hoá học thuật mới xuất hiện ở VN hơn 10 năm nay, do vậy chưa có một tổ chức chuyên môn (tu nhan) nào đủ mạnh đe trao cho nhiệm vụ này. Động thái vừa qua của Chính phủ là để MOET không được vừa đá bóng vừa thổi còi trong lĩnh vực này, mặc dù MOET không có thái độ thân thiện với Hiệp họi các trường ĐH, CĐ VN. Bản thân tôi cũng còn chưa tin tưởng vào năng lực của Hiệp hội trong vấn đề này. Lịch sử QA và acreditation các trường ĐH ở Mỹ có từ cuối TK 19 và do các Hiệp hội các trường ĐH ở các khu vực tham gia. Còn ở Úc thì tôi ko có thông tin.
    Về vấn đề su dung ODA nói chung va cho GD nói riêng ở VN là vấn đề nhức nhối. Chính đại biểu QH lê thị Nga mói đây đã khẳng định 2 yếu điểm cơ bản của sử dụng ODA ở VN là: Quốc hội chịu trách nhiệm về nợ công và nguòi Dân đong thuế là nguòi cuối cùng phải trả nợ thì đứng ngoài cuộc giám sát sử dụng ODA. Nếu Chính phủ có chính sách rõ ràng ai hưởng ODA thì phải chịu trach nhiệm trả nợ, tôi tin chỉ một số ít trương NCL mới dám vay vì họ làm ăn có hiệu quả. chính phủ không thể bảo trợ suông để có những dự án Umbrella (ô dù cả nghĩa đen, nghia bóng de tham nhung như thời gian qua!

    Liked by 1 person

    • Theo thông tin tôi có được (không biết có chính xác không), có hai loại ODA, một loại phải hoàn trả và một loại không hoàn lại. ODA không hoàn lại thường dành cho các dự án giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, đổi mới. Nếu có chủ trương của chính phủ dành vốn này cho các dự án có giá trị nhất, cần cho đất nước nhất và có phương án giải trình khoa học nhất, thì chính phủ đưa vào danh sách cấp vốn ODA không hoàn lại.

      Liked by 1 person

    • Cảm ơn tác giả Xuân Thu về bài viết sâu sắc.

      Ý kiến của Maitinh khiến tôi đặc biệt quan tâm bởi sự am hiểu về kiểm định.
      Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng sự lo ngại về kiểm định ở Việt Nam trong giai đoạn này, nên hướng đến việc các cơ sở giáo dục của Việt Nam có mặn mà với nó hay không, cách điều hướng để kiểm định thành một nhu cầu của các cơ sở giáo dục, thay vì quan tâm xem ai thực hiện nó.
      Chỉ khi tự mong muốn có nó, thì các cơ sở giáo dục mới hướng đến chất lượng thực sự thay vì hình thức và chủ nghĩa thành tích.

      Cốt lõi của kiểm định chất lượng là sự minh bạch. Trong điều kiện Việt Nam mới có văn hoá kiểm định chất lượng (Maitinh nói là hơn 10 năm nhưng thực ra, ý thức về sự tồn tại của nó như một văn hoá chỉ mới bắt đầu từ khoảng năm 2009 trở lại đây, liên quan đến sự thành lập các đơn vị chuyên trách và sự vận hành của bộ máy này bắt đầu ổn định hơn), việc Chính phủ yêu cầu giao việc này cho AVEHEI (Hiệp hội các trường ĐHCĐVN) mới là một động thái khởi động thôi,chưa nói lên điều gì nhiều.

      Lý do ở chỗ: Với thực trạng ở VN, việc thành lập các trung tâm kiểm định mất khá nhiều năm để hoàn tất. Việc đào tạo các Kiểm định viên cũng thế. Bản thân MOET cũng đau đầu vì nhiều đổi mới, lĩnh vực kiểm định, dù sao, vẫn là lĩnh vực khá êm ả giữa một loạt các vấn đề khác, bởi đặc trưng của nó khi chỉ ra điểm chưa tốt không phải sát phạt mà là để hỗ trợ giúp đỡ nâng cao chất lượng. (Có điều, người ta ngại các thứ tiêu chuẩn, tiêu chí và tự đánh giá những tiêu chuẩn tiêu chí đó, là vì lâu nay quen với cách làm việc theo chủ nghĩa kinh nghiệm rồi)…

      Nhiều thứ còn phải sắp xếp lắm, tôi nghĩ như vậy. Nếu không mạch lạc, minh bạch và hệ thống tốt, thì tổ chức nào đứng ra cũng khó khăn…

      Liked by 1 person

      • Bạn Hồng Nguyen nói đúng, toi lai nghi minh bạch là cốt lõi của một xã hội lãnh mạnh chứ không chỉ là KĐCL đại học, Tổ chức minh bạch TG do chính phủ Nauiy, Thuỵ điển vào giúp CP Việt nam trong minh bạch hoá, mà nhiều khi phải muốn bỏ về…vì thất bại…
        Đổi mới GD, trước hết là GDĐH là rất quan trọng cho một XH muốn có thay đổi đi lên! KĐGD đuọc đưa vào VN trước hết là một thành tố của dự án GDĐH 1 sử dụng vốn vay WB giai đoạn 1998-2008, đồng thời Việtnam bắt đầu gửi một số NCS đi học về KĐCL ở Úc và Mỹ. Moet cũng thành lập cục Khảo thí mà chức năng chính là soạn đề thi chứ không khảo gì mấy. Lanh đạo Cục KT không có chuyên môn về lĩnh vực này trừ 1 tiến sũ cục phó học MA ở Úc về KĐ mà không phát huy đuọc gì cả. Văn hoá KĐCL ở VN mới chỉ bắt đầu, nhưng còn lúng túng, nhưng tôi tin với tiến trình cải cách thật sự, nó sẽ đạt kết quả nhanh hơn so với ở Mỹ, Úc…( Mỹ có KĐCL từ 1787) va điều quan trọng là các accreditators là các trường đuọc accredited phải welcome và mong muốn làm việc này khi họ thấy có lợi cho minh. Một số tổ chức KĐCL của Úc, Mỹ đã vào VN và có cơ quan đóng tại VN như gs Xuân Thu nói, nhưng họ sẽ gặp khó khăn vì các cơ quan CP, tổ chức chuyên môn không đủ nguồn lực thuê họ.

        Vậy vấn đề nằm ở đâu để thúc đẩy nhanh tiến trình KĐCL này? Trước hết phải có sự cởi mở hệ thống chính trị thật sự cho một XH dân sự ở VN, đièu này đang là giấc mơ của nhiều nguòi Việt. Ví dụ việc cho phép tự do thành lập Hiệp hội chuyên môn là có theo luật định, nhưng trên thực tế mọi việc không suôn sẻ như vậy, lấy ví dụ quá trình thành lập AVEHEI là một vi du gian nan vì MOET luôn cản trở, không muốn có nó, và MOET vẫn còn có quyền lực của một cơ quan Chính phủ trong tay để bóp chết những gì họ chưa hoặc không muốn! Trong khi đó, nhớ lại một cuộc họp toa dam ở Bộ GD, thanh niên và việc làm ở Canbera do Vụ đại học Úc tổ chức với sự tham gia các đại học lớn năm 1994, tôi hỏi ông Vụ trưởng Michel Galager là sao các trường họ phát biểu chẳng coi Bộ là cái gì vậy? Đáp: họ có hiệp hội các ĐH đứng đằng sau, phân bổ kinh phí hàng năm là quyền của họ, chúng tôi là quan chức Chính phủ, nhung chỉ làm thuê bằng tiền đóng thuế của họ thôi” . Vậy bao giờ ở Việt Nam ta có cái bầu không khí dân làm chủ thực sự như vậy? Tuy bị chèn ép như vậy, Hien nay AVEHEI cũng còn lúng túng trong thuyết phục các trường là hội vien đi theo hướng cải cách của minh vì 2 lý do: bản thân các lãnh đạo AVEHEI chưa thoát khỏi cái box tư duy cũ kỹ của nhũng nguòi từng làm quan chức chính phủ, chua biết từ bỏ cái cũ để tiếp cận và tiếp nhạn cái mói đang thay đổi GDdH nhạnh chóng trong TK 21, trong khi MOET cứ phớt lờ các công văn chỉ thị của VPCP, ngấm ngầm cấm đoán các trướng DH, CD không làm theo ý của Hiệp hôi. Vì sao vậy? Vì MOET có quan hệ tay trong với những nguòi nằm trên VPCP, vì hệ thống chính trị còn dân chủ mù mờ, khập khiễng và các nhóm lợi ích lớn nhở đang thi nhau hoạt fđộng hết công suất…nhà tương lai học Alvin Tofler đã nói:” Những nguòi đuọc xem là mù chữ trong TK 21 không phải là những nguòi không biết đọc, biết viết, mà là những nguòi không có khả năng từ bỏ cái đã học và học cái mới”. Loại mù chữ này ở VN nhiều lắm, và chủ yếu là những nguòi đang nắm vận mệnh đất nước, đang có quyền hành! Nhưng tôi tin tưởng sâu sắc là VN ta sẽ có thay đỏi nhanh va sau sắc vì con nguòi Việt thông minh, cần cù chịu khó. Sẽ có lúc có nguòi xuất chúng trong cộng đông nguòi Việt ở trong và ngoài nước đứng lên tập hợp những nguòi không mù chữ theo định nghĩa nói trên để xây dựng lại đất nước!

        Chiều thứ tư ngày 24/7/2015, ngồi nghe gs TS Lưu Lệ Hằng thuyết trình ở thư viện Tạ quang Bửu ĐHBK HN, tôi rất cảm đông khi thấy các cháu học sinh phổ thong đến nghe, có cả một chau tàn tật đã hỏi” cô ơi sao Thổ hình thành thế nào?”, điều thú vị là gs Lệ Hằng, nguòi đã hạ bệ Diêm vương tinh, nói câu cuối cùng rất hay dành cho các bạn tre, đại ý là: ” Việt Nam là mảnh đất rất đẹp, nhưng chúng ta chỉ vay mượn của con cháu chúng ta, chu nhan chinh laf những thế hệ mai sau, hãy làm mọi cái có thể để giữ cho mảnh đat này mãi mãi đẹp”. Đó âu cũng là tâm nguyện của bất kỳ con nguòi Việt Nam chân chính nào, dù ở trong hay ngoài nước, dù là bậc đại trí thức hay nhà giáo quèn, nguòi dân đen, nhưng yêu nước và hành động vì DÂN luon là một điều vĩ đại!

        Số lượt thích

        • Có vẻ như con bò khôn hơn người cày, nhưng không phải vậy, tôi hiểu rồi: con bò khôn hơn lưỡi cày, nhưng người cày là nguyên do chính.

          Tôi cũng cảm thấy vui, vì các em biết hỏi và dám hỏi.

          Số lượt thích

  5. Tệ nạn trên đất nước chúng ta, kể cả về GD, là hậu quả của Chiến tranh. Tôi có ôm đồm quá mà vơ đũa cả nắm không? Nếu đúng, thì làm sao GD có thể làm để hóa giải cái Hậu quả đó?

    Số lượt thích

    • Khi tầng lớp trung lưu mạnh lên, sẽ có những phản tỉnh chính quyền về việc thay đổi các chính sách. Những người xuất ngoại và những tờ báo ngoại là chất xúc tác gia tăng thêm điều đó.

      Đổi mới xã hội đầu tiên là đổi mới giáo dục. Khi người ta nhìn thấy những ưu việt của nền giáo dục hiện đại, người ta sẽ thấy sự vô lý khi con mình phải sống trong nền một giáo dục mông muội. Đã không dạy được gì lại còn dạy người ta gian dối, tệ nhất là ghét việc học.

      Đã đến lúc tầng lớp trung lưu đủ mạnh để tác động, thay đổi được các chính sách của chính quyền. Báo chí, truyền thông do người trung lưu sẽ đại diện cho giới trung lưu.

      Liked by 1 person

  6. Có chứ, chắc chắn sẽ hoá giải được, nhưng phải có thời gian, phải có thời cơ, ko thể sốt ruột và nong voi được. Nhìn lại tiến trình lịch sử mọi cái đang thay đổi theo qui luật vô thường mà! Xét theo lát cắt lịch sử, nhóm Hoàng Tuỵ không thành công nhưng thành nhân! Hiện tại nhóm VED có kiến nghị và cái nhìn tương đối hệ thống để một số stakeholders quan trọng ( kể cả Chính phủ) lắng mghe và thảo luận. Họ ko tham gia tranh luận nhưng vẫn theo dõi và lắng nghe các ý kiến trao đổi đó!
    Tôi tin tưởng thế hệ trẻ sau VED sẽ có thể thừa hưởng để hoá giải những điều nhức nhối, nếu thế hệ VED ko có điều kiện và thời cơ hành động một khi hệ thống chính trị chưa thật sự cởi mở. MOET chỉ là một mắt xích trong hệ thống đó, đặc điểm của họ là thích nói về đổi mới nhưng rất bảo thủ và sợ cái mới sẽ làm mất ghế, mất nồi cơm, hay nói trắng ra là mất quyền lực và quyền lợi của họ! Vì thế, nhóm lợi ích lớn của họ khi cần sẽ kiên quyết bảo vệ cho nhsu, suy diễn và kết tội nguòi khác là diễn biến hoà bình…nhưng khi nguòibđứng đầu hệ thống sang whasington nghe lẩy Kieu thì ko ai dám bảo là họ đang diễn biến hoà bình… Mọi cái đang thay đổi theo qui luật của no, chỉ sợ khi cơ hội đến, nguòi đuoc lịch sử trao cho số phận của dân tộc, trong đó có GD là thành tố định,mệnh, lại không đủ kiến thức,,kinh nghiệm và kỹ năng giai quyết vấn đề thôi! Ngay Cụ Hồ năm 1945 đã sử dụng thế hệ trí thức vàng la san pha, và là con chau cua Dong kinh nghia thuc để đổi mới GD, nhưng do chiến tranh, dó nhiều lý do mà thế hệ đó và sáng kiến của họ bị xếp xó, nhất là khi có vụ Nhân văn giai phẩm? Cụ là bac thiên tài nhưng phải bó tay vì thời cơ va cac dong chi cua cu ko cho phép! Hãy xem nước Nhật đổi mới từ thời Minh hoàng thiên trị, khi cả nước trong đống tro tàn 1945, đã đi lên vì biét túm lấy cơ hội của Mỹ giúp và biết cự tuyệt vay ODA…Singapore không vay ODA cho GD khi họ còn nghèo, nhưng họ có chiến lược khác cho đất nước đi lên và cung là nước độc đảng đó thôi!

    Liked by 1 person

    • Bài phân tích hay !

      Thời cơ – Các biến cố trên thế giới hiện nay, cũng đều mang những cơ hội lớn cho VN. Những cơ hội này có thể dìm ta xuống hay đưa ta lên.

      Tâm huyết – Ai là người tâm huyết? (Bất cứ ai !!). Riêng tôi, sẽ “mở mắt vểnh tai” để không bị nhầm lẫn, tự hỏi: mình sẽ làm được gì ?

      Liked by 1 person

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: