How We Learn

Tuyển sinh đại học dưới góc nhìn kinh tế – Đặng Tùng

“Ván bài đỏ đen”, “khốc liệt như sàn chứng khoán”, “thất bại hoàn toàn”—đó là những cụm từ mà quá trình tuyển sinh năm nay được dư luận miêu tả. Với tình trạng nhiều trường đại học, cao đẳng vẫn chưa tuyển đủ chỉ tiêu sau ba đợt tuyển sinh, liệu cơ chế mới đã thực sự cải tiến thành “cải lùi”?

Nhìn vào quá trình tuyển sinh năm nay, nhiều người băn khoăn với câu hỏi “Liệu giáo dục có đang đi đúng đường?” Chỉ cách thời điểm hiện tại một tháng thôi, những tin tức về nỗi lo toan và sự căng thẳng thường trực của các bậc phụ huynh và các thí sinh trong giai đoạn xét tuyển đợt một tràn ngập các trang báo và các diễn đàn xã hội. Chuyện thí sinh đốt giấy chứng nhận kết quả thi, hay phụ huynh thuê xe cấp cứu để đi rút hồ sơ cho con, tuy chỉ là một vài sự kiện cá biệt nhưng có lẽ đã thể hiện đúng tâm trạng của người trong cuộc khi phải đối mặt với những “dao động” khó lường của điểm chuẩn.

Tâm lí mệt mỏi, chán nản là điều dễ hiểu, vì dù sao nó cũng phản ánh trung thực những thiếu sót nổi bật của cơ chế tuyển sinh mới. Tuy nhiên, cũng giống với việc đánh giá sức khoẻ của một nền kinh tế thì nên dựa vào những chỉ số vĩ mô hơn là tập trung vào chuyện lỗ lãi của một vài doanh nghiệp, nếu chỉ nhìn vào một vài sự kiện mang tính thời sự cá nhân thì rất khó để có thể nhìn nhận một cách khách quan những ưu điểm và hạn chế của việc tuyển sinh năm nay.

Sẽ có nhiều hơn một lời giải cho bài toán tuyển sinh, nhưng trước khi bàn xem thế nào là một lời giải tốt thì chúng ta cần phải làm rõ mình đã xuất phát từ đâu, đang ở đâu, và bước tiếp theo là gì.

Cơ chế tuyển sinh cũ—tại sao phải sửa?

 

Trước hết, cần phải nhìn nhận rằng tuyển sinh đại học, cao đẳng là một bài toán kinh tế quan trọng. Nếu coi giáo dục như một nguồn lực có hạn—khi mà chất lượng giáo dục không thể thay đổi một sớm một chiều và không phải ai cũng sẽ được đào tạo trong những môi trường tốt nhất—thì việc phân bổ nguồn lực thế nào, trao tấm vé đại học cho ai mang ảnh hưởng rất lớn đến tính hiệu quả của nền giáo dục.

Cũng giống với một thị trường hàng hoá thông thường, việc phân bổ nguồn lực giáo dục chỉ diễn ra một cách hiệu quả khi cung và cầu tìm được cái mình cần. Với “thị trường” tuyển sinh, bên cung là các trường đại học muốn nhắm đến những “khách hàng” có năng lực tốt nhất (thể hiện qua điểm thi) và ngược lại, bên cầu là các thí sinh muốn được học ngành, nghề yêu thích của mình trong những môi trường phù hợp.

Nhìn lại các năm trước, có thể thấy một trong những hạn chế lớn nhất của cơ chế tuyển sinh cũ là việc cung và cầu không phải lúc nào cũng tìm được cái mình cần. Cụ thể, việc các thí sinh phải đăng kí trường trước khi thi tuyển và đa số chỉ có thể thi hai trường thuộc hai khối khác nhau khiến nhiều em chọn phương án đăng kí an toàn hơn là đăng kí đúng với tâm nguyện của mình. Một bộ phận sau khi thi tuyển hoàn toàn đủ điều kiện vào các trường tốt hơn hoặc đúng nguyện vọng hơn nhưng tiếc là đã không đăng kí. Một số khác thì hoàn toàn đủ khả năng để vào những trường tốt, đúng tầm, nhưng lại nhỡ đăng kí hơi cao trước khi thi mà đã “ngã đau”. Sự “học tài thi phận” lâu nay vốn được coi là lẽ dĩ nhiên, nhưng dưới lăng kính kinh tế thì nó thể hiện một sự lãng phí rất lớn cho giáo dục khi mà người tài không được ngồi đúng chỗ. Nhìn xa hơn, một cơ chế tuyển sinh không hiệu quả có thể gây ra những tác hại khôn lường cho thị trường lao động và sự phát triển của nền kinh tế.

Việc cho phép các thí sinh đăng kí nguyện vọng sau khi thi tuyển như năm nay giúp loại bỏ ẩn số điểm thi và tạo điều kiện cho các em biết rõ khả năng bản thân mà đăng kí đúng hơn với nguyện vọng của mình. Song song với việc thí sinh có thể đăng kí nhiều nguyện vọng ở nhiều trường và nhiều ngành hơn trước, có thể thấy cách thức tuyển sinh mới đã nhằm mục đích cải thiện tính hiệu quả của việc phân bổ nguồn lực giáo dục.

Cải thiện, nhưng chưa triệt để

 

Nhìn từ góc độ xã hội, một thị trường sẽ không vận hành tốt nếu có quá ít cung hay quá ít cầu. Mặt khác, khi một thị trường có nhiều cả cung lẫn cầu thì việc tắc nghẽn rất dễ xảy ra, nhất là với những thị trường tìm kiếm và gắn kết—khác với một thị trường hàng hoá thông thường—không vận hành dựa trên cơ chế giá cả. Đây là một trong những triệu chứng nổi bật của tính kém hiệu quả.

Trở lại với câu chuyện tuyển sinh, có một nghịch lí ở thời điểm hiện tại là trải qua ba đợt tuyển sinh vẫn còn 32 trường đại học, cao đẳng chưa tuyển đủ chỉ tiêu mặc dù chỉ vài tuần trước thôi nhiều thí sinh vẫn phải đối mặt với khả năng trượt đại học. Thực tế này đặt ra hai câu hỏi quan trọng. Một là, điều gì đã gây ra sự tắc nghẽn trong đợt tuyển sinh đầu tiên khiến cả cung lẫn cầu đều không tìm được cái mỗi bên cần? Hai là, với hơn một triệu thí sinh đăng kí dự thi, do đâu các trường không tuyển đủ chỉ tiêu?

Có thể thấy, trong những ngày đầu của quá trình xét tuyển đa số các bộ hồ sơ sẽ đổ dồn vào các trường tốt nhất. Chính việc điểm chuẩn không phản ánh nhanh và chính xác mối quan hệ giữa cung cầu đã đẩy các thí sinh vào tình trạng bị động và khiến quá trình điều tiết các thí sinh từ nơi đã “bão hoà” về các trường vẫn còn chỉ tiêu vừa đứt quãng lại vừa chậm chạp.

Nhiều ý kiến cho rằng sự đứt quãng có thể được giải quyết bằng công nghệ. Giá như phần mềm tuyển sinh của Bộ được chuẩn bị kĩ càng và đưa vào sử dụng từ đầu thì quá trình tuyển sinh có vẻ sẽ suôn sẻ hơn rất nhiều! Những ý kiến này đã bỏ qua một yếu tố vô cùng quan trọng: đó là máy tính có thể xử lí và truyền dữ liệu nhanh hơn chúng ta làm trên giấy tờ, nhưng nó khó có thể thay ta trong việc toan tính cho sự nghiệp tương lai của từng cá nhân.

Nói cách khác, sự đứt quãng trong điều tiết “thị trường” tuyển sinh hoàn toàn có thể xảy ra với một hệ thống trực tuyến, nếu như hồ sơ có thể được nộp rút nhiều lần. Bởi lẽ, các thí sinh khi phải đối mặt với những rủi ro khó lường trước sẽ không thể đăng kí theo nguyện vọng của mình mà luôn phải thích ứng với những diễn biến mới nhất của quá trình tuyển sinh. Sự dồn dập, khẩn trương trong nộp-rút hồ sơ khi phải làm trên giấy tờ tại các trường đại học sẽ gây ra những tổn thất kinh tế và cả tinh thần không nhỏ cho một bộ phận lớn các thí sinh cùng gia đình—một kết cục chúng ta đều đã chứng kiến.

Nhìn xa hơn, rất có khả năng một bộ phận thí sinh khi không may mắn với những đợt tuyển sinh đầu đã lựa chọn những hướng đi mới thay vì đâm đơn vào những trường top dưới, dẫn đến việc nhiều trường không tuyển đủ chỉ tiêu. Rất khó để có thể kết luận nếu không có dữ liệu cụ thể, nhưng nếu có những thí sinh trong nhóm này có điểm thi cao hơn một vài thí sinh được nhận ở các trường top trên, thì giống như cơ chế cũ, đây là một kẽ hở cho việc “học tài thi phận” mà cơ chế mới chưa giải quyết được triệt để.

Chặng đường phía trước

Một cơ chế tuyển sinh hiệu quả sẽ giúp tránh tình trạng thí sinh bị xếp “nhầm chỗ”, khi tồn tại một hay nhiều trường khác muốn nhận thí sinh và thí sinh cũng muốn được tuyển vào những trường này. Như đã bàn ở trên, tình trạng “học tài thi phận” này là một hạn chế của cơ chế cũ. Cơ chế mới tuy đã có những tích cực đáng ghi nhận nhưng vẫn chưa đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản. Đó là (1) giúp thí sinh có thể thoải mái đăng kí theo nguyện vọng của mình và (2) làm cho xác suất các thí sinh được nhận vào các trường không bị ảnh hưởng bởi việc thí sinh bị loại bởi những trường khác theo thứ tự nguyện vọng của mình.

Lời giải cho bài toán tuyển sinh với những yêu cầu tưởng chừng như đơn giản này đã đem lại giải thưởng Nobel dành cho khoa học kinh tế năm 2012 cho Lloyd Shapley và Alvin Roth—hai giáo sư toán học và kinh tế với những đóng góp to lớn cho việc thiết kế và ứng dụng của thuật toán chấp nhận trì hoãn (Deferred Acceptance Algorithm) để giải quyết những vấn đề cơ bản trong việc gắn kết (Matching) những nhân tố cung cầu của một thị trường không dựa trên cơ chế giá cả.

Nền tảng của thuật toán được dựa trên bài toán hôn nhân bền vững: cho một số lượng hữu hạn các chàng trai và các cô gái, với mỗi người có thứ tự “cảm tình” rõ ràng dành cho thành viên của mỗi giới, hãy gắn kết hai bên để tạo ra các cặp trai-gái sao cho không có hai thành viên nào của mỗi bên, sau khi gắn kết, đều muốn đến với nhau. Thuật toán được chạy theo các bước sau:

(Chọn một bên chủ động cầu hôn, v.d. bên trai.) Mỗi chàng trai cầu hôn với cô gái mà mình có cảm tình nhất.

Mỗi cô gái chọn tối đa một người trong những chàng trai đã cầu hôn với mình  dựa theo nguyện vọng bản thân và “đá” hết số còn lại, nhưng chưa chấp nhận chính thức (trì hoãn).

Những chàng trai bị đá ở vòng 2 loại bỏ các cô gái đã đá mình ra khỏi danh sách.

Nếu vòng 3 không có/còn cô gái nào bị loại khỏi danh sách, thuật toán kết thúc. Ngược lại, chạy lại vòng 1-3.

Sau khi thuật toán kết thúc, các cô gái mới chính thức chấp nhận lời cầu hôn.

Thuật toán tuy giải quyết vấn đề gắn kết một với một, nhưng cũng có thể được áp dụng vào việc tuyển sinh khi ta “cho phép” các cô gái (các trường đại học) được gắn kết cùng lúc với nhiều chàng trai (các thí sinh). Không khó để thấy thuật toán này khiến cho các cặp gắn kết trai-gái được bền vững và tạo điều kiện để xác suất một chàng trai được một cô gái chấp nhận không bị ảnh hưởng bởi những lần bị “đá” trong quá khứ. Quan trọng hơn, chiến lược tốt nhất dành cho bên cầu hôn là làm đúng với những gì mình muốn. Một chàng trai bị từ chối bởi một cô gái đồng nghĩa với việc cô ấy có một (hay nhiều) lựa chọn tốt hơn chứ không phải đã bị “cướp mất” từ trước và vì vậy sẽ không có lí do nào khiến cho bên trai phải tính toán, chọn lựa sao cho an toàn.

Thực tế ở Việt Nam, thuật toán đã được Giáo sư Hà Huy Khoái và trường Đại học Thăng Long nghiên cứu áp dụng vào những mô hình tuyển sinh mới và đề xuất với Cục Khảo thí từ năm 2014. Mới đây, Giáo sư Ngô Bảo Châu cùng nhóm Đối Thoại Giáo Dục (VED) cũng đã đưa ra những báo cáo sơ bộ về những ưu điểm và hạn chế của thuật toán trong việc ứng dụng vào tuyển sinh đại học, cao đẳng ở Việt Nam.

Nếu thuật toán được áp dụng, các thí sinh sẽ được đăng kí nhiều nguyện vọng, thường là từ 10 đến 15 trường. Bộ sẽ phải thành lập một trung tâm xét tuyển tập trung để có thể “ứng” thí sinh với từng trường trên danh sách của các em. Các trường đại học sẽ lần lượt xét tuyển dựa trên những đầu hồ sơ được cung cấp bởi trung tâm, với các bước diễn ra lần lượt như thuật toán đã được miêu tả. Sẽ có nhiều tình huống phức tạp có thể phát sinh (ví dụ như thí sinh đăng kí quá ít nguyện vọng, trường không tuyển sinh đủ chỉ tiêu, .v.v.) đòi hỏi sự chuẩn bị phải thực sự kĩ lưỡng và cẩn thận, nhưng nhìn chung thuật toán sẽ giải quyết được vấn đề nộp-rút hồ sơ nhiều lần cũng như tăng tính minh bạch và hiệu quả, ít nhất là về phương diện vận hành, của quá trình tuyển sinh.

Mặt khác, tuy thuật toán chấp nhận trì hoãn đem lại kết quả tốt nhất cho các thí sinh (bên chủ động cầu hôn), nhưng tiếc thay lại là kết quả tệ nhất cho các trường đại học vì trên lí thuyết các cặp gắn kết luôn là những kết quả khả thi tốt nhất theo thứ tự “cảm tình” của bên trai, chứ không phải là theo bên gái. Tính không công bằng của cơ chế này có thể sẽ là một yếu tố quan trọng cần phải tính đến, nhưng ở một tương lai xa có thể nó sẽ là một động lực lớn khiến các trường tích cực nâng cao chất lượng đào tạo hơn và góp phần “đào thải” những trường quá yếu kém.

Lời kết

Chặng đường đổi mới giáo dục chắng chắn sẽ còn nhiều chông gai. Đất nước cần nhiều hơn những trường đại học tốt, những giáo viên giỏi, nhưng với những gì chúng ta đang có thì việc phân bổ, sử dụng nguồn lực giáo dục sao cho hiệu quả nhất, tuy chỉ là một mặt nhỏ của giáo dục, nhưng cũng không kém phần quan trọng. Nếu như Bộ Giáo dục quyết tâm cải thiện cơ chế tuyển sinh sao cho những chủ nhân tương lai đất nước được đào tạo đúng ngành, đúng nghề và trong những môi trường thích hợp, thì có lẽ việc nghiên cứu ứng dụng các thuật toán kinh tế và lắng nghe hơn tiếng nói của các chuyên gia sẽ là một khởi đầu mới không tồi.

Đặng Tùng

Trường Kinh tế Ứng dụng và Quản lý

Đại học Cornell

Advertisements

Tagged as:

2 phản hồi »

  1. Điều tai hại nhất cho nhân loại là sự phân chia, chia đất chia ruộng, phân chia tầng lớp xã hội, phân chia ranh giới, chọn lựa thi tuyển, vv. Sự phân chia không bao giờ có thể đồng đều; vì thế, càng bớt phân chia càng tốt, càng để chung nhiều càng tốt. Do đó, lý tưởng cộng sản, cộng sinh, cộng đồng, cộng hòa, cộng sự, cộng chung, cộng…cộng… là tốt, nhưng phương cách hành động thì sai, vì người ta vẫn dùng sự phân chia và ngăn cản làm kim chỉ nam.

    Hãy để học sinh đăng ký, học không được thì đi chăn vịt … không không, tôi có ý nói, cần có tiêu chuẩn thi uyển chuyển hơn, nhẹ nhàng hơn.

    Số lượt thích

  2. “Cái khó nó bó cái khôn.”
    Càng khó chừng nào càng giỏi chừng nấy.
    Càng khổ chừng nào càng anh hùng chừng nấy…
    Nước VN ta … xưa nay là như vậy !?

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: