How We Learn

Dạy Hán Nôm là vấn đề của Quốc Học – Nguyễn Quốc Vương

Chữ Hán-Nôm và các văn kiện được ghi lai bằng thứ chữ đó có giá trị như thế nào đối với người Việt ngày nay.  Vấn đề ấy thực chất là vấn đề của Quốc học.

Quốc học (国学) là lĩnh vực học thuật nổi lên vào khoảng giữa thời Edo (1603-1867) và phát triển song song, cạnh tranh với Lan học (Hà Lan học: Rangaku/ 蘭学).

Quốc học nảy sinh từ sự phê phán khuynh hướng nghiên cứu các tác phẩm cổ điển của Nho giáo, Phật giáo mà tiêu biểu là “Tứ thư, ngũ kinh” một cách máy móc, giáo điều.

Nguồn: FB Nguyễn Quốc Vương

Từ cuộc tranh luận gay gắt về đề xuất đưa Hán Nôm vào trường học đã làm nảy sinh đến rất nhiều vấn đề có liên quan trong đó có những vấn đề rộng hơn, xa hơn vấn đề ban đầu được đặt ra.

Ví dụ: chữ Hán-Nôm và các văn kiện được ghi lai bằng thứ chữ đó có giá trị như thế nào đối với người Việt ngày nay.

Vấn đề ấy thực chất là vấn đề của Quốc học.

Quốc học là thuật ngữ có lẽ không mấy phổ biến với người Việt hiện nay. Nguồn gốc của thuật ngữ này có lẽ bắt nguồn từ Nhật Bản.

Kể từ khi Nhật Bản cận đại hóa thành công và đánh thắng được nhà Thanh và đặc biệt là đế quốc Nga (1904-1905), người Việt đã chú ý đặc biệt tới Nhật Bản.

Mối quan tâm đó của người Việt một lần nữa mạnh lên và duy trì đến tận ngày nay khi Nhật Bản phục hưng từ bại chiến năm 1945 và trở thành cường quốc kinh tế vào thập niên 60-70 của thế kỉ trước.

Mối quan tâm của người Việt đối với Nhật Bản xuất phát từ một ẩn ức-mơ ước thầm kín.

Trong khi người Việt cay đắng thất bại trước sức mạnh quân sự của Pháp và trở thành dân thuộc địa thì Nhật đánh bại cả Trung Quốc, Nga và đứng vào hàng ngũ các “liệt cường” ở thời cận đại.

Sau đó, khi Việt Nam đau khổ trong chiến tranh và nghèo đói thì Nhật Bản phục hưng và trở thành một nước giàu có nhất châu Á.

Trong khi cả hai đều “máu đỏ, da vàng”, “đồng chủng, đồng văn”. Lịch sử hai nước cũng dài chừng 2700 năm, diện tích nếu trừ đi hòn đảo Hokkaido thì cũng gần tương đương.

Nhưng mối quan tâm của người Việt chỉ dừng ở đó, không tiến xa hơn.

Người Việt vẫn chỉ biết đến cuộc cải cách Minh Trị như là một sự đổi thay, một ân huệ nhận từ một vị minh quân sáng suốt có tầm nhìn. Trong khi nó là cả một quá trình chuyển đổi lớn lao với sự tham gia của trí thức và võ sĩ bậc thấp, là sự trỗi dậy của học thuật, là sự bùng nổ của xuất bản và dịch thuật….

Họ cũng không biết rằng khi chính phủ Minh Trị ra đời ông vua mới 16 tuổi và quyền lực chính trị thực sự nằm ở trong tay các tướng lĩnh, chính trị gia “phiên phiệt”. Khi Minh Trị thực sự làm chính trị thì việc ông làm là củng cố quyền lực, tiêu diệt đối lập và đàn áp các trí thức có tư duy độc lập cũng như tiến hành chiến tranh xâm lược mở rộng lãnh thổ.

Hoặc người ta cũng nhìn cả thời Minh Trị như một thời kì hoàng kim, chói lọi đem lại vinh quang, hạnh phúc cho nước Nhật trong khi tính chất Khai sáng chỉ nổi trội trong 10 năm đầu còn sau đó là quân phiệt hóa và phục cổ.

Người ta cũng chỉ biết đến vai trò của Dương học (Tây học) đối với quá trình cận đại hóa của Nhật Bản mà quên mất quốc học.

Chuyện này cũng tương tự chuyện khi giải thích nguyên nhân nền kinh tế nước Nhật phát triển với tốc độ cao tạo ra “thần kì Nhật Bản” sau 1945, sách giáo khoa lịch sử cho dù nêu ra rất nhiều nguyên nhân vẫn bỏ sót một nguyên nhân quan trọng nhất bao trùm tất cả các nguyên nhân sách đã kể ra. Thiếu nó thì tất cả những thứ đó hoặc là không có hoặc là có cũng gần như không.

Nó là gì? Các bạn nghĩ thử xem.

Thực tế quốc học ở Nhật cũng có vai trò không nhỏ tạo ra thành công của Nhật Bản ở phương diện khai sáng và phát triển văn minh.

Quốc học (国学) là lĩnh vực học thuật nổi lên vào khoảng giữa thời Edo (1603-1867) và phát triển song song, cạnh tranh với Lan học (Hà Lan học).

Quốc học nảy sinh từ sự phê phán khuynh hướng nghiên cứu các tác phẩm cổ điển của Nho giáo, Phật giáo mà tiêu biểu là “Tứ thư, ngũ kinh” một cách máy móc, giáo điều.

Chính vì vậy mà các nhà quốc học tập trung vào nghiên cứu các tác phẩm cổ điển của Nhật Bản, lịch sử, tư tưởng, thế giới tinh thần vốn có của Nhật Bản cổ đại trước khi tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo.

Tùy theo các học giả mà quốc học có phạm vi rộng hẹp khác nhau nhưng đại thể nó bao gồm: Quốc ngữ học, quốc tự học, ca đạo, lịch sử học, địa lý học, thần học…

Quốc học vì thế còn được bằng những tên khác như Hòa học, hoàng triều học, cổ học.

Quốc học với những tác phẩm và hoạt động thực tiễn của các học giả thuộc trường phái này đã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của văn hóa-giáo dục và thế giới tinh thần của người Nhật. Sự phát triển của quốc học trong bối cảnh cạnh tranh với Lan học đã tạo ra nền tảng cho các ngành khoa học hiện đại sau khi Nhật Bản cận đại hóa dưới thời Minh Trị như Lịch sử học, Địa lý học, Dân tục học.

Cho dù sau đó có khi chủ nghĩa quân phiệt cai trị, nhiều nhà quốc học bị lợi dụng vào mục đích chính trị, quốc học vẫn tiếp tục phát triển và phục hồi mạnh mẽ sau 1945.

Nhìn vào danh sách các tác phẩm của các nhà quốc học Nhật Bản thời Edo, người ta không khỏi kinh ngạc. Có 4 nhà quốc học nổi tiếng nhất thời Edo là Bốn nhà quốc học tiêu biểu của Nhật là : Kakano Azumaro (1669-1736), Hirata Atsutane (1776-1843), Kamono Mabuchi (1697-1769), Motoori Norigana (1730-1801).

Mỗi nhà quốc học này đều để lại một số lượng trước tác khổng lồ. Chẳng hạn đếm sơ qua cũng thấy Hirata Atsutane để lại hơn 100 tác phẩm.

Ở Việt Nam hiện tại, càng hội nhập sâu và càng muốn gia nhập vào thế giới văn minh, như một quay luật tất yếu người Việt sẽ cần phải nhận thức lại chính mình. Không phải ngẫu nhiên mà ở nước Nhật vào những giây phút chuyển giao thời đại như thời Minh Trị các sách vở liên quan đến lịch sử, văn hóa lại được quan tâm và bán chạy.

Muốn nhận thức được chính mình không thể thiếu quốc học. Muốn quốc học có thành tựu thì cần phải giỏi Hán-Nôm và có mối quan tâm sâu sắc đến quá khứ, đến di sản của cha ông xuất phát từ cái nhìn chân thật vào những vấn đề của xã hội hiện thực.

Như một quy luật một khi con người không nhận ra các vấn đề của xã hội thực tại hoặc thờ ơ trước nó người ta sẽ không quan tâm và có nhu cầu tìm hiểu quá khứ. Ngược lại, các cá nhân cũng chỉ có thể lý giải được thực tại đang bủa vây mình khi tìm các đầu mối của thực tại trong quá khứ.

Cả cá nhân lẫn cộng đồng khi không hiểu chính mình hay ngộ nhận sẽ rơi vào tâm lý hoặc mặc cảm tự ti hoặc hoang tưởng tự tôn quá mức. Thậm chí là một trạng thái phức tạp đầy tổn thương pha trộn cả hai.

Việc đề nghị học Hán Nôm cho học sinh trong trường học chẳng có gì là ghê gớm nếu nhìn ở góc độ ấy.

Học bất cứ cái gì muốn đem lại ích lợi cho cá nhân người học và sự tiến bộ của cộng đồng đều phải được tiến hành trong môi trường tự do học thuật và tinh thần tự do.

Giả sử như Hán-Nôm có trở thành một nội dung tự chọn trong trường học hoặc được dùng trong sinh hoạt câu lạc bộ đi nữa cũng rất khó để hi vọng rằng sẽ có những học sinh thông kim bác cổ đọc được các văn bản Hán-Nôm mà cha ông để lại .

Nhưng thông qua đó mà gợi mở mối quan tâm của học sinh đối với quá khứ và đánh thức nhu cầu nhìn lại bản thân, nhìn lại di sản của cha ông dưới nhiều góc độ với cả cái hay, cái dở và cả những gì còn đang ngổn ngang là có thể.

Từ những rung cảm ban đầu ấy rất có thể nhiều em sẽ thành những nhà quốc học xuất sắc trong tương lai hoặc nếu không cũng là người có mối quan tâm tới cội nguồn của cá nhân và cộng đồng và nhìn ra những vấn đề còn dang dở.

Nó cũng như học sinh THPT Nhật Bản được học Cổ điển trong môn Quốc ngữ thông qua các phân môn tự chọn để làm quen và có hứng thú với cổ điển.

Tôi mạnh dạn dự đoán rằng, từ giờ trở đi, khi nhu cầu đưa VN hội nhập với thế giới văn minh, tiếp cận các giá trị phổ quát ngày càng mạnh lên, những tiếng nói thể hiện nhu cầu nhìn lại quá khứ sẽ ngày một nhiều lên và không chỉ bó hẹp trong giới làm chuyên môn.

Nguyễn Quốc Vương

Vài lời thêm

Cuộc tranh luận xung quanh ý kiến đề xuất đưa Hán-Nôm vào trong trường học phổ thông khá thú vị.

Nó sôi nổi đến gay gắt và thu hút rất nhiều giới. Nó có cái gì đó khác xa với cuộc sống tẻ nhạt, quẩn quanh của cuộc sống thường ngày.

Chợt nghĩ, nếu như nếu như những giờ học của môn xã hội trong trường học mà thu hút được học sinh và tranh luận nhiệt liệt như vậy thì thật tuyệt.

Ở Nhật trong các môn học như Công dân, Xã hội hiện đại, Xã hội những vấn đề tranh luận đương đại như sửa đổi hiến pháp, hiệp ước an ninh Mĩ Nhật… cũng được đưa vào lớp học trở thành chủ đề tranh luận sôi nổi và hấp dẫn.

Gạt bỏ qua một bên những ý kiến bình luận dựa trên sự suy diễn quá xa ý kiến của các nhà nghiên cứu Hán Nôm (nên đưa giáo dục Hán Nôm vào nhà trường) và những ý kiến công kích cá nhân hoặc xúc phạm đầy cảm tính, cuộc tranh luận cả trên báo (ít người tham gia) và trên mạng xã hội (đông đảo đủ mọi giới và đủ mọi góc độ) đã phản ánh một phần nào đó tâm thế của xã hội trước những vấn đề còn ngổn ngang của đất nước.

Sự thể hiện của những người tham gia tranh luận cũng nói lên rằng những nhà chuyên môn chuyên ngành Hán Nôm vẫn đang mắc một món nợ với đại chúng.

Làm sao để đại chúng hiểu được về Hán Nôm và những giá trị của nó đối với hiện tại và tương lai của cộng đồng người Việt?

Trong cuộc tranh luận này rất nhiều người đã coi thứ chữ Hán-Nôm mà người Việt đã dùng suốt cả nghìn năm qua trùng với tiếng Trung hiện đại vì thế coi việc đưa Hán Nôm vào trường học là việc dạy một ngoại ngữ.

Cũng có những người khác coi việc đưa Hán Nôm vào trường học tương đương với việc phục hồi lại chữ Hán thay thế chữ quốc ngữ và như thế là kéo lùi bánh xe lịch sử !?

Trách nhiệm của các nhà chuyên môn là ở đấy.

Nhắc lại một ý tôi đã từng nói rất nhiều lần, ở Việt Nam thiếu một cây cầu nối giữa giới chuyên môn và đại chúng.

Sau một thời gian rất dài người Việt không có không gian để thảo luận, tranh luận về những vấn đề mình quan tâm và không được học, rèn luyện cách thức tranh luận trong nhà trường và cuộc sống, mạng xã hội đã mở ra một không gian mới đem lại điều ấy.

Tất cả cái hay, cái dở của người Việt được bộc lộ ra ở đó.

Người Việt sẽ phải học và sẽ trưởng thành dần.

Ở Nhật sau 1945, thảo luận vừa là phương pháp học tập vừa là phương thức sinh hoạt xã hội trọng tâm trong công cuộc tái thiết đất nước.

Có người nói trong cuộc tranh luận này sẽ có phe nọ, phe kia và có thắng có thua.

Riêng tôi, tôi không coi các cuộc tranh luận như thế này cần đến thắng thua, kết quả của nó thế nào không quan trọng bằng việc nó tạo ra cơ hội để người Việt nghĩ về những thứ lớn hơn, xa hơn một chút chuyện áo cơm thường ngày.

Về chuyện này cần có diễn đàn tranh luận thêm giữa các nhà chuyên môn thể hiện dưới dạng các luận văn hoặc hội thảo.

Ý tưởng giáo dục Hán-Nôm là một ý tưởng lãng mạn, về mặt hướng đi tôi nghĩ là điều tốt nếu nó tạo ra cho học sinh một sự lựa chọn để tiếp cận quá khứ của cha ông và làm phong phú đời sống ngôn ngữ của bản thân.

Nhưng thành thật mà nói để làm được nó chắc khó ngang với việc làm cho cải cách giáo dục ở VN thành công.

Nếu giáo dục không có những bước chuyển cơ bản thật sự thì việc đưa gì vào trường phổ thông cũng sẽ chẳng đem lại kết quả gì. Cứ nhìn xem học sinh chúng ta học tiếng Anh, học Toán, Văn, Lịch sử với thời lượng lớn như thế nào, kéo dài qua thời gian bao nhiêu năm và kết quả hiện tại thế nào là rõ.

Vì thế, việc truyền bá giá trị di sản Hán Nôm và giáo dục Hán Nôm trước mắt sẽ phải dựa chính vào những cá nhân có tầm lòng và không ngại tiếp cận công chúng.

Người đưa ra ý kiến đưa Hán Nôm vào nhà trường là một nhà nghiên cứu,một nhà giáo. Ông không phải là quan chức ngành giáo dục cũng không phải là chính trị gia. Ông đưa ý kiến của mình trong một cuộc hội thảo.

Là học giả, công việc của ông là “lập thuyết”.

Theo dõi những lời bình luận quá đà nhằm vào ông trong những ngày qua, tôi không khỏi nghĩ lại phong trào kháng nghị của các giáo sư Nhật khi một giáo sư ở đại học X giảng về người Triều Tiên ở Nhật và bị người dân gọi điện đến trường gây áp lực.

Sức ép đối với tự do học thuật trong nhiều trường hợp đến với học giả ngay từ phía công chúng.

Trong trường hợp VN, đôi khi đấy là một nỗi buồn thương vì rất có thể giữa người bị chỉ trích quá đà và những người chỉ trích đều chia sẻ nỗi buồn và khát vọng đối với quê hương.

Advertisements

Tagged as:

1 Response »

  1. CHỈNH ĐỐN TIẾNG VIỆT KHÔNG PHẢI BẰNG CÁCH DẠY TIẾNG TIẾNG HÁN

    Nguyễn Hà Hiền

    (Bài viết này để trả lời bài “Dạy Chữ Hán Thay Tiếng Anh Vì Những Lẽ Sau…” của nhà giáo TRẦM THANH TUẤN)

    Trước hết chúng ta cần biết rằng tiếng Việt vừa có những điểm tương đồng vừa có những điểm khác biệt với tiếng tàu (Hán) về ngữ pháp và cách nói. Chẳng hạn nếu ta nói “vợ hiền” thì người tàu nói “hiền thê”, ta nói “quan tham” thì người tàu nói “tham quan”, ta nói “tên lửa” thì người tàu nói “hoả tiễn”, v.v… Tuy nhiên trong tiếng Việt người ta cũng dùng cả những tiếng mà người tàu dùng; chẳng hạn theo thói quen, người ta cũng dùng các tiếng “hiền thê”, “tham quan”, “hoả tiễn”, v.v… kia cho có vẻ trịnh trọng hơn, văn hoa hơn. Các chữ “văn hoa” ấy, trong số nhiều ngàn tiếng khác trong tiếng Việt, được gọi là tiếng Hán Việt. Từ “Hán Việt” được định nghĩa là từ có gốc từ chữ tàu (Hán) và được phát âm và viết theo cách riêng của người Việt bằng hệ thống mẫu tự abc. Thực ra ta có thể nói các từ ngữ Hán Việt tuy có gốc chữ Hán nhưng dùng lâu ngày đã trở thành tiếng Việt. Các từ ngữ Hán Việt ấy được chúng ta dùng hàng ngày và không thắc mắc gì. Này nhé, tôi xin kể sơ sơ: siêu-việt, trí-tuệ, lãnh-đạo, chủ-nghĩa, xã-hội, công-bằng, cộng-sản, tư-bản, phản-động, độc-lập, tự-do, dân-chủ, hạnh-phúc… Các từ ngữ quen thuộc ấy bắt nguồn từ chữ Hán mà chúng ta đã xem là tiếng Việt từ lâu, chẳng ai đặt vấn đề nguồn gốc của nó. Nếu con em chúng ta lần đầu tiên gặp các từ ngữ ấy và hỏi chúng ta: “Mẹ ơi, “siêu việt” là gì hả mẹ? “siêu việt” có phải là người Việt “siêu” không hả mẹ?” hoặc “Bố ơi, dân chủ là gì hả bố?” Khi được con hỏi thế chúng ta có nói “Bố mẹ sẽ phải cho con đi học tiếng tàu để con hiểu” không? Dĩ nhiên ai cũng thấy nói với con như vậy là điều lố bịch. Chúng ta chỉ cần dùng tiếng Việt để giải thích cho chúng hiểu bất cứ một từ ngữ mới lạ nào. Đơn giản là thế. Chúng ta cần biết rằng, tiếng Việt (bao gồm cả những tiếng có gốc từ chữ Hán) là cả một kho tàng tích góp từ nhiều thế kỷ qua và càng ngày càng phong phú hơn. Ngôn ngữ Việt đã trở thành một ngôn ngữ độc đáo từ nhiều thế kỷ qua từ khi mẫu tự abc được dùng làm chữ viết. Kho tàng ấy là các tự điển và các tác phẩm văn học, văn chương để lại từ thế hệ trước và được phiên dịch, chuyển âm, bảo tồn và vun đắp bởi những công trình và sáng tác của các thế hệ nối tiếp nhau. Nếu con em chúng ta yếu kém về tiếng Việt đó là vì chính chúng ta đã không học đúng cách để dạy con em cho đúng cách. Chúng ta đã không biết sử dụng kho tàng sẵn có của ngôn ngữ Việt để dạy con em và làm đẹp, làm phong phú ngôn ngữ mình.

    Chúng ta phải nhìn nhận một sự thật đáng tiếc là trải qua một thời gian dài tiếng Việt đã bị chính người Việt huỷ hoại dựa vào một chủ trương sai lầm nào đó. Qua quãng thời gian ấy, những gì được coi là biểu tượng của tầng lớp phong kiến đều phải bi gạt bỏ, kể cả cách nói cách viết, nếu cách nói cách viết ấy bi coi là thứ ngôn ngữ phản cách mạng. Kết quả là tiếng Việt bị làm nghèo đi một cách oan uổng vì cả một kho tàng chữ nghĩa văn chương bị gạt bỏ và bị “thô thiển hoá”, để rồi bây giờ nhìn lại chúng ta mới giật mình đã để cho ngôn ngữ Việt bị suy thoái. Nhưng để phục hồi ngôn ngữ Việt, câu trả lời có phải là “dạy chữ Hán” không? Tôi có thể trả lời ngay là KHÔNG.

    Tôi xin lập lại thí dụ của ông Trầm Thanh Tuấn. Ông nêu ra một thí dụ về một học trò hiểu sai chữ “thiên-lệch” và ông có ý nói rằng sự hiểu sai ấy là do không biết tiếng Hán. Nếu ông Tuấn (hoặc nếu nói theo kiểu tàu thì nên gọi ông là ông Trầm) cho rằng đó là một trong những lý do để dạy chữ Hán thì quả là ông cạn nghĩ, hoặc ông có một chủ đích riêng nào đó. Như tôi đã nói ở trên, việc giải nghĩa cho học trò hay bất cư ai hiểu một từ ngữ mới chẳng có gì khó khăn. Chẳng hạn ta chỉ cần giảng cho các em hiểu chữ ấy là chữ có gốc tàu, và tiếng Việt cũng như bất cứ ngôn ngữ nào đều có nhiều tiếng đồng âm nhưng khác nghĩa v.v… Tại sao chúng ta không thể làm điều giản dị ấy mà phải bắt chúng học tiếng tàu?

    Một thí dụ khác mà ông Tuấn đưa ra là hai câu thơ của Nguyễn Du:

    Bất tri tam bách dư niên hậu
    Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

    (Không biết ba trăm năm sau, thiên hạ có ai “khấp” Tố Như không.)

    Ông Tuấn cho rằng nếu không biết sự khác biệt của “khấp” và “khốc” sẽ không nắm được cái hay của câu thơ và do đó phải biết tiếng Hán.

    Này nhé, bản thân tôi không hề biết một chữ Hán nào ngoài dăm ba chữ quen thuộc: “nhất” là một gạch, “nhị” là hai gạch, “tam” là ba gạch, “khẩu” là hình cái miệng đang há, “song hỉ” là cái chữ trông giống hai người đúng cạnh nhau mà ta thường thấy ở đám cưới, v.v… nhưng tôi cũng hiểu chữ “khấp” trong câu “Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” là “thương tiếc”, “thương nhớ”, “tưởng nhớ”, “khóc thầm”. Nếu thay vào đó bằng chữ “khốc” thì ý nghĩa khác hẳn vì “khốc” có nghĩa là khóc “hu hu”, khóc ra nuớc mắt.

    “Ba trăm năm sau biết có ai thương tiếc Tố Như”, ý Nguyễn Du là thế.

    Tôi không nhớ là do đâu tôi biết được sự khác biệt ấy, và hiểu được cái ý xót xa nhẹ nhàng ấy của câu thơ. Có thể do tôi học được từ ông thày dạy văn của tôi xưa kia, cũng có thể tôi đọc ở đâu đó, và cũng có thể do tôi chú ý, suy luận và tự tìm hiểu về sự khác biệt ấy, nhưng chắc chắn không phải do tôi học chữ Hán!

    Dù chữ tàu “bẻ đôi” không biết, có ai dám nói tôi là người không giỏi chữ Việt không? Có ai dám bảo tôi cần phải học chữ tàu (Hán) để cho tiếng Việt của tôi “trong sáng” hơn không? Tôi tự tin là sẽ không ai nghĩ vậy.

    Tôi cho rằng ông Tuấn đã nêu ra một vấn đề không đáng gọi là một vấn đề!

    Dĩ nhiên muốn tiếng Việt phong phú hơn chúng ta cần phải có những công cuộc nghiên cứu và sưu tập không ngừng bởi các học giả, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, hoặc một Hàn Lâm Viện về ngôn ngữ. Việc học thêm một hay nhiều ngôn ngữ để hiểu chính ngôn ngữ của mình và vun đắp cho ngôn ngữ của mình là việc nhiều học giả trên thế giới đã và đang làm. Bất cứ ngôn ngữ nào cũng có một hay nhiều gốc và các ngôn ngữ Đông Á như Hàn, Nhật, Việt cũng thế, đều chịu ảnh hưởng lớn của tiếng tàu (Hán). Các nhà nghiên cứu Việt nếu cần, cứ việc học thêm tiếng Hán, tiếng Anh, tiếng Pháp, v.v… nếu họ thấy việc ấy giúp cho việc nghiên cứu của họ dễ dàng hơn. Chính các nhà ngữ học là những người có trách nhiệm nghiên cứu tìm tòi khám phá những điều hay, đẹp của tiếng Việt và truyền bá lại để các áng văn hay của Việt Nam không bị mai một hay “bỏ rơi” như ông Tuấn đã lo ngại. Tôi không tin cứ dạy dăm ba tiếng tàu cho trẻ em rồi chúng nó sẽ đi tìm tòi các áng văn hay của người Việt từ nhiều thế kỷ ra đọc.

    Ông Tuấn nêu ra hai lý do để dạy tiếng tàu, lý do thứ nhất là:

    “Thứ nhất, Tiếng Anh được xây dựng bằng hệ thống kí âm (ABC) nên để tiếp nhận hệ thống ngôn ngữ này chỉ cần một khoảng thời gian không quá dài. Học sinh bắt đầu học từ cấp THCS vẫn là không muộn lắm.”

    Suy luận này của ông sao sơ sài thế? Ông cho rằng vì tiếng Anh và tiếng Việt cùng dùng ký tự abc nên thời gian học tiếng Anh sẽ ngắn hơn thời gian học tiếng Hán là ông quá lầm. Người Nga học tiếng Pháp rât khó nhưng người Ý hoc tiếng Pháp lại dễ. Cả 3 nước cùng dùng ký âm abc tại sao có chuyện khó vơi nưóc này dễ với nước kia? Hiển nhiên yếu tố tương tự về ngữ pháp là điều quan trọng nhất để học nhanh. Thực ra, người Việt học viết chữ tàu có thể lâu nhưng hiểu tiếng tàu sẽ rất nhanh vì tiếng Việt và tiếng tàu rất tương tự về ngữ pháp. Học tiếng Anh có thể dễ chép, dễ viết nhưng hiểu tiếng Anh sẽ lâu hơn hiểu tiếng tàu nhiều vì ngữ pháp hoàn toàn khác hẳn. Ai cũng biết tiếng Việt không có những trợ động từ, không có các thì quá khứ, hiện tại, tương lai v.v… nên người Viêt học ngôn ngữ tây phương khó hơn và lâu hơn học tiếng tàu nhiều.

    Lý do thư hai ông Tuấn đưa ra:

    “Chúng ta cần hiểu ngôn ngữ dân tộc để thông qua đó hiểu văn hoá dân tộc”.

    Ơ hay, ai chẳng biết thế? Nhưng tại sao muốn hiểu văn hoá dân tộc Việt lại đi học tiếng tàu trong khi cả kho tàng văn chương Việt, cận kim và hiện đại, còn kia chưa tận dụng?

    Tôi thấy cần phải nói thêm điều tương tự trong tiếng Anh, tiếng Pháp. Các ngôn ngữ này cũng như một số ngôn ngữ Âu Châu khác có nguồn gốc từ tiếng La Tinh, tiếng Hy Lạp và ảnh hưởng lẫn nhau. Các nhà ngữ học tây phương làm tự điển hoặc nghiên cứu ngôn ngữ đều học tiếng La Tinh để tìm hiểu nguồn gốc và làm phong phú ngôn ngữ của họ nhưng các nước ấy không bắt bắt học trò của họ học tiếng La Tinh. Việc học thêm tiếng La Tinh trong công trình nghiên cứu và làm giàu tiếng Anh, tiếng Pháp của họ là việc của các nhà ngữ học, không phải việc của học trò.

    Để kết luận, việc chúng ta cần làm để chỉnh đốn tiếng Việt là DẠY TIẾNG VIỆT cho học trò dựa trên kho tàng sẵn có của tiếng Việt. Nếu ông Tuấn nói rằng phương pháp đào tạo giáo viên dạy văn và phương pháp dạy văn ở các cấp phổ thông cần được cải tổ và việc khôi phục các từ ngữ Hán Việt lâu nay bị xao nhãng là điều cần thiết thì tôi đồng ý nhưng nếu ông Tuấn đề nghị “đè” cả nước ra bắt học tiếng Hán thì đó là một điều vô căn cứ, như tôi đã giải thích ở trên.

    Việc học chữ Hán là việc của các nhà nghiên cứu, nếu họ thấy cần. Hoặc ai cần học chữ Hán để đi làm việc cho chủ người tàu hoặc vì bất cứ lý do gì thì đó là quyền của họ và họ có quyền bỏ tiền ra học riêng. Tiếng Anh là tiếng quốc tế trên diễn đàn thế giới, môn học tiếng Anh không thể bị thay thế bằng môn tiếng tàu.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: