How We Learn

Thi trắc nghiệm môn toán: Hai ý kiến – Phan Hà Dương, Phạm Ngọc Duy

Hai ý kiến của Phan Hà Dương và Phạm Ngọc Duy đã đăng trên Thanh Niên ngày 19/9/2016 và ngày 15/9/2016.

1.Phản biện việc thi trắc nghiệm môn toán – Phan Hà Dương

Tôi xin đóng góp một số ý kiến phản biện về dự kiến tổ chức thi môn toán trong kỳ thi tốt nghiệp THPT theo bản dự thảo của Bộ GD-ĐT (thời gian thi 90 phút, đề bài gồm 50 câu hỏi trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn với duy nhất 1 phương án trả lời đúng).

Thứ nhất, theo tôi, giáo dục toán học ở bậc phổ thông không nhằm mục tiêu chính là cung cấp kiến thức rộng, mà mục tiêu quan trọng nhất là rèn luyện tư duy, dạy học sinh biết cách tìm hiểu vấn đề, suy nghĩ thấu đáo về một vấn đề và tìm ra phương pháp giải nó. Những điều này cần được trình bày với các lập luận chặt chẽ.

Chúng ta không muốn đào tạo những con người chỉ quen với một loạt các dạng bài, gặp đâu áp dụng dạng bài đó. Chúng ta cần những người trước một vấn đề mới biết tìm ra cách giải.

Rèn luyên tư duy không chỉ để sau này học sinh học toán, mà rèn luyện tư duy để trở thành một người làm việc chịu khó suy nghĩ, chịu khó đối mặt với các vấn đề mới, và có ý thức trình bày chặt chẽ ý nghĩ của mình.

Vì vậy đây không phải chỉ bàn về học sinh sẽ theo ngành toán mà là bàn về học sinh nói chung.

(Trong phần này tôi mới bàn về phần suy nghĩ tìm ra lời giải thôi, chưa bàn về phần lập luận cho một lời giải).

Thứ hai, có ý kiến rằng, nếu ra câu hỏi trắc nghiệm tốt thì học sinh phải suy nghĩ đúng mới giải được, không là sai ngay, để đến kết quả đúng phải qua một số bước của tư duy, chứ không đoán mò được.

Điều đó có thể đúng.

Nhưng tôi đặt vấn đề sau: trong vòng 2 phút, thì dù bao nhiêu bước tư duy đi nữa cũng không thể có bước tư duy nào là sâu cả. Nếu trong 2 phút mà qua nhiều bước giải thì chỉ có thể là học sinh đã quen với dạng bài này, cần làm những bước nào, hoặc là đột xuất thông minh loé lên.

Trước một câu hỏi mới, một vấn đề mới, cần phải đầu tư thời gian cho nó, suy nghĩ về bản chất của nó, thì mới ra lời giải được.

Thứ ba, có ý kiến cho rằng có những khi trong cuộc sống ta cần phải quyết định nhanh, lựa chọn được cái đúng, bằng cách suy luận gần đúng, bằng cách loại trừ…

Vâng, điều đó rất đúng. Nhưng đúng cho “có những khi”.

Cuộc sống có những khi phải suy nghĩ nhanh, nhưng cuộc sống cần rất nhiều khi suy nghĩ cẩn thận, sâu sắc, và đối mặt với cái mới.

Chúng ta không chỉ đào tạo những người suy nghĩ nhanh có những khi mà cần những người có nhiều khi chịu khó suy nghĩ, tư duy sâu về một vấn đề, diễn đạt đúng những ý nghĩ của mình.

Thứ tư, có ý kiến ở nước này nước khác họ tổ chức thi trắc nghiệm, khoa học kỹ thuật họ phát triển thế còn gì.

Tôi xin hỏi: ta định bê cách thi của họ về nước ta, nhưng ta có bê được cả nền giáo dục của họ về nước ta không ? Mỗi nền giáo dục có những đặc điểm riêng của nó. Nếu thật sự cho một nền giáo dục nào đó là ưu việt, đáng học tập, thì hãy học tập tìm hiểu cách dạy và học cùng với cách thi của họ trước khi áp dụng máy móc riêng cách thi của một số kỳ thi.

Hoặc có ý kiến chỉ ra các ví dụ một số kỳ thi chọn học sinh giỏi cũng thi trắc nghiệm.

Xin lưu ý rằng trong hầu hết các ví dụ đó (ví dụ về ở nước ngoài và ví dụ về thi học sinh giỏi) thì ngoài thi trắc nghiệm người ta còn có thi vấn đáp hoặc thi tự luận hoặc viết bài luận.

Thứ năm, có ý kiến cho rằng sao lại gắn việc học với việc thi vậy, cần phải học để nắm vững kiến thức, học tốt rồi thi kiểu gì chẳng được.

Xin thưa rằng chuyện việc học phụ thuộc vào việc thi chẳng hay gì, nhưng đó là thực trạng chung ở nước ta. Nếu thay đổi được thực trạng đó thì rất tốt. Nhưng chừng nào chưa thay đổi được thì ta cần phải nhìn nhận thẳng thắn điều đó.

Hãy nhớ lại khi nhập hai kỳ thi THPT và ĐH vào làm một, các thí sinh khi đăng ký ĐH đã khốn khổ thế nào mỗi khi các trường thay đổi điểm xét tuyển, và 0,25 điểm chênh lệch có thể làm thay đổi đời của một học sinh.

Thứ sáu, một số ý kiến cho rằng cần chuẩn bị tốt cho học sinh, cho giáo viên, học sinh cần làm quen với cách thi trắc nghiệm qua các kỳ kiểm tra định kỳ.

Điều này chỉ càng khẳng định thêm các ý trên tôi đã viết, việc thi trắc nghiệm THPT sẽ ảnh hưởng đến cách học ở phổ thông.

Thứ bảy, tôi không phản đối một đề thi có phần trắc nghiệm (để phục vụ cho những khi cần suy nghĩ nhanh) và có phần tự luận (để phục vụ cho những khi cần suy nghĩ sâu) (cần nói thêm rằng một đề thi tự luận cũng có thể yêu cầu học trò cả hai khả năng: suy nghĩ nhanh và suy nghĩ sâu sắc). Một đề thi có cả hai phần như vậy có thể chấp nhận được.

Nhưng một đề thi chỉ có phần trắc nghiệm với 50 câu hỏi trong 90 phút sẽ góp phần đào tạo ra những lớp học trò chỉ có thể suy nghĩ mỗi vấn đề trong vòng 2 phút.

Phan Thị Hà Dương

* Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, Phó giáo sư, Viện toán học – Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam.

 

2. Thi trắc nghiệm toán có làm hỏng tư duy toán học? – Phạm Ngọc Duy

Đại diện Hội Toán học Việt Nam lo lắng điều này sẽ làm phá hỏng mục tiêu đào tạo ra những con người “có phương pháp tư duy, khả năng đặt vấn đề, giải quyết vấn đề”.

Thực tế này dưới góc độ của khoa học giáo dục như thế nào?

Chưa từng có một nghiên cứu thực chứng

Những tranh luận về hình thức thi trắc nghiệm và tự luận cũng như các tác động của chúng tới hoạt động giáo dục có lẽ xuất phát từ khi hình thức thi trắc nghiệm bắt đầu ra đời từ đầu thế kỷ 20. Đến nay, cuộc tranh luận này vẫn tiếp tục diễn ra tại nhiều nước. Tuy vậy, chưa từng có một nghiên cứu thực chứng nào khẳng định rằng thi trắc nghiệm trong môn toán làm hỏng tư duy toán học của học sinh (HS). Nếu có một nghiên cứu như vậy, chắc hẳn các bài thi trắc nghiệm được sử dụng rộng rãi như SAT, ACT, GRE, GMAT hay bài thi tuyển sinh đại học môn toán của Hàn Quốc, Thụy Điển, Israel đã không còn được các nền giáo dục cũng như các cơ sở giáo dục sử dụng.

Tại sao lại chưa có một nghiên cứu thực chứng để chứng minh rằng thi trắc nghiệm làm hỏng tư duy toán học? Vì có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tư duy toán học. Do vậy, rất khó để có thể bóc tách các biến số tác động tới sự phát triển tư duy này và xem xét tác động của thi trắc nghiệm toán tới tư duy toán.

Tiến hành một nghiên cứu giáo dục nhằm kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu (hypothesis) sau: “Việc sử dụng thi trắc nghiệm môn toán không làm hỏng tư duy Toán học”. Vì đây là một giả thuyết có tính nguyên nhân-hậu quả (cause and effect) nên để kiểm định, ta cần tiến hành một nghiên cứu thí nghiệm thực chứng (experimental research). Trong đó, ta sẽ lựa chọn ngẫu nhiên 2 nhóm HS có tính đại diện cho toàn bộ các HS bậc THPT của VN. Sau đó, chúng ta dạy cùng một chương trình toán cho hai nhóm. Trong hai nhóm, lại ngẫu nhiên chọn ra một nhóm để thông báo ngay từ đầu rằng họ sẽ thi hình thức thi trắc nghiệm, Nhóm HS kia được thông báo là thi hình thức thi tự luận. Sau đó, chúng ta cần có một phép đo chính xác tư duy toán học của HS cả hai nhóm và so sánh kết quả của phép đo này bằngcác phương pháp thống kê toán học. Nếu kết quả phép đo tư duy toán học của nhóm thi theo hình thức tự luận cao hơn của nhóm thi theo hình thức trắc nghiệm và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê thì ta mới có đủ căn cứ để bác bỏ giả thuyết nghiên cứu trên. Nếu vậy, ta có thể nói rằng thi trắc nghiệm toán làm hỏng tư duy của HS.

Một nghiên cứu như vừa mô tả là rất khó khả thi. Chúng ta khó có thể kiểm soát hết được các biến số ảnh hưởng đến kết quả thực nghiệm như chất lượng giáo viên, môi trường giáo dục. Chúng ta cũng khó có thể có được một thước đo hoàn toàn chính xác tư duy toán học của HS. Do vậy, có thể nói rằng trong điều kiện hiện tại, không thể có đủ bằng chứng khoa học để khẳng định rằng thi trắc nghiệm môn toán sẽ làm hỏng tư duy toán của HS với một mẫu đủ lớn.

Lo lắng không cần thiết

Như đã phân tích, tính đến thời điểm hiện tại, chúng ta chưa có nghiên cứu có căn cứ thực chứng xác đáng nào khẳng định rằng việc thi tốt nghiệp trắc nghiệm toán ảnh hưởng tiêu cực tới tư duy toán học của HS. Một số kinh nghiệm từ Mỹ, Hàn Quốc, Thụy Điển, Isarel cũng không cho thấy có mối liên hệ nhân quả giữa chính sách sử dụng bài thi trắc nghiệm môn toán và tư duy toán học của HS, sinh viên cũng như thành quả của cả một nền toán học của một đất nước.

Lo ngại của những người có chuyên môn về toán học về vấn đề này là có thể hiểu được. Tuy nhiên, chính sách sử dụng thi trắc nghiệm cho các bài thi tốt nghiệp hay tuyển sinh môn toán là một vấn đề liên lĩnh vực. Nó không chỉ liên quan đến nội tại việc giảng dạy toán học ở phổ thông mà nó còn đến vấn đề sử dụng nguồn lực, đảm bảo công bằng xã hội, giảm áp lực thi cử, học thêm, luyện thi tràn lan. Do luận điểm đề thi trắc nghiệm môn toán có thể làm hỏng tư duy toán của HS còn thiếu căn cứ thực chứng trên mẫu đại diện nên việc đưa ra những quyết định lựa chọn phương thức thi nào dựa trên một luận điểm chưa chắc chắn như vậy là điều không hợp lý.

Đại diện Hội Toán học cũng bày tỏ quan ngại rằng, nếu thi tốt nghiệp và tuyển sinh môn toán bằng đề thi trắc nghiệm thì mọi loại hình đo lường trong quá trình khác cũng sẽ có thể lạm dụng phương thức này. Tuy nhiên, đây là một lo lắng không cần thiết. Thứ nhất, việc ra đề và sử dụng các đề thi tự luận sẽ dễ dàng, thuận lợi cho giáo viên và các nhà trường hơn việc xạy dựng đề thi trắc nghiệm đảm bảo chất lượng.

Ngoài ra, các cơ quan quản lý nhà nước hoàn toàn có thể đề ra các chính sách điều chỉnh các hoạt động đo lường trong quá trình để các công cụ này hướng tới đo lường hiệu quả quá trình học tập, tư duy toán học, khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề ở HS. Các công cụ đánh giá trong quá trình sẽ góp phần định hướng việc học tập, giảng dạy lành mạnh, có tính giáo dục cao mà chúng ta đang hướng đến. Bài thi cuối quá trình sử dụng trắc nghiệm với các câu hỏi cần ít thời gian trả lời, không mẹo, không đánh đố sẽ giúp giảm áp lực thi cử, học thêm, dạy thêm vào các năm cuối cấp, đảm bảo tính công bằng, sử dụng hiệu quả nguồn lực giáo dục. Nếu làm được điều này, HS VN sẽ có nhiều thời gian hơn cho việc rèn luyện thể chất, hoạt động thể thao, đọc sách nâng cao hiểu biết và định hướng nghề nghiệp tốt hơn.

Kinh nghiệm từ các nước

Trên thế giới hiện nay không chỉ có một mình Mỹ đang sử dụng các bài thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học môn toán bằng hình thức trắc nghiệm. Trong nhiều năm qua, các nước khác như Hàn Quốc, Thụy Điển, Israel cũng đã sử dụng dạng thức thi trắc nghiệm cho các bài thi tuyển sinh vào đại học. Một số nước khác ở Châu Phi như Malawi cũng đã dùng dạng thức này cho các bài thi cuối quá trình.

Các kỳ thi tuyển sinh đại học của Thụy Điển hay Isarel cho tất cả các môn, kể cả môn toán, đều là thi trắc nghiệm. Tuy nhiên, rất khó có thể khẳng định rằng HS, sinh viên của Hàn Quốc, Thụy Điển, hay Isarel có tư duy toán yếu.

Hơn thế nữa, nếu nhìn vào thành quả và những đóng góp của nền toán học của các nước này cho tri thức nhân loại, cho nền khoa học kỹ thuật của chính nước họ, chúng ta cũng không thể đồng tình với nhận định rằng việc thi tuyển sinh đại học môn toán bằng hình thức thi trắc nghiệm đã làm hỏng tư duy toán học của HS, sinh viên của các nước này.

Nhìn rộng hơn, ta cũng thấy khó có thể kết luận về mối liên hệ nhân quả giữa dạy thêm,học thêm và thi trắc nghiệm. Dạy thêm, luyện thi tràn làn có lẽ mang yếu tố văn hóa hơn là có nguyên nhân từ dạng thức đề thi. Kinh nghiệm gần đây từ việc tổ chức thi của ĐH Quốc gia Hà Nội cho thấy rằng nhu cầu và áp lực luyện thi để làm tốt bài thi này là thấp hơn đáng kể so với hình thức thi tự luận trên giấy của môn toán từ xưa tới nay.

Do các câu hỏi trắc nghiệm không yêu cầu HS phải biết các mẹo mực, kỹ thuật lắt léo để tìm ra đáp số hoặc đáp án nên nhu cầu cũng như thời lượng cần để luyện thi giảm đáng kể. HS Mỹ nói chung ít khi phải tham gia các khóa luyện thi căng thẳng, kéo dài cả năm trời để chuẩn bị cho kỳ thi. Các tổ chức khảo thí như ACT hay College Board luôn gửi thông điệp đến thí sinh của họ rằng “học tốt chương trình ở trường là cách tốt nhất để chuẩn bị cho kỳ thi”.

Phạm Ngọc Duy 
(NCS Trường ĐH Massachusetts Amherst, Mỹ)

Advertisements

Tagged as: ,

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Thi tốt nghiệp

4 phản hồi »

  1. Ý kiến thứ ba. Tục ngữ mình có câu: học tài thi phận. Tôi chẳng biết, nhưng nếu học thế nào và dạy thế nào, chỉ để thi được điểm cao mà thôi, thì chúng ta đang đi lệch đường, cả thày lẫn trò. Lệch không có nghĩa là sai, mà chỉ có nghĩa là không đúng mục tiêu đã đề ra mà thôi.

    Theo tôi, học có nghĩa là “tập sống,” học làm người, học tự chủ, hay tự bay tự nhảy, … Còn thi là chọn lựa, chọn những đứa tròn đứa vuông, chọn những thành phần dốt nhưng biết làm việc, lựa những thành phần lười nhưng lãnh đạo giỏi, …

    Như vậy, em không thích vàng mà cứ dạy em ra vàng, em không thích đỏ mà cứ dạy em ra đỏ, là mất thì giờ của thày mà phí thời giờ của em. Đời sống quá ngắn ngủi để bắt ta phải theo con đường như vậy !

    Like

  2. Cảm ơn hocthenao.vn đã đăng lại bài của mình. Tất cả những điều mình muốn nói và cần nói mình đã nói hết ở bài mình viết ra rồi. Tuy nhiên, mình có một số ý để cuộc bàn luận đi vào thực chất hơn:

    – Cần định nghĩa, hoặc mô tả khái niệm “Tư duy Toán học” đối với một đối tượng người học bất kỳ, không phải là người học để trở thành người nghiên cứu Toán.

    – Cần làm rõ cơ sở lý thuyết tâm lý học, giáo dục học của quá trình hình thành và phát triển “Tư duy Toán học”.

    – Từ đó, bàn tới việc các hoạt động giáo dục, thi cử nào sẽ có tác động tới tích cực, cũng như tiêu cực tới “Tư duy Toán học”.

    Cuộc tranh luận không bắt đầu từ những nền tảng lý luận trên đây thì sẽ không thể hiệu quả được.

    Xin cảm ơn mọi người đã đọc những gì mình đã viết ra.

    Liked by 1 person

  3. Thi trắc nghiệm hay tự luận không quan trọng. Quan trọng là học sinh được học những gì, rèn luyện tư duy ra sao. Các vị cứ lấy ví dụ về các kì thi ở Mỹ, Nhật, Hàn, … để minh họa cho kiểu thi trắc nghiêm; sao các vị không xem họ dạy học sinh thế nào, trình độ học sinh, trình độ dân trí của họ thế nào. Việc dạy thêm học thêm ở Việt Nam hiện nay đã trở thành phổ biến. Học sinh không học thêm sẽ thấy thua sút bạn bè. Giáo viên dạy thêm để có thêm nhiều tiền. Khi chuyển sang thi trắc nghiệm Toán thì học sinh sẽ được luyện thi trắc nghiệm, luyện suốt ngày cả chủ nhật, không luyện thi đố em nào thi được điểm cao. Việc không đồng bộ giữa học và thi đã sinh ra biết bao nhiêu tiêu cực. Các kì thi SAT, GMAT, … thì cũng phải luyện ghê gớm mới có điểm cao, không luyện thì có mơ cũng không được điểm cao để vào học các trường danh tiếng nhé.

    Like

  4. Bài viết của hai tác giả rất hay. Và tôi xin hỏi thật bạn Duy nhé: bạn có dạy toán trắc nghiệm cho học sinh ở việt nam chưa? Tôi đang dạy toán cho học sinh cấp ba ở việt nam. Tôi thật đắng lòng khi nhìn thấy thế hệ học sinh bây giờ đang sa sút nghiêm trọng. Đa số học sinh không chịu cố gắng suy nghĩ như trước mà tỏ ra có tư tưởng thả nổi hên xui. Tình trạng xuống cấp của nền giáo dục việt nam lại càng nhanh hơn. Các bạn nên du nhập vào thực tế thì mới thấy rõ tình trạng đó. Các bạn nghiên cứu trên các thông số ở các nước phương tây thì đúng nhưng hãy nhìn lại nền giáo dục việt nam thì không thể áp dụng được.
    Trân trọng.

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: