How We Learn

Nam Việt, Đông Việt liệt truyện – Tư Mã Thiên (Phạm Văn Ánh)

HTN: Phần liên quan đến nước ta, trích từ Sử ký Tư Mã Thiên, Tập 2, Liệt Truyện, Phần Hạ. (Dịch giả Phạm Văn Ánh. NXB Văn Học và Nhã Nam).  

 

***

QUYỂN 113: NAM VIỆT LIỆT TRUYỆN

 Nam Việt vương Úy Đà, người Chân Định, họ Triệu. Nhà Tần đã thôn tính được thiên hạ, đánh chiếm bình định Dương Việt, lập ra các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, đưa đám lưu dân đến sống chung với dân Việt mười ba năm. Thời Tần, Đà được làm Huyện lệnh Long Xuyên, quận Nam Hải. Đến thời Tần Nhị thế, Quận úy Nam Hải là Nhâm Hiêu bị bệnh sắp chết, triệu Huyện lệnh Long Xuyên Triệu Đà đến nói: “Nghe nói bọn Trần Thắng làm loạn, nhà Tần vô đạo, thiên hạ khốn khổ, bọn Hạng Vũ, Lưu Quý[1], Trần Thắng, Ngô Quảng, ai nấy nổi lên tụ họp quân chúng ở các châu quận, như đàn hổ tranh nhau thiên hạ, Trung nguyên náo loạn, không biết chỗ nào yên, hào kiệt phản lại Tần, cùng nhau dựng lập. Nam Hải hẻo lánh xa xôi, ta sợ quân trộm cướp xâm lấn đất đai đến đây, ta muốn dấy quân cắt đứt đường mới, tự phòng bị, đợi chư hầu có biến, lại gặp lúc bệnh nặng. Hơn nữa Phiên Ngung dựa vào núi non hiểm trở, gần Nam Hải, từ đông sang tây mấy nghìn dặm, nếu được người Trung nguyên tương trợ, nơi đây cũng thành bá chủ một châu, có thể dựng nước. Các trưởng lại trong quận không ai đáng tin cậy, cho nên triệu ông đến để nói việc đó.” Rồi viết thư giao cho Đà, thay mình giải quyết công việc của Quận úy Nam Hải. Hiêu chết, Đà liền truyền hịch cho các đất Hoành Phố, Dương Sơn, Niết Khê Quan rằng: “Quân trộm cướp sắp kéo đến, hãy kíp chặn đường, tập trung quân để tự phòng giữ!” Nhân đó [Triệu Đà] từng bước dùng pháp luật để giết các trưởng quan do nhà Tần đặt, dùng bè đảng của mình thay làm Quận thú. Tần đã bị đánh rồi diệt vong, Đà liền đánh chiếm Quế Lâm và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương. Sau khi Cao đế bình định thiên hạ, do Trung nguyên lao khổ nên bỏ qua không giết Đà. Nhà Hán năm thứ mười một, sai Lục Giả nhân đó lập Đà làm Nam Việt vương, cùng chẻ tín phù để thông sứ[2], hòa hiếu quy tập người Bách Việt, không để họ trở thành mối nguy cho biên cương phía nam, Nam Việt tiếp liền ranh giới Trường Sa.

Thời Cao hậu, quan Hữu ti đề nghị cấm Nam Việt buôn bán đồ sắt ở các chợ vùng biên. Triệu Đà nói: “Cao đế lập ta, cùng nhau thông sứ, trao đổi hàng hóa, nay Cao hậu nghe lời gièm của bề tôi, phân biệt man di, ngăn cấm đồ dùng, đó hẳn là kế của Trường Sa vương, muốn dựa Trung nguyên, đánh diệt Nam Việt rồi làm vua cả hai vùng, tự lập công lao vậy.” Thế là Đà liền tự tôn hiệu thành Nam Việt Vũ đế, phát binh tấn công các ấp biên giới Trường Sa, phá hủy mấy huyện rồi rút về. Cao hậu sai tướng quân Long Lự hầu là Táo mang quân đến đánh. Gặp thời tiết nóng nực, ẩm thấp, sĩ tốt phần lớn bị bệnh dịch, quân không thể vượt núi Dương Sơn. Hơn một năm sau, Cao hậu băng hà, liền bãi binh. Triệu Đà nhân đó đem quân uy hiếp biên giới, đem của cải hối lộ Mân Việt, Tây Âu và đất Lạc, nô dịch rồi khiến họ quy thuộc, từ đông sang tây trải hơn vạn dặm. Bèn ngồi xe hoàng ốc cắm cờ bên trái[3], ban chiếu lệnh xưng là “chế”, ngang hàng với Trung nguyên[4].

Đến thời Hiếu Văn đế năm đầu, mới cai trị thiên hạ, sai sứ báo cho chư hầu, Tứ di[5] từ đất Đại vào triều để thể hiện ý hướng khi mới lên ngôi, tỏ rõ ân đức lớn lao. Bèn cho là mộ của cha mẹ Triệu Đà ở Chân Định, cho phép [Triệu Đà] lập ấp giữ gìn phần mộ, hàng năm các tiết phụng thờ tế tự. Triệu các anh em họ, ban cho quan cao lộc hậu, sủng ái họ. Hạ chiếu cho bọn Thừa tướng Trần Bình tiến cử người có thể đi sứ Nam Việt, Bình nói Hiếu Chỉ và Lục Giả thời tiên đế đã quen đi sứ Nam Việt. [Vua] bèn triệu Lục Giả, cho làm Thái trung đại phu, sai đi sứ; nhân đó trách Đà tự lập làm Hoàng đế, không sai sứ giả đến thông báo. Lục Giả đến Nam Việt, Nam Việt vương rất lo sợ, viết thư tạ tội, nói rằng: “Bề tôi đại trưởng lão phu ở man di là Đà, trước đây Cao hậu ngăn cách phân biệt Nam Việt, trộm ngờ Trường Sa vương gièm pha thần, lại từ xa nghe tin Cao hậu giết hết tông tộc của Đà, khai quật thiêu đốt mồ mả tổ tiên, cho nên bất chấp tất cả, xâm phạm biên giới Trường Sa. Hơn nữa phương nam thấp ẩm, trong cõi man di, Mân Việt ở phía đông, nghìn người xưng vương, Âu Lạc phía tây là nước để trần cũng xưng vương. Lão thần trộm xưng đế hiệu, tạm lấy đó tự làm vui, nào dám đem việc ấy báo với thiên vương!” Bèn dập đầu tạ lỗi, nguyện mãi làm phiên thần, dâng cống. Thế là [Triệu Đà] bèn hạ lệnh trong nước rằng: “Ta nghe, hai bên hùng cường không thể đứng chung, hai người hiền năng không thể ở cùng một đời. Hoàng đế là thiên tử hiền năng. Từ rày về sau, bãi bỏ chế độ xe hoàng ốc cắm cờ bên trái dành cho Hoàng đế.” Lục Giả về báo lại, Hiếu Văn đế cả mừng. Đến thời Hiếu Cảnh đế, [Triệu Đà] xưng thần, sai người vào triều thỉnh mệnh, nhưng Nam Việt ở nước mình vẫn trộm dùng đế hiệu như cũ, sứ giả vào chầu thiên tử, xưng vương như chư hầu khác. Đến năm Kiến Nguyên thứ tư, Triệu Đà chết.

Cháu nội Triệu Đà là Triệu Hồ làm Nam Việt vương. Bấy giờ Mân Việt vương là Dĩnh cất quân tấn công thành ấp ở biên giới Nam Việt, Hồ sai người dâng thư báo lên: “Hai nước Việt đều là phiên thần, không được tự ý dấy binh tấn công nhau. Nay Mân Việt đem binh xâm phạm đất của thần, thần không dám hưng binh, xin thiên tử hạ chiếu lệnh.” Vì thế Hoàng đế cho Nam Việt biết trọng nghĩa, giữ đúng chức phận, dấy binh giúp họ, sai hai tướng quân đến hỏi tội Mân Việt. Quân chưa qua núi, em của Mân Việt vương là Dư Thiện giết Dĩnh rồi đầu hàng, thế rồi bãi binh.

Thiên tử sai Trang Trợ sang tuyên dụ Nam Việt vương, Hồ dập đầu nói: “Thiên tử vì thần, dấy binh hỏi tội Mân Việt, thần dẫu chết cũng không biết lấy gì báo đền ơn đức!” Sai Thái tử Anh Tề vào làm Túc vệ. Triệu Hồ nói với Trợ rằng: “Nước tôi mới bị giặc cướp, sứ giả hãy đi trước đi. Hồ đang ngày đêm chuẩn bị hành trang vào bái kiến thiên tử.” Trợ đi rồi, đại thần can Hồ rằng: “Nhà Hán dấy binh giết Dĩnh, cũng là để dọa Nam Việt. Vả lại tiên vương xưa có nói, thờ thiên tử chỉ mong không thất lễ, quan trọng là không thể vì những lời tốt đẹp mà vào chầu. Vào chầu thì không được về, là cái thế mất nước vậy.” Thế là Hồ cáo bệnh, rốt cuộc không vào triều kiến. Hơn chục năm sau, Hồ đổ bệnh nặng, Thái tử Anh Tề xin về. Hồ mất, thụy là Văn vương.

Anh Tề lên thay, giấu ngọc tỷ của Vũ đế trước đây. Khi Anh Tề vào làm Túc vệ ở Trường An, lấy người con gái họ Cù ở Hàm Đan, sinh con là Hưng. Đến khi lên ngôi, dâng thư xin lập Cù thị làm Hoàng hậu, Hưng làm người kế vị. Nhà Hán nhiều lần phái sứ giả dụ bảo Anh Tề, Anh Tề vẫn thích tự ý nắm quyền sinh sát, sợ vào triều kiến sẽ phải theo pháp luật nhà Hán, như chư hầu khác, cố ý cáo bệnh, không chịu vào chầu. Sai con là Thứ Công vào làm Túc vệ. Anh Tề mất, thụy là Minh vương.

Thái tử Triệu Hưng lên thay, mẹ làm Thái hậu. Thái hậu từ khi chưa làm vợ của Anh Tề, từng tư thông với An Quốc Thiếu Quý người Bá Lăng. Sau khi Anh Tề mất, năm Nguyên Đỉnh thứ tư, nhà Hán sai An Quốc Thiếu Quý đến dụ Nam Việt vương và Thái hậu vào triều, như các chư hầu khác; sai bọn biện sĩ Gián đại phu Chung Quân tuyên giảng hiểu dụ, bọn dũng sĩ Ngụy Thần phụ vào chỗ thiếu khuyết, Vệ úy Lộ Bác Đức đem quân đóng đồn ở Quế Dương, chờ sứ giả. Nam Việt vương tuổi còn nhỏ, Thái hậu là người Trung nguyên, từng tư thông với An Quốc Thiếu Quý, khi [An Quốc Thiếu Quý đi] sứ đến, lại cùng tư thông. Người trong nước biết việc đó, phần nhiều không theo Thái hậu. Thái hậu sợ sinh loạn, cũng muốn dựa uy nhà Hán, nhiều lần khuyên Nam Việt vương cùng quần thần xin nội thuộc. Liền nhân đó phái sứ giả dâng thư, xin được như các chư hầu khác, ba năm một lần triều kiến, bỏ hết quan ải biên giới. Thiên tử đồng ý, ban ấn bạc cho Thừa tướng Lã Gia, cùng ấn cho Nội sử, Trung úy, Thái phó, các chức quan khác được tự thiết lập. Bỏ hình phạt cũ là thích chữ vào mặt, cắt mũi, dùng pháp luật nhà Hán, như các chư hầu khác. Sứ giả đến đều lưu lại để vỗ về Nam Việt. Nam Việt vương và Thái hậu sửa soạn hành trang cùng hậu lễ chuẩn bị vào chầu.

Thừa tướng Lã Gia tuổi cao, phụ tá ba đời vương, hơn bảy mươi người trong tông tộc làm trưởng lại, con trai đều lấy con gái của Nam Việt vương, con gái đều được gả cho vương tử, anh em trong tông thất, lại thông hôn với Tần vương ở Thương Ngô. Ở trong nước, Lã Gia quyền thế rất lớn, được người Việt tin cậy, nhiều người làm tai mắt, được lòng người hơn cả Nam Việt vương. Nam Việt vương dâng thư lên, Lã Gia nhiều lần can ngăn nhưng vương không nghe. Lã Gia có lòng làm phản, nhiều lần cáo ốm không gặp sứ giả nhà Hán. Sứ giả đều chú ý đến Gia, nhưng tình thế chưa thể giết. Vương và Thái hậu cũng sợ bọn Gia ra tay trước, liền bày tiệc rượu, dựa quyền thế của sứ giả nhà Hán, âm mưu giết bọn Gia. Sứ giả đều ngồi hướng về đông, Thái hậu hướng về nam, Nam Việt vương hướng về bắc, Thừa tướng Lã Gia và đại thần đều hướng về tây, cùng ngồi hầu rượu. Em trai Gia làm võ tướng, đem quân đóng ở ngoài cung. Trong tiệc rượu, Thái hậu bảo Gia rằng: “Nam Việt nội thuộc, là lợi cho nước, nhưng tướng quân khăng khăng cho là bất lợi, là cớ làm sao?” Lấy việc ấy khích cho sứ giả nổi giận. Sứ giả nghi hoặc nhìn nhau, không ai dám hành động. Gia thấy không có tai mắt ở đó, liền dậy đi ra. Thái hậu tức giận, muốn dùng giáo đâm Gia, nhưng vương ngăn lại. Gia ra ngoài rồi, chia quân của em hộ vệ về phủ, cáo ốm, không chịu gặp vương và sứ giả. Bèn âm mưu cùng đại thần làm loạn. Vương vốn không có ý giết Gia, Gia biết điều đó, vì thế mấy tháng liền không hành động. Thái hậu có tính dâm, người trong nước không theo, muốn một mình giết bọn Gia, nhưng không đủ sức.

Thiên tử hay tin Gia không nghe theo Nam Việt vương, vương và Thái hậu yếu sức lại thế cô, không thể áp chế, sứ giả thì khiếp nhược không quyết đoán; lại cho vương và Thái hậu đã nội phụ nhà Hán, chỉ riêng Lã Gia làm loạn, không đủ để dấy binh, định sai Trang Sâm[6] đem hai nghìn người đi sứ Nam Việt. Sâm nói: “Vì giao hảo mà đi sứ, cần mấy người là đủ rồi; vì dùng vũ lực mà đến, hai nghìn người không đủ hành sự.” Sâm từ chối, cho là không thể, thiên tử bãi chức của Sâm. Hàn Thiên Thu là tráng sĩ đất Giáp vốn làm tướng cho Tế Bắc vương khi trước, hăng hái nói: “Với nước Việt cỏn con, lại có Nam Việt vương và Thái hậu nội ứng, một mình Thừa tướng Lã Gia gây hại được gì, xin được đem hai trăm dũng sĩ đi, ắt chém Lã Gia về báo.” Thế là thiên tử sai Thiên Thu cùng em trai Vương thái hậu là Cù Lạc đem hai nghìn người vào nước Việt. Bọn Lã Gia liền làm phản, hạ lệnh cho trong nước rằng: “Nhà vua còn nhỏ, Thái hậu là người Trung nguyên, lại dâm loạn với sứ giả, chỉ muốn nội thuộc, mang hết đồ quý báu của tiên vương vào dâng thiên tử để xu nịnh, nhiều người đi theo, khi tới Trường An, sẽ đem bán làm nô bộc. Vì cái lợi thoát thân nhất thời, không ngó ngàng đến xã tắc họ Triệu, không có ý lo tính cho muôn đời.” Bèn cùng em trai đem quân đánh giết Nam Việt vương, Thái hậu cùng sứ giả nhà Hán. Sai người báo cho Tần vương ở Thương Ngô cùng các quận huyện, lập người con do con trưởng của Minh vương với vợ người Việt sinh ra là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua. Rồi Hàn Thiên Thu đem quân đến, phá được mấy ấp nhỏ. Sau đó, Việt mở đường thẳng cấp lương, cách Phiên Ngung bốn mươi dặm, đem quân đánh bọn Hàn Thiên Thu, rồi tiêu diệt hết. Sai người đóng hòm niêm phong tiết phù của sứ giả nhà Hán, để ở biên tái, nói khéo là tạ tội, rồi phát binh giữ chỗ trọng yếu. Thiên tử bèn nói: “Hàn Thiên Thu tuy không thành công, cũng đứng đầu hàng tiên phong trong quân.” Phong con trai của Hàn Thiên Thu là Diên Niên làm Thành An hầu. Cù Lạc, chị là Thái hậu, đi đầu trong việc nội thuộc nhà Hán, con trai Cù Lạc là Quảng Đức được phong làm Long Kháng hầu. Bèn hạ chiếu xá tội tù nhân: “Thiên tử suy yếu, chư hầu đánh nhau, chê trách bề tôi không biết thảo phạt nghịch tặc. Nay bọn Lã Gia, Kiến Đức làm phản, tự lập một cách yên ổn, lệnh cho tội nhân cùng các vùng Giang, Hoài về phía nam đem mười vạn quân lâu thuyền đến hỏi tội chúng.

Mùa thu năm Nguyên Đỉnh thứ năm, Vệ úy Lộ Bác Đức làm Phục ba tướng quân, đem quân ra Quế Dương, xuống Hối Thủy; Chủ tước đô úy Dương Bộc làm Lâu thuyền tướng quân, đem quân ra Dự Chương, xuống Hoành Phố; hai vị vốn được phong hầu ở nước Việt đã trở về chính nghĩa[7] làm Qua thuyền tướng quân và Hạ lệ tướng quân, đem quân ra Linh Lăng, người xuống Ly Thủy, người đến thẳng Thương Ngô; sai Trì Nghĩa hầu dùng các tội nhân ở Ba Thục, phát binh ở Dạ Lang, xuống sông Tang Kha, cùng hội quân ở Phiên Ngung.

Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ sáu, Lâu thuyền tướng quân đem tinh binh đi trước vây hãm Tầm Hiệp, phá Thạch Môn, thu được thuyền và thóc của Nam Việt, nhân đó tiến quân, bẻ gãy mũi tiên phong của Nam Việt, đem mấy vạn quân chờ Phục ba tướng quân. Phục ba tướng quân dẫn theo tội nhân, đường sá xa xôi, đến sau kỳ hẹn, hội quân với Lâu thuyền tướng quân, được hơn nghìn quân, rồi cùng tiến. Lâu thuyền tướng quân đi trước, đến Phiên Ngung. Kiến Đức và Gia đều giữ thành. Lâu thuyền tướng quân tự chọn chỗ thuận tiện, ở mặt đông nam; Phục ba tướng quân ở mặt tây bắc. Đến chiều tối, Lâu thuyền tướng quân đánh bại người Việt, phóng hỏa đốt thành. Người Nam Việt vốn nghe danh Phục ba tướng quân, chiều tối, không biết quân của Phục ba nhiều hay ít. Phục ba liền lập doanh trại, sai sứ giả chiêu hàng, ban ấn tín, lại hạ lệnh chiêu hàng lẫn nhau. Lâu thuyền tướng quân ra sức tấn công, thiêu đốt địch, trái lại lùa địch vào trong doanh quân Phục ba tướng quân. Tảng sáng, trong thành đều hàng Phục ba tướng quân. Lã Gia và Kiến Đức cùng mấy trăm bộ thuộc đương đêm trốn ra biển, đi thuyền sang phía tây. Phục ba tướng quân lại nhân hỏi những quý nhân đã đầu hàng, nhờ đó biết Lã Gia đi đâu, liền sai người đuổi theo. Viên Hiệu úy tư mã cũ là Tô Hoằng bắt được Kiến Đức, được phong làm Hải Thường hầu; viên quan Lang nước Việt là Đô Kê bắt được Lã Gia, được phong làm Lâm Sái hầu.

Thương Ngô vương Triệu Quang, cùng họ với Việt vương, nghe tin quân Hán đến, cùng Huyện lệnh Kiệt Dương nước Việt tên là Định, xin nội thuộc Hán; quan Giám ở Quế Lâm nước Việt là Cư Ông hiểu dụ Âu Lạc nội phụ nhà Hán, hai người đều được phong hầu. Quân của Qua thuyền tướng quân và Hạ lệ tướng quân cùng quân Dạ Lang do Trì Nghĩa hầu đưa đi chưa đến nơi, Nam Việt đã được bình định. Liền lập [Nam Việt] thành chín quận. Phục ba tướng quân được phong thêm. Lâu thuyền tướng quân do đem quân vây hãm và đánh thành kiên cố, được phong làm Tướng Lương hầu.

Từ lúc Úy Đà mới xưng vương trở về sau, được năm đời, chín mươi ba năm, nước Nam Việt bị diệt vong.

 

Thái sử công bàn rằng:

Úy Đà xưng vương,

Vốn do Nhâm Hiêu.

Gặp Hán mới lập,

Liệt làm chư hầu.

Long Lự dời ẩm, dịch[8];

Đà được thể càng kiêu.

Âu Lạc hỗn chiến,

Nam Việt lao đao.

Quân Hán tiến đến,

Anh Tề vào chầu.

Về sau mất nước,

Điềm từ Cù nữ.

Lã Gia kém trung,

Khiến Đà vô hậu.

Lâu thuyền dục loạn,

Ngông ngạo mê hoặc.

Phục ba khốn cùng,

Trí càng sáng suốt,

Nhân họa thành phúc.

Thành bại chuyển đổi,

Ví như nẩy mực[9].


***

QUYỂN 114: ĐÔNG VIỆT LIỆT TRUYỆN

 

Mân Việt vương Vô Chư cùng Việt Đông Hải vương Dao, tiên tổ đều là hậu duệ của Việt vương Câu Tiễn, họ Trâu. Sau khi Tần thôn tính được thiên hạ, đều bị phế làm đầu lĩnh, lấy đất của họ lập quận Mân Trung. Đến khi chư hầu phản Tần, Vô Chư và Dao thống lãnh nước Việt theo Huyện lệnh Bà Dương là Ngô Nhuế, tức Bà quân, theo chư hầu diệt Tần. Bấy giờ Hạng Tịch là người ra hiệu lệnh, không phong cho làm vương, vì thế không theo Sở. Hán đánh Hạng Tịch, Vô Chư và Dao thống lãnh người Việt giúp Hán. Nhà Hán năm thứ năm, lại lập Vô Chư làm Mân Việt vương, làm vua ở đất cũ Mân Trung, đóng đô ở Đông Dã. Hiếu Huệ đế năm thứ ba, đề cử công của nước Việt thời Cao đế, cho rằng quân trưởng đất Mân là Dao có nhiều công lao, dân chúng thuận lòng quy phụ, bèn lập Dao làm Đông Hải vương, đóng đô ở Đông Âu, thế tục gọi là Đông Âu vương.

Mấy đời sau, đến Cảnh đế năm thứ ba, Ngô vương Tị làm phản, định lôi kéo Mân Việt, nhưng Mân Việt không chịu, chỉ riêng Đông Âu theo Ngô. Đến khi Ngô bị phá, Đông Việt nhận tiền của nhà Hán, liền giết Ngô vương Đan Đồ, vì thế đều không bị giết, cho về nước.

Con của Ngô vương là Tử Câu trốn đến Mân Việt, oán Đông Âu giết cha mình, thường xúi Mân Việt đánh Đông Âu. Đến năm Kiến Nguyên thứ ba, Mân Việt phát binh bao vây Đông Âu. Đông Âu hết lương, nguy khốn, sắp hàng, bèn sai người cáo cấp với thiên tử. Thiên tử hỏi Thái úy Điền Phần, Phần đáp rằng: “Người Việt đánh lẫn nhau, đó là chuyện thường, lại nhiều lần phản phúc, không đủ để phiền Trung nguyên phải đến cứu. Từ thời Tần đã bỏ rơi họ, không xem là đất nội thuộc.” Trung đại phu Trang Trợ liền vặn hỏi Phần rằng: “Chỉ lo sức không thể cứu, đức không đủ để che chở; nếu có thể, sao lại bỏ rơi? Vả lại nhà Tần, ngay Hàm Dương còn bỏ, nói gì nước Việt! Nay nước nhỏ vì khốn cùng mà đến cấp báo thiên tử, thiên tử không giúp, kẻ kia biết cấp báo với ai? Sao có thể bảo vệ cho muôn nước được?” Hoàng thượng nói: “Không thể tính kế với Thái úy được. Ta mới lên ngôi, không muốn đem hổ phù để phát động quân đội các quận trong nước.” Bèn sai Trang Trợ đem phù tiết phát động quân ở Cối Kê. Thái thú Cối Kê định chống lệnh, không phát binh, Trợ liền chém một viên Tư mã, tuyên dụ ý chỉ, rồi phát binh theo đường biển đến cứu Đông Âu. Chưa đến nơi, Mân Việt đã dẫn quân về. Đông Âu xin đem cả nước dời vào Trung nguyên, bèn đưa hết dân chúng đi, đến ở tại vùng Giang, Hoài.

Năm Kiến Nguyên thứ sáu, Mân Việt đánh Nam Việt. Nam Việt tuân theo ước định với thiên tử, không dám tự ý phát binh đánh lại, mà báo lên triều đình. Hoàng thượng sai quan Đại hành Vương Khôi đem quân ra Dự Chương, quan Đại nông Hàn An Quốc đem quân ra Cối Kê, đều làm tướng quân. Quân chưa vượt núi, Mân Việt vương là Dĩnh đã phát binh chiếm chỗ hiểm chống trả. Em của Dĩnh là Dư Thiện cùng Thừa tướng và tông tộc bàn mưu rằng: “Vương tự ý phát binh đánh Nam Việt, không thỉnh mệnh, cho nên thiên tử đem quân đến hỏi tội. Nay quân Hán đông mạnh, nếu may mắn thắng được, sau càng đến đông hơn, rốt cuộc diệt quốc mới thôi. Nay giết vương để tạ tội với thiên tử. Thiên tử chấp nhận, sẽ bãi binh, cố nhiên cả nước vẹn nguyên; nếu không chấp nhận, bèn ra sức đánh; không thắng thì trốn hết ra biển.” Thảy đều nói: “Phải.” Bèn đâm chết quốc vương, sai sứ đem đầu đến dâng Đại hành Vương Khôi. Đại hành nói: “Sở dĩ kéo quân đến là để giết quốc vương. Nay đầu quốc vương đã đến, tỏ ý tạ tội, không đánh mà diệt được, còn gì lợi hơn nữa.” Bèn tự ý án binh rồi báo với quân của Đại nông Hàn An Quốc, sai sứ mang đầu Mân Việt vương phi ngựa về báo thiên tử. [Thiên tử] xuống chiếu cho hai tướng bãi binh, nói: “Bọn Dĩnh đầu xỏ tội ác, chỉ riêng cháu nội Vô Chư là Diêu quân tên Sửu không dự mưu đó thôi.” Bèn sai Lang trung tướng lập Sửu làm Việt Diêu vương, phụng thờ tế tự tiên tổ Mân Việt.

Dư Thiện sau khi giết Dĩnh, uy chấn cả nước, dân trong nước phần nhiều theo về, trộm tự lập làm vương. Diêu vương không thể uốn nắm được dân chúng. Thiên tử nghe tin, cho là Dư Thiện không đáng để dấy binh, nói: “Dư Thiện nhiều lần cùng Dĩnh âm mưu làm loạn, nhưng sau là người đầu tiên giết Dĩnh, quân triều đình không phải vất vả.” Nhân đó lập Dư Thiện làm Đông Việt vương, ở chung với Diêu vương.

Đến năm Nguyên Đỉnh thứ năm, Nam Việt làm phản, Đông Việt vương Dư Thiện dâng thư, xin đem tám nghìn quân theo Lâu thuyền tướng quân đánh bọn Lã Gia. Quân đến Yết Dương, lấy cớ biển gió to sóng lớn, không đi nữa, tính nước đôi, ngầm sai sứ tới Nam Việt. Đến khi nhà Hán phá được Phiên Ngung, vẫn không tới. Bấy giờ Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc sai sứ dâng thư, xin được tùy ý dẫn quân đánh Đông Việt. Hoàng thượng nói sĩ tốt vất vả mỏi mệt, không cho, rồi bãi binh, hạ lệnh các Hiệu úy đóng đồn ở Mai Lĩnh thuộc Dự Chương đợi lệnh.

Mùa thu năm Nguyên Đỉnh thứ sáu, Dư Thiện nghe tin Lâu thuyền tướng quân xin thảo phạt mình, quân Hán đến biên cảnh, sắp sang, liền làm phản, phát binh chặn đường tiến của quân Hán. Kêu gọi bọn tướng quân Trâu Lực hãy “nuốt tướng quân Hán”, tấn công vào Bạch Sa, Vũ Lâm, Mai Lĩnh, giết ba viên Hiệu úy nhà Hán. Bấy giờ nhà Hán sai Đại nông Trương Thành và Sơn Châu hầu trước đây là Xỉ làm tướng đóng đồn, không dám đánh, rút đến chỗ thuận tiện, đều mắc tội sợ địch, bị giết.

Dư Thiện khắc ngọc tỉ hai chữ “Vũ đế”, tự lập làm Hoàng đế, gạt dân mình, nói lời giả dối. Thiên tử sai Hoành hải tướng quân Hàn Duyệt ra Câu Chương, vượt biển từ phía đông tiến đến; Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc đem quân ra Vũ Lâm; Trung úy Vương Ôn Thư đem quân ra Mai Lĩnh; Việt hầu làm Qua thuyền [tướng quân], Hạ lại tướng quân, đem quân ra Nhược Da và Bạc Sa. Mùa đông niên hiệu Nguyên Phong năm thứ nhất, kéo vào Đông Việt. Đông Việt vốn đã phát binh giữ chỗ hiểm để chống trả, sai Tuẫn bắc tướng quân giữ Vũ Lâm, đánh bại mấy Hiệu úy của Lâu thuyền tướng quân, giết trưởng lại. Lâu thuyền tướng quân thống lãnh Viên Chung Cổ người ở Tiền Đường chém Tuẫn bắc tướng quân, được phong làm Ngự Nhi hầu. Quân do Lâu thuyền tướng quân thống lãnh chưa đến.

Việt Diễn hầu trước đây là Ngô Dương khi trước ở Hán, Hán sai về hiểu dụ Dư Thiện, Dư Thiện không nghe. Đến khi Hoành hải tướng quân đến trước, Việt Diễn hầu Ngô Dương đem bảy trăm người trong ấp làm phản, tấn công quân Việt ở Hán Dương. Kiến Thành hầu là Ngao, cùng quân binh và Diêu vương Cư Cổ bàn mưu rằng: “Dư Thiện đứng đầu việc ác, kìm giữ bọn ta. Nay quân Hán đến, quân đông và mạnh, nếu tính kế giết Dư Thiện, tự động quy hàng tướng Hán, may ra được thoát tội.” Bèn cùng giết Dư Thiện, đem quân hàng Hoành hải tướng quân, nên nhà Hán phong Diêu vương Cư Cổ làm Đông Thành hầu, hưởng vạn hộ; phong Kiến Thành hầu là Ngao làm Khai Lăng hầu; phong Việt Diễn hầu Ngô Dương làm Bắc Thạch hầu; phong Hoành hải tướng quân là Duyệt làm Án Đạo hầu; phong Hiệu úy của Hoành hải tướng quân là Phúc làm Liêu Oanh hầu. Phúc là con của Thành Dương Cộng vương, vốn là Hải Thường hầu, phạm pháp nên mất tước hầu. Trước tòng quân nhưng không có công, nhờ tông tộc nên được phong hầu. Các tướng đều không có công, không ai được phong. Tướng Đông Việt là Đa Quân, khi quân Hán đến, bỏ quân xin hàng, được phong Vô Tích hầu.

Thế rồi thiên tử cho Đông Việt vừa hẹp vừa hiểm trở, Mân Việt hung hãn, nhiều lần phản phúc, hạ chiếu cho quân lại đều đem dân mình dời đến ở vùng Giang, Hoài. Đông Việt bèn thành đất không người.

 

Thái sử công bàn rằng: Việt tuy là đất man di, tiên tổ họ há từng có công đức lớn với dân chăng? Sao được lâu dài đến thế! Trải mấy đời thường làm quân vương, Câu Tiễn một phen xưng bá. Nhưng Dư Thiện đại nghịch bất đạo, diệt nước chuyển dân, hậu duệ của tổ tiên họ là bọn Diêu vương Cư Cổ còn được phong tước hầu, thực ấp vạn hộ, từ đó biết được nước Việt đời đời làm công hầu vậy. Ấy là nhờ huân nghiệp còn sót lại của Hạ Vũ vậy.

[1] Lưu Quý: tức Lưu Bang.

[2] Nhà Hán khi phong chức tước cho bề tôi thì dùng lệnh phù làm tín vật, chia làm hai, giao cho người được phong giữ một nửa để làm tin.

[3] Xe của Hoàng đế, dùng lụa vàng làm lọng che; dùng đuôi mao ngưu, một loài bò có đuôi dài trang trí trên cờ cắm bên trái xe.

[4] Ý nói Triệu Đà dùng xe cộ, xưng hiệu… giống như Hoàng đế nhà Hán.

[5] Ý nói các tộc người thiểu số. Người Trung Quốc xưa cho mình là Hoa, Hoa Hạ, cho các tộc người thiểu số vùng xa là Man, Di, Địch, Nhung, gọi chung là Tứ di.

[6] Trang Sâm: cũng phiên là Trang Tham.

[7] Ý nói đã theo hàng nhà Hán.

[8] Ý nói quân đội của Long Lự gặp nơi ẩm thấp, bệnh dịch nên phải dời đi chỗ khác.

[9] Đoạn này rất đáng chú ý, vì Thái sử công đánh giá bằng thơ, khác hẳn các phần khác. Phần thơ này phiên âm Hán – Việt như sau:

Úy Đà chi vương / Bản do Nhâm Hiêu.

Tao Hán sơ định / Liệt vi chư hầu.

Long Lự li thấp dịch / Đà đắc dĩ ích kiêu.

Âu Lạc tương công / Nam Việt động diêu.

Hán binh lâm cảnh / Anh Tề nhập triều.

Kỳ hậu vong quốc / Trưng tự Cù nữ.

Lã Gia tiểu trung / Linh Đà vô hậu.

Lâu thuyền túng dục / Đãi ngạo thất hoặc.

Phục ba khốn cùng / Trí lự dũ thực / Nhân họa vi phúc.

Thành bại chi chuyển / Thí nhược củ mặc.

Advertisements

Tagged as:

3 phản hồi »

  1. Việt Sử thời sơ khai, tôi đã học được như sau:

    Triệu Ðà, 207-137 BC. Triệu Ðà là viên tướng có tài ở Chân Ðịnh. Một hôm, ông nổi loạn và giao tranh với quân của Tần Thủy Hoàng. Sau khi thua trận, ông chạy về phương Nam, tiến chiếm Âu Lạc và xưng vương, lấy hiệu là Triệu Vũ Vương.

    Ông đặt tên nước là Nam Việt, gồm cả Âu Lạc, Quảng Ðông và Quảng Tây. Ông đặt kinh đô ở Phiên Nhung, thuộc tỉnh Quảng Ðông.

    Sau đó, ở bên Tàu, Hán Cao Tổ đánh được nhà Tần, lập nhà Tây Hán. Vua Hán sai Lục Giả sang trao ấn cho vua Triệu, phong cho làm Nam Việt Vương.

    Nhà Hán còn bắt các nước chư hầu, gồm cả Nam Việt, phải gởi con tin sang Trung Hoa, gọi là thế tử. Ðó là cách gây áp lực để dần dần sát nhập các nước chư hầu vào một khối Trung Quốc.

    Khi Triệu Ðà mất, cháu của ông là Hồ lên ngôi, xưng là Triệu Văn Vương (137-125 BC), tức con của Trọng Thủy.

    Con của Triệu Văn Vương là Anh Tề, khi làm thế tử bên Tàu, lấy người con gái họ Cù ở Hàm Ðan làm vợ lẽ và sinh ra được người con tên là Hưng. Khi lên ngôi, Anh Tề lấy hiệu là Triệu Minh Vương (125-113 BC) rồi đặt Hưng làm thế tử.

    Khi Triệu Minh Vương mất, Hưng lên ngôi, lấy hiệu là Triệu Ai Vương (113-112 BC). Ông tôn mẹ là Cù Thị làm thái hậu.

    Lúc bấy giờ, có tướng Lữ Gia, làm quan đã ba đời vua, rất mực trung thành với quê hương. Thấy Ai Vương và Cù Hậu muốn sát nhập với nhà Hán, ông liền rút gươm chém cả hai người và đặt con trưởng của Anh Tề là Kiến Ðức lên ngôi, năm 112 BC, lấy hiệu là Triệu Dương Vương.

    Nhà Hán thấy thế, không bằng lòng, gởi quân xuống can thiệp. Tướng Lữ Gia đánh tan quân của tướng Thiên Thu, ở cách Phiên Nhung 40 dặm.

    Năm 111 BC, nhà Tây Hán sai Dương Bộc và Lộ Bác Ðức xuống đánh chiếm Nam Việt. Không chống cự nổi, đang đêm Triệu Dương Vương và Lữ Gia phải xuống thuyền chạy trốn.

    ***Nhìn lại thế sự trong nước, tôi nghĩ như thời Bắc thuộc đang từ từ tái diễn… Có phải vì thế mà Phan Chu Trinh đã bảo: Những kẻ vá trời khi lỡ bước, Nam nhi hà sá chuyện con con.

    Like

  2. Bài sử ký Tư mã Thiên này lôi chúng ta về thời Bách Việt, thời Hán Sở tranh hùng. Thời đó, nhà Tần nhà Hán chỉ là một phần của TQ.

    Nước Việt thời sơ khai không phải là nhỏ mà gồm cả Quảng Đông Quảng Tây. Sau, con cháu nhà Triệu làm mất nước, thành ngàn năm Bắc thuộc.

    Trong ngàn năm Bắc thuộc ấy có nhiều cuộc khởi nghĩa, mà cuộc khởi nghĩa đầu tiên là của Hai bà Trưng. Nhiều người dân ở Triều Châu Lưỡng Quảng bây giờ còn nhớ chuyện này.

    Sau này, các vua Đại Việt nhiều lần muốn lấy lại Lưỡng Quảng. Nguyễn Huệ là lần sau cùng, nhưng không phải cuối cùng. Ông chỉ làm vua được 13 năm. Khi Gia Long lên ngôi, ông sai sứ sang Tầu xin phong vương, nhà Thanh không muốn lẫn lộn với tên Nam Việt thời Triệu Đà nên đổi tên nước ta thành Việt Nam.

    Nhìn lại, từ xưa nước ta đã gắn liền với những tên như Trường giang, Hợp phố, Uất lâm, Châu nhai … Ngày nay, chúng ta, không chống Tầu hay chống bất cứ ai, nhưng chỉ muốn về tìm lại quê hương cũ.

    Mark Zuckerberg đã nói: Chúng ta không lẻ loi, chúng ta là một phần của cái gì đó lớn hơn, part of something bigger. (Chúng ta đây là mọi người trên trái đất).

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: