How We Learn

Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về mạng lưới các nhà khoa học xã hội Việt Nam – Quý Hiên, Lê Văn, Thái Thanh

Từ các nguồn:

Thanh Niên: http://thanhnien.vn/giao-duc/cong-bo-quoc-te-linh-vuc-khoa-hoc-xa-hoi-cua-viet-nam-con-qua-khiem-ton-883255.html

VietnamNet: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/khoa-hoc-xa-hoi-viet-nam-thieu-nhung-con-soi-dau-dan-403317.html

Tia Sáng: http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Buc-tranh-so-khoi-ve-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-KHXHNV-10965

 

*

**

 

Ngày 7/10/2017 vừa qua, dự án Mạng lưới các nhà khoa học xã hội Việt Nam do TS. Vương Quân Hoàng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Xã hội liên ngành, Trường Đại học Thành Tây đã tổ chức hội thảo giới thiệu một số kết quả bước đầu. Dự án hướng tới mục tiêu nghiên cứu về sản lượng và năng suất khoa học công bố trên các ấn phẩm thuộc danh mục Scopus của toàn bộ các nhà khoa học xã hội Việt Nam trong và ngoài nước. Dưới đây là thông tin tổng hợp của một số báo:

Công bố quốc tế lĩnh vực khoa học xã hội của Việt Nam còn quá khiêm tốn

Lần đầu tiên, một nhóm nghiên cứu của một trường đại học đưa ra đánh giá lượng hóa về công bố quốc tế khối ngành khoa học xã hội ở Việt Nam. Kết quả cho thấy công bố quốc tế khối ngành này còn quá khiêm tốn.

Sáng nay (7.10), tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu xã hội liên ngành thuộc Trường đại học Thành Tây tổ chức hội thảo công bố một số kết quả bước đầu của dự án nghiên cứu mạng lưới các nhà khoa học xã hội Việt Nam do trung tâm này đang thực hiện.

Đây là lần đầu tiên có một dự án đưa ra những đánh giá có tính lượng hóa về hoạt động nghiên cứu khối ngành khoa học xã hội Việt Nam mà căn cứ để thống kê, phân tích là nguồn dữ liệu Scopus (danh sách các tạp chí quốc tế của Elsevier – một công ty xuất bản học thuật ở Hà Lan).  Sau 8 tháng triển khai, dự án đã công bố 4 nhóm kết quả 3 tạp chí quốc tế và trên 1 tạp chí trong nước nằm trong danh mục Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước công nhận và tính điểm.

Tại hội thảo, 2 đại diện của nhóm nghiên cứu là các ông Hồ Mạnh Tùng và Nguyễn Tô Việt Hà cho biết nhóm đã tìm ra và thu thập thông tin của 412 nhà khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam có bài đăng trên các ấn phẩm khoa học thuộc danh mục của Scopus trong vòng 10 năm qua (2008 – 2017). Có thể đây không phải là toàn bộ học giả Việt Nam trong lĩnh vực này có bài xuất bản trong Scopus, nhưng chắc chắn là không dưới 80%.

Qua kết quả nghiên cứu của mình, nhóm cũng bác bỏ luận điểm lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn mang tính đặc thù nên đòi hỏi bắt buộc phải có công bố là không phù hợp. Nhóm cho rằng xuất bản trong lĩnh vực này của người Việt Nam trên các ấn phẩm khoa học của Scopus bao trùm ít nhất 12 lĩnh vực lớn: luật, chính trị, quản trị, ngôn ngữ, văn hóa, nghệ thuật, triết học, xã hội học, tâm lý học, kinh tế, giáo dục, lịch sử. Phân tích cụ thể hơn cho thấy có những bằng chứng về việc có những học giả thành công trong việc công bố quốc tế đến từ những ngành được cho là mang tính đặc thù của khoa học xã hội và nhân văn tại Việt Nam.

Nhóm nghiên cứu khuyến cáo các nhà khoa học trong nước nên bắt đầu tìm hiểu rõ những yếu tố dẫn đến việc có một số nhà khoa học trong nước vượt qua được rào cản về tính đặc thù để công bố quốc tế, chứ không phủ nhận khả năng công bố quốc tế của nền khoa học xã hội và nhân văn nước nhà bằng những đánh giá mang tính chủ quan, cảm tính.

 Quý Hiên

*

**

Khoa học xã hội Việt Nam thiếu những “con sói đầu đàn”

Lần đầu tiên một nghiên cứu trắc lượng đối với sản lượng và hành vi công bố khoa học quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn (KHXH-NV) được công bố. 

Sáng ngày 7/10, Trung tâm Nghiên cứu xã hội liên ngành, Trường ĐH Thành Tây đã công bố những kết quả ban đầu trong dự án mạng lưới các nhà khoa học xã hội Việt Nam mà trung tâm này thực hiện từ tháng 1/2017 tới nay.

Nhiều con số và nhận định thú vị về công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXH-NV của Việt Nam lần đầu tiên được công bố.

 

“Nói khoa học xã hội khó công bố quốc tế là không thuyết phục!”

Trong báo cáo chính trình bày kết quả ban đầu của nhóm nghiên cứu, 2 nhà nghiên cứu của trung tâm là các ông Hồ Mạnh Tùng và Nguyễn Tô Việt Hà cho biết, trong vòng 9 tháng, nhóm đã thu thập được thông tin của 412 nhà nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH-NV của Việt Nam có các bài đăng trên các ẩn phẩm khoa học thuộc danh mục Scopus trong vòng 10 năm, từ 2008-2017.

Dù khẳng định 412 chưa phải là con số đầy đủ, song nhóm nghiên cứu cũng tin rằng, với phương pháp thu thập thông tin các tác giả của mình, con số này đã chiếm tới 80% số tác giả có công bố khoa học trong danh mục tạp chí của Scopus.

Từ đó, nhóm nghiên cứu cho rằng, Việt Nam có những học giả thành công trong việc công bố quốc tế đến từ những ngành được cho là đặc thù của Việt Nam. Thực tế này chỉ ra sự thiếu thuyết phục của luận điểm cho rằng, yêu cầu công bố trên ấn phẩm quốc tế không phù hợp với đặc thù của KHXH-NV tại Việt Nam.

Phân tích dữ liệu từ các công bố khoa học của 412 tác giả này cho thấy, xuất bản trong lĩnh vực KHXH-NV của người Việt Nam trên các ấn phẩm khoa học của Scopus bao trùm ít nhất 12 lĩnh vực lớn từ luật, chính trị, quản trị, ngôn ngữ, văn hóa, nghệ thuật cho tới xã hội học, tâm lí học…

Nếu trong ngành KHXH-NV đã có những nhà khoa học thành công như vậy, thì phản ứng hợp lý trước tiêu chuẩn đào tạo mới hoặc dự thảo tiêu chuẩn GS, PGS nên bắt đầu từ tìm hiểu rõ những yếu tố dẫn đến việc họ vượt qua được rào cản về tính đặc thù để công bố quốc tế, chứ không phải phủ nhận khả năng công bố quốc tế của nền tảng KHXH-NV nước nhà bằng những đánh giá mang tính chủ quan, cảm tính“.

Tuy nhiên, phân tích dữ liệu cũng cho thấy, sản lượng công bố quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam trong các lĩnh vực KHXH-NV chưa nhiều. Mặc dù thống kê cho thấy người có sản lượng tuyệt đối cao nhất đạt tới 63 bài trong gần 10 năm qua nhưng sản lượng bình quân chỉ đạt 3,6 bài.

Bên cạnh đó, người có số bài giữ vài trò chủ đạo (là tác giả chính, tác giả liên lạc) cao nhất là 60, nhưng bình quân toàn mẫu dữ liệu chỉ là 1,77 bài.

Một nhận định khác của nhóm nghiên cứu từ phân tích dữ liệu cũng rất đáng chú ý là: Người có sản lượng tuyệt đối cao nhưng không đồng nghĩa với việc có đóng góp nhiều trong mỗi bài viết. Nhiều trường hợp sản lượng tuyệt đối cao nhưng điểm quy đổi về điểm đóng góp có thể thấp hơn tới 4 lần.

Không phải “sói cô đơn”, cũng không phải “sói đầu đàn”

Cũng từ dữ liệu có được, nhóm nghiên cứu cũng đã phân tích mối liên hệ giữa các tác giả nghiên cứu dựa trên quan hệ đồng tác giả của các công bố khoa học của họ.

Kết quả phân tích cho thấy, nghiên cứu KHXH-NV Việt Nam không có nhiều những “con sói đơn độc” cũng như những “con sói đầu đàn”.

Theo nhóm nghiên cứu, có tới 307 trên tổng số 421 nhà nghiên cứu (chiếm tới 75%) số tác giả KHXH-NV được tìm thấy chưa từng có công bố do một mình mình đứng tên.

Số tác giả có 5 bài viết do mình đứng tên đầu, đóng góp chính trong vòng 10 năm qua cũng khá khiêm tốn, chỉ có 9 người, chiếm chưa tới 10%.

Ngoài ra, chỉ có khoảng 232 tác giả, chiếm khoảng 56%, có ít nhất 1 công bố do họ là tác giả chủ đạo trong vòng 10 năm qua.

Bên cạnh đó, sử dụng phương pháp phân tích lưới thống kê, nhóm nghiên cứu cũng tìm ra có khoảng 20 nhóm nghiên cứu được định hình khá rõ trong các lĩnh vực KHXH-NV hiện nay tại Việt Nam.

Số lượng này là quá ít ỏi khi chúng ta có tới gần 300 trường ĐH và hàng trăm viện nghiên cứu” – ông Vương Quân Hoàng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu xã hội liên ngành, người đứng đầu nhóm nghiên cứu nhận định trong bài phát biểu tại hội thảo.

Ông Hoàng cũng đưa ra 2 nhận định: Thứ nhất, số lượng công bố quốc tế trong các lĩnh vực KHXH-NV sẽ tăng lên trong thời gian tới, mức tăng không chỉ là 15% như dự báo mà có thể lên tới 25%. Tuy nhiên, sự dịch chuyển của các tác giả giữa các nhóm cũng tăng lên theo mức tăng này.

Theo ông Hoàng, sau những kết quả mang tính “sơ khai”, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục đánh giá và phân tích sâu cho các phân ngành hẹp hơn của KHXH-NV cũng như các ngành khác của KHTN. Dự kiến, cuối năm nay, nhóm sẽ có một báo cáo tổng quan về công bố quốc tế của KHXH-NV của Việt Nam.

Với những kết quả ban đầu, nhóm nghiên cứu đã công bố 3 bài báo quốc tế trên các ấn phẩm thuộc danh mục Scopus và một bài báo đăng tải trên tạp chí khoa học trong nước.

Lê Văn

*

**

Bức tranh sơ khởi về công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXH&NV

Lần đầu tiên có một dự án nghiên cứu đặt mục tiêu vẽ nên bức tranh toàn cảnh về sản lượng/năng suất cũng như mối liên kết giữa các nhà KHXH&NV Việt Nam có công bố quốc tế.

Mới đây, Trung tâm Nghiên cứu xã hội liên ngành ISR (thuộc trường ĐH Thành Tây, Hà Nội) đã công bố những kết quả bước đầu của dự án Mạng lưới các nhà khoa học xã hội Việt Nam – NVSS, một dự án nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu và phân tích về sản lượng/năng suất công bố quốc tế cũng như tính chất của cá nhân, nhóm nghiên cứu thuộc lĩnh vực KHXH&NV.

Trước NVSS đã có một vài nghiên cứu định lượng về công bố khoa học và nghiên cứu khoa Việt Nam nói chung, như: Nghiên cứu về công bố khoa học tại Việt Nam nhìn từ dữ liệu của Scopus trong giai đoạn 1996-2003; Nghiên cứu về hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học tại Việt Nam; Nghiên cứu về sản lượng khoa học và mối quan hệ của nó đối với nền kinh tế tri thức: phân tích về các nước ASEAN.

Từ đầu năm 2017, nhóm nghiên cứu NVSS đã tiến hành thu thập thông tin của hơn 400 nhà KHXH&NV (quốc tịch) Việt Nam, từng có bài đăng trên các ấn phẩm khoa học thuộc danh mục của Scopus trong vòng 10 năm (2008 – 2017) từ các nguồn, như: website cá nhân và tổ chức của tác giả, Google Scholar, các tạp chí nơi bài đã được đăng, và Scopus. Sau đó, nhóm tiến hành đối chiếu với thông tin của từng tác giả trên mạng để kiểm tra độ xác thực và tạo liên kết giữa các tác giả với nhau, và với tổ chức mà tác giả công tác. Những thông tin thu thập được bao gồm: (i) tuổi, giới tính, vùng miền; (ii) số năm nghiên cứu tính từ khi tốt nghiệp thạc sĩ; (iii) số lần làm tác giả chủ đạo; (iv) số lần làm tác giả cộng sự; (v) số lượng những học giả Việt Nam hợp tác cùng một tác giả; (vi) số lượng những học giả nói chung hợp tác cùng một tác giả; (vii) đơn vị trực thuộc; (viii) lĩnh vực nghiên cứu; (ix) có chức danh GS, PGS hay không…

Kết quả phân tích ban đầu cho thấy:

Về sản lượng và năng suất:

Xuất bản trên các ấn phẩm khoa học của Scopus trong lĩnh vực KHXH&NV của người Việt Nam, mà 60% số họ là người miền Bắc, bao trùm ít nhất 12 lĩnh vực lớn (kinh tế, giáo dục, lịch sử, luật, chính trị, quản trị, ngôn ngữ, văn hóa, nghệ thuật, triết học, xã hội học, tâm lý học). Người có sản lượng tuyệt đối cao nhất đạt tới 63 bài trong gần 10 năm qua, nhưng sản lượng bình quân chỉ là 3,6.

Tuổi nghề của tác giả bài báo thấp nhất là 2 năm, cao nhất là 64 năm (cao hơn nhiều so với số trung vị là 15 năm). Năng suất nghiên cứu tỷ lệ thuận với tuổi và số công trình nhà khoa học đó chủ đạo, những nhà khoa học có thâm niên từ 15 đến 25 năm thuộc nhóm có công bố quốc tế nhiều nhất. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học trên 40 tuổi có ít công bố hơn các nhà khoa học trẻ hơn. Theo nhóm nghiên cứu, có thể là do trước Đổi mới và trước khi có internet, khả năng tiếp cận môi trường học thuật quốc tế của họ thấp hơn, cũng có thể do họ đã qua thời kỳ hoàng kim trong nghiên cứu của mình và năng suất đã suy giảm.

Xét về năng suất công bố từ góc độ giới thì nam và nữ không có khác biệt lớn, số trung vị của họ đều là 2 và bách phân vị thứ 25 và 75 lần lượt là 1-3 ở nam và 1-4 ở nữ.

Vai trò trong bài báo:

75% các tác giả chưa từng có bài nghiên cứu độc lập nào trong 10 năm qua. Trong hợp tác viết bài, người có số bài giữ vai trò chủ đạo cao nhất là 60, nhưng bình quân toàn mẫu dữ liệu chỉ là 1,77. Số nhà khoa học giữ vai trò chủ đạo trong ít nhất 1 bài chiếm 56%, nhưng trong ít nhất 3 bài chỉ chiếm 19%, trong ít nhất 5 bài chỉ chiếm 9%.

Quan hệ giữa các tác giả bài báo:

Lần đầu tiên, Dự án đã áp dụng phương pháp phân tích lưới (network analysis) để nghiên cứu mối quan hệ giữa tác giả các bài báo. Theo đó, số kết nối trung bình của mỗi nhà nghiên cứu là 1,95 (nghĩa là cứ mỗi nhà khoa học xã hội Việt Nam sẽ là đồng tác giả với khoảng hai nhà khoa học xã hội Việt Nam khác), mật độ kết nối giữa các thành viên trong một nhóm (tức tỷ lệ số kết nối trên thực tế so với số kết nối có thể có) đạt 47%,  theo nhóm nghiên cứu như vậy là thấp, dẫn đến việc lan tỏa tri thức và chuyên môn bị hạn chế.

Phương pháp phân tích lưới cũng giúp nhóm nghiên cứu xác định được 20 nhóm nghiên cứu mạnh có trung bình 9,7 thành viên; công bố trung bình 4,7 bài trong 10 năm qua.

Nhóm nghiên cứu cho rằng, những gì họ làm được trong tám tháng vừa qua mới chỉ là bước khởi đầu. “Kết quả còn hết sức “sơ khởi”, chủ yếu tạo sự phấn khích cho người làm,” TS Vương Quân Hoàng, Giám đốc Trung tâm ISR, Trưởng Dự án NVSS, phát biểu tại hội thảo công bố những kết quả ban đầu của dự án sáng 7/10 tại Hà Nội. Theo ông, do mới chỉ có các kết quả phân tích kỹ thuật nên dự án chưa thể đưa ra những đề xuất hay gợi ý về mặt chính sách đối với đầu tư của nhà nước trong lĩnh vực KHXH&NV (đầu tư cho ai và như thế nào cho hiệu quả) và đây sẽ là phần công việc mà nhóm phải tiếp tục hoàn thành từ giờ đến cuối năm, cùng với  việc thu thập thêm thông tin – nhóm ước tính, hiện mới có khoảng 80% tác giả có từ 3 công bố trên các tạp chí thuộc dữ liệu Scopus trở lên có mặt trong mẫu.

TS Vương Quân Hoàng cho rằng, phương pháp nghiên cứu của nhóm có điểm nổi trội ở chỗ mang tính định lượng; giúp quan sát được kết cấu tổng thể lưới, và cấu trúc đầy đủ các nhóm hợp thành. Từ quan sát xu hướng vận hành của các nhóm có thể đưa ra những dự báo, chẳng hạn như về tốc độ tăng trưởng trong công bố của ngành KHXH&VN Việt Nam, mà theo ông sẽ đạt 25%/năm trong thời gian tới “do tốc độ trưởng thành của những người đứng đầu nhóm rất cao”. Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra nguy cơ những người có năng suất tốt đó có nhiều khả năng “bị tách bầy” và dẫn ra trường hợp một nhà khoa học “sói đầu đàn” trong nghiên cứu của NVSS mới đây đã được mời sang Úc làm việc và việc “tách bầy” của những người như vậy sẽ làm các nhóm suy yếu do các liên kết trong nhóm đang phụ thuộc nhiều vào họ.

TS Vương Quân Hoàng đặc biệt nhấn mạnh một điều mà ông cho rằng ngày nay đã trở nên phổ biến trên thế giới, đó là một nhà khoa học được coi là bắt đầu trưởng thành khi có ít nhất 3 bài báo được công bố: bài đầu tiên giống như lời chào ra mắt, bài thứ 2 để khẳng định “tôi công bố không phải do ăn may”; bài thứ 3 hàm ý “tôi vẫn có mặt ở đây”.

Thời gian gần đây, ở Việt Nam, công bố quốc tế bắt đầu được coi như một trong những thước đo quan trọng nhất về năng lực và chất lượng nghiên cứu của các nhà KHXH&NV khi xét chức danh giáo sư/phó giáo sư hay tiêu chuẩn nghiệm thu đề tài NAFOSTED…, bên cạnh các tiêu chí về sách/chương sách và chuyên khảo.

Nhóm nghiên cứu cho biết, sở dĩ họ tìm kiếm dữ liệu Scopus thay vì Web of Science bởi các lý do sau đây: 1/ số lượng ấn phẩm khoa học trong dữ liệu Scopus nhiều gần gấp đôi Web of Science (22.600 so với 11.4000); 2/ dữ liệu của Scopus được các chính phủ, trong đó có chính phủ Mỹ, Nga, Tây Ban Nha, sử dụng rộng rãi trong việc xếp hạng, đánh giá khoa học; 3/ Được Quỹ Nafosted sử dụng từ năm 2008; 4/ Độ minh bạch cao; và 5/ Miễn phí. Thông tin thu thập được đều qua bốn nấc kiểm tra: Giữa các nguồn tin; Giữa các trường thông tin; Giữa các thành viên; Kiểm tra ngẫu nhiên và định kỳ.

Dự án NVSS đã dần công bố 04 nhóm kết quả trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo (trong danh mục Hội đồng chức danh GS nhà nước công nhận và tính điểm), European Science Editing (Scopus), F1000Research (Scopus) và Publications (Scopus/Web of Science ESCI):

http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/91-8323-vai-quan-sat-ban-dau-tu-du-lieu-scopus-ve-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-khxhnv-cua-viet-nam.html
http://europeanscienceediting.eu/articles/gender-age-research-experience-leading-role-and-academic-productivity-of-vietnamese-researchers-in-the-social-sciences-and-humanities-exploring-a-2008-2017-scopus-dataset/

https://f1000research.com/articles/6-1559/v1

http://www.mdpi.com/2304-6775/5/4/24

Thái Thanh

Advertisements

Tagged as: , ,

2 phản hồi »

  1. Khoa học Xã hội và Nhân văn là một môn học khó ăn, khó nuốt. Khó không phải vì nó khó, mà khó vì là, không như các môn khoa học tự nhiên khác, nó bị định hướng một chiều… Cho nên, có lẽ các nhà nghiên cứu chưa muốn trình luận án của mình ra?

    Số lượt thích

  2. Không làm khoa học thì không gọi là nhà khoa học. Không nghiên cứu và giảng dạy cũng không gọi là giáo sư. Mọi thứ phải chính danh.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: