Giảm nhưng vẫn quá tải – Tuệ Nguyễn, Lê Đăng Ngọc

Bài 1: Giảm nhưng vẫn quá tải 
Sau 2 năm Bộ GD-ĐT thực hiện chủ trương giảm tải, ngoài một số kiến thức thừa hoặc sai sót đã cắt bỏ, học sinh hầu như không thấy việc học nhẹ đi chút nào.

 Đã có nhiều lần giảm tải ở bậc tiểu học nhưng chương trình học ở bậc học này vẫn luôn quá tải đối với học sinh - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Đã có nhiều lần giảm tải ở bậc tiểu học nhưng chương trình học ở bậc học này vẫn luôn quá tải đối với học sinh – Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Phần đông học sinh (HS) cho biết không được hưởng lợi gì từ giảm tải. Có không ít HS tỏ ra rất ngạc nhiên, thậm chí thốt lên: “Đã có quy định giảm tải rồi ạ?” khi phóng viên hỏi về hiệu quả của giảm tải. Giải thích cho sự ngạc nhiên của mình, có HS nói thấy vẫn học hết các bài, có HS bảo càng ngày càng học nặng hơn chứ không thấy giảm được chút nào.
K.H, HS lớp 12A2 Trường THPT Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội, cho biết học ban A, dùng sách giáo khoa nâng cao nên hầu như không được bỏ phần nào. Còn H.T, lớp 12D1 Trường THPT Thăng Long, nói trên lớp có một số bài hoặc một số mục thầy cô bỏ không dạy và giải thích là do yêu cầu giảm tải nhưng không HS nào để ý.
Giảm tải không chỉ vô tác dụng với HS lớp trên mà nhiều phụ huynh ở các lớp dưới cũng phàn nàn con họ chẳng được hưởng lợi gì từ giảm tải. “Con bé nhà tôi mới học lớp 2, học 2 buổi/ngày vậy mà nhiều hôm hai mẹ con trằn ra đến 10-11 giờ đêm để làm bài tập. Mà sao bài tập ra cho trẻ con lại khó thế! Có hôm nó hỏi tôi tả cảnh hoàng hôn trên biển thế nào? Cuối cùng chị nó phải tìm trên internet rồi đọc cho nó chép”, chị Trà, phụ huynh Trường tiểu học Lô-mô-nô-xốp (Hà Nội), than thở.
Phụ huynh có con học ở một trường tiểu học Q.Hai Bà Trưng (Hà Nội) chia sẻ: “Không ít bài tập lớp 2 của con mà cả bố cả mẹ đều hợp lực, vò đầu bứt tai nhưng vẫn không tìm ra lời giải. Lục tung sách giáo khoa thì không có dạng bài nào tương tự, hóa ra toàn những bài nâng cao cô giáo tự đưa vào. Ví dụ, có hôm bố mẹ phải mang cân và kẹo ra cân để tìm cách giải bài toán: có 8 viên bi, trong đó có một viên bi nhẹ hơn. Làm thế nào để chỉ hai lần cân mà tìm ra viên bi đó?”. Một phụ huynh Trường tiểu học Thanh Xuân Trung phàn nàn: “Cô giáo tự “chế biến” cả một cuốn bài tập nâng cao để HS làm vào giờ tự học ở lớp cũng như làm ở nhà. Kiến thức cơ bản chưa nắm vững mà cứ phải đánh vật với bài nâng cao, kiểu như chưa biết đi vững đã bắt chạy vậy”.
Từ khi thực hiện chương trình sách giáo khoa năm 2002 đến nay, bậc tiểu học đã có vài lần giảm tải. Sau 3 năm thay sách, Bộ ra yêu cầu cắt 15% kiến thức của chương trình tiểu học; sau đó là ban hành tài liệu hướng dẫn dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của từng môn học, từng khối lớp. Đây cũng được xem là một lần giảm tải theo kiểu “cầm tay chỉ việc cho giáo viên”. Thế nhưng sau 3 lần giảm tải lớn, điệp khúc quá tải vẫn luôn là nỗi ám ảnh của bất cứ gia đình nào có con cháu là học sinh tiểu học. Trong khi đó theo tìm hiểu của phóng viên, lãnh đạo nhiều trường ở Hà Nội còn quan niệm giảm tải chỉ có ý nghĩa với HS… miền núi, còn HS thành phố cần phải bổ sung nâng cao chứ không cần giảm tải!
Bài 2: Lúng túng cho cả thầy lẫn trò 
Đưa ra chủ trương giảm tải giữa lúc dư luận bức xúc về chương trình dạy và học quá nặng dường như chỉ là biện pháp mang tính trấn an nhiều hơn khả thi.
Kết cấu chương trình của môn học nào cũng bất hợp lý khiến việc giảm tải gây nhiều trở ngại - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Kết cấu chương trình của môn học nào cũng bất hợp lý khiến việc giảm tải gây nhiều trở ngại – Ảnh: Đào Ngọc Thạch

 Cho phép giảm nhưng giáo viên không dám
Nhiều giáo viên cho rằng việc bỏ một số bài chỉ làm nhẹ môn học nhưng lại phá vỡ tính hệ thống của kiến thức.
Ông Vũ Khắc Ngọc, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam, trực tiếp dạy ôn thi môn hóa cho học sinh lớp 12 nên có những nghiên cứu rất kỹ về tài liệu giảm tải. Ông Ngọc khẳng định: “Các nội dung giảm tải của Bộ, về mặt cơ học có vẻ nhiều nhưng trên thực tế phần lớn sự giảm tải đó là do trùng lặp. Điều ấy không có nghĩa là kiến thức đó sẽ bị cắt bỏ hoàn toàn và không xuất hiện trong đề thi”. Ông lấy ví dụ: “Hướng dẫn giảm tải bỏ bài Nhận biết các hợp chất vô cơ và Nhận biết các chất khí nhưng các chất đó đều đã nêu ở những bài học trước. Hướng dẫn có nói bỏ bài Đồng và hợp chất nhưng liệu có mấy người ra đề thi ĐH “dám” ra một đề thi mà hoàn toàn không có hợp chất nào của đồng?”.
Hướng dẫn giảm tải môn toán bỏ phần tìm điểm uốn (giải tích 12), nhưng giáo viên lo lắng nếu không dạy thì học sinh không thể vẽ đồ thị hàm bậc ba có đạo hàm vô nghiệm, nên bắt buộc giáo viên phải dạy. Trong khi nếu giảm tải nội dung tìm điểm uốn thì phải giảm tải khảo sát hàm bậc ba có đạo hàm vô nghiệm, nhưng sách giáo khoa không hề giảm tải phần này. Ở chương 2 của Hình học 10, tài liệu giảm tải đề nghị không dạy bài Xoắn 1 mà chỉ giới thiệu bảng lượng giác của các góc đặc biệt, nên học sinh không tính được hàm số lượng giác của các góc trên 900 ở các phần sau đó.

Xa rời thực tiễn
Theo nhiều giáo viên, chương trình quá tải có thể do các tác giả biên soạn chương trình – SGK không hình dung được công việc tổng thể mà một học sinh phổ thông phải làm. Chẳng hạn môn học nào Bộ cũng nhấn mạnh yêu cầu giáo viên phải dạy cho học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức bằng cách tự đọc tự học, nhưng lại không lường được học sinh có bao nhiêu thời gian cho việc đó. “Ví dụ, nếu các em học 2 tiết hóa/tuần thì thời gian tự học môn này của các em lẽ ra cũng chỉ nên gói gọn trong vòng 90 phút (tương đương với thời gian học trên lớp). Tuy nhiên, trên thực tế, với thiết kế của chương trình, yêu cầu học sinh tự đọc, tự tìm hiểu quá nhiều nên các em cần tới 180 phút chuẩn bị. Vậy thời gian đâu để các em còn học cả chục môn khác nữa”, một giáo viên Trường THPT Nguyễn Gia Thiều bức xúc.

Cấu trúc chương trình không hợp lý
Theo nhiều giáo viên, do những bất hợp lý về kết cấu chương trình cũng như sự mơ hồ trong xác định mục tiêu dạy học, nên giảm tải như hiện nay không ăn nhằm gì.
Môn vật lý là một ví dụ cho thấy có vấn đề trong thiết kế chương trình. Nội dung chương trình lớp 6, 7 đang khá nhẹ nhàng thì lên lớp 8 lại rất nặng, bài tập nhiều và thêm những bài lạ. Giáo viên lớp 8 chỉ có 1 tiết/tuần lên lớp mà toàn dạy bài mới, không có một tiết bài tập nào. Học kỳ 1 chỉ có một lần kiểm tra bài một tiết mà lại nằm ngay tiết thứ 7 – khi học sinh còn chưa hết sốc do kiến thức quá khó so với lớp 6, 7. “Chương trình thiết kế đồng tâm, nhưng lại tạo mấy vòng tròn khác nhau. Kiểu như lớp 6 – 8 – 10 xoáy một vòng, lớp 7 – 9 – 11 cũng đồng tâm, lớp 12 lại khác. Thành thử cứ cách một năm học sinh mới được quay lại cái vòng cũ nên các em quên hết, giáo viên phải mất thêm thời gian khôi phục kiến thức cho học sinh. Lẽ ra học phần cơ thì nên năm nào cũng có một chút phần này, học nhiệt thì năm nào cũng phải có một chút nhiệt. Đừng để lớp 6 học, lớp 7 bỏ rồi lớp 8 lại học như hiện nay”, một giáo viên Trường THCS Thăng Long (Hà Nội) góp ý.
Ở bậc THPT, cấu trúc chương trình không hợp lý trong môn ngữ văn khiến học sinh không thể tự hệ thống những nội dung đã được giáo viên hướng dẫn. Chẳng hạn trong chương trình ngữ văn lớp 11, sau bài khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, học sinh phải học ngay tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Sau đó học hết văn học từ 1930-1945 với một loạt tác giả như Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao. Đến học kỳ 2 mới quay ngược lại học về tác giả Phan Bội Châu. Trên thực tế tác giả Phan Bội Châu nằm ở giai đoạn từ đầu thế kỷ 20 đến 1930, Thạch Lam nằm ở giai đoạn thứ hai từ 1930-1945. Lẽ ra học sinh phải học Thạch Lam sau khi học Phan Bội Châu. Vì thế, để học sinh nắm rõ, sau khi dạy xong cả giai đoạn, giáo viên phải xây dựng và hệ thống lại kiến thức. Điều này cho thấy mục tiêu của những người biên soạn sách là hướng học sinh làm việc theo kiểu tự học gần như không thực hiện được.

“Một tiết chỉ 35 phút, vậy mà có những bài tập làm văn giáo viên phải ghi lên bảng chi chít mấy vấn đề liền. Với môn toán, học kỳ 1 học cộng trừ nhớ các số có hai chữ số xong thì quay sang nhân chia. Học sinh bắt đầu hiểu được nhân chia thì quay lại cộng trừ có nhớ 3 chữ số. Đang cộng trừ thì nhân chia. Đang nhân chia hơi thạo thạo lại quay về cộng trừ. Cứ loạn cả lên!”, giáo viên dạy lớp 2 một trường tiểu học thuộc Q.Hoàn Kiếm, Hà Nội nhận xét.

Qua khảo sát thực tiễn về chương trình – sách giáo khoa phổ thông, ông Trịnh Ngọc Thạch, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, cho biết: “Giải pháp tình thế của Bộ GD-ĐT nhằm giảm tải chương trình thông qua việc bỏ bớt một số mục, bài ảnh hưởng tới tính thống nhất, chặt chẽ, logic của sách giáo khoa. Điều này gây ra sự lúng túng cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình dạy, học”.
Bài 3: Chưa đồng bộ với đề thi 
Hình thức thi cử hiện hành và cách dạy của giáo viên cũng là nguyên nhân khiến cho việc giảm tải chương trình, sách giáo khoa không mang lại hiệu quả như mong muốn.
Giảm tải thừa nếu đề thi vẫn đánh đố
Một nguyên nhân quan trọng khiến giáo viên, phụ huynh và bản thân người học không mấy hào hứng với việc giảm tải vì quan ngại với cách thức thi cử như hiện nay. Ông Dương Đức Thắng, Tổ trưởng Tổ vật lý Trường THPT Chu Văn An (Hà Nội), phân tích: “Nếu dạy học hướng tới mục tiêu giúp học sinh thi ĐH có kết quả tốt thì nội dung sách giáo khoa (SGK) hiện nay chưa đủ, kể cả sách nâng cao. Sự chênh lệch về mức độ yêu cầu giữa kỳ thi tốt nghiệp THPT với tuyển sinh ĐH hiện nay là quá lớn”. Ông Thắng nêu ví dụ: “Học trò của tôi, những em thi tốt nghiệp THPT đạt 9,75 điểm nhưng thi ĐH chỉ đạt 5 – 5,5 điểm, thậm chí có em chỉ đạt 4 điểm”.
Cùng quan điểm, GS Hà Huy Bằng, Phó chủ nhiệm Khoa Vật lý Trường ĐH Khoa học tự nhiên Hà Nội, cũng nhấn mạnh về việc giảm tải chương trình không đồng bộ với vấn đề thi cử, đặc biệt là thi tuyển sinh ĐH. GS Bằng cho biết: “Bộ GD-ĐT bảo không ra khó, không ra lạ. Thế nhưng thực sự toàn bộ đề thi ĐH những năm gần đây, ví dụ môn toán, là khó. Một minh chứng rất rõ là điểm sàn chỉ 13 mà các trường còn tuyển chật vật. Giảm tải nhưng đề thi vẫn khó thế thì giảm tải là thừa”. GS Bằng đề xuất: “Bộ phải làm đồng bộ, triệt để. Cần rà soát lại một lần nữa chương trình nội dung; đồng thời giảm tải phải song hành với việc ra đề thi không khó, thông dụng hơn”.

Thi cử còn nặng nề, kiến thức đánh đố trong các kỳ thi khiến việc giảm tải chương trình không có ý nghĩa với học sinh - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Thi cử còn nặng nề, kiến thức đánh đố trong các kỳ thi khiến việc giảm tải chương trình không có ý nghĩa với học sinh – Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Người thầy chưa chủ động?
Nhiều người cho rằng rằng sự quá tải của chương trình không lệ thuộc, tỷ lệ thuận với độ dày mỏng của SGK. Nếu giáo viên giỏi, HS có điều kiện học tập, SGK có thể dày, thậm chí có nhiều bộ SGK khác nhau, việc dạy – học vẫn có thể nhẹ nhàng, thoải mái. Ngược lại, nếu giáo viên yếu, HS không có điều kiện học tốt, chương trình không tốt thì có khi SGK mỏng, HS vẫn kêu nặng. Điều này có nghĩa là giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh, gia giảm chương trình học để tạo sự thích thú cho các em và giúp họ lĩnh hội trọn vẹn kiến thức.
Khi bắt đầu công bố hướng dẫn giảm tải, trao đổi với Báo Thanh Niên, ông Nguyễn Vinh Hiển, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, cũng nói: “Để việc giảm tải chương trình, SGK có hiệu quả, giáo viên đóng vai trò rất quan trọng. Điều lý tưởng là giáo viên phải hiểu được từng đối tượng HS để điều chỉnh phương pháp dạy học, bởi quá tải không chỉ do kiến thức khó mà còn do kiến thức thừa, hoặc dưới năng lực của HS”.
Về vấn đề này, tiến sĩ Ngô Thị Tuyên, Phó giám đốc Trung tâm công nghệ giáo dục Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, cho rằng giáo viên là yếu tố quyết định nhưng bản thân giáo viên không thể xoay chuyển chương trình. “Chương trình là điều mặc định, giáo viên phải theo nó nhưng không thể thay đổi được nó vì họ bị những ràng buộc do các quy định từ trên xuống. Chương trình tốt thì bản thân nó có năng lực đào tạo giáo viên tốt”, bà Tuyên giải thích.
Tuệ Nguyễn – Lê Đăng Ngọc
Nguồn: Thanh Niên – Giảm nhưng vẫn quá tải; Lúng túng cho cả thầy lẫn trò; Chưa đồng bộ với đề thi
(HTN: Bản đăng lại trên Học Thế Nào là bản đã lược bớt một số chi tiết so với các bài viết đăng trên báo Thanh Niên)

>