Bàn tròn “Đổi mới Sách giáo khoa” – Ngô Bảo Châu, Học Thế Nào

 

ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA: HỎI VÀ ĐÁP

 
1.Tại sao 10 năm phải đổi sách giáo khoa một lần?
Không có lập luận thực sự thuyết phục cho việc đổi sách giáo khoa định kỳ 10 năm một lần. Tại sao phải đổi sách giáo khoa theo định kỳ? Nếu định kỳ thì tại sao lại là 10 năm, chứ không phải 5 năm, 20 năm hay 50 năm. Việc cần làm định kỳ là đánh giá chất lượng sách giáo khoa thông qua thực tế sử dụng.
 
2. Lấy gì làm luận cứ cho việc thay đổi sách giáo khoa?
Để làm lại sách giáo khoa, cần phải chỉ ra những nội dung nào trong sách giáo hiện hành là lạc hậu, hay thiếu chính xác, những phương pháp tiếp cận nào là không phù hợp. Để thay đổi một cái gì đó, cần phải phân tích, đánh giá chính cái mà mình muốn thay đổi. Luận cứ cho việc đổi mới sách giáo khoa chỉ có thể là kết quả của việc đánh giá chất lượng sách giáo khoa thông qua thực tế sử dụng. Kết quả này có thể cho thấy sách giáo khoa tốt rồi, không cần thay đổi gì cả, hoặc sách giáo khoa cơ bản là tốt, nhưng cần sửa sai, cập nhật ở một số chỗ nhưng không cần thay đổi cấu trúc chung, hoặc là sách giáo khoa hiện hành hỏng cơ bản, phải làm lại từ đầu.
 
3. Ai là người rà soát đánh giá chất lượng sách giáo khoa? Ai là người kiến nghị việc thay đổi sách giáo khoa?
Quốc hội, chính phủ là cơ quan quyết định việc thay đổi sách giáo khoa, nhưng những cơ quan này không thể tự kiến nghị việc này. Đánh giá định kỳ chất lượng sách giáo khoa và kiến nghị thay đổi nếu cần thiết cũng không thể giao cho những người làm sách giáo khoa, như Nhà xuất bản hay Viện khoa học giáo dục, vì họ có quyền lợi liên quan. Việc giám sát và kiến nghi thay đổi sách giáo khoa này cần được uỷ thác cho một Uỷ ban giáo dục quốc gia độc lập với các cơ quan hành chính sự nghiệp của Bộ giáo dục và đào tạo.
 
4. Nếu làm lại sách giáo khoa, thì làm sách giáo khoa trước, hay làm chương trình trước?
Trên lý thuyết thì phải có chương trình rồi mới viết sách giáo khoa, không ai xây nhà xong mới mời kiến trúc sư vẽ thiết kế. Trên thực tế, xây dựng chương trình trước khi viết sách là một việc khó, không có ai được đào tạo và có kinh nghiệm để làm tổng công trình sư cho việc xây dựng chương trình học và sách giáo khoa. Trong thực tế, chúng ta viết sách giáo khoa xong rồi mới soạn chương trình.
Những người viết sách đều biết, ít khi viết mục lục trước khi viết sách. Những người đã từng viết sách đều biết, phải bắt đầu soạn một mục lục nháp, viết một vài chương sẽ thấy mục lục không ổn, sửa lại mục lục rồi lại viết tiếp…
Việc làm sách giáo khoa phức tạp hơn nhiều vì cần có sự phối hợp của nhiều người. Phối hợp như thế nào cần được thiết kế trước. Theo thông lệ quốc tế thì cần có hai nhóm độc lập, một nhóm làm chương trình, một nhóm viết sách, nhóm làm chương trình thẩm đinh công việc của nhóm viết sách, nhóm viết sách phản biện lại nhóm làm chương trình trên cơ sở những bất cập gặp phải trong quá trình viết sách.
 
5. Tại sao không dịch nguyên sách giáo khoa nước ngoài?
Sách giáo khoa nước ngoài rất khác nhau, ở mỗi nước, các bộ sách giáo khoa thường cũng rất khác nhau. Không có luận cứ vững chắc cho việc chọn ra một bộ nào đó, coi nó là tốt nhất, thích hợp nhất với Việt Nam rồi dịch nguyên xi. Khó có thể làm khác với cách chúng ta vẫn làm từ trước đến nay là chọn ra một số bộ sách giáo khoa tốt của nước ngoài, “tích cực” tham khảo để viết ra sách cho mình.
 
6. Cần thay đổi gì nhất trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành?
Ngoại ngữ: Chất lượng học tiếng Anh là yếu tố bất bình đẳng căn bản trong giáo dục phổ thông ở Việt Nam. Trẻ xuất thân từ các gia đình khá giả được học tiếng Anh tốt hơn nhiều.
Nhân văn: Nếu như sách giáo khoa về toán và khoa học tự nhiên của Việt nam không khác đáng kể so với sách giáo khoa nước ngoài, sách giáo khoa và chương trình về xã hội và nhân văn khác nhiều cả về nội dung và phương pháp. Hiểu biết và khả năng của trẻ Việt nam về toán và khoa học cũng không khác nhiều so với trẻ em các nước khác, nhưng hiểu biết về nhân văn và khả năng ứng xử xã hội thì lại có một khoảng cách rất lớn. Vì vây, cần có những thay đổi cơ bản trong chương trình và sách giáo khoa nhân văn, cả về nội dung và phương pháp.
Sức khoẻ, lối sống, đạo đức: Xã hội thay đổi nhanh, nhiều gia đình mất phương hướng, nhà trường phải đảm nhiệm một phần vai trò giáo dục của gia đình: trẻ em cần được học những kỹ năng cơ bản để giữ gìn sức khoẻ, những nguyên tắc cụ thể để sống chan hoà với cộng đồng.
Kỹ thuật: Cần mở rộng việc dạy lập trình từ rất sớm.
Mời các bạn tiếp tục đặt câu hỏi, thảo luận để cùng tìm ra câu trả lời.
Ngô Bảo Châu
***
HTN: Có nhiều ý kiến đóng góp rất hay, chúng tôi sẽ tổng hợp và sử dụng sao cho có ích nhất.

  • Cháu có một câu hỏi là một nền giáo dục tốt có nhất thiết phải có một bộ sách giáo khoa chung không? (Có thể cụ thể hơn trong trường hợp của Việt Nam). Cháu biết hiện tại cả nước sử dụng chung một bộ sách giáo khoa từ tiểu học đến THPT, nhưng liệu không có SGK chung có ưu điểm gì hơn không?

    • Đối tượng giáo dục ở các địa phương rất khác nhau. Tôi nghĩ rằng nếu có nhiều bộ sách giáo khoa, từng địa phương, từng trường học có thể chọn bộ sách phù hợp với hoàn cảnh của mình nhất.

    • Em là sinh viên, đã từng được học theo bộ sách giáo khoa chung ở trường làng. Sau này, khi đi gia sư cho các em ở thành phố thì thấy, nhiều trường ở thành phố, tuy cũng sử dụng cùng bộ sách như mình ngày trước nhưng chương trình học lại khác nhiều, thường là được mở rộng ra, và hầu hết học sinh đều sử dụng những tài liệu riêng (thường gọi là đề cương) do các giáo viên tự soạn.
      Nói như thế là để chỉ ra rằng thực tế SGK hiện không quá ràng buộc ở nhiều trường, đặc biệt là ở các thành phố lớn.
      Nhưng em vẫn đồng ý việc sử dụng SGK chung bởi cần có những chuẩn kiến thức để đánh giá.

  • Tôi hoàn toàn đồng ý về việc cần thiết phải đánh giá nghiêm túc, khách quan, định kỳ về chất lượng sách giáo khoa hiện hành, nếu không khó có thể đổi mới đúng phương hướng được!

      • Tôi thấy một việc quan trọng mà chúng ta chưa làm được là lấy ý kiến của giáo viên và học sinh về SGK. Vì thiếu đánh giá đầy đủ, khoa học, nên khi phải bảo vệ việc thay đổi SGK lập luận vướng lắm, cứ như gà mắc tóc. Lại phải bám vào nghị quyết …

        • Riêng về môn Toán một số nội dung quá hàn lâm có nhất thiết phải đưa nó vào phổ thông không khi mà hs không lĩnh hội được gì nhiều

        • Thưa GS, Người ta có lấy ý kiến của GV và HS về SGK đấy. Nhưng ý kiến ấy có đúng không, người trả lời có thẳng thắn trung thực không thì lại là chuyện khác. Người ta còn làm vô khối cái nghiên cứu khoa học về góp ý cho SGK. Ở các tỉnh, các trường CĐSP hay ĐHSP (nếu có) đều có các nghiên cứu, các phòng GD đều có các báo cáo dạng ấy. Nhưng có thật là nghiên cứu không? có đáng tin cậy không?
          (Bản thân tôi đã đọc kha khá những cái ấy, dự mấy cái hội nghị nghiên cứu khoa học có mấy cái ấy.)

  • Xin có mấy ý kiến về việc đổi mới SGK:
    1. Cách đặt vấn đề làm mới SGK của Bộ bộc lộ mấy vấn đề:
    – Thừa nhận thực tế là SGK hiện nay rất không ổn nên phải làm lại một cách cơ bản.
    – Phản ánh một tư duy lúc nào cũng muốn cách mạng chứ không muốn một sự tiến hóa vững bền
    – Giới hạn trong một dự án trong khi đây là công việc cần thực hiện thường xuyên, liên tục. Cách triển khai có vẻ giống kiểu vẽ dự án để lấy kinh phí
    2. Việc đổi mới hay nói đúng hơn là cập nhật SGK nên là một việc thường xuyên, định kỳ, tùy thuộc vào nguồn lực.
    3. Việc đổi mới nên từ quy trình làm sách, không nên chỉ vào nội dung. Từ quy trình tốt sẽ ra sản phẩm tốt.

  • Các câu hỏi này xoay quanh giả định “vì sao phải làm?” trong khi vấn đề nên bàn là “làm như thế nào?”. Nếu đặt câu hỏi không đúng trọng tâm sẽ hút cuộc tranh luận vào trật chỗ. Vấn đề là mọi người đều đồng ý giáo dục Việt Nam đang không làm tròn nhiệm vụ chuẩn bị cho giới trẻ vào đời, nhất là cuộc đời nhiều biến động của thế kỷ 21 thì làm sao để thay đổi tình trạng này – từ đó mới thấy thay đổi chương trình, sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy là yêu cầu bức thiết (không còn “vì sao phải làm”, chỉ còn “làm như thế nào”).
    Trong các câu hỏi “làm như thế nào” thì câu hỏi quan trọng nhất là “làm sao thuyết phục giới có thẩm quyền chấp nhận cách làm như thế nào tốt nhất sau khi đã có sự tranh luận, rồi đồng thuận và xác định được con đường phải làm trong điều kiện của Việt Nam”. Không trả lời được câu hỏi này thì mọi nỗ lực đều vô nghĩa.

    • Tôi không đồng ý với nhận định bi quan của bạn về “nỗ lực vô nghĩa”. Mọi chính quyền đều e ngại công luận, nhất là khi công luận được phát biểu một cách rành rọt, có lý lẽ.

      • Khi bình luận về ý kiến này của NVP (dưới đây), ý tôi là chúng ta nên kiến nghị các nhà đổi mới giáo dục nước ta giải quyết các vấn đề theo đúng trình tự logic, “nhân-quả” của chúng, thay vì nhảy “bụp” ngay vào việc đổi mới sách giáo khoa không khi còn chưa làm rõ và đạt được sự đồng thuận các vấn đề cốt lõi, các mục tiêu xuyên suốt của lần đổi mới này.
        Dù sao thì diễn đàn này rất bổ ích cho những ai quan tâm, không hề vô ích, anh Châu ạ!

    • làm như thế nào: tái cấu trúc hệ thống giáo dục.có sự liên thông phù hợp để giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Khi chưa nhìn rõ thế nào là 1 hệ thống tốt và phù hợp với vn thì mọi việc lại mất thời gian thôi

    • Tôi không đồng ý. Trả lời cho câu hỏi “vì sao phải làm” là rất quan trọng, bởi nó sẽ chỉ ra các sai lầm, thiếu sót hiện nay. Từ đó mới dẫn chúng ta đến việc tìm những phương pháp hợp lý “làm như thế nào”.

  • Dư luận đang quan tâm đến việc đổi mới SGK nhưng chủ yếu là do lượng tiền không lồ mà Bộ GDDT đề xuất. Cũng là cái tốt vì nếu kinh phí ít hơn thì cũng không đánh thức được sự ngủ quên của dư luận về chất lượng SGK nói riêng và đào tạo nói chung. Theo tôi, có lẽ nên đặt tiền xuống sau việc làm sao để có SGK tốt. Nếu đã có những bàn thảo thấu đáo và cách đặt vấn đề hợp lý thì có đắt hơn thế dân cũng ủng hộ. Nên nhớ đồ tốt thì không rẻ. Đằng nào dân mình cũng đã chấp nhận bỏ phần lớn thu nhập gia đình cho sự học hành của con cái rồi!

    • Muốn nâng cao chất lượng giáo dục có lẽ nên bắt đầu từ việc chọn, đào tạo và tuyển dụng giáo viên hơn là cứ lo đổi mới sgk

      • chọn và tuyển gv là do các địa phương làm. đối với gv nên là xây dựng các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ

        • Đúng rồi đấy ạ: phải có chính sách đào tạo, bồi dướng, sử dụng và đãi ngộ thì mới có giao viên tốt được ạ 🙂
          HTN: Đề nghị không đưa ra các ý kiến chung chung, kiểu gì cũng đúng, kiểu tập thể dục thì tốt cho sức khoẻ.

      • Cụ thể là nên quy hoạch lại các trường đại học sư phạm trọng điểm. Dẹp bỏ các trường kém chất lượng để nâng cao chất lượng. Sinh viên sư phạm ra trường đầy không xin được việc làm mà trường sư phạm lại tràn lan.
        HTN: Anh ví dụ một vài trường kém chất lượng nhé.

  • Thưa giáo sư có cách nào để giữ tính ổn định của các bộ sách giáo khoa. Vì đã có quá nhiều lần thay đổi sgk quá tốn kém mà chất lượng thì vẫn không như mong đợi

  • Ở câu hỏi số 6, em đồng ý với ý kiến của anh rằng : chất lượng học tiếng Anh tốt cho tất cả các em học sinh là rất cần thiết, vì với sự phổ biến thông tin trên internet hiện nay, các em cần có tiếng Anh đủ để tìm, đọc và hiểu những nguồn thông tin sẵn có trên mạng phục vụ cho việc học của các em. Em không đồng ý với ý kiến của anh về những thay đổi cơ bản trong chương trình sách giáo khoa nhân văn về nội dung, vì theo em khi học sinh được cởi mở tiếp cận với thế giới qua internet hoặc qua thực tế, các ban ý cần thiết được trang bị những giá trị nhân văn cơ bản của dân tộc đúc kết trong các tác phẩm văn học Việt Nam, và trong các bài học lịch sử, để tự mình suy xét, đánh giá, so sánh, đối chiếu rút ra những hành động ứng xử cần thiết cho bản thân. Vì vậy, theo em, nội dung chương trình nhân văn là các tác phẩm văn học Việt Nam, nội dung giảng dạy về lịch sử dân tộc không cần thay đổi, với ý nghĩa của nó là học để hiểu lịch sử để rút ra những giá trị nhân văn nào cần giữ gìn ví dụ như đoàn kết chống giặc ngoại xâm, tình yêu gia đình, lá lành đùm lá rách. Nhưng đúng như anh nói điều cần thay đổi là phương pháp giáo viên hướng dẫn và các em học sinh tiếp cận, phân tích, thảo luận, trao đổi để thấm những giá trị nhân văn đó . Thêm nữa, em cũng đồng ý rằng nội dung học chương tình nhân văn cũng cần thay đối theo hướng để các em có khả năng ứng xử xã hội, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh hội nhập thế giới, các em sẽ phải lao vào cuộc mưu sinh để kiếm tiền nuôi bản thân và gia đình, xã hội khi đó lại đầy những thủ đoạn, mưu mô, tranh giành, về mặt này, em thấy rất nhiều các tác phẩm văn học nước ngoài sẽ mang đến cho các em nhiều hiểu biết để các em khỏi bỡ ngỡ khi lớn lên. Giáo dục cần phải có nhiệm vụ trang bị cho các em có hiểu biết nhân văn toàn diện như trên. Em rất vui được tham gia cuộc thảo luận này.

    • Đúng tôi không có cùng quan niệm với bạn về nhân văn. Tôi cũng nhận ra rằng quan niệm về nhân văn của mình tương đối khác với đa số. Tôi thấy rằng nếu xét đúng nghĩa của từ nhân văn thì đó là tình yêu con người, con người nói chung, chứ không phải người trong gia đình mình, trong dân tộc mình. Bên cạnh việc dạy cho trẻ những gì tốt đẹp trong truyền thống dân tộc để trẻ biết tự hào về đất nước, về dân tộc của mình, tôi thấy trẻ cần học cả những gì mà thân phận và phẩm giá của con người nói chung.

  • Trong Câu hỏi 6, khoa học nhân văn có thể bao gồm những môn, như Lịch sử, Địa lý, Văn chương, Văn học sử, Government (Công Dân), vv.
    Cập nhật những môn trong Lãnh vực KH Nhân Văn là khó khăn hơn cả. Lịch sử/ Địa lý cần phải đúng sự thật, không thiên vị. Văn chương cần phải thoáng, tức là cần tự do trong tư duy và tưởng tượng. Văn học sử cần bao gồm nhiều thành phần trong xã hội. Môn Government dạy về tổ chức chính quyền, từ trung ương về xã ấp. Xem thế thì Chính phủ đã làm việc hết bổn phận và trách nhiệm của mình chưa? vv.
    Tóm lại, SGK cho các môn trên sẽ tốn tiền nhất, mà cơ may thành công lại thấp. Bộ phải làm sao để vượt qua những khó khăn này?

  • Xin được trao đổi mấy vấn đề liên quan đến câu hỏi số 4 và số 6 như sau:
    Câu số 4: Về cơ bản tôi đồng ý với quan điểm của GS Ngô Bảo Châu. Chỉ xin nhấn mạnh vấn dề thế này:
    – Chúng ta cần minh định rõ ràng hai vấn đề “đổi mới chương trình khung trong sách giáo khoa phổ thông” với vấn đề “cụ thể hóa cái khung chương trình” ấy tức là khâu biên soạn và viết sách. Trong hai khâu này thì khâu “đổi mới khung chương trình” là khâu quyết định và quan trọng nhất. Bởi lẽ, phải làm sao xây dựng được cái khung chương trình sách giáo khoa phổ thông theo tinh thần đổi mới nhằm cụ thể hóa cái mục tiêu giáo dục chung của đề án “đổi mới căn bản toàn diện giáo dục” đặt ra là cực kỳ khó. Và càng khó hơn nữa là phải làm sao đảm bảo tuyệt đối mục tiêu “định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”.
    Nhận thức rõ vấn đề này sẽ thấy khâu viết sách giáo khoa mới trên cơ sở chương trình khung đã thống nhất thực ra không tốn nhiều công sức, thời gian và tiền bạc. Và nhất là nếu Bộ mạnh dạng xã hội hóa vấn đề trên nhằm huy động cũng như tạo điều kiện cho mọi tổ chức cá nhân tham gia vào việc viết sách sẽ tiết kiệm rất nhiều kinh phí cho Nhà nước.
    Riêng với trường hợp môn Ngữ văn, cần quan tâm xem xét kinh phí cho việc chi trả tiền nhuận bút, tác quyền cho những nhà văn, nhà thơ, nhà báo… (hay gia đình họ – trường hợp nhà văn nhà thơ đã qua đời) có tác phẩm được chọn vào giảng dạy hay để làm văn liệu, ngữ liệu cho bài học nào đó. Vấn đề này không thấy đề cập trong “đề án đổi mới chương trình và SGK” của BGD.
    Câu số 6:
    Câu hỏi số 6:
    Về vấn đề giáo dục “Sức khoẻ, lối sống, đạo đức” cho các em học sinh, xin mạo muội đề xuất như sau:
    Cá nhân tôi nghĩ để hình thành giá trị đạo đức công dân cho các em vấn đề quan trọng nhất là phải bắt đầu ở cấp tiểu học.Tuy nhiên việc biên soạn những bài học đạo đức có tính chất khởi đầu là vấn đề không dễ dàng gì.Trong hoàn cảnh hiện nay, để tiết kiệm thời gian tiền bạc và công sức tôi đề nghị các nhà quản lý giáo dục hãy gạt bỏ quan điểm và định kiến chính trị nhằm tận dụng chất xám (cũng là bảo vệ gìn giữ di sản văn hóa tinh thần) của cha ông thời trước. Trên tinh thần này, tôi đề nghị nên nghiêm túc nhìn nhận và xem xét sử dụng lại hai bộ sách có tên gọi “Quốc văn giáo khoa thư” và “Luân lý giáo khoa thư” do học giả Trần Trọng Kim và các đồng sự biên soạn dành cho học sinh cấp tiểu học mà họ phân ra thành các lớp “đồng ấu”, “dự bị” và “sơ đẳng” ở trước đây (gần đây Nhà xuất bản Trẻ cũng đã cho tái bản hai bộ sách này). Bộ sách này cũng là di sản tinh thần quý báu trong tâm thức nhiều thế hệ học giả và trí thức nước nhà trước đây (liên quan đến vấn đề này cố nhà văn nổi tiếng Sơn Nam có viết một truyện ngắn mang tên “Tình nghĩa giáo khoa thư”).
    Theo quan điểm của cá nhân tôi, đây là bộ sách rất hay để giáo dục cho các em nhỏ về những giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa người Việt ngay khi các em biết đọc biết viết.
    Chúng ta nên tận dụng các bài học trong 2 bộ sách này để thiết kế và biên soạn thành những bài học trong môn giáo dục đạo đức công dân cho học sinh. Dĩ nhiên, do sự biến chuyển của thời gian và xã hội có không ít những bài học, câu chữ trong các bài học ở hai bộ sách trên không còn phù hợp với thời đại ngày nay nữa. Tuy vậy nhìn chung đó chỉ là số ít và nếu sử dụng lại chúng ta hoàn toàn có thể lựa chọn hoặc chú giải, chú thích thêm cho phù hợp với tình hình và điều kiện mới hiện nay.
    Xin đơn cử một số bài học rất ngắn gọn, súc tích nhưng giàu ý nghĩa nhân văn như: “Yêu mến cha mẹ”, “Ăn uống có lễ phép”, “Đứa trẻ có lễ phép”, “Đi phải thưa về phải trình”, “Thờ cúng tổ tiên”, “Học trò đối với thầy”, “Sớm tối thăm nom cha mẹ”, “Mùa cấy”, “Mùa gặt”, “Bịnh ghẻ”, “Mùa mưa”, “Mấy điều cần cho sức khỏe”…
    Xin chép ra đây toàn bộ nội dung cụ thể một bài học có nhan đề “Đi phải thưa về phải trình” dành cho các em thuộc lớp “đồng ấu” (gồm ba phần nội dung chính ghi lại câu chuyện bài học và hình vẽ minh họa, phần giải nghĩa từ ngữ khó và phần bài tập) để bạn đọc có cái nhìn cụ thể hơn về vấn đề tôi vừa nói:
    Bài học:
    “Đi phải thưa về phải trình”
    “Trước khi anh Giáp đi đâu, anh cũng xin phép cha mẹ có cho anh đi anh mới dám đi. Đến lúc về anh lại trình cha mẹ rằng anh đã về. Như thế là anh Giáp biết giữ lễ phép với cha mẹ, đi phải thưa về phải trình”.
    Giải nghĩa:
    Trình = nói với người trên là mình có việc gì hay làm việc gì.”
    Bài tập:
    Học tiếng: Đi đâu, xin phép, về, trình, lễ phép
    Đặt câu: Anh…mà vội thế?
    Cha ra đồng đã…rồi.
    Con phải giữ…với cha mẹ
    Hãy đợi đấy, để tôi về…cha mẹ tôi đã
    Em hứa…cha mẹ chưa mà đã dám đi?”

    • Về đạo đức mà học từng bài cụ thể thì học cả đời chả hết.
      Cái gốc là cách cư xử của người lớn. Người lớn quanh chúng mà tốt chúng dễ dàng tốt. Nếu không thế, khi mà nhà trường dạy thế này, chúng lại nhìn thấy cái khác ở ngoài thì những bài giảng sẽ trở thành dối trá, giáo điều và phản tác dụng. Không thể bỏ vai trò của gia đình và XH. “Con dại cái mang” không chỉ có nghĩa là con cái dại thì bố mẹ cưu mang mà còn nghĩa con cái làm điều dại dột bố mẹ phải mang tiếng, phải chịu trách nhiệm.

  • Thưa GS NBC, em muốn đặt một câu hỏi, mà chỉ sợ GS không muốn trả lời !!
    Con trai em hồi học lớp 5e, chắc là tương đương lớp 7 bên mình, học toán rất là xuất sắc, về VN khoe. Sau đó thì nó trở thành trò cười cho tất cả mọi người, vì thằng anh họ nó học cùng trình độ làm các bài toán nhân chia nhiều chữ số bằng tay rất nhanh và đúng, còn nó thì làm sai be bét. Cậu ấy chữa thẹn bằng cách đố anh mình bài toán là cho một đường tròn, làm sao tìm ra tâm của nó, ông anh quý bí mãi không biết giờ này đã giải ra chưa.
    Em cũng nghe nói rằng là học sinh sinh viên VN mình thiếu sáng tạo, thiếu linh hoạt so với tụi nhỏ nước ngoài. Kết hợp hai sự kiện ấy, thì em cho rằng việc dạy học toán và khoa học tự nhiên nói chung của VN mình chắc cũng không phải là không khác đáng kể so với thế giới như GS nói. Chắc cũng phải có một cái gì đấy rất là cơ bản cần phải thay đổi, chứ không phải chỉ có thay đổi bên xã hội nhân văn thôi.

    • “Cho một đường tròn làm sao tìm ra tâm của nó?”
      Theo tôi thì làm như thế này: Lấy ba điểm A, B, C trên đường tròn rồi vẽ hai đường trung trực của AB và BC, giao của hai đường này là tâm đường tròn.
      Với cách làm trên thì học sinh lớp 7 ở VN hiện nay chưa được học. Chẳng hay bạn có cách làm nào khác chăng?

  • Và tại sao sau bao nhiêu năm cứ nhất định phải quản lý chương trình sách giáo khoa? Có rất nhiều, rất nhiều điều tốt đẹp, mới mẻ, tiến bộ đã thấy và sẽ khám phá do những người Thầy người Trò. Điều này những nhà quản lý chắc chắn cũng biết rõ, nhưng như thế sẽ thành giáo dục khai phóng mất.

    • cái khung chương trình hay chuẩn chương trình để thống nhất trong giáo dục của một quốc gia. Thầy được quyền sáng tạo trên cái khung đó

      • Cảm ơn lời giải thích rất chuẩn. Hiểu ngay lập tức vì mình có nhiều bạn được phân căn hộ tập thể. Tam đại đồng đường thoải mái phát huy trong (trên?) cái “khung” nhà được cấp từ cuối thập niên 70 thế kỷ trước. Tiếp theo là chống gậy đi tìm lời giải đáp cho câu đố. Mục đích sáng tạo trong giảng dạy, học tập là gì. Xin đừng ai nói là để định hướng tiến lên CNXH vì câu đó…. tôi biết rồi.

  • Có ý kiến cho rằng tất cả là do “vận động hành lang” của NXBGD, mọi việc xuất phát từ nhu cầu “tìm việc” độc quyền cho NXB này và dĩ nhiên những lợi ích nhóm ẩn chứa sau đó. Giáo sư có nghĩ đó là ý kiến đúng?

    • Đây là ý kiến mà tôi tâm đắc, Phải làm một khung chương trình chuẩn. Căn cứ vào khung chương trình đó, các nhóm tác giả, các công ty sách lựa chọn Tg để biên soạn bộ sách. Nơi nào có bộ sách hay, đáp ứng được nhu cầu tất sẽ được lựa chọn. Như vậy xoá bỏ được độc quyền và có lẽ cũng sẽ phù hợp với vùng miền hơn.

  • “Kỹ thuật: Cần mở rộng việc dạy lập trình từ rất sớm.”
    Tôi tự hỏi làm sao việc “lập trình” lại có thể được coi như một yếu tố quan trọng đứng về phương diện giáo dục để phát triển kĩ thuật? Xét về khía cạnh giáo dục (chủ đề đang bàn) thì có nhiều điểm khác quan trọng hơn chuyện “lập trình” rất nhiều trong việc phát triển kĩ thuật: kích thích tìm hiểu, khuyến khích trí sáng tạo, phương pháp & công cụ giáo dục gắn liền thực tế,…

    • Cảm ơn bác đã bổ sung. Tôi chỉ nêu “lập trình” như một ví dụ. Tuy vậy, tôi tin rằng cách mạng thông tin còn chưa dừng ở đây, người dân nước nào có khả năng về công nghệ thông tin (cụ thể là lập trình), nước đó sẽ có ưu thế cạnh trành trong kinh tế.

  • Góp ý cho Bàn tròn Học thế nào – Đổi mới SGK ?
    Đổi mới trong giáo dục là một vấn đề không phải chỉ đặt ra cho nước ta mà cho tất cả các nước. Đổi mới thường xuyên. Đổi mới để tốt hơn, để hiệu quả hơn, để thích hợp hơn với tình cảnh xã hội và tình cảnh thế giới. Đổi mới để giáo dục không thành một khủng long ở thời @.
    Đối với ta, đổi mới còn cấp bách hơn nữa vì giáo dục là một trong những cấu thành của phát triển.
    Dĩ nhiên, để đổi mới một cách «hữu hiệu» – hữu hiệu được đặt trong dấu ngoặc vì nó có thể có nhiều nghĩa nhưng tạm thời ta dùng chữ hữu hiệu trong một nội dung khiêm tốn: hữu hiệu là làm những gì cấp bách nhất trong giới hạn khả năng hiện thời – phải biết một cách cặn kẻ tình thế và nhu cầu. Hai điều này nghe có vẻ đơn giản nhưng nhiều khi ta chưa biết một cách có ngọn có ngành. Rất cần một état des lieux (tức là một nghiên cứu về hiện trạng).
    Tại sao bắt đầu bằng đổi mới sách giáo khoa hay đổi mới cách thi cử. Tức là hai đổi mới ta đang thực hành ?
    Trong một chừng mực nào đó, cách làm của ta có thể hiểu được.
    Thì cứ làm đi, để tạo đột phá – dù không lô-gích.
    Thật vậy, theo lý thuyết, đánh giá, hay thi cử, là tùy theo cách dạy – đó là thành phần của đào tạo (để biết kết quả của đào tạo và để hoàn thiện, tiếp tục công trình đào tạo).
    Sách giáo khoa cũng thế. Đó là một công cụ cho giáo dục. Sách giáo khoa vừa tải nội dung vừa «dịch» hay cụ thể hóa những phương pháp sư phạm. Thay sách giáo khoa là một công hai chuyện, thay đổi vừa nội dung các môn học vừa phương pháp dạy.
    Thông thường thay đổi thi cử hay thay đổi sách giáo khoa lúc chưa thay đổi những … nền tảng, có thể là những thay đổi không cho kết quả chờ đợi.
    Theo lô gích, muốn thay đổi, dĩ nhiên phải đi từ lý thuyết, từ cái tổng quát nhất cái nền tảng nhất.
    a. Tại sao phải học và tại sao phải dạy ? Tức là muc tiêu và triết lý của giáo dục.
    b. Phải học cái gì ? Nội dung chương trình
    c. và cuối cùng Học thế nào ? Hay phương pháp sư phạm trong đó có sách giáo khoa.
    Nhưng chia chương trình đã nằm trong phương pháp sư phạm nên hai giai đoạn chương trình và phương pháp sư phạm có thể đồng hành.
    Như vừa nói trên, sách giáo khoa nằm trong phương pháp sư phạm, là một công cụ để dạy, giúp ta chuyển tải nội dung chương trình và là cơ sở cụ thể để học trò đở phải chép bài, …
    Bắt đầu từ đây, xin dựa theo thứ tự các vấn đề nêu lên bởi gs Ngô Bảo Châu:
    1. 2.3. Tại sao 10 năm phải đổi sách giáo khoa một lần? Ai đổi, …
    Phải đổi sách giáo khoa vì phải cập nhật. Khoa học tiến bộ không ngừng, kể cả khoa sư phạm. Nhưng không hẳn 5 hay 10 năm một lần. Thay đổi khi cần, khi sách không còn up to date hay hợp thời.
    Ở những nơi mà sách giáo khoa được chọn bởi trường học hay bởi giáo viên – vì chương trình chỉ là chương trình khung – thì sự thay đổi sách giáo khoa được làm … không kèn không trống… Khi thay đổi thì có thể chỉ thay đổi từng phần chứ không nhất thiết phải thay đổi toàn bộ sách giáo khoa.
    Riêng bản thân người viết những dòng này, với quan niệm theo đó «không thể dạy một cách bất di bất dịch bất cứ điều gì, cho bất cứ ai, vào bất cứ hoàn cảnh nào, …» thành ra nội dung, phương pháp sư phạm, sách giáo khoa, … được chọn và thay đổi tùy học trò, tùy lớp và tùy thời gian, không gian…
    4. Thay đổi chương trình trước hay thay đổi sách giáo khoa trước ?
    Trong trường hợp chương trình chung ấn định và bắt buộc bởi Bộ Giáo dục, thì có lẻ sách giáo khoa phải được soạn và thay đổi tùy theo chương trình. Dĩ nhiên, giữa tập thể soạn chương trình và tập thể soạn sách giáo khoa có những liên hệ mật thiết.
    Có thể thêm vào một diễn viên thứ ba: tập thể người đi dạy đứng lớp.
    Kinh nghiệm những người này vô cùng quan trọng. Có thể tưởng tượng rằng tập thể những người đi dạy, đã dùng sách giáo khoa, bày tỏ góp ý về những ưu khuyết điểm của một sách giáo khoa nào đó hay của một chương trình nào đó. Vì giáo viên gần với học trò và thấu đáo hơn ai hết những như cầu và chờ đợi của học trò. Những feed back này rất quí giá, chúng thể hiện tiếng nói của cơ sở và từ cơ sở.
    5. «Rinh về» và dịch sách giáo khoa nước ngoài ?
    Tại sao không, nếu hợp tình hợp cảnh được với thực địa bên ta. Cho trường hợp các sách giáo khoa đã chứng tỏ giá trị khách quan của chúng. Chẳng hạn một số sách về Toán, về Vật lý Hóa học hay về Sinh học. Các sách về cổ ngữ nữa.
    Ngày xưa những người thuộc thế hệ 1950-1970 ở miền Nam học Anh văn với Let’s learn English hay English for Today hay học Pháp văn với bộ sách Langue et civilisation française của Mauger, hoàn toàn không có vấn đề.
    Nhưng cho các môn về văn chương và khoa học xã hội có lẻ là phải suy nghĩ khác.
    6. Cần thay đổi gì nhất trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành?
    Câu hỏi có vẻ giản dị nhưng khó trả lời vô cùng vì cần nghiên cứu nhiều yếu tố trước khi trả lời. Lại không có một câu trả lời duy nhất cho tất cả các chương trình hay sách giáo khoa, cho tất cả các độ tuổi và tất cả các vùng miền.
    Chỉ xin có vài ý đơn lẻ:
    a. Ít nhất là cho trẻ 6-12 tuổi, ở bậc Tiểu học, cần phá vở các ranh giới giữa các môn học và khai thác các chủ đề một cách tổng hợp. Các hiện tượng ở chung quanh các em là những tổng thể chứ không phải là sinh học, toán học, sử học… Như vậy cụ thể hơn, dễ tiếp cận hơn và dễ nhớ lâu hơn cho các em – học để biết và học để làm ấy mà.
    b. Cho thêm, và vấn đề này tối quan trọng, giáo dục môi trường xã hội (éducation hay éveil à l’environnement social) ở tiểu học hay xã hội học (sociologie) vào chương trình trung học để các em thêm khả năng giải mã các hiện tượng của môi trường và để các em sống chung với nhau – một trong những chủ đích mà UNESCO đề ra.
    Kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, Facebook, quảng cáo, truyền thông tiếp thị, …những hiện tượng như thế ta không chuẩn bị cho các em thì trông cậy vào ai khác ?
    c. Tập tành cho các em, từ lúc còn rất nhỏ, ngay ở trường mẫu giáo, những cách tiếp cận «khoa học» là gieo mầm nghiên cứu khoa học, là chống tiên kiến, là ngừa kỳ thị, …Cụ thể, cách trình bày và nội dung của từng chủ đề trong các sách giáo khoa phải khoa học và có dẫn chứng.
    d. Đem giáo dục đạo đức vào chương trình. Bình đẳng xã hội, bình đẳng giới tính, tự do, dân chủ, … Không dưới dạng những bài học khô cứng mà bàng bạc qua cách khai thác bất cứ đề tài nào.
    e. Giao cho giáo viên một «vùng tự do co giản» trong nội dung, trong phương pháp, … để tùy cơ ứng biến áp dụng sách giáo khoa và chương trình theo sở trường của mình và theo nhu cầu của học trò. Rộng hơn nữa, và điều này nằm trong «phương pháp» sư phạm, đề cao những liên hệ bình đẳng giữa thầy và trò – vì áp đảo trong giáo dục là phản giáo dục.
    Nguyễn Huỳnh Mai

    • Tâm đắc nhất với cái ý thứ 5 của Bác Huỳnh Mai “Rinh về”.
      Nhiều bậc phụ huynh được yên tâm sau mười hai năm học PT lại có một phen bối rối, khi con không đủ điểm vào trường đại học công. Ngoài “Trường Cán bộ Đội Lê Duẩn” có những tiêu chuẩn nhất định, các bậc phụ huynh có thể cho con vào học các trung tâm đào tạo lập trình viên, viết trương trình game, nhiếp ảnh v.v.
      Cứ mỗi mùa tuyển sinh, lại thấy nhiều nhà bố dắt con đi tìm mua máy ảnh phim (đã ngừng sản xuất). Theo chương trình, học viên sẽ học về máy ảnh chụp phim. Phải học từ căn bản, thời nền phim ảnh mới phát minh. Cũng là do máy ảnh KTS nhiều thầy chưa quen và “chương trình khung” là vậy.
      Tài liệu thiết bị khoa học được mua, được tặng, được viện trợ phục vụ cho công tác giảng dạy bị cất vào kho là điều rất phổ biến ở nhiều nơi và nó diễn ra trong một thời kỳ quá dài.
      Để đào tạo ra một người với các đức tính, vừa giỏi chuyên môn, sẵn sàng nhận nhiệm vụ, tuân lệnh cấp trên, không đòi hỏi lương cao v.v. vẫn là một công việc vô cùng khó khăn.

  • về cơ bản tôi đồng ý với các ý kiến của GS Ngô Bảo Châu. tôi xin nêu thêm một số câu hỏi sau:
    1. Tại sao đổi mới căn bản toàn diện lại tập trung vào phổ thông là chính mà không phải là đại học?
    2. Muốn phát triển kinh tế của VN hiện nay cần những loại nhân lực nào? cần phải cơ cấu lại ngành nghề đào đạo, cơ cấu lại trình độ đào tạo như thế nào?
    3. Việc phân luồng học sinh sau trung học nên phân luồng từ THCS hay THPT và tại sao?

    • Tôi cũng nghĩ như anh (chị) Mai Hiên rằng sách giáo khoa không phải là vấn đề nổi cộm nhất của giáo dục Việt nam. Chất lượng giáo dục đại học có lẽ là vấn đề nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, bàn tròn này tập trung vào chuyên chương trình và SGK vì đó là câu chuyện của tuần này. Câu chuyện phân luồng, dạy nghề, chất lượng giáo dục dại học, xin gác lại một hôm khác.

      • Cảm ơn Gs. Thực ra tôi đặt câu hỏi đó là muốn nói tới vấn đề nếu chưa tính đến việc phân luồng sau THCS hay THPT thì bàn về sgk e rằng chưa thấu đáo. vì vd nếu setup các luồng học sinh theo các hướng khác nhau và tạo điều kiện cho các em phát triển trên năng lực của các em thì bài toán sgk cần bàn thêm như thế nào?

  • Rất đồng tình với ý kiến của GS. Tuy nhiên, ở VN hiện nay giữa nói và làm thực sự là một vấn đề. Mấy ô Đảng, QH & CP cần coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, công minh, giao đúng người đúng việc.
    Để và là người khởi xướng, GS có thể nói cụ thể hơn Uỷ ban GD QG độc lập được thành lập ra sao, thành phần (Uỷ viên) thế nào…
    Xin cảm ơn và chúc GS mạnh khỏe, có nhiều đóng góp cho nước nhà và Toán học.

    • UB GD QH độc lập này sẽ đánh giá, đề xuất việc đổi mới: từ luật, làm luật cho đến các chương trình hành động cải cách cụ thể; đồng thời phải hiểu đây là Dự án (Project) được tổ chức, quản lý chuyên nghiệp (PMO)

      • Theo tôi hiểu, để ra nghị quyết, Đảng cũng có thành lập ban tư vấn. Những ban tư vấn thường thì cũng bao gồm những người tâm huyết. Tuy vậy nó không có tính “chính danh”. Nếu có tính “chính danh” tự mình chịu trách nhiệm với việc làm của mình trước công luận, chắc sẽ đóng góp tích cực hơn nhiều.
        HTN: Bắt quả tang GS bảo Đảng ‘làm chui’ nhé 🙂

        • Vâng, nếu cải cách ngành hay một vấn đề hệ trọng thì ô Đảng ra nghị quyết trước. Ở đây là đổi mới SGK nên Chính phủ làm là đúng rồi. Về thể chế thì đúng như GS nói là lập UB GĐ QG độc lập, rồi lập Ban QLDA (có tư vấn trong hay ngoài nước, có “nhà thầu” triển khai, có giám sát, có chia thành các “tiểu dự án” vì nhiều cấp học, giáo trình…)

        • DANH SÁCH
          HỘI ĐỒNG QUỐC GIA GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC NHIỆM KỲ 2011 – 2015
          (Ban hành kèm theo Quyết định số 1138/QĐ-TTg ngày 16/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ)
          1. Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch;
          2. Ông Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch;
          3. Ông Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy viên Thường trực;
          4. Ông Nguyễn Khắc Định, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Ủy viên;
          5. Ông Đinh Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Ủy viên;
          6. Ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy viên;
          7. Ông Nguyễn Thái Bình, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Ủy viên;
          8. Bà Phạm Thị Hải Chuyền, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Ủy viên;
          9. Ông Nguyễn Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy viên;
          10. Ông Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Ủy viên;
          11. Ông Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Ủy viên;
          12. Ông Nguyễn Mạnh Cầm, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, Ủy viên;
          13. Ông Đinh Quang Báo, Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Ủy viên;
          14. Ông Nguyễn Minh Đường, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Ủy viên;
          15. Ông Nguyễn Trọng Giảng, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Ủy viên;
          16. Ông Phùng Xuân Nhạ, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Ủy viên;
          17. Ông Phan Thanh Bình, Giám đốc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên;
          18. Ông Đặng Xuân Hoan, Trợ lý Phó Thủ tướng kiêm nhiệm làm Tổng Thư ký Hội đồng.

        • Cảm ơn GS hahuykhoai. Hoá ra cũng có Hội đồng giáo dục quốc gia. Nhưng Hội đồng có đến một nửa nội các thì làm thế nào mà có tiếng nói độc lập nhỉ?

        • Đảng ban hành được một Nghị quyết chuyên đề như thế là mừng quá rồi, anh Châu. Vấn đề là cơ quan thực hiện sẽ làm được bao nhiêu % các yêu cầu đặt ra. Bao nhiêu % của yêu câu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục ấy mà. Căn bản thế nào? Toàn diện thế nào?

      • Tôi chưa thấy Bộ GD-ĐT hay những người có thẩm quyền liên quan tư duy và thực hiện tốt theo hướng này, cứ trình lên một bản ĐX với con số khủng và thiếu thuyết phục thì chỉ tạo sóng dư luận (rồi tính tiếp)
        Cải cách ngành thì tiếp cận khác, cải cách SGK thì cứ lấy cách Quản lý Dự án cụ thể (theo chuẩn mực, thông lệ ưu việt) ra mà làm thôi. Chứ cứ bàn các Nội dung, tình tiết cụ thể, tản mạn sẽ ko hiệu quả.
        HTN: Con số, ví dụ 34 ngàn tỷ, theo thông tin của HTN thì là con số chính phủ chưa có ý kiến mà Bộ GD ĐT đã đưa ra Quốc Hội. Có lẽ PTT sẽ có ý kiến sớm về việc này (thể ngay tuần sau).

        • Cảm ơn thông tin của GS Khoái v/v thành lập HĐ QG về GĐ và Nhân lực (7/2013). Theo tôi vừa tìm hiểu, sau HĐ là lập UBQG về Đổi mới GĐ (3/2014), có Chương trình hành động và Đề án đổi mới SGK. Như vậy cac thể chế cao nhất là có rồi (đủ bộ lễ nhưng là của CP nên sẽ dễ bị cồng kềnh, triển khai chậm và không đôc lập). Sau Đề án mới đến các Dự án cụ thể. Hy vọng họ làm sớm, tiếp thu ý/k của các Chuyên gia, giáo viên, học sinh…, tổ chức thuc hiện hiệu quả (với tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu (kèm KQ đo lường đươc), phạm vi, truyền thông, kế hoạch, tài chính, nhân sự dự án, tư vấn, nhà thầu… bài bản).

  • Câu 1 : Dạ ví dụ bên Pháp thì họ cho học sinh mượn sách giáo khoa, cuối năm trả lại, năm sau cho mượn tiếp, thì họ cho rằng một đời SGK kéo dài khỏang 4 năm là vừa (sau đó thì nó te tua). Nhưng đấy là SGK chứ không phải là chương trình khung ạ !
    Còn về bên Toán thì tôi không rõ, chứ còn bên Văn thì ý tưởng một cuốn sách văn học cứ xài miết thì thật là kinh khủng. Nó mất đi tính đa dạng và sống động. Cứ như thể là chỉ có bấy nhiêu nhà văn và bấy nhiêu tác phẩm là đáng đọc, số còn lại thì chìm vào quên lãng. Rồi còn những nhà văn mới nổi, những phương pháp nghiên cứu mới nữa chứ ! Cho nên cái câu hỏi của GS nó làm tôi buồn quá ! Đấy còn chưa kể thầy cô làm biếng nữa thì ôi thôi ! Họ sẽ học thuộc làu cuốn sách và bài giảng của họ, tụng đi tụng lại hàng năm, khiến tất cả mọi người chán điên lên !

  • Câu 5 : Dịch SGK nước ngoài cũng tốt ạ, vì ta sẽ có thêm sách để tham khảo, biết được ở nước ngoài người ta học cái gì, học như thế nào (nhưng sợ là phải trả thêm tiền bản quyền). Điều này rất là quan trọng vì thường là ta hay ảo tưởng về nước ngoài, và tự ti về mình (ví dụ như có người có thể nghĩ rằng, SGK Văn học của nước ngoài viết hay, thì học sinh của họ phải thích học văn, nhưng thực tế không phải như vậy đâu ạ, học sinh Pháp cũng ít em thích học văn lắm, cô chúng nó cũng buồn phiền lắm!). Nhưng ta không nên bê nguyên xi như vậy mà dùng.

  • Câu 6 : Về SGK ngoại ngữ thì tôi vẫn băn khoăn nhiều. Người Pháp (và hẳn là người Anh, Mỹ), không phải là những dân tộc giỏi ngoại ngữ, bởi vì người ta học tiếng của họ chứ họ không học tiếng của người ta. Cho nên là sách dạy ngoại ngữ của người Pháp chẳng hạn, thì đẹp, hấp dẫn, thú vị, nhưng mà không hiệu quả. Ngoại ngữ là một môn phải thực tập rất nhiều, đặc biệt là kỹ năng nghe hiểu. Cho nên vài bài nghe bé tí xíu trong một cái giáo trình thì chỉ đủ để làm duyên mà thôi. Hồi xưa tôi cứ đi tìm hoài những bài luyện nghe đa dạng, theo nhiều chủ đề, theo nhiều trình độ, mà thấy cũng hiếm hoi lắm. Tôi chỉ mong là trên Truyền hình có chương trình học tiếng nước ngoài hàng ngày, thì may ra trẻ em ở quê mới được tiếp cận với ngoại ngữ. Tôi cũng muốn có những cuốn sách bao gồm những bài đối thoại hơi dài một chút, mỗi bài một trang chẳng hạn, thì người học chỉ việc học thuộc lòng những bài ấy là họ sẽ giao tiếp tốt.

  • Vào thời gian tiến hành bàn tròn trực tuyến thì ở bên Pháp mọi người sẽ đang ngủ say sưa, cho nên rốt cuộc là tôi không tham gia trực tiếp được. Tôi xin kính chúc GS NBC và các bạn thảo luận hăng say, vui vẻ, đóng góp được nhiều ý tưởng hay, mới và xác đáng cho Bộ GD.

  • Chương trình giáo dục phổ thông hiện nay (và gần đây) của Việt Nam mà phần thể hiện cơ bản của nó là bộ sách giáo khoa (duy nhất) do Bộ Giáo dục và Đào tạo (BGDĐT) chủ trì có thể giúp ích được gì cho việc phát triển các năng lực cơ bản và quan trọng liên quan tới tư duy và học tập, hướng tới giúp người học trở thành người có khả nắng học tập suốt đời một cách hiệu quả ở các giai đoạn tiếp theo?
    Các năng lực tư duy và học tập của thế kỷ 21 được một số nơi xác định gồm các năng lực: critical thinking (tư duy phản biện), creativity and innovation (sáng tạo và đổi mới), cooperation and communication (hợp tác và giao tiếp). Theo những gì tôi đã trải nghiệm qua 12 năm học phổ thông tại Việt Nam, thì chương trình GD PT VN và bộ SGK đã thất bại lớn trong việc giúp người học hình thành các năng lực và kỹ năng nêu trên. Thực tế cho thấy về kiến thức có thể HS VN không thua kém nhiều so với các bạn HS ở các nền GD phát triển (đặc biệt về toán và tự nhiên như GS Châu nói), nhưng năng lực của một người học hiệu quả thì thua kém rất nhiều. (Có thể ngoại trừ tố chất chăm chỉ, chịu khó “cày cuốc”).
    Tôi cho rằng, việc cải cách giáo dục nói chung và đổi mới SGK nói riêng cần phải đảm bảo tiêu chí này, đó là giúp người học hình thành và phát triển các năng lực tư duy, học tập cần thiết cho các bậc học và giai đoạn phát triển cá nhân tiếp theo. Trong đó tôi đặc biệt nhấn mạnh năng lực tư duy phản biện và sáng tạo giải quyết vấn đề.
    Anh/chị và các học giả nào có kinh nghiệm và hiểu biết về các hệ thống giáo dục phổ thông ở các nền GD phát triển có thể giúp chia sẻ và trả lời về vấn đề này được không? XIn cảm ơn.
    Bùi Trần Hiếu (UNSW)

    • Tôi thấy nhận xét và ý kiến của HieuBui là chuẩn xác. Nếu muốn sửa tận gốc, tôi nghĩ cần đi trình tự qua các bước “nhân-quả” như tôi đề xuất. Nhảy “bụp” ngay vào sách giáo khoa không thể giải quyết được các bất cập của nền giáo dục hiện nay.

    • Hy vọng rằng việc thay đổi trong chường tình và SGK sẽ hướng tới những “năng lực” critical thinking (tư duy phản biện), creativity and innovation (sáng tạo và đổi mới), cooperation and communication (hợp tác và giao tiếp) mà anh Bùi Trần Hiếu có nhắc đến. Tôi nghĩ rằng học và “thực hành” nhân văn một cách tích cực là cách duy nhất để rèn luyện những năng lực này. Những vấn đề trong triết học không có câu trả lời duy nhất, cũng như không có một cách nhìn duy nhất về những sự kiện lịch sử. Để có ý kiến riêng của mình, học sinh phải tìm hiểu, nghiên cứu, suy xét và phản biện. Để bảo vệ ý kiến của mình, học sinh sẽ phải học được cách trình bày khúc chiết, lập luận kĩn kẽ. Ngoài ra học sinh còn học được cách tôn trọng, lắng nghe những ý kiến khác với ý kiến của mình mà nhiều khi phải chấp nhận lật lại toàn bộ những gì mà mình đã nghĩ.

      • Cám ơn ý kiến trên của anh Châu! Đó là những vấn đề chúng ta cần phải giải quyết với phạm trù “Triết lý giáo dục”, “Phương pháp giáo dục”. Trước tiên cần khẳng định rõ ràng chúng ta có theo đuổi những mục tiêu giáo dục như thế không đã.

        • Tôi cho rằng để làm được như anh Châu Ngô nói “critical thinking (tư duy phản biện), creativity and innovation (sáng tạo và đổi mới), cooperation and communication (hợp tác và giao tiếp)” thì việc đầu tiên phải thoát khỏi vòng luẩn quẩn trong định hướng phát triển giáo dục hiện nay. Đề án GD đặt ra là đổi mới nhưng lại phải “đảm bảo tuyệt đối mục tiêu “định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”. “Định hướng XHCN” là gì còn chưa ai định nghĩa được, không thể cụ thể hoá được để đổi mới theo đó.

    • Bạn Bùi Trần Hiếu thân mến,
      Tôi đang giảng dạy ở một trường ĐH công lớn bên Mỹ nên có thể trả lời phần nào câu hỏi của bạn ở khía cạnh GD đại học; tôi có thể hỏi thêm sinh viên của tôi về việc học của các em ấy ở bậc phổ thông và trả lời bạn sau.
      Về cơ bản, nếu tôi hiểu đúng câu hỏi của bạn thì bạn muốn hỏi: Các nước phát triển làm thế nào để dạy học sinh phát triển năng lực tư duy phản biện và sự sáng tạo trong giải quyết vấn đề? Và cụ thể hơn là SGK của họ làm thế nào để dạy học sinh được việc này.
      Trả lời được trọn vẹn câu này thì phải mất ít nhất một cuốn sách; tôi chỉ xin chia sẻ một chút trong phạm vi ngành mà tôi giảng dạy là ngành công tác xã hội. Hiện nay, trường CTXH của tôi cũng đang làm một việc hơi hơi giống với VN là thay đổi toàn bộ chương trình giảng dạy mà chúng tôi đã duy trì từ cuối thập kỷ 90. Thay tất. Bắt đầu từ việc viết lại tuyên ngôn về sứ mệnh đào tạo của trường: “Sứ mệnh của trường CTXH thuộc ĐH X là đào tạo ra các sinh viên có khả năng abc…” Từ sứ mệnh này, chúng tôi bỏ hẳn cấu trúc chương trình cũ; thay bằng cấu trúc mới. Có cấu trúc khung mới rồi; chúng tôi bắt đầu dựng các môn học bên trong cấu trúc. Làm thế nào để dựng các môn học. Cái này, lại phải vừa dựa vào sứ mệnh, vừa dựa vào quy định khung của Hội đồng giáo dục CTXH Hoa Kỳ. Hội đồng này là một tổ chức chuyên môn độc lập, phi lợi nhuận, không thuộc Nhà nước quản lý; họ có nhiệm vụ là cứ 8 năm một lần, họ tới các trường để đánh giá chất lượng chương trình đào tạo, và quyết định có cấp chứng chỉ chất lượng hay không (accreditation). Nói “họ” là ai? Bản thân họ vừa có nhân sự cố định, vừa chính là các giáo sư trong ngành; như vậy là kiểm soát chất lượng chuyên môn bằng người có chuyên môn và trên tinh thần công bằng, chuyên nghiệp. Các trường muốn có sinh viên vào học phải có phê duyệt chất lượng cho nên họ tự biết phải xây dựng chất lượng cho tốt.
      Trong khung chương trình của Hội đồng giáo dục CTXH Hoa Kỳ không hề có quy định bắt buộc là các trường phải dạy những môn nào, môn nào, dùng sách gì, sách gì. Họ chỉ có các quy định chung như muốn có bằng cử nhân, phải học bao nhiêu tiếng chuyên môn, bao nhiêu tiếng thực hành; chương trình học phải đảm bảo có những cấu phần lớn nào. Khi đưa ra quy định về các cấu phần; họ dựa trên 3 thứ mà họ muốn trang bị cho sinh viên: kỹ năng (skills), kiến thức (knowledge), và các giá trị (values). Ba thứ này lại được triển khai rõ ràng thêm; ví dụ như kỹ năng cần có các kỹ năng cơ bản nào (đánh giá, phân tích, tổng hợp, giao tiếp với thân chủ, huy động nguồn lực, vận động chính sách, giao tiếp cộng đồng, vv…); các kiến thức gồm có các lý thuyết về tâm lý, xã hội, hành vi, vv; hay các giá trị gồm có tôn trọng khác biệt, vận động cho đối tượng yếu thế, vv… Sau đó, với mỗi một thứ trong ba thứ này, để đảm bảo giáo viên dạy các thứ đó và sinh viên thực sự nắm được các thứ đó ở mức độ ra trường có thể thực sự đi làm được thì họ triển khai qua hai công cụ đo là sự thành thạo kiến thức (competencies) và các hành vi thực hành (practice behaviors). Điều đó nghĩa là: Nội dung sách giáo khoa mà giáo viên chọn dạy, bài tập mà giáo viên hình thành phải đưa đến kiến thức, giá trị, kỹ năng ĐO ĐƯỢC dưới dạng sự thành thạo kiến thức và sự thuần thục trong hành vi thực hành như một người lao động tương lai.
      Hiện nay, tôi và một số đồng nghiệp phải đảm đương việc thiết kế lại hai môn thuộc chương trình đại cương. Khi chúng tôi viết lại syllabus cho các môn này, chúng tôi toàn quyền chọn sách giáo khoa từ rất nhiều các cuốn SGK khác nhau của tác giả khác nhau, và toàn quyền thiết kế bài giảng, xây dựng bài tập, vv… Nhưng trên syllabus, chúng tôi phải liệt kê rõ các nội dung bài giảng và bài tập mà chúng tôi thiết kế có liên hệ với nhau thế nào, sẽ giúp sinh viên có được sự thành thạo chuyên môn nào, sự thuần thục hành vi thực hành nào, và sẽ đo điều đó ra sao. Chúng tôi cũng phải liệt kê rõ mỗi nội dung giảng dạy, mỗi bài tập hướng vào các kỹ năng gì, kiến thức gì, giá trị gì cho sinh viên.
      Khi toàn bộ các nhóm làm việc khác nhau ráp các môn học với nhau như trên một bức tranh lớn, thì tất cả các lớp học trong chương trình, cộng với nhau, sẽ phải phủ kín, phủ dày tất cả các yêu cầu về kỹ năng, kiến thức, giá trị mà chúng tôi muốn sinh viên có. Tức là nó phải làm được sứ mệnh của trường và đáp ứng chuẩn của Hội đồng giáo dục CTXH Hoa Kỳ.
      Trở lại câu hỏi làm sao để dạy học sinh tư duy phản biện và sự sáng tạo trong giải quyết vấn đề? Như bạn thấy, một phần rất lớn nằm ở chỗ trong thiết kế môn học và nội dung học, mọi thứ đều hướng trực tiếp vào đào tạo để làm việc, mọi sự đo lường việc học tập của sinh viên đều hướng tới kiến thức và các hành vi làm việc thực sự – cho nên lúc nào giáo viên và sinh viên cũng hỏi “Làm thế có thực sự hiệu quả không, có ra sản phẩm bán được không, có thực sự giúp được thân chủ không, có cải thiện được cộng đồng đó không, có tiết kiệm được chi phí không, người ta có bỏ tiền đầu tư vào ý tưởng này không?”. Thứ hai, với bất kỳ một nội dung kiến thức nào, sinh viên bao giờ cũng được giới thiệu tất cả các luồng tư tưởng khác nhau về cùng vấn đề đó, chứ không phải chỉ có một luồng tư tưởng chính thống. Thứ ba, trong lớp, giáo viên nói rất ít, sinh viên nói là chính. Mỗi ngày lên lớp, tôi và các đồng nghiệp “giảng” vô cùng ít; thường chỉ bắt đầu bằng một số câu hỏi, sau đó là thảo luận, tranh luận. Tôi lấy ví dụ như với môn mà đại cương mà tôi nói ở trên, sinh viên phải đọc “Tuyên ngôn cộng sản” của Mác (cái này là thật nhé, sinh viên bên này đọc Mác rất kỹ), một bài khác của Max Weber, rồi một số tác giả khác để trả lời câu hỏi “Vì sao xã hội của chúng ta lại có cấu trúc như hiện tại?”; sau đó trên lớp, có khi sinh viên tranh luận hàng giờ liền chỉ về một từ trong một bài đọc. Thực ra, giáo viên bên này coi SGK chỉ là một cái sườn để bám vào, nhiều môn học hoàn toàn không dùng SGK; sinh viên thường được khuyến khích đọc trực tiếp các bài viết gốc của các tác giả, và tranh luận trực tiếp về các khái niệm, ý tưởng gốc, chưa qua phiên dịch của người khác. Trong lớp, sinh viên nào cũng phải phát biểu; sự cọ sát này tự nó dạy cho sinh viên biết phản biện.
      Có phản biện thì đi đến sáng tạo không xa lắm; vì sáng tạo xuất phát từ câu hỏi “Có người đã làm thế, nhưng có nhất thiết phải làm thế không, còn có thể làm gì khác, làm tốt hơn?”
      Đấy là vài chia sẻ của tôi.

      • Tôi cũng muốn nói thêm là đứng về mặt kỹ năng, để dạy sinh viên biết phản biện thì thực ra không khó. Sinh viên VN thực ra cũng được học khi họ học triết ở chương trình đại cương – về logic, về tam đoạn luận, về các khái niệm giả thiết, kết luận, kết luận thay thế, vv.. Có điều là sinh viên VN ít có thực hành thôi. Bên này thì sinh viên thực hành liên tục nên nó thành một thứ bản năng. Chứ để dạy các kỹ năng tư duy phản biện cơ bản theo kiểu cầm tay dạy học sinh tập viết thì không hề khó; nhưng mà dạy xong, học sinh không viết nhiều thì chữ vẫn xấu, có khi lại tái mù.

        • Để tập trung cho chủ đề chương trình và SGK giáo dục phổ thông, mong bạn PV có thể trao đổi những chia sẻ về GD ĐH ở một diễn đàn khác có ngay trong Học Thế Nào.

        • Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ rất kỹ lưỡng của anh/chị PV.
          Tôi rất thích và cũng đồng tình với nhận định của PV là việc hình thành kỹ năng ko gì tốt hơn là qua thực hành, và đó cũng là một trong những yếu điểm chết người mà GD VN đang mắc phải.
          Về hình thành và phát triển tư duy phản biện, tôi cũng nhận thấy một trong những PP rất hữu hiệu là giới thiệu cho SV các luồng tư tưởng lớn, đa chiều, GV đóng vai trò nêu câu hỏi, gợi mở và dẫn dắt thảo luận thay vì lấy giảng giải là chính. Có chăng họ cũng có thể góp phần chia sẻ góc nhìn của mình (nếu có). Đồng thời, việc học nếu thường xuyên được phản ánh gắn liền với mục đích và mục tiêu học tập, gắn với các câu hỏi: học cái đó để làm gì, là được gì, kết quả ra sao… sẽ rất bổ ích và hiệu quả, nhất là với các lĩnh vực học cần ứng dụng công việc sau đó như ngành CTXH.
          Cũng từng có thời gian tham gia thiết kế một số môn học cho SV đại học theo yêu cầu chuẩn chương trình quốc tế cũng như học tập ở nước ngoài nên tôi rất hiểu quá trình thiết kế đề cương môn học, giáo án giảng dạy, đòi hỏi sự logic và nhất quán mục tiêu như chia sẻ của anh.
          Tôi rất mong được nghe những chia sẻ khác liên quan hơn tới GD Phổ thông ở các nước phát triển. Họ đã giúp HS phát triển các năng lực tư duy và học tập như thế nào? Đó có phải là một trong những điểm khác biệt lớn và hệ trọng giữa họ với GD Việt Nam không?
          Vì tôi vẫn tin rằng GD VN đã và đang thất bại toàn diện đối với sứ mệnh này, Và nhiều thế hệ người học Việt Nam (số đông) vô cùng thiếu hụt các năng lực phản biện và sáng tạo (trong đó có bản thân tôi). Và việc thất bại này góp phần rất lớn khiến làm suy yếu lực lượng lao động nước nhà. Để rồi hệ thống giáo dục bậc hậu-phổ thông có muốn cũng không kịp và không thể làm gì để cứu được nữa,

      • Tôi không cho rằng SGK dạy được cho HS như mấy dòng đầu comment của bác. SGK là vật cứng, chết. Người mới là sống động. Bác lẫn giữa sách và dạy thì phải.

  • Chào GS Châu! Rất vui được trao đổi với GS về các vấn đề cùng quan tâm.
    Về câu hỏi thứ nhất của GS, tôi tin là Việt Nam rất cần đổi mới sách giáo khoa.
    Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng Bộ GD-ĐT trình đề án đổi mới sách giáo khoa lúc này là làm ngược quy trình “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục”. Tôi nghĩ quy trình rà soát, đổi mới giáo dục cần phải có trình tự như sau:
    1/ Mục đích giáo dục
    2/ Triết lý giáo dục
    3/ Phương pháp giáo dục
    4/ Mô hình giáo dục
    5/ Chương trình giáo dục
    6/ Sách giáo khoa
    7/ Giáo viên
    8/ Cơ sở vật chất giáo dục
    Như vậy, trước khi bàn chuyện đổi mới sách giáo khoa, cần làm rõ và thống nhất 5 vấn đề quan trọng là mục đích giáo dục, triết lý giáo dục, phương pháp giáo dục và mô hình giáo dục. Hiện nay chúng đang là gì và tới đây chúng nên thế nào, tại sao?
    Ví dụ, về triết lý giáo dục, cần trả lời rõ các câu hỏi:
    – Dạy ai?
    – Dạy cái gì?
    – Dạy như thế nào?
    Tôi tìm được các nền tảng triết lý giáo dục Mỹ, bao gồm:
    – Essentialism
    – Perennialism
    – Progressivism
    – Existentialism
    Tôi cũng tìm được các diễn giải, cụ thể hoá các nền tảng triết lý này, ví dụ:
    “Essentialism focuses on teaching the essential elements of academic and moral knowledge. Essentialists urge that schools get back to the basics; they believe in a strong core curriculum and high academic standards.
    Essentialism and perennialism give teachers the power to choose the curriculum, organize the school day, and construct classroom activities. The curriculum reinforces a predominantly Western heritage while viewing the students as vessels to be filled and disciplined in the proven strategies of the past. Essentialists focus on cultural literacy, while perennialists work from the Great Books.”
    Vậy triết lý giáo dục Việt Nam cụ thể đang là gì và nên thay đổi như thế nào?
    Như GS đã biết, cá nhân tôi cũng đã nêu một số ý kiến, đề xuất về việc xác định mục đích học tập và mô hình giáo dục.
    Chúng ta sẽ trao đổi sâu thêm về các nội dung này nếu có điều kiện.

    • Anh Châu ơi, tôi đã cố gắng, nhưng không tìm được các triết lý giáo dục Pháp để so sánh. Nếu anh có tài liệu thì chia sẻ nhé!

      • Anh Nam tìm đọc ông Meirieu
        http://www.meirieu.com/
        Ông này là một trong những gourou của khoa học giáo dục ở Pháp. Cũng là một trong những người cổ xuý rất mạnh cho việc lấy “năng lực” thay cho “kiến thức”. Gần đây thì ông ấy bị phê bình rất nhiều, vì người ta nhận ra rằng giáo dục ở Pháp càng cải càng nát. Học sinh bây giờ không có cả “kiến thức” lẫn “năng lực”.

    • Rất đồng tình với ý kiến của anh Lương Hoài Nam. Có lẽ đổi mới giáo dục nên bắt đầu bằng luật giáo dục. Một cái cây đã bị mục ruột thì cố gắng tỉa lá tỉa cành chỉ tốn kém thêm mà thôi.

    • Rất đồng tình với anh Lương Hoài Nam, có lẽ điều mà chúng ta cần không phải chỉ có nguồn lực để đầu tư cho giáo dục (tiền bạc, con người…) mà chúng ta cần có tổng công trình sư tài ba để xây dựng lại toàn bộ hệ thống, từ gốc đến ngọn.

  • Hoàn toàn đồng ý với chia sẻ của Giáo sư Ngô Bảo Châu đưa ra. một trong những vấn đề quan trong nhất là việc khơi dậy được tinh thần học tập ở người học và hướng dẫn đúng phương pháp cho người học rồi sau đó mới là cung cấp kiến thức cho người học. Sách giáo khoa là một trong những yếu tố quan trọng để cung cấp cho học sinh cả 3 vấn đề này:
    – Khơi dậy tinh thần học tập: Một cuốn sách giáo khoa nêu được những vấn đề được quan tâm, mới, hấp dân cả về nội dung và hình thức
    – Phương pháp học tập: Với mỗi một lĩnh vực, một môn học đều có nhiều cách tiếp cận khác nhau, do vậy việc hướng cho học sinh học theo phương pháp nào, cách tiếp cận như thế nào, đề tài mở hay đóng…
    – Kiến thức cung cấp: việc cung cấp kiến thức nào, cung cấp đến đâu. theo tôi, sách giáo khoa là để cung cấp kiến thức cơ bản, những nguyên tắc chủ yếu do vậy việc cung cấp theo dạng, theo chủ đề, cách nhìn tổng thể. Nói một cách đơn giản là hãy cung cấp cho học sinh cái gậy để chống khi đi trên đường chứ không cần nói cho họ biết trên đường đi có gì?
    Một vấn đề nữa mà tôi hoàn toàn đồng ý với GS.Ngô Bảo Châu đó là việc biên soan sách giáo khoa phải có chương trình trước, giống như làm bài văn, làm luân văn, luận án phải có đề cương, xem xét đề cương trước, sau đó mới tiến hành viết bài, trong khi viết bài vẫn sửa được đề cương mà, và nhất thiết rằng phải có việc chỉ đạo và phản biện (giống như việc làm luận văn hoặc luận án phải có giáo viên hướng dẫn và phải có người phản biện)
    Một chia sẻ tiếp theo đó là hồi xưa chúng tôi học đã có việc học nhóm, tại sao bây giờ không ai đề cập đến vấn đề này. trong sach giáo khoa việc hướng dẫn thực hiện nội dung này là vô cùng cần thiết để phù hợp với xã hội hiện đại ngày nay đó là làm việc nhóm và sinh hoạt cộng đồng.
    Một vài chia sẻ vì không có thời gian nhiều, mong mọi người cho ý kiến. Cám ơn các bạn đã đọc bài.

  • 1. Thực ra đề án đổi mới SGK của Bộ GD VN không nên là việc biên soạn lại hoàn toàn các SGK từng môn học ở các cấp và các trường (bao gồm cả GD thường xuyên, bổ túc, học nghề) theo định kỳ vài năm một lần mà chỉ cần chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung nội dung SGK một cách linh hoạt dựa vào yêu cầu mang tính cập nhật hay hoàn thiện của từng môn học một.
    Một số môn học đòi hỏi sự cập nhật thông tin liên tục ví dụ như lịch sử, địa lý, ngoại ngữ và đặc biệt là tin học thì không thể 10 năm mới được đổi mới SGK được. Ngược lại, một số SGK các môn như Văn, Toán, Lý, Hoá, Vẽ kỹ thuật …thì không cần thiết phải 2 năm đổi mới một lần. Ngoài ra, SGK cho học sinh lớp 1, 2, 3 không nên thay đổi liên tục như làm thí nghiệm với các em, vì ở độ tuổi non nớt, mới tiếp xúc và làm quen với kiến thức cơ bản các em Cần sự ổn định. Nếu Cần thỉ sửa đổi, chứ không nên cải cách đột ngột.
    2. Như đã được trình bày ở trên, phải tuỳ từng môn học, từng loại trường, cấp học mà có sự sửa đổi SGK.
    3. Trước khi nói đến việc ai giám sát chất lượng SGK và ai kiến nghị thay đổi SGK thì nên xét kỹ việc ai biên soạn và phát hành SGK ở VN hiện nay!
    Ở VN, nhà xuất bản GD và viện KHGD đều trực thuộc bộ GD, nên biên soạn và xuất bản cũng như phát hành SGK cho cả nước. Qua thực tế cho thấy thì việc để 2 tổ chức này tự giám sát là không hiệu quả.
    Việc thành lập một Ủy ban GD QG độc lập với bộ GD để giám sát chất lượng và kiến nghị thay đổi SGK thì trên lý thuyết là hợp lý, nhưng trên thực tế là rất khó khăn đối với hiện trạng như ở VN.Không ai có thể đảm bảo rằng bộ GD Việt Nam sẽ cộng tác tích cực với Ủy ban GD độc lập.kia trên tinh thần cởi mở. Nhất là khi Ủy ban đó lại luôn muốn giám sát chặt chẽ và kiểm tra chất lượng ngặt nghèo Nội dung SGK của bộ GD VN.
    Trong khi đó ở một nền giáo dục tiên tiến trên TG nói chung, thì họ không có sự độc quyền việc xuất bản SGK. Bộ GD của họ chỉ đưa ra một chương trình khung, với vài tinh thần gạch đầu dòng, chứ không liệt kê phải dạy và học sách nào, của tác giả nào, thầy dạy phải giống nhau, học sinh phải học giống nhau. Các nhà xuất bản được quyền tự do biên soạn và xuất bản sách học. Để sách được đưa vào các trường làm SGK thì thường phải được bộ GD hay sở GD giám định và cấp giấy phép. Một số nơi, các trường có quyền được tự do chọn lựa sách. Giáo viên của họ được tự do bổ sung kiến thức bài giảng, miễn là phù hợp với chương trình khung. Tuy nhiên, cũng phải nói thêm là các NXB của họ được tham gia biên soạn và xuất bản SGK được hơn cả trăm năm rồi, nên họ biết phải làm gì để thầy và trò chọn sách của họ! Để ra được một cuốn SGK thì cả một tập thể gồm giáo viên PT, giảng viên ĐH, nhà sư phạm, nhà nghiên cứu, biên tập viên, người trình bày …dồn hết tâm huyết và khả năng vào việc biên soạn, đóng góp, trao đổi ý kiến, phê bình, bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện nội dung cũng như hình thức. Sau khi xuất bản thì họ cũng liên tục chỉnh lý, bổ sung hay sửa đổi SGK để phù hợp với yêu cầu cập nhật, đáp ứng đòi hỏi mới của bộ GD, của trường, giáo viên hay học sinh.
    Vậy tóm lại, một việc mà những nước tiên tiến đã làm được cách đây cả thế kỷ thì VN ta nên bắt đầu.
    4. 5. 6. ….( xin phép được bình luận sau)

    • http://www.kmk.org/dokumentation/lehrplaene/uebersicht-lehrplaene.html
      http://www.schulbuchportal.de
      trên đây là những đường links dẫn đến những thông tin mình viết ra ở trên như chương trình khung Lehrpan của một số bang bên Đức.
      Trong schulbuchportal có cả video giới thiệu về cách thức biên soạn SGK của các nhà xuất bản lớn ở Đức.
      Mình được biết nhiều cán bộ và lãnh đạo trong ngành GD ở VN đã từng được đào tạo tại Đức, thì những thông tin về biên soạn SGK và chương trình khung bổ ích như thế này lẽ nào lại không được tham khảo?

  • Tôi rất đồng tình với ý kiến của NVP là chúng ta nên đặt vấn đề “Làm thế nào?” thay vì “Tại sao phải làm?”. Như tôi đã trao đổi ở trên, đổi mới sách giáo khoa (và bỏ độc quyền sách giáo khoa) là việc phải làm, nhưng cách Bộ GD-ĐT đang làm là ngược.
    Trong xây dựng đô thị người ta đi từng bước thế này: Quy hoạch 1/2000 —> Quy hoạch 1/500 —> Thiết kế từng cái nhà —> Mua nguyên vật liệu —-> Thi công.
    Bộ GD-ĐT đang đi mua gạch lát sàn khi còn chưa có thiết kế nhà.
    HTN: Anh nên trả lời bằng cách ấn vào reply dưới comment của anh NVP, hoặc của anh Châu, để thảo luận đi theo đúng mạch.

  • Tôi lưu ý câu này của bạn Maipoirrier ở trên:
    “6. Cần thay đổi gì nhất trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành?
    Câu hỏi có vẻ giản dị nhưng khó trả lời vô cùng vì cần nghiên cứu nhiều yếu tố trước khi trả lời. Lại không có một câu trả lời duy nhất cho tất cả các chương trình hay sách giáo khoa, cho tất cả các độ tuổi và tất cả các vùng miền.”
    Nhưng nếu không trả lời được câu hỏi này một cách thuyết phục thì đổi mới sách giáo khoa như thế nào được? “Đổi mới” nghĩa là nhận ra các bất cập cụ thể, đặt ra các mục tiêu mới và vạch ra con đường, nguồn lực, phương tiện đi từ hiện tại đến mục tiêu mới.
    Nghĩa là, chúng ta hoàn toàn chưa sẵn sàng cho việc đổi mới sách giáo khoa.

    • Anh Nam ạ, đây là chỗ mà Bộ GD lúng túng nhất. Lập luận nghiêm túc nhất được đưa ra là phải thay đổi hoàn toàn SGK vì thay đổi quan niệm về giáo dục, thay vì học để có kiến thức, bây giờ học để có năng lực. Lập luận này nghe thì khá hợp với hơi thở của thời đại, nhưng thực ra cũng khá tù mù. Thay đổi như thế nào cũng có thể coi là “năng lực” chứ không phải “kiến thức”.

      • thichhoctoan, tôi đang đọc một tài liệu tổng hợp về các lần đổi mới giáo dục của Anh. Với mỗi một thay đổi, họ đều có thông tin, số liệu phân tích để khẳng định tại sao cần thay đổi và các mục tiêu thay đổi đặt ra là gì, làm như thế nào? Còn với đề án của ta thì tôi không nhìn thấy cả cơ sở, lý do, mục tiêu, cách thức thay đổi.
        Tôi không đồng tình với lập luận là 10 năm hay 20 năm phải đổi sách giáo khoa một lần. Bây giờ tình hình tệ quá rồi thì cần đổi mới toàn diện một lần, nhưng sau đó vẫn phải cập nhật thường xuyên và không còn tình trạng độc quyền sách giáo khoa nữa. Phải có nhiều bộ sách giáo khoa như ý GS Châu nói ở trên.
        HTN: Thích Học Toán (thichhoctoan) cũng là GS Ngô Bảo Châu.

  • Trên lý thuyết thì phải có chương trình rồi mới viết SGK, bởi không ai xây nhà xong mới mời kiến trúc sư vẽ thiết kế. Trên thực tế, xây dựng chương trình trước khi viết sách là một việc khó, không có ai được đào tạo và có kinh nghiệm để làm tổng công trình sư cho việc xây dựng chương trình học và viết SGK. Trong thực tế, chúng ta thường viết SGK xong rồi mới soạn chương trình.
    Những người viết sách đều biết, tác giả ít khi viết mục lục trước. Những người từng viết sách đều biết, phải bắt đầu soạn một mục lục nháp, viết một vài chương sẽ thấy mục lục không ổn, sửa lại mục lục rồi lại viết tiếp…^!^
    HTN: Không nên spam forum bằng cách copy ý ở bài trên xuống comment ở dưới mà không đưa vào thêm được một chút ý kiến riêng của mình.

  • Để tiện theo dõi, các anh chị có ý kiến về việc dịch SGK nước ngoài thì reply vào đây. Tôi thấy việc này bất khả thi. Ngoài việc đồng ý chọn ra một bộ mà tôi cho rằng bất khả thi, nếu dịch sách, sẽ phải trả royalty cho từng quyển sách bán ra một, sẽ là một gánh nặng không nhỏ cho người dân.

    • Mặc dù kiến nghị chọn mô hình giáo dục Anh, nhưng cá nhân tôi không ủng hộ việc dịch y nguyên sách giáo khoa nước ngoài để dùng cho Việt Nam. Cần phải tính toán đến các yếu tố văn hoá Việt Nam, tâm sinh lý, thể lực của học sinh Việt Nam.
      Các môn khoa học tự nhiên thì còn có thể làm như thế, nhưng cũng không cần làm. Chúng ta có đủ trình độ để viết sách giáo khoa mà không cần phải trả nhiều tiền bản quyền.

    • Vấn đề hình ảnh – Điểm yếu kém và lạc hậu rất khó khắc phục trong SGK của ta.
      Hình, ảnh và đồ hoạ đều cần nâng cấp. Đây là nguyên nhân phải thay sách giáo khoa (nếu có tiền). Mỹ thuật yếu kém của SGK sẽ làm giảm tính sáng tạo của học sinh, gây hậu quả về sau, ví dụ như vẽ nhà xấu, quy hoạch kém…
      Cũng vì lý do này mà ta nên mua SGK về khoa học tự nhiên của nước ngoài như mua của Singapore. Họ làm chuẩn và gần với cả ta và tây. Mua của họ có thể đàm phán mua đứt rất rẻ (ta tự làm ko thể rẻ như vậy). Lý do là các công ty sách của nước nhỏ như Singapre họ bán được là mỹ mãn rồi. Bình thường phải trả 5-7% bản quyền nhưng nếu là SGK thì có thể mua đứt một lần qua đường nhà nước và có cách tính riêng cho số lượng lớn của SGK. Mình nghĩ nếu Việt Nam thực sự muốn mua bộ SGK cho khoa học tự nhiên thì Thủ tướng Lý Hiển Long có khi còn đồng ý tặng luôn 🙂
      Vấn đề lớn hiện nay là hoạ sỹ có khả năng và trình độ thể hiện các sách về khoa học tự nhiên là thiếu nghiêm trọng. Với cả núi việc như vậy sẽ ko đủ thời gian cho ra một bộ SGK về khoa học tự nhiên Đúng Đủ Đẹp theo tiêu chuẩn cao mà lại nhanh và rẻ.
      Hơn nữa một vấn đề lớn là trong các tranh luận về SGK, các GS thường hay bỏ qua, xem nhẹ vấn đề mỹ thuật của SGK đặc biệt là kênh hình ảnh.
      Chúng ta có thể viết đủ “chương” nhưng không đủ “trình” và “độ” để vẽ và đồ hoạ.
      Các hoạ sỹ của chúng ta rất ít người có thời gian và năng lực để minh hoạ cho sách Khoa Học Tự Nhiên. Với thời đại hình ảnh như vậy thì Kênh Hinh Ảnh mà kém thì SGK lại lạc hậu. Đợi họ vẽ xong thì mất thời gian. Để họ vẽ nhanh thì mất sự cẩn thận và tiên tiến.

      • Đúng là SGK có minh hoạ đẹp sẽ quấn hút học sinh hơn nhiều. Nhưng chắc chắn giá thành sẽ đặt hơn. Theo anh Sơn thì sẽ đắt hơn bao nhiêu lần và người dân có chịu được chi phí đó không?

        • 1. Mình tin là giá thành ko phải là vấn đề.
          Nhà nước cần đầu tư SGK điện tử cho rẻ và linh hoạt ở nới có điều kiện và cho thuê SGK in để giảm chi phí cho người dân.
          Hiện nay, học sinh phải mua hằng năm xong rồi về cơ bản cuối năm lại không dùng nữa là rất phí. Sách phải được thiết kế bền để cho thuê, hằng năm chỉ in thêm để bù cái cũ rách, mất, thiếu.
          Trẻ em nghèo vùng xa được miễn tiền thuê SGK.
          Giảm được chi phí cho mỗi gia đình chi cho SGK thì sẽ có thêm ngân sách của mỗi gia đình cho văn hóa đọc các sách khác 🙂
          2. Mua thì giá bản quyền sẽ rẻ và có chất lượng cao nếu lựa chọn tốt.
          Ở đây mình chỉ bàn về việc mua bản quyền của SGK khoa học tự nhiên thôi vì đàng nào thì nếu ta làm thì cũng cơ bản là giống của tây về kiến thức và kinh nghiệm, vẽ thì họ vẽ rồi và đẹp hơn,
          Chắc chắn là chúng ta tự vẽ sẽ rất chậm, đắt và gần như là bất khả thi nếu đặt tiêu chuẩn cao như các nước tiên tiến. Cho nên mua là rẻ nhất.
          Vấn đề thực tế là có trả rất nhiều tiền thì họa sỹ của ta cũng rất ít người vẽ được để minh họa cho sách khoa học.
          Lý do là để vẽ được thì người viết sách nháp ý tưởng cho hình ảnh (kiểu như tác giả kịch bản) nhưng cần có người phân khung (kiểu như đạo diễn phim) rồi mới đến ông họa sỹ thể hiện. Sau đó còn bên đồ họa,,,
          Ở đây chúng ta thiếu nặng nhân sự làm phân khung (đạo diễn) cho sách khoa học, họa sỹ sẽ vẽ được nhanh và đẹp nếu được đạo diễn hướng dẫn chu đáo.
          Chúng ta cũng rất thiếu các họa sỹ có kiến thức căn bản và thích vẽ đề tài khoa học tự nhiên.
          Về ảnh thì chúng ta cũng không có nhiều dữ liệu ảnh gốc có bản quyền về khoa học do thí nghiệm toàn do tây làm, tây chụp ảnh ở phòng thí nghiệm của họ 🙂

        • SGK đắt quá sẽ không thực hiện được mục tiêu phổ cập giáo dục. Giá sách chỉ không thành vấn đề đối với những người dân có nhu nhập khá, tập trung ở các khu đô thị. Vùng sâu, vùng xa, không phải ai cũng có tiền mua sách cho con. Hiện giờ, giá SGK vẫn là do chính phủ duyệt giá.

      • Thực ra làm sách khoa học tự nhiên không cần phải vẽ nhiều, Tác giả và Biên tập viên có thể cung cấp hình ảnh vì hình ảnh khoa học phải thực sự chính xác, người không có chuyên môn không thể làm được điều này. Tuy nhiên, những tác giả và BTV đó phải nhận thức là đưa nhiều hình ảnh minh hoạ trong sách khoa học là điều quan trọng và có ý tưởng về việc minh hoạ hình ảnh. Hoạ sĩ thiết kế sách của VN có khả năng làm đẹp không kém gì Singapore, thậm chí có thể làm đẹp hơn.
        Điều quan trọng nữa là tác giả chọn cách tiếp cận nào, viết như thế nào để vừa cung cấp kiến thức khoa học một cách chính xác mà lại gây hứng thú cho HS, đưa những kiến thức khoa học vốn khô khan đó trở nên gần gũi, có ích với chúng,…
        Mình rất thích cách tiếp cận và trình bày SGK môn Khoa học của Singapore, họ luôn dùng Concept Cartoon, Concept Mapping,… trong các bài học. HS sẽ rất hứng thú với bài học và nhớ lâu… Túm lại, mình nghĩ VN có đủ người để làm tốt mà sách không quá đắt, có điều những người đó có được dùng hay ko thôi!

        • Muốn làm được sách vừa chất lượng, vừa giá thành không quá đắt, phải bỏ được độc quyền làm SGK, độc quyền 1 bộ SGK.

    • dịch sách chỉ nên dùng để tham khảo thôi. sách của mỗi nước làm ra theo sứ mệnh, mục tiêu phục vụ giáo dục của họ. mà vn thì có mục tiêu giáo dục phải khác chứ làm sao giống y nguyên nước nào được? khi dùng tham khảo sử dụng những gì mà vn cần cho mục tiêu phát triển GD của vN

  • Copy sang đây ý kiến của d/c Sơn Loắng người quyết không chịu rời địa bàn fb:
    Ha Huy Khoai em chỉ nhân tiện “thảo luận” với bạn Chau Ngo về vấn đề hình ảnh – Điểm yếu kém và lạc hậu rất khó khắc phục trong SGK của ta.
    Hình, ảnh và đồ hoạ đều cần nâng cấp. Đây là nguyên nhân phải thay sách giáo khoa ( nếu có tiền). Mỹ thuật yếu kém của SGK sẽ làm giảm tính sáng tạo… ví dụ như vẽ nhà xấu, quy hoạch kém…
    Cũng vì lý do này mà ta nên mua SGK về khoa học tự nhiên của nước ngoài như mua của Singapore. Họ làm chuẩn và gần với cả ta và tây. Mua của họ có thể đàm phán mua đứt rất rẻ (ta tự làm ko thể rẻ như vậy).
    Vấn đề là hiện nay hoạ sỹ có khả năng và trình độ thể hiện các sách về khoa học tự nhiên là thiếu nghiêm trọng. Với cả núi việc như vậy sẽ ko đủ thời gian cho ra một bộ SGK về khoa học tự nhiên Đúng Đủ Đẹp theo tiêu chuẩn cao mà lại nhanh và rẻ.
    Hơn nữa một vấn đề lớn là trong các tranh luận về SGK, các GS thường bỏ qua cái vấn đề này.
    Chúng ta có thể viết đủ “chương” nhưng không đủ “trình” và “độ” để vẽ và đồ hoạ.
    Các hoạ sỹ của chúng ta rất ít người có thời gian và năng lực để minh hoạ cho sách khoa học tự nhiên. Với thời đại hình ảnh như vậy thì Kênh Hinh Ảnh mà kém thì SGK lại lạc hậu. Đợi họ vẽ xong thì mất thời gian. Để họ vẽ nhanh thì mất sự cẩn thận và tiên tiến.
    P/S: viết vài dòng ở đây vì cũng ko còn trẻ nữa (cho việc bàn về SGK) nên ko dám tranh luận ở bên Học Thế Nào . Để thành công SGK phải do các bạn U45 chủ trì. Các bác lớn hơn U45 chỉ nên phản biện
    Hơn nữa lại có việc gia đình vào đúng khung giờ đó nên ko tham gia “chém gió” được

  • Đ/c Sơn Loắng còn có một ý kiến rất hay về việc SGKVN thiếu index
    http://longminh.vn/T%E1%BA%A6M%20QUAN%20TR%E1%BB%8CNG%20C%E1%BB%A6A%20PH%E1%BA%A6N%20TRA%20C%E1%BB%A8U%20THEO%20V%E1%BA%A6N%20INDEX%20TRONG%20S%C3%81CH%20KHOA%20H%E1%BB%8CC%20N%C3%93I%20CHUNG%20V%C3%80%20S%C3%81CH%20KHOA%20H%E1%BB%8CC%20D%C3%80NH%20CHO%20THI%E1%BA%BEU%20NHI%20N%C3%93I%20RI%C3%8ANG
    Hè vừa rồi, ngồi nghiên cứu SGK toán bằng phương tiện hiện đại do c/t Hoàng Tô cung cấp, tôi phát hiện ra thêm một điều là mục lục cũng rất buồn cười. Nhìn vào mục lục có thể thấy hình như SGK soạn ra không theo một chương trình được định trước.

    • Làm ngược thì kết quả nó như thế, anh Châu ạ. Nếu không thay đổi cách làm, lần này e rằng tình hình sẽ vẫn như thế. Bao giờ cũng phải xây nền trước, xây nhà sau và khi xây nhà thì phải căn cứ vào nền. (Tôi làm BĐS nên hay dùng kiểu nó BĐS).

      • SGK mới in năm học 2013-2014 cũng đã có một số quyển có Index, đây là điều đáng mừng 🙂
        Nếu có Index chúng ta có thể kiểm tra được xem việc dạy một tiết học có bị quá tải hay không khi đo tổng số từ khóa và số từ khóa mới được dùng trong tiết học.
        Hiện nay nhiều nước tiên tiến họ cho học sinh từ tiểu học làm các dự án để dạy các kỹ năng làm việc độc lập và làm việc nhóm. Khi làm các Dự Án này, học sinh phải đọc tra cứu nhiều, nên nếu không có index thì ko dạy được theo cách này.
        Đối với học sinh THPT làm đề tài nghiên cứu khoa học như Hội thi Intel ISEF tổ chức hằng năm ở Mỹ, thí sinh khi nộp bài phải nộp bản Tóm Tắt không quá 240 chữ và bắt buộc phải tự liệt kê Index.
        HTN: Anh Sơn viết một bài về chuyện này cho Học Thế Nào nhé.

        • Học Thế Nào nên mở một cái bàn tròn khác cho vấn đề INDEX bởi vì cái này tuy là mục rất nhỏ ở cuối sách nhưng sách khoa học mà không có nó thì coi như phế phẩm vì mất tính khoa học.
          Hiện nay cái vấn đề lớn của GD đại học VN là sách và giáo trình phần lớn thiếu INDEX, một số giảng viên và nhiều sinh viên không hề biết đến nó. Chính vì thế cái vấn đề INDEX này cần cho GD đại học hơn là phổ thông. Giáo trình mà không có INDEX là bị mất đi tính khoa học.
          Có INDEX trong giáo trình sẽ là một bước tiến lớn để xóa lạc hậu trong cách học và nghiên cứu.
          Vấn đề nghiêm trọng tới mức chúng ta không có thuật ngữ chuẩn để dịch chữ INDEX từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

    • Anh Châu à,
      khi em đi Singapore em đã mua đầy 2 vali sách của các lớp tiểu học về để tham khảo cho con. ý kiến mua sách của Singapore rất hay nhưng hiện nay yêu cầu của Singapore đối với học sinh của họ cao hơn so với trình độ hiện tại của học sinh vn. việc đổi mới gd đang phải làm trên một nền GD hiện có mà không phải xóa được tất cả để reset lại từ đầu. em nghĩ vậy không biết có đúng không?

      • Bản thân mình đã mua toàn bộ sách toán Singapore về để dạy con. Mình có mixed feeling. Sách Singapore trình bày khúc chiết, rõ ràng hơn sách Mỹ. Nhưng cả sách Singapore và Mỹ đều thiếu yếu tố “vui”. Học toán như kéo cầy, một lúc cả hai bố con cùng chán.

    • Em là một giáo viên dạy Toán cấp 3. Mục tiêu lớn nhất của cấp 3 là các em phải đỗ đại học (mục tiêu này ưu tiên số 1 nên lấn át các mục tiêu khác). Vì vậy mà người ta sẽ không quan tâm nhiều đến sách giáo khoa viết có hay không mà người ta chỉ quan tâm nội dung trong đề thi đại học. Và GV sẽ dạy đi dạy lại cho các em nội dung này (luyện thi). Do đó, trước khi viết SGK thì người ta phải đưa ra những nội dung và kĩ năng cần có của một học sinh cấp 3 (cho từng môn), đưa ra cả nội dung và phương pháp kiểm tra đánh giá. Từ đó rồi mới soạn thảo một SGK theo mục tiêu trên, thì SGK mới có giá trị sử dụng, nếu không nó chỉ là sách mà học sinh chỉ xem khi cần nhớ công thức.

  • Bác Châu ơi cho con hỏi tại sao sách lịch sử nước ta so với sách các nước khác sao mà khác nhau quá. Ở nước ngoài trông vào đọc rất dễ hiểu và thích thú nhưng khi đọc tới sách lịch sử cấp 3 thôi mà thấy muốn ngán rồi. Có lẽ chăng ta theo cách giáo dục của Liên Xô ngày xưa chăng? Mà thời Liên Xô cũng ra rồi mà tại sao việc thay đổi sách có vẻ như kiến thức hàn lâm ngày càng nặng và ít thực tiễn với các em nhỏ hơn thì phải. Mong bác Châu trả lời giúp con.

    • Mấy năm trước khi dư luận xôn xao về điểm không môn lịch sử của nhiều thí sinh, tôi có tò mò mở sách giáo khoa lịch sử. Tôi đồng ý với bạn là sách chán thật. Rất nhiều sự kiện, rất nhiều ngày tháng, nhưng không hề có câu chuyện, không hề có phân tích, có ý kiến. Đành rằng SGK phải hạn chế yếu tố chủ quan, nhưng lịch sử là một khoa học nhân văn, loại hết yếu tố chủ quan thì nó chẳng còn gì.
      Tôi nghĩ ngoài sức ép chính trị phải trình bày lịch sử theo một dòng chảy nào đó, người viết SGK có lẽ sợ sai, nên hầu như không đưa ra bất kỳ một nhận định nào làm cho lịch sử trở nên thú vị, để cho lịch sử làm sáng tỏ bối cảnh hiện tại.

  • Cảm ơn anh Châu đã lập lên bàn tròn thảo luận về việc ” đổi mới” SGK.
    Tôi có một vài ý tham gia cùng anh/chị em:
    – Việc nêu lý do đổi mới rất mơ hồ, không có cơ sở để thuyết phục: Kì hội thảo đã bắt đầu từ 2011 kết hợp với việc triển khai mở rộng chương trình PISA tới các trường học trên cả nước. Khi đó mọi người thấy cách viết sách và câu hỏi của PISA “hay quá”, thế là lại cùng nhau hò reo chương trình SGK của Việt nam đang quá nặng lý thuyết và thiếu thực tế. Chốt lại: chúng ta cần đổi mới SGK !?!
    – Các cá nhân tham gia hội thảo không hiểu soạn thảo sách và câu hỏi theo mẫu của PISA như thế nào. Khi đó Bộ GD-DT đưa 1-2 đồng chí/môn đi tập huấn ở Úc trong 1 tháng. Việc triển khai vô cùng khó khăn vì năng lực những người tham gia viết câu hỏi đánh giá “năng lực” không hề đơn giản. Mà việc làm chắp vá thế này, không hề có một sự thống nhất chương trình.
    – Khi thực hiện: ” tích cực” tham khảo sách nước ngoài. Và chuyện copy không hết và chọn lọc theo kiểu cái này mình có thì dùng, còn lại bỏ.
    – Thời gian thực hiện rất vội vàng. VD: trong 1 tháng mỗi người phải viết được 20 câu hỏi đánh giá “năng lực”.
    – Ngoại ngữ: quá trình họp và hội thảo đều có mối liên hệ mật thiết với đề án 2020. Ngoại ngữ đưa vào phương pháp chung chung, không có người kiểm định chất lượng. Ở trên quyết gì, ở dưới nghe thế thôi.
    Qua kì này, tôi có cảm giác được ” khủng hoảng” giáo dục đã đến đỉnh điểm. Từ chương trình, SGK và chất lượng giáo viên đang tệ quá mức.
    Là một người thích làm giáo dục, tôi thấy việc ” đổi mới” là cần thiết, nhưng phải dựa trên nền tảng mình đã làm được từ trước. Việc thay đổi SGK nhiều lần đã rất lãng phí và không cải thiện được chất lượng.
    Nếu qua đề án này, tất cả những người có năng lực và tâm huyết như anh Châu cùng tham gia và thực hiện sẽ khả quan hơn.

  • Nguyên Vụ phó Vụ giáo dục Đại học Lê Viết Khuyến cho rằng việc đổi mới chương trình, SGK là bộ đang đổi mới từ ngọn, việc cần làm trước hết phải là thiết kế hệ thống giáo dục, có đường hướng rồi thì mới lo đổi mới sách. GS có đồng tình với quan điểm này?

  • Anh Châu ơi, chúng ta có trao đổi một chút về các con số “khái toán” của đề án đổi mới sách giáo khoa không? Có quá nhiều con số và chúng mỗi lần một khác. Tôi cũng không hiểu là có cần lấy nguồn ngân sách nhà nước cho việc biên soạn sách giáo khoa không?
    Nếu chúng ta chấp nhận không độc quyền sách giáo khoa và sẽ có nhiều bộ sách giáo khoa thì tiền bản quyền sách giáo khoa nằm ngay trong giá bán sách giáo khoa.

    • Con số “khái toán” cũng là một đề tài thú vị. Tôi thấy một chi tiết thú vị là khi khi bỏ ra không biết mấy tỉ đô đi mua tàu ngầm thì ít người kêu ca, trong khi đó đổ tiền vào giáo dục thì như anh thấy rồi đấy. Tôi không nghĩ rằng người dân không muốn đổ tiền công vào giáo dục vì bản thân họ đổ tiền tư rất nhiều vào khoản này. Như vậy nó chỉ phản ánh chỉ số lòng tin vào hiệu quả đầu tư công của giáo dục.

      • Anh Châu ạ, tôi không nghĩ là người dân Việt Nam tiếc tiền đầu tư cho giáo dục. Trong thư tôi gửi BT Luận ngày 15/7/2013, tôi còn đề nghị nhà nước tăng chi giáo dục lên nữa, không chỉ là 20% GDP (vì GDP của Việt Nam nhỏ quá). Tôi còn đề nghị nhà nước bán bớt DNNN để tăng chi giáo dục, tăng đầu tư vào con người – hiền khí quốc gia.
        Mỗi năm người dân Việt Nam đang chi nhiều hơn con số 34.000 tỷ đồng cho khoảng 60.000 con em du học nước ngoài.
        Người dân Việt Nam ủng hộ việc chi nhiều tiền hơn cho giáo dục, anh Châu ạ. Vấn đề tôi và nhiều người quan tâm là chi như thế nào và có đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục hay không? Căn chứ vào những thông tin về đề án sách giáo khoa, tôi không đủ tin.
        HTN: Ông ấy có trả lời anh không?

        • Anh Nam, tôi nghĩ con số 20% GDP không chính xac đâu. Đây là 20% ngân sách nhà nước, chứ không phải GDP.
          Nhìn chung cái “khái toán” không tạo được sự tin tưởng. Tôi nghe nhiều người kêu ca nhất về việc mua “thiết bị giáo dục” . Các trường phổ thông bắt buộc phải nhận rồi về đắp chiếu không bao giờ dùng đến.

    • Tôi không hiểu lắm con số “khái toán” anh ạ, vì thông tin mà Bộ GD đưa ra giữa ông Thống và ông Hiển mâu thuẫn gay gắt. Nếu thông tin của ông Hiển là đúng thì tại sao khoản 20 ngàn tỷ thiết bị giáo dục lại tống vào trong chương trình SGK, trong đó SGK chỉ có 100 tỷ. Thú thực là tôi không cố gắng hiểu anh ạ.

      • Xin lỗi anh Châu. Tôi gõ nhầm đấy. 20% chi tiêu công (gọi là ngân sách nhà nước cả TW và địa phương), anh Châu ạ.
        HTN: Số phần trăm thì nó cố đinh ở 100%. Nếu anh tăng % cho GD thì đâu đó sẽ mất bớt % đi. Vậy nên đòi hỏi tăng % cho cái mình cần, chưa chắc đã được những người thấy cái khác cũng cần, họ đồng ý bớt của mình đi. Ví dụ tăng % chi tiêu công cho GD, thì phải bớt % chi cho Y Tế.

        • Cụ thể tôi đã kiến nghị thế này, anh Châu nhé:
          “8. Chi cho giáo dục và đời sống, chất lượng đội ngũ giáo viên.
          Ông cha ta nói: “Có thực mới vực được đạo”, điều đó đúng với mọi thứ, trong đó có giáo dục.
          Theo các số liệu tại trang mạng http://www.nationmaster.com, tỷ lệ “Đầu tư công cho giáo dục / Chi tiêu của chính phủ” (“Public spending on education/ Government expenditure”) của một số quốc gia như sau: Trung Quốc – 12,71%, Thái Lan – 19,98%, Singapore – 18,22%, Malaysia – 28,02 và Philippines – 17,22%.
          Ở nước ta, theo các nghị quyết của Đảng, Quốc hội và chủ trương, chính sách của Chính phủ, chi ngân sách nhà nước (cả trung ương và địa phương) cho giáo dục đào tạo và dạy nghề được xác định ở mức 20%. Xét về tỷ lệ % thì con số này không nhỏ so với các nước trên, nhưng vì tổng chi ngân sách của Việt Nam nhỏ hơn đáng kể so với họ (do nền kinh tế có GDP còn nhỏ), con số tuyệt đối chi cho giáo dục đào tạo ở nươc ta thấp hơn nhiều (đặc biệt nếu tính bình quân trên một giáo viên, trên một học sinh).
          Nếu xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhân tài là nguyên khí quốc gia, không thể không cải thiện tỷ lệ và tổng chi ngân sách cho giáo dục. Nguồn ngân sách được tăng lên một phần dùng để cải thiện thu nhập cho đội ngũ giáo viên, làm sao để nghề giáo viên trở nên hấp dẫn trong các nghề công chức. Ngoài ra, ngân sách tăng thêm cũng dùng để nâng cấp trường lớp, thiết bị giảng dạy, cấp học bổng khuyến học và các nhu cầu thiết thực khác của ngành giáo dục.
          Chúng ta hoàn toàn có thể bán bớt doanh nghiệp nhà nước để đầu tư thêm cho giáo dục.Khi bán bớt doanh nghiệp, nhà nước đỡ phải đầu tư thêm cho chúng, lại càng có thêm nguồn đầu tư cho giáo dục. Trong khuôn khổ nguồn ngân sách có hạn, nếu cần phải lựa chọn một bên là các doanh nghiệp nhà nước, một bên là chất lượng lao động cho mọi thành phần kinh tế, tôi nghĩ nên lựa chọn cái sau. Nó cần hơn cho sự phát triển lâu dài, bền vững của đất nước Việt Nam.
          Câu “Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” dân gian nói suốt mấy chục năm qua, đến nay vẫn đúng nếu so sánh điểm chuẩn vào đại học giữa ngành sư phạm và các ngành khác.Nhiều trường, khoa sư phạm tuyển sinh đại học với điểm chuẩn trên dưới 15 điểm, thậm chí có những ngành điểm chuẩn chỉ 12-13 điểm.Những học sinh với các điểm thi các môn chưa đạt trung bình đó, khi ra trường trở thành giáo viên dạy học sinh, họ sẽ đưa nền giáo dục nước ta đến đâu?Số phận các em học sinh của họ sẽ như thế nào?
          Chúng ta cần tìm cách chấm dứt thực tế đau khổ này vì tương lai các thế hệ con em chúng ta và biến nghề sư phạm thành một nghề thu hút người tài, thể hiện rõ nhất qua điểm chuẩn đầu vào của các trường, khoa sư phạm. Muốn làm được như thế, phải có chế độ đãi ngộ tốt đối với nghề giáo.Muốn có chế độ đãi ngộ tốt thì phải có đủ tiền, không thể khác được.”

        • Ý tôi là, anh Châu ạ, với một lượng tiền có giới hạn thì nhà nước ưu tiên tăng đầu tư vào giáo dục, y tế…, giảm đầu tư vào các DNNN. Kinh doanh thì tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư vốn, còn nhà nước tập trung đầu tư vào “tài-sản-con-người”, gồm cả giáo dục, y tế, anh ạ. Tôi nghĩ về lợi ích dài hạn của quốc gia, đầu tư vào con người lãi hơn.
          HTN: Bên tư pháp họ có khi nghĩ khác, họ cần tiền để cải cách tư pháp, nhằm bảo vệ con người tốt hơn. Quốc phòng cũng thế, họ cần tiền để bảo vệ lãnh thổ, trong đó con người Việt đang sống.

        • Anh Nam ạ,
          Tôi cũng đồng ý với anh là cái quyết đinh chất lượng giáo dục phổ thông là người thầy, chứ không phải quyển SGK. Khi mình lớn lên, nhớ về thời đi học mình nhớ đến người thầy chứ có ai nhớ đến quyển SGK nó ra làm sao đâu.
          Gần đây, học sinh trường Sư phạm hình như không còn học bổng, vì thế điểm đầu vào kém đi nhiều. Theo tôi, việc bỏ học bổng của SV sư phạm là một policy vô cùng tệ hại. Khi có học bổng, trường SP còn thu hút được con em nông thôn, nhà nghèo học giỏi. Bây giờ thì không biết thu hút được ai.
          Ngược lại, Học Thế Nào có thực hiện một vài cuộc điều tra thì thấy hình như mức sống giáo viên so với mặt bằng xã hội cũng không đến nỗi tệ như thế. Không biết thông tin của chúng tôi có chính xác không?

        • Anh Châu, cái anh bảo là “mức sống giáo viên không đến nỗi tệ” chủ yếu là do dạy thêm, do làm nhưng công việc khác ngoài nghề, – những thứ mà tôi không muốn tiếp tục xảy ra.
          Về bản chất, cái sự học thêm ở Việt Nam hoàn toàn không giống cái sự học thêm ở nước ngoài. Học sinh ở ta học thêm kiến thức cơ bản trong chương trình. Ở nước ngoài, học sinh chủ yếu học thêm năng khiếu theo tố chất cá nhân, ngoài chương trình.
          HTN: Anh có khảo sát nào khác đưa ra kết luận này? Anh có thể chia sẻ kết quả khảo sát này ở đây được không?

        • Anh Châu ơi, tôi có tham gia góp ý cho Quý Hiên về bảng câu hỏi điều tra thực trạng công việc và thu nhập của giáo viên. Sau đó không thấy bạn ấy chia sẻ kết quả điều tra. Gia đình tôi có rất nhiều người đang làm giáo viên đại học và phổ thông (vợ, anh vợ, chị vợ), tôi cũng đánh giá được tình hình khi nói như thế, anh ạ.
          Các giáo viên trong nhà tôi cũng rất chia sẻ các trăn trở và kiến nghị của tôi về giáo dục Việt Nam. May quá! Bị ngay trong nhà phản đối thì rất phiền.

        • Có lẽ phải điều tra lại về cuộc sống giáo viên anh Nam nhỉ. Học thế nào đã chuẩn bị một bảng câu hỏi khá tỉ mỉ, chuẩn bị điều tra, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thế nào lại thôi.

        • Rất cần điều tra, anh Châu ơi! Tôi cứ nghĩ là Quý Hiên đã làm rồi cơ đấy, đang định hỏi xin kết quả. Trong tài liệu về cải cách giáo dục Anh, tôi thấy gần như nội dung nào họ nêu cũng kèm theo số liệu điều tra, anh ạ. Còn về góc độ quản trị thay đổi (change management) bọn tôi thường xuyên áp dụng, cái gì không đo đếm được thì không quản trị được, anh ạ.
          Nếu anh và các bạn làm điều tra, tôi sẽ hỗ trợ về kinh nghiệm điều tra.
          HTN: Nhân nói đến quản trị. Trong thời gian ngắn trước mắt, nhóm Đối Thoại Giáo Dục và nhóm Học Thế Nào tập trung vào cải cách quản trị đại học. Chúng tôi sẽ gửi anh giấy mời khi có lịch cụ thể.

        • Bàn với bạn Lương Hoài Nam chút. Bạn đã ở bên xây dựng có lẽ biết tổng số tiền đổ xuống một đoạn đường 10 đồng thì rơi xuống đường chỉ 3 đồng, 7 đồng bay hơi. Dân làm ăn biết cả, kiểm toán nhà nước không kém mà không thấy tin gì. Đấy là cái nhìn thấy sản phẩm. Còn GD thì rất khó thấy sản phẩm nên không ai tin rằng 10 đồng đổ vào GD thì được 1 đồng đâu.

    • Chuyện làm nhiều bộ sách giáo khoa ngày xưa trong clip của ted youth hà nội có đề cập đến rồi bác. Bác Nguyễn Lân Dũng cũng nhiều lần ý kiến quốc hội về vấn đề sách giáo khoa nhưng lực bất tòng tâm về vấn đề mày. Nhiều bộ thì cũng sao đâu nhỉ. Chắc cũng cần tới lúc cổ phần hóa giáo dục rồi. Tiện thể gởi cho bác nào chưa xem cái clip của bác Nguyễn Lân Dũng.
      https://www.youtube.com/watch?v=EYZHoRlWl7I

  • GS có đề xuất việc giám sát và kiến nghị thay đổi sách giáo khoa này cần được uỷ thác cho một Uỷ ban giáo dục quốc gia độc lập với các cơ quan hành chính sự nghiệp của Bộ giáo dục và đào tạo. Vậy Ủy ban này sẽ gồm những ai? Cơ chế hoạt động ra sao? Làm sao để phát huy hiệu quả của Ủy ban này?

    • Theo tôi biết, ở Pháp Uỷ ban giáo dục quốc gia do Tổng thống chỉ định. Uỷ ban này thực hiện nhiệm vụ tư vấn do chính phủ giao phó, có khả năng nghiên cứu, và có thể thẩm vấn những người có liên quan trong ngành giáo dục, để đưa ra những nhận định của mình. Ví dụ như việc thẩm định sách giáo khoa, Uỷ ban có thể thẩm vấn nhà giáo, học sinh và phụ huynh học sinh và những người khác để đưa ra nhận định của mình về tình trạng của SGK hiện hành. Tất nhiên ý kiến này phải độc lập với những người viết SGK và những người in SGK.

  • Tôi cũng không đồng ý cho việc dịch SGK của nước ngoài, ngay cả sách KHTN. Tuy nhiên, thực sự trình độ, cũng như tính cẩn thận, nghiêm túc trong các hình vẽ minh hoạ,… là vấn đề lớn. Các dịch giả rất đau đầu về việc thể hiện bìa của tác phẩm, chỉ cốt ăn khách theo thị hiếu số đông mà không nêu được nội dung, vì không đọc tác phẩm là ví dụ… Việc này sẽ lớn trong SGK tự viết.

  • Đừng vội lấy SGK làm xuất phát điểm đổi mới giáo dục. Trinh tự đổi mới giáo dục cần phải xác định theo thứ tự
    Thứ nhất: Học để làm gì? Đào tạo ra sản phẩm con người toàn cầu có hình thù thế nào để đáp ứng mục tiêu hội nhập Quốc tế như thế nào?
    Thứ hai: Học cái gì? Điều này chỉ xác định sau khi xác định rõ mục thứ nhất. Nói đi nói lại thì học cũng để phục vụ cuộc sống. Vậy hãy xem cuộc sống đang cần gì? Lấy một thí dụ tại sao Toán của các nước có tính ứng dụng rất cao trong thực tế cuộc sống thì toán của chúng ta chỉ toàn là học thuật ( Toán nước ngoài học rất nhiều về các cách chọn phương án rất cụ thể và rất đời thường).
    Thứ ba: Học như thế nào? Điều này phụ thuộc vào mục thứ hai. Phải biết học cái gì thì mới chọn cách học thế nào chứ. Mỗi đối tượng môn học, ngành học cũng có phương pháp nghiên cứu và tiếp cận riêng phù hợp.
    Xét một cách tổng thể như vậy thì khi chưa thiết kế lại hệ thống chương trình khung ( mục thứ nhất) thì làm mục thứ hai là viết lại sách để làm gì? và viết cái gì chứ?

  • Câu hỏi 7: Có cần thiết phải có sách giáo khoa không, hay chỉ có chương trình khung thôi là đủ?
    – Kinh nghiệm cổ Hy lạp. Khoảng 400 năm trước Tây Lịch, Socrates thầy dạy học cho Plato. Sau đó, Plato mở Academy dạy học cho dân chúng. Trong đám học trò của ông có Aristotles. Aristotles lại có đứa học trò tên là Alexander đại đế, 20 tuổi đã cầm binh, bách chiến bách thắng. Không hiểu là những ông thầy đó có SGK không? Những ông ấy có biết mình sẽ dạy cái gì không?
    – Kinh nghiệm ở VN. Hồng Minh: Ở chỗ tôi có những học sinh cầy nát quyển sách giáo khoa, mà rớt vẫn rớt. Thanh Hải: Vì cầy nát SGK nên mới rớt ĐH.
    – Kinh nghiệm ở California. Ở đây có 3 loại học sinh. Học sinh trường công: trường bắt buộc phải cung cấp SGK cho học sinh (luật là luật). Học sinh trường tư: chính phủ không biết họ dạy cái gì, như thế nào, miễn là cha mẹ đồng thuận là được. Học sinh ở nhà (home-schooling): cha mẹ dạy ở nhà, theo guideline của chính phủ.
    Vậy câu hỏi là: SGK có cần thiết không hay là chỉ sửa đổi chương trình khung là được?

    • Đây là một câu trong tài liệu tổng hợp về quá trình đổi mới giáo dục Anh:
      “Impirical evidence from the USA (Chubb & Moe, 1990) is supportive of the view that decentalized schooling systems can produce better results, MEASURED IN TERMS OF EDUCATIONAL OUTCOMES”.
      Điều đó giải thích thực thế mà bạn Phan Như Huyên nói về giáo dục California.
      Tài liệu cũng cho thấy giáo dục Anh đã tiếp thu rất nhiều các kinh nghiệm đào tạo dạy nghề của Đức, lĩnh vực mà Đức mạnh hơn Anh.
      (CEE DP 57: Education Policy in the UK, Stephen Machin & Anna Vignoles, 2006).

      • Đồng ý với anh Châu. Nước nào cũng có sách giáo khoa cả. Chỉ có điều họ không làm sách giáo khoa kiểu nước mình, anh Châu biết rõ quá.

  • Là một giáo viên THPT tôi thấy việc đổi mới sách giáo khoa hiện nay là vô cùng cần thiết. Kiến thức trong đó có nhiều thứ lạc hậu quá rồi. 🙁
    Nhưng nếu vẫn là phương pháp đổi mới của 10 năm về trước thì thật là vô nghĩa và tốn quá nhiều kinh phí.
    Thiết nghĩ:
    1. Ngành giáo dục của VN cần có một mô hình (khung) chương trình chuẩn từ bậc mầm non đến đại học trước khi thay đổi sách giáo khoa. Hiện nay, giáo dục VN thay đổi chóng mặt nhưng thay đổi theo kiểu chắp vá, chẳng khác gì đẽo cày giữa đường. Còn nếu như Giáo sư Châu đã từng nói rằng: “Thi không đảm bảo nghiêm túc thì nên bỏ” – thì tất cả các kì thi của HS VN đều bỏ được.
    2. Nhiều bộ sách giáo khoa, chứ không phải độc quyền như ngày nay: Hãy cho giáo viên, HS, và phụ huynh nhiều sự lựa chọn hơn chứ không phải là bắt buộc. Giáo dục cần có sự cạnh tranh để phát triển chứ không phải là bắt buộc.

      • Theo tôi, đây là một câu hỏi khá quan trọng. Chắc chắn phải có khá nhiều chỗ bất cập, hoặc lạc hậu một cách cơ bản, thì mới cần phải thay đổi sách giáo khoa phải không ạ? Đề nghị các bác đưa ra một vài ví dụ cụ thể.

        • Một vài ví dụ (đã tham khảo qua giáo viên chuyên môn)
          1. Môn sử: Quá nhiều sự kiện, Hình ảnh minh họa ít, hệ thống kiến thức( một số phần) không hợp với tiến trình lịch sử, lịch sử thế giới quá dài,…
          2. Môn địa lý: SGK 12 – kênh chữ nhiều, SGK 10 – nội dung kiến thức nặng, số liệu chưa đc cập nhật,..
          3. Môn toán: kiến thức nặng, cắt một phần nội dung toán cao cấp xuống THPT ( xác suất,…)
          4. Môn GDCD: kiến thức hàn lâm( kiến thức môn triết), nên thay bằng chương trình giáo dục thực tiễn hơn ( giáo dục giới tính, teamwork, hoạt động ngoại khóa, hoạt động hướng nghiệp,…)
          5. Môn tin: SGK 10 – nội dung lạc hậu ( phần : giới thiệu máy tính, mạng máy tính,…

  • Đây là ý kiến của bạn Phạm Tường Vân, người không biết trèo tường để vào Học thế nào:
    Mình k vào đc trang kia, mình còm ngay đây đc k? Đây là ý kiến của mình:
    Tạm thời tôi chỉ đề cập riêng khía cạnh dạy Văn và học Văn.
    Học Văn trong trường phổ thông để làm gì? Tôi cho rằng cần đạt đc 2 mục tiêu tối thiểu: truyền thụ năng lực cảm thụ (văn chương) và kỹ năng biểu đạt (ngôn ngữ). Nếu xét về 2 khía cạnh này thì SGK của ta hiện nay chỉ làm đc điều thứ 2 ở mức sơ khai, còn điều 1 thì hoàn toàn thất bại, nếu không muốn nói là ngược lại.
    Thời cấp 3 tôi học trường chuyên, ở đây phần “cảm thụ” rất được chú trọng. Để tạo thêm hứng thú cho học trò, vượt ra khỏi khuôn sáo cũ rích và khô cứng, các thầy cô của chúng tôi đã dùng ngay các tác phẩm văn học trên báo Văn Nghệ đang rất đình đám thời ấy để giảng dạy.
    Nhờ vậy mà tôi có cơ hội biết đến Tướng Về Hưu, Vàng Lửa, Kiếm Sắc, Phẩm Tiết, từ đó biết thêm Phạm Thị Hoài, lội ngược lịch sử để khám phá Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, và có cơ hội thâm nhập dòng văn học tiền Đổi Mới của Xô Viết…
    Sự táo bạo, phá rào ấy đã mở ra một cánh cửa lớn.
    Đến giờ tôi vẫn vô cùng biết ơn họ vì điều đó.
    Thế nên, xây dựng 1 bộ SGK như thế nào để giáo viên và học sinh còn những khoảng rộng để update những vấn đề thời cuộc là điều rất quan trọng.

  • Đối với bản thân em thì mới bước qua giai đoạn cấp 3 từ năm ngoái. Bây giờ đã là một sinh viên đại học năm nhất. Giờ trông lại cấp 3 thì đúng là một cực hình. Năm ngoái clip sự trăn trở của kẻ lười biếng thật sự là một chấn động lớn đối với giáo dục Việt Nam. Lúc đó suy nghĩ lại thì chả lẽ ngày xưa mình học như một con vẹt. Học toán mà chả biết bản chất đạo hàm là gì, môn văn thì học những thứ đã được viết sẵn từ những “ông già” và bắt chúng ta phải được học sẵn theo cái lối tư duy đó. Như thế đã bóp nát cái tư duy và cái tương lai Nobel văn học cho Việt Nam rồi1

  • Tôi nghĩ thế này: Việc đổi mới chương trình, SGK, đổi mới phương pháp … giống như là cho ăn hay cho cho thuộc bổ vậy.
    Nhưng nếu bệnh không được chữa thì dù có ăn bao nhiêu cơ thể cũng không thể khỏe mạnh mà phát triển được.
    Những thứ bệnh của giáo dục như bênh thành tích chẳng hạn sao không được bàn đến trước nhỉ.
    Từ bệnh thành tích lại đẻ ra bệnh học thêm, rồi bệnh gian dối. Từ bệnh gian dối mới dẫn đến những học sinh học xong trung cấp Tin học mà không soạn được cái văn bản cho ra hồn, không biết bật/tắt máy tính đúng cách. Từ bệnh thành tích dẫn đến những hs giải toán như cái máy.
    Rồi lương và đời sống gv…
    Xin được chỉ giáo ạ.
    HTN: Chủ đề bàn tròn hôm nay là cải cách Sgk. Làm ơn không đi lạc ra ngoài.

  • Ồ. Ý kiến nhiều quá, đọc suýt kịp. 😉
    Tôi cũng xin góp một ý mà chưa thấy ai bàn.
    SGK là gì? Xưa nay người ta vẫn hiểu SGK là một bộ sách chuẩn, có tính pháp lý do Nhà Nước soạn, bắt tất cả các địa phương, các trường, các giáo viên dạy theo. Hiểu theo cách đó thì Nhà Nước thích lên là thay sách và bắt tất cả phải theo. Vậy chả còn gì để nói, để bàn. Các trường học, các GV chỉ còn một việc là phải đối phó bằng cách lên lớp thì phải dạy theo SGK để không ai kêu ca, khiển trách và mở các lớp học thêm để đảm bảo dạy được những thứ mà các trường, các GV cho là cần đối với học sinh.
    Có lẽ cách hiểu trên không còn phù hợp nữa nên mới phải ngồi lại để bàn bạc. Vậy SGK là gì? Chương trình là gì?
    Theo tôi chương trình là một con đường để GD, để ĐT mà Nhà Cầm Quyền, đại diện người dân, cho rằng nếu thực hiện theo nó thì phần lớn đối tượng (chủ yếu là trẻ em trong độ tuổi) đạt được những mục đích xã hội mà Nhà Cầm Quyền + Người Dân mong muốn. Lại nảy ra mục đích ấy là gì? Theo tôi (tạm) là:
    Về phía Nhà Cầm Quyền: Ổn định XH + đảm bảo quyền lực thể chế = sự phát triển vừa phải của Người Dân.
    Về phía Người Dân: đảm bảo sự phát triển Cá Nhân cho con cái + công bằng XH = hy vọng đời sống tương lai.
    Vậy mong muốn Người Dân là rất khác nhau: người ở nửa dưới mong muốn một mức sàn, người ở nửa trên mong muốn một mức phát triển cao.
    Chương trình, có thể khẳng định là, không thể đáp ứng tất cả mong muốn của Người Dân. Vậy chương trình sẽ đảm bảo mức sàn, ngoài ra ai có nhu cầu cao hơn được khuyến khích, được đảm bảo tự do học hành. Và chương trình có tính pháp lý ở chỗ: các trường học phải thực hiện được tối thiểu là chương trình ấy.
    Còn SGK là một bộ sách được biên soạn để đảm bảo khá chắc chắn nếu thực hiện theo đó thì thực hiện được chương trình. Theo cách hiểu này SGK CŨNG CHỈ LÀ MỘT BỘ SÁCH CÓ TÍNH THAM KHẢO, KHÔNG CÓ TÍNH PHÁP LÝ.
    Theo lí luận như vậy, hoàn toàn có thể có, và cần có nhiều bộ SGK do nhiều tổ chức (Nhà Nước và Tư Nhân) viết; và tuỳ trường có thể lựa chọn dạy theo một hay nhiều bộ SGK đã có, hoặc có thể tự viết SGK để đảm bảo chương trình (Tính pháp lý) và mục đích riêng của trường (= mong muốn của học sinh và gia đình).
    Lại nảy sinh vấn đề : nhiều SGK như vậy thì tổ chức thi TN thế nào? Vì chương trình đã đảm bảo mức sàn (và tính pháp lí) nên thi TN theo kiến thức trong chương trình cho tất cả các đối tượng (bao gồm cả những người tự học, không qua trường lớp) đăng kí từ cấp thấp đến cao trong hệ thông phổ thông.
    Tóm lại theo ý tôi:
    – Nhà Nước đề ra mục đích GD, chiến lược GD dài hạn đại diện cho mong muốn Người Dân.
    – Nhà Nước lên chương trình GD để thực hiện mục đích ấy.
    – Nhà nước viết một bộ SGK để tham khảo và bán để thu hồi vốn và lỗ thì phải chịu trách nhiệm.
    – Nhà Nước đề ra luật GD đảm bảo cho: việc viết SGK (chẳng hạn lỗ 2 lần liên tiếp thì Bộ không được viết SGK nữa); việc thi TN nghiêm túc và cởi mở; các trường tự do dạy theo chuẩn tối thiểu của chương trình; các tổ chức, cá nhân được viết SGK và bán; Nhà Nước đánh giá các trường thông qua các kì thi; các trường đánh giá GV thuộc sự quản lý theo cách của trường.
    Tôi xin nhấn mạnh: không có chuyện sở GD, phòng GD đưa các chuyên viên (có kẻ chưa đi dạy bao giờ) về thanh tra, đánh giá GV.
    Về nội dung SGK thì theo tôi không nhất thiết phải tiên tiến nhất, hiện đại nhất hay là đẹp nhất tốt nhất, … mà là đảm bảo nhu cầu XH thông qua đảm bảo chương trình.

  • Xin góp một ý nhỏ : đổi mới sgk cần lưu ý một điểm là kiến thức nào quá hàn lâm thì chưa vội đưa vào sgk phổ thông. Nó nên để dành cho bậc học khác cao hơn

  • Ý kiến tiếp của Phạm Tường Vân:
    Văn chương và Ngôn ngữ là lĩnh vực có cơ hội “bắt vít” với thời cuộc nhanh nhất, so với các môn còn lại, và nếu bỏ lỡ cơ hội này, các thầy cô đang bỏ lỡ cơ hội đem lại nguồn hứng khởi cho học trò trong một thế giới đang biến đổi không ngừng.
    Thế nên, theo mình SGK môn Văn nên mỏng thôi, mà thật giá trị, còn để những “khoảng hở” cần thiết để cho việc ‘bắt vít” với thời cuộc.
    Để tránh việc phải soạn đi soạn lại, mình ước gì việc chọn lựa các tác phẩm đưa vào SGK phải dựa trên những giá trị thực sự vững bền, không đu bám vào thời thế hay thị hiếu.
    Ước các nhà biên soạn có tầm nhìn xa, và khả năng nhận trân đc giá trị.
    Mình mà đc soạn sách, mình sẽ đưa số lượng tác phẩm kinh điển của thế giới nhiều hơn trong nước, bỏ hết dòng văn chương ít văn chương mà chỉ có chức năng tuyên truyền cho thứ chủ nghĩa không sống dai hơn 2-3 thập niên nữa.

  • Tạm thời tôi chỉ đề cập riêng khía cạnh dạy Văn và học Văn.
    Học Văn trong trường phổ thông để làm gì? Tôi cho rằng cần đạt đc 2 mục tiêu tối thiểu: truyền thụ năng lực cảm thụ (văn chương) và kỹ năng biểu đạt (ngôn ngữ). Nếu xét về 2 khía cạnh này thì SGK của ta hiện nay chỉ làm đc điều thứ 2 ở mức sơ khai, còn điều 1 thì hoàn toàn thất bại, nếu không muốn nói là ngược lại.
    Thời cấp 3 tôi học trường chuyên, ở đây phần “cảm thụ” rất được chú trọng. Để tạo thêm hứng thú cho học trò, vượt ra khỏi khuôn sáo cũ rích và khô cứng, các thầy cô của chúng tôi đã dùng ngay các tác phẩm văn học trên báo Văn Nghệ đang rất đình đám thời ấy để giảng dạy.
    Nhờ vậy mà tôi có cơ hội biết đến Tướng Về Hưu, Vàng Lửa, Kiếm Sắc, Phẩm Tiết, từ đó biết thêm Phạm Thị Hoài, lội ngược lịch sử để khám phá Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, và có cơ hội thâm nhập dòng văn học tiền Đổi Mới của Xô Viết…
    Sự táo bạo, phá rào ấy đã mở ra một cánh cửa lớn.
    Đến giờ tôi vẫn vô cùng biết ơn họ vì điều đó.
    Thế nên, xây dựng 1 bộ SGK như thế nào để giáo viên và học sinh còn những khoảng rộng để update những vấn đề thời cuộc là điều rất quan trọng.

  • Văn chương và Ngôn ngữ là lĩnh vực có cơ hội “bắt vít” với thời cuộc nhanh nhất, so với các môn còn lại, và nếu bỏ lỡ cơ hội này, các thầy cô đang bỏ lỡ cơ hội đem lại nguồn hứng khởi cho học trò trong một thế giới đang biến đổi không ngừng.
    Thế nên, theo mình SGK môn Văn nên mỏng thôi, mà thật giá trị, còn để những “khoảng hở” cần thiết để cho việc ‘bắt vít” với thời cuộc.
    Để tránh việc phải soạn đi soạn lại, mình ước gì việc chọn lựa các tác phẩm đưa vào SGK phải dựa trên những giá trị thực sự vững bền, không đu bám vào thời thế hay thị hiếu.
    Ước các nhà biên soạn có tầm nhìn xa, và khả năng nhận trân đc giá trị.
    Mình mà đc soạn sách, mình sẽ đưa số lượng tác phẩm kinh điển của thế giới nhiều hơn trong nước, bỏ hết dòng văn chương ít văn chương mà chỉ có chức năng tuyên truyền cho thứ chủ nghĩa không sống dai hơn tuổi thọ của 1 bộ SGK con nít.

  • Trong lần thay sách giáo khoa trước, có bạn kể thế này:
    Trường mình được chọn triển khai làm điểm thay sách giáo khoa. Khi dạy có người của dự án về dự và lắng nghe ý kiến giáo viên. Khi giáo viên có ý kiến phản hồi, nếu không đúng ý người nghe thì được nhắc: Soạn lại, dạy tiếp. Cứ như vậy đến khi anh em hiểu ra thì thực hiện thế này: bài nào cũng cứ khen hay. Kết quả là vừa nhẹ nhàng tình cảm, vừa được tiền bồi dưỡng. Sau 4,5 năm sử dụng sgk lại thấy nhiều tiếng kêu: Kiến thức trong sách nặng quá.
    Xin lỗi, tôi đã cố gắng nhưng hình như vẫn đi lạc đề thì phải.

    • Tôi không nghĩ là ý kiến của bạn lạc đề. Theo phác thảo triển kế hoạch triển khai chương trình – SGK mới có việc dạy thí điểm. Nhưng theo dư luận thì cách triển khai thí điểm của chương trình hiện hành rất có vấn đề. Mổ xẻ để chỉ ra những sai lầm trong cách làm chương trình hiện hành mà chương trình sau 2015 định “kế thừa” là điều hết sức cần thiết. Hôm trước, tôi cũng thấy một thầy giáo nguyên là chuyên viên ở Sở GD&ĐT Nghệ An bày tỏ sự thất vọng khi nghe nói chương trình sau 2015 sẽ lại dành một phần kinh phí để soạn sách giáo viên, trong khi theo thầy ấy sách giáo viên là một loại “văn mẫu”, thể hiện tư duy áp đặt, tư duy nhồi nhét từ trên xuống dưới.

  • Theo tôi, giữa ta và các nước Tây phương khác nhau về thể chế chính trị, tư tưởng… nên bàn và so sánh SGK về các môn khoa học xã hội sẽ khó được chấp nhận. Thế nhưng, các môn Khoa học tự nhiên như Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh vật học…hoàn toàn có thể học hỏi /mua bản quyền một bộ sách nước ngoài mà ta thấy phù hợp nhất với người Việt. Khoa học tự nhiên thì sự đánh giá các giá trị không phụ thuộc hê tư tưởng!
    Như thế sẽ đỡ mất công, sức thời gian, và có thể tiết kiệm tiền bạc nữa (phải thử hỏi mua mới biết!). Và về giá trị thì có thể yên tâm là trên trung bình!
    Đòi hỏi hoặc trông chờ các nhà chuyên môn cho rằng một bộ SGK (về KHTN) nào đó là hoàn hảo, phù hợp chắc không bao giờ có. Vì làm bao giờ cũng khó, chỉ có chê và tự khen thì dễ. Chư kể sự khác biệt (dù không lớn) trong quan niệm cua các nhà chuyên môn.
    Cá nhân tôi nhận xét SGK về KHTN hiện nay quá dở (xin không nói cụ thể…đỡ mất thời gian), nặng về nhồi nhét, nên thay đổi.
    Các môn KHTN cũng dạy cho con người ta cách tư duy logic, khoa học, nên nếu có sách tốt, dạy tốt thì học trò cũng được lợi nhiều lắm rồi. Dạy kiến thức ít mà khiến trẻ nắm chắc được mạch tư duy trong từng bộ môn khoa học ( nhất là toán học) thì đã giúp cho trẻ phát triên trí tuệ lành mạnh rồi.

  • Chia sẻ với bạn Huỳnh Trung Thuận.
    GS Ngô nói học toán cần vui, mình nghĩ học văn còn cần vui hơn nữa, nhất là trong thời đại văn hóa nghe nhìn vây bủa.
    Con mình từ chỗ 8 tuổi làm được một lúc 3 bài thơ, 10 tuổi viết vèo 1 cái truyện viễn tưởng, giờ nó gần như chán học văn cực độ, và hậu quả là nó đã không còn tư duy bằng tiếng Việt. 🙁
    Tụi nó học // 2 chương trình: VN và Úc, vì thế, những điểm bất cập của SGK VN có cơ bộc lộ.
    Mình đã khảo sát 1 vòng quanh các bạn của con mình, cảm nhận chung là: chương trình Văn tiếng Việt vừa chán, vừa hay bắt học thuộc.
    Học thuộc 1 bài thơ dở, có khác nào bắt hôn 1 mụ phù thủy vừa già vừa xấu?

  • Giờ mới đọc thư hocthenao. Mình muốn trao đổi với các bạn về những nội dung mà anh Châu đưa ra trong trao đổi bàn tròn này.
    Trước hết theo mình khi tiến hành thay đổi chương trình, điều kiện đầu tiên cần biết để ra quyết định thay đổi chương trình là bối cảnh hiện nay đã cần thay đổi chương trình phổ thông chưa? Theo mình câu trả lời là đã đến lúc cần thay đổi chương trình giáo dục phổ thông vì: 1) Những thay đổi về kinh tế xã hội đất nước trong hơn 10 năm qua từ khi chương trình phổ thông hiện nay được thực thi, trong đó có những thay đổi khá lớn trên bình diện quốc gia, dân tộc và thế giới đó là sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam kéo theo nhiều sự thay đổi khác đòi hỏi phải thay đổi chương trình giáo dục phổ thông; 2) Trên thực tế, giáo dục dù đạt được những thành tích nhất định thì tới thời điểm này cũng cần thay đổi cái áo mới (không nới rộng cái áo giáo dục hiện đang mặc). Điều này đã được các phương tiện truyền thông chuyển tải liên tục sự không hài lòng của phụ huynh, của học sinh, các nhà tuyển dụng và xã hội; 3) Về thời điểm là phù hợp vì hiện nay, kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới, cho thấy trong khoảng từ 5 đến 7 năm, cần phải có sự điều chỉnh chương trình giáo dục phổ thông. Ở nước ta, không chỉ điều chỉnh, bởi chúng ta muốn thay đổi việc dạy và học hiện nay: thay việc chủ yếu là truyền đạt tri thức (nặng về nội dung kiến thức) sang việc dạy học hướng tới phát triển năng lực học sinh…
    Theo tôi, sau khi đã xác định cần sự thay đổi thì việc tiếp theo là xác định cho được, sản phẩm của giáo dục phổ thông là gì. Tôi cho rằng, một học sinh sau tốt nghiệp trung học phổ thông phải:
    (1) Là người nắm vững các kiến thức cơ bản phổ thông. Trước hết kiến thức căn bản không phải là toàn bộ kiến thức của nhân loại, cũng không phải là toàn bộ kiến thức của các ngành học được giảng dạy trong nhà trường phổ thông mà chỉ là những kiến thức cơ bản làm nên diện mạo của ngành khoa học.
    (2) Có những kỹ năng cần thiết để giải quyết bài toán cuộc sống mà họ sẽ sống thực hôm nay và mai sau. Những kỹ năng như vậy không phải là những kỹ năng quy định (bắt buộc) của nghề nghiệp trong một thời điểm công nghệ nào đó mà là năng lực sáng tạo. Đó là năng lực phát hiện ra các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và tìm ra lời giải, khả năng làm việc độc lập;
    (3) Có năng lực hợp tác giữa các cá nhân trong tập thể, trong cộng đồng, tạo nên một năng lực chung, lớn mạnh hơn để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống;
    (4) Có lòng nhân ái, biết quan tâm đến người khác (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, xã hội, dân tộc…), biết vận dụng các kỹ năng của mình vào việc phục vụ các mục tiêu cao cả của cộng đồng, của xã hội và hội nhập quốc tế.
    Bốn mục tiêu mà giáo dục cần đạt được trong tương lai khi tiến hành đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo đòi hỏi chúng ta phải thực học, thực dạy. Nhà trường của chúng ta phải là nơi nuôi dưỡng lòng khát khao chiếm lĩnh tri thức, khát vọng sáng tạo, khát vọng cống hiến… Những khát vọng ấy của người học không chỉ thể hiện trong nhà trường, bởi nhà trường mà hơn thế người học còn mang theo suốt cuộc đời. Học sinh của chúng ta (nói chung) thiếu tự tin, thụ động trong việc tiếp thu tri thức, ít phản biện và ít có kĩ năng làm việc tập thể. Những thành công (số ít) của những học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi quốc gia, quốc tế có thể nói có nguyên do từ sự biết tự tin, dám phản biện và biết làm việc tập thể. Những học sinh như thế, có “ném” vào đâu chúng cũng phát triển “tươi tốt”, cũng “ra hoa kết quả”. Số đông còn lại thiếu tự tin. Giáo dục chúng ta phải làm cho học sinh tự tin (điều này gần như là không cần thiết đối với học sinh của các nước có nền giáo dục tiên tiến… vì trẻ em đã như được sinh ra là thế, đã kèm theo “sản phẩm tự tin”). Tôi nghe nhiều phụ huynh phàn nàn rằng con cái họ “biết” nhưng không dám tranh luận, không dám thể hiện sự biết của mình. Đó là thiếu tự tin. Học sinh chúng ta cũng chưa biết cộng tác, chưa biết làm việc tập thể. Không biết cộng tác, không biết làm việc tập thể cũng đồng nghĩa với chưa phát triển năng lực cá nhân. Con người cá nhân không phát triển đầy đủ thì không có con người “tập thể”. Vì thế, dạy cho học sinh biết độc lập suy nghĩ và hành động cũng như khả năng hợp tác, phối hợp hành động chính là sản phẩm của giáo dục, của việc để học sinh nắm được các kiến thức căn bản, thực hành chúng, “nhúng” các kiến thức hàn lâm vào thực tiễn, giải các bài toán thực tiễn.
    Trọng tâm của việc giảng dạy trong nhà trường là chuyển từ việc dạy sang việc học (nói như GS.TSKH Hồ Ngọc Đại là chuyển sang “thầy thiết kế, trò thi công”, chúng tôi nghĩ rằng giáo dục hiện đại, trò cũng tham gia vai trò thiết kế), học sinh từ chỗ thụ động tiếp nhận tri thức và các kỹ năng thông thường đến tích cực vận dụng các tri thức để giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống. Đó là quá trình chuyển đổi giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang giáo dục hướng tới phát triển năng lực người học mà lần đổi mới này hướng tới.
    Công việc tiếp theo là thiết kế chương trình học. Chương trình học là khâu then chốt, quyết định những bước đi tiếp theo và nguồn lực cần cho hoạt động thay đổi chương trình. Tôi đồng ý với comment của các bạn là không có một trường học nào đào tạo các công trình (tổng công trình) sư về xây dựng chương trình học mặc dù ở các nước phát triển người giáo viên nào cũng biết xây dựng chương trình học và thực hành việc xây dựng chương trình học do mình (và đồng nghiệp) giảng dạy – xây dựng các bài giảng cụ thể (framework). Chỉ những chuyên gia hàng đàu trong lĩnh vực giảng dạy mới có thể được mời tham gia làm người phụ trách nhóm xây dựng chương trình học (những thành viên được các trường phổ thông giới thiệu, một Hội đồng trực thuộc Chính phủ hoặc Quốc hội được thành lập với một chuyên gia giáo dục đúng đầu). Chương trình học được xây dựng bởi nhóm chuyên gia, sau đó xin ý kiến rộng rãi trong giáo chức, học sinh, phụ huynh và xã hội (công chúng phản biện).
    Viết sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác được làm sau khi chương trình được thông qua. Nếu chương trình không giống nhau thì việc không lấy một bộ sách giáo khoa của một quốc gia này dùng cho quốc gia khác cũng là chuyện bình thường. Tôi ủng hộ có nhiều bộ sách giáo khoa nhưng trong điều kiện hiện nay nên có một tổ chức thẩm định và cho phép bộ sách đó được sử dụng. Nếu Quốc hội thông qua việc cho phép nhiều hơn một bộ sách giáo khoa thì khả năng sẽ có nhiều nhóm (hoặc cá nhân) đứng ra biên soạn sách giáo khoa. Năm 2012, khi qua Berlin, chúng tôi được biết ở Bang này cho phép sử dụng nhiều bộ sách giáo khoa (tôi xin lỗi là không nhớ được bao nhiêu bộ, nhưng là số nhiều), hiệu trưởng các trường phổ thông quyết định dùng bộ (hay quyển) sách giáo khoa nào.
    Bây giờ đến lượt giáo viên. Giáo viên soạn bài giảng (framework) có thể sử dụng các tài liệu giảng dạy khác nhau (riêng sách thì sử dụng các bộ sách do Bang/Quốc gia qui định). Họ cùng nhau soạn bài giảng để giảng dạy trong trường học của họ. Sách giáo khoa chỉ là một trong những tài liệu mà giáo viên dùng để soạn bài giảng.

    • Đọc đi đọc lại ý kiến này rất hay. Nhưng vẫn còn băn khoăn một chút. Để làm rõ được cần bắt đầu hiểu lại TRƯỜNG HỌC.
      Theo tôi, trường học nên là một mô hình thu nhỏ lý tưởng của XH. Là mô hình thu nhỏ của XH nên nó phải sống động như XH thực, nên phải chấp nhận có cái tốt cái xấu. Nhưng nó lý tưởng nên cái xấu cần hạn chế tối đa và được xử lí thấu đáo khi xuất hiện; cái tốt cần phát huy tối đa khi xuất hiện. Và vì nhà trường là mô hình thu nhỏ phản ánh sự tiến hoá của xã hội của nhân loại (như cái phôi trong thai tiến hoá đúng quá trình sinh vật) nên trẻ đến trường phải sống trong từng giai đoạn ấy. Về tri thức, nó cũng phải sống động, phải thực. Nghĩa là mỗi bài học phải là một câu chuyện lịch sử để học sinh được sống trong xã hội ấy đúng thời điểm mà tri thức ra đời (như là một game nhập vai, nếu tưởng tượng tốt) để trong đó tri thức có một điều kiện tự nhiên để xuất hiện, học sinh có một áp lực, một động lực tự nhiên phải tìm kiếm tri thức ấy. Thực hiện được như thế thì học sinh sẽ “vui” khi học vì được “sống” khi học; chúng sẽ không chỉ hiểu rõ tri thức ấy một cách sống động mà thấm thía cả cái quá trình tìm kiếm tri thức ấy. Thế thì một cách tự nhiên chúng có cơ hôi hình thành năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề. Chứ những cái “khát khao chiếm lĩnh tri thức, khát vọng sáng tạo, khát vọng cống hiến…” gì đó nó hơi xa xôi thì phải.
      Bác bảo hs ta thiếu tự tin vì chúng không hề thấy cái chúng đang học có thật đúng hay không, hay chỉ là trò chơi của người lớn. Hoài nghi ấy là nguyên nhân thiếu tự tin. Chúng thụ động vì chúng không thấy sự cần thiết. Đơn giản hơn là cứ ngồi yên, thầy sẽ mang tri thức đến thì cần gì đi tìm? Vậy mà GV không hề có cái quyền là không mang tri thức đến cho HS khi chưa đủ điều kiện đấy bác ạ. Chúng ít phản biện là vì năng lực ấy thui chột. Đưa trẻ nào 4, 5 tuổi mà chả đấy ắp các câu hỏi tại sao trong đầu? Nhưng quyền lực chi phối, và lớn lên chúng tự thoả mãn bằng: vì người lớn bảo thế, vì thầy bảo thế. Mà quyền lực kinh tởm nhất là quyền đi dạy của thấy đấy. Tại vì thầy có quyền đi dạy, quyền cho điểm đấy. Còn như năng lực làm việc tập thể thì không thể bắt chúng học được mà chỉ cần một công việc mà một mình chúng không làm được thì tự nhiên tập thể nó xuất hiện. Cho nên năng lực làm việc tập thể chính là năng lực làm việc cá nhân được mở rộng mà thôi (nghĩ giống bác nhưng đành nói nốt cho đủ ý).
      Cho nên thay vì 4 cái mục tiêu như bác, tôi chỉ đề ra 2:
      Trẻ được sống như nhân loại đã trải qua.
      Thầy không phải người dạy mà là người dẫn chuyện.
      Những trò đạt giải mà bác nhắc đến ấy, chúng là cỏ dại nên chúng sống thật.

      • tiếp vậy. Sao lại 2 mục tiêu ấy?
        Trò là sản phẩm của GD. Thầy cũng phải là sản phẩm của GD chứ. Cho nên chỉ quan niệm trò là sản phẩm ắt là thiếu sót.

  • Theo tôi cần nghiên cứu kỹ lịch sử cũng như mục tiêu, phương pháp giáo dục của các quốc gia sau:
    1. Israel (với tư duy của người Do Thái)
    2. Nhật Bản (với thái độ lao động của họ)
    3. Singapore (một quốc gia châu Á rất biết cách áp dụng văn minh của các quốc gia phương Tây)
    4. Phần Lan và các nước Bắc Âu (nền văn minh Vikings)
    5. Anh – Úc (IB – International Baccalaureate)
    6. Mỹ
    Ở Việt Nam có thể tham khảo 2 trường Quốc tế là UNIS Hanoi và British School (Tp HCM)
    Bộ GD cử các nhóm phân tích các quốc gia trên ở những điểm sau:
    1. Mục đích giáo dục của họ
    2. Các mục tiêu tại các lứa tuổi
    3. Phương pháp họ thực hiện
    Đặc biệt chú ý đến giai đoạn thai giáo và 0-6 tuổi.
    Tổ chức hội thảo 3 tháng / lần để đưa ra phương án cho Việt Nam.
    Với cách đó sau 1 năm bộ GD sẽ có bản đề cương chi tiết của mình.

  • Đọc các ý kiến mới thấy vấn đề không đơn giản. Tôi muốn hỏi các bác một câu ngoài lề chút. Mục tiêu giáo dục có cần hội nhập không? Ví dụ giáo trình tiếng Anh theo chuẩn quốc tế thì nhiều, giờ một số trường phổ thông cũng đang áp dụng. Cái lợi là chất lượng và chứng chỉ có thể liên thông các trường quốc tế. Sao không lấy các giáo trình đó dạy luôn mà còn phải đưa ra chương trình tiếng Anh riêng làm gì? Mong các bác chỉ giáo.

    • Hội nhập quốc tế là một trong những mục tiêu của dự thảo đề án. Câu hỏi của bạn cũng đã từng được dư luận đặt ra với lãnh đạo Ban thường trực Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 nhưng họ trả lời khá loanh quanh. Bây giờ, thay vì đặt ra câu hỏi đó, bạn có thể nêu ý kiến và lập luận thuyết phục để chứng minh việc Bộ GD tự soạn ra một chương trình dạy TA riêng là không cần thiết đi!

      • Cảm ơn bạn đã trả lời. Tôi chỉ thấy đơn giản là tiếng Anh và việc dạy tiếng Anh đã rất phổ cập. Khác với các môn học khác, đã có rất nhiều các chương trình dạy tiếng Anh cho người có tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ khác, đặc biệt là cho trẻ em. Vì vậy theo tôi thấy việc viết thêm giáo trình dạy tiếng Anh là thừa.
        Hơn nữa, SGK tiếng Anh chỉ là một phần của các chương trình này. Các yếu tố quan trọng khác làm nên chất lượng là giáo viên đủ trình độ và các kỳ thi được tổ chức nghiêm túc. Tôi nghĩ là với riêng môn tiếng Anh, nếu Bộ GDDT thuê bên thứ ba tổ chức thi tuyển, đánh giá giáo viên một cách nghiêm túc thì chất lượng đã được cải thiện ngay rồi. Chỉ e đó chính là lý do Bộ cứ phải tự làm tất cả mọi thứ…

      • 1. Các SGK môn tiếng Anh cấp trung học (cả cơ sở và phổ thông) nặng về kiến thức, kĩ năng đọc – viết, nhẹ về nghe – nói. HS muốn giao tiếp được thường phải học thêm các trung tâm bên ngoài, và trung tâm ngoại ngữ thì họ không dùng sách của Bộ.
        2. SGK môn tiếng Anh cấp tiểu học (bắt đầu từ lớp 3) có bộ Let’s Learn English (hợp tác với 1 NXB Singapore) và Tiếng Anh 3,4,5 (tự chọn và triển khai tại một số địa bàn) – Nhưng phụ huynh vẫn phải cho con học thêm ở các trung tâm ngoài rèn kĩ năng nghe – nói.
        Vậy chất lượng môn tiếng Anh phổ thông như hiện nay là vì sách hay giáo viên của Bộ kém, dẫn đến HS phải học tại các trung tâm ngoại ngữ ?

  • À, tôi kể cho anh Châu kỷ niệm này: năm 1979 tôi dự thi toán Nghệ Tĩnh. Có một bài nôm na là chứng minh phương trình SIN (ABC) = TANG (XYZ) luôn có nghiệm. Tôi làm bài bản, biến thành một phương trình bậc hai rồi chứng mình delta >= 0, từ đó suy ra phương trình có nghiệm và cụ thể hai nghiệm của nó là như thế. Lần đó tôi đạt điểm tối đa.
    Nhưng bất ngờ là một bạn giải bài này chỉ vài dòng: hai đường liền, một đường chạy theo trục hoành từ âm vô cực đến dương vô cực, một đường liền chạy theo trục tung từ âm vô cực đến dương vô cực, hai đường liền như thế chắc chắn phải cắt nhau. Suy ra, phương trình này luôn luôn có nghiệm.
    Khi nghe các thầy trong hội đồng chấm thi kể lại, tôi bảo với các thầy: bạn ấy mới thực sự xuất sắc ạ (mặc dù không theo đáp án và ý đồ của người ra đề)!

    • Đây là minh chứng cho việc làm phức tạp vấn đề trong giáo dục ở Việt Nam chăng? Nếu theo suy nghĩ của bạn thứ hai thì bài toán quá đơn giản, nhưng cả người ra đề và người giải lại làm nó quá phức tạp.

  • 1. Một cách ngắn gọn thì theo tôi, toàn bộ việc đổi mới giáo dục nằm ở việc dịch chuyển cách tiếp cận từ “Học cái gì?” sang “Học thế nào?” và hướng tới “Học để làm gì?”. Với các bậc học đầu thì “Học thế nào?” là quan trọng, nhưng càng các bậc học sau thì “Học để làm gì?” càng chiếm ưu thế.
    Vì thế, nếu chọn sách giáo khoa – chương trình làm trọng tâm đổi mới giáo dục thì vẫn giậm chân ở “Học cái gì?”, tức là bình mới rượu cũ, chẳng đổi mới gì cả.
    2. Giáo dục chỉ có thể thành công nếu nó hình dung rõ ràng những phẩm tính của con người mà nó đào tạo ra, và xã hội mà mọi người muốn sống trong khoảng vài chục năm tới. Những điều này hoàn toàn vắng bóng trong đề án đổi mới này. Nếu không làm rõ điều này thì mọi đổi mới, dù tốn bao nhiêu tiền đi chăng nữa, cũng đều đi vào bế tắc.

    P/S: Sáng nay tôi bận nên giờ mới tham gia bàn tròn, chưa kịp đọc các ý kiến khác để cùng thảo luận.

    • Hoàn toàn đồng ý anh Giáp Văn. Nếu không trả lời thật rõ, và THÀNH THẬT, đừng loanh quanh, rằng chúng ta muốn tạo nên những con người có những phẩm chất, kỹ năng, và thái độ như thế nào, thì bao nhiêu tiền cũng vô ích. Câu hỏi này, không phải là chưa từng được trả lời, nhưng nó chưa bao giờ được thực sự mổ xẻ, và nhất là, câu trả lời của nó chưa bao giờ thực sự nhất quán với những việc chúng ta làm để thực hiện nó. Có ai tự hỏi vì sao các môn KHXH của chúng ta kém cỏi, tại sao HS của chúng ta rất kém hiểu biết về xã hội và năng lực công dân? tại sao HS của chúng ta đi học như thể bị lao động khổ sai? Đề án thiếu hẳn một sự biện minh thuyết phục cho những gì chúng ta cần làm, và tại sao phải làm như vậy.

    • Ý 2 của anh Giáp Văn là không thể có. Vì “những phẩm tính của con người mà nó đào tạo ra, và xã hội mà mọi người muốn sống trong khoảng vài chục năm tới” sẽ hoàn toàn khác nhau trong tư tưởng mọi người. Anh thử hỏi một lãnh đạo bộ xem có giống với tư tưởng anh không. Vì vậy tranh luận thì cứ tranh luận thôi.

  • Hiện nay xã hội đang thay đổi rất nhanh nhờ Internet mà lượng thông tin tràn ngập và cấu trúc ngành nghề trong xã hội cũng đang có những thay đổi nhanh chóng. Một đứa trẻ lên 6 tuổi nhanh nhất là sau 15 năm nữa sẽ bước vào cuộc sống nghề nghiệp và chắc chắn rằng 15 năm nữa cấu trúc ngành nghề sẽ thay đổi đáng kể và có những nghề cũ cũng đòi hỏi kiến thức và kỹ năng khác so với hiện nay. Có thể nói tốc độ thay đổi nhanh là đặc trung khác biệt của thế kỷ 21 so với các thế kỷ trước. Trên thế giới đang diễn ra cuộc “Cách mạng giáo dục” sẽ là cơ hội vàng nếu Việt nam tận dụng cơ hội để nhập vào làn sóng này tương tự như Singapore và Hàn Quốc đã tận dụng cơ hội tham gia Cách mạng CNTT.
    Theo quan điểm của tôi cần xác định rõ mục tiệu của dổi mới giáo dục lần này là đưa Viêt nam tham gia vào cuộc cách mạng giáo dục toàn cầu từ đó lên khung các chương trình bao gồm cả kiến thức cả kỹ năng để một thanh niên Việt từ năm 2030 có thể tự tin sống và đủ khả nang cạnh tranh trong thị trường lao động toàn cầu (và cả ở Việt nam) khi đó.
    Từ mục tiêu đo thì sẽ thấy cần nhất là thay đổi cách dạy và học từ nhồi nhét kiến thức (hệ quả của tư duy thời đại khó khăn trong tiếp cận thông tin) áp đặt các kết luận sang lọc lựa thông tin và chọn lựa giải pháp. Khó khăn nhất vẫn là vấn đề người thầy vì chúng ta không có sẵn và cũng chưa có phương thức nào đào tạo đại trà những người thày như vậy.
    Trong hoàn cảnh hiện nay với cấp Tiểu cần tập trung điều chỉnh giảm nội dung SGK khoảng 30% tăng cường giáo dục thể chất các hoạt động phát triển tư duy và kỹ năng sống thông qua các trò chơi và hoạt động tập thể, với cấp Trung học cơ sở thì giảm đi khoảng 50% nội dung SGK để tăng cường giáo dục thể chất tổ chức các hoạt động khám phá tự nhiên và xã hội và tìm hiểu về các nghề nghiệp của tương lai. Cần nhất là hết THCS trẻ có khả năng tự tìm hiểu và sàng lọc thông tin để có thể tự học.
    Sau 15 tuổi chắc chắn cần phân luồng mạnh nên Chương trình Trung học phổ thông về cơ bản sẽ phải xây dựng mới hoàn toàn và liên quan chặt chẽ với đổi mới Giáo dục Đại học và Đào tạo Nghề.
    Tạm có vài ý như vậy

  • Cũng mong bộ GD nhà ta đừng giống như “người đẻo cày giữa đường” .Đây là sự mong mỏi lớn nhứt của người dân

  • Em thật nghĩ chúng ta phải làm 2 công việc song song mới có kết quả.
    khoan nói tới sách giáo khoa, thử hỏi nếu những người Thầy của giáo dục VN không thay đổi phương pháp dạy, tâm lí dạy…thì có hiệu quả không. Mười năm đổi sách một lần, trong 10 năm đó chúng ta cần sữa đổi quá nhiều: công tác quản lí, hình thức thi cử, người Thầy, mất bao nhiêu năm? Chưa kể chúng ta phải thay đổi tư duy của học sinh. lúc đó lại vừa đủ để cho cái mới nảy sinh và vừa đủ để,…..thay lại sách. Cái gốc của giáo dục mà em đang thấy, đang hiểu là một nền giáo dục không có thu hút, không có hấp dẫn, cũng không có trách nhiệm. Vậy nên em nghĩ cái cần nhất trước mắt chúng ta là thời gian để trên dưới thống nhất một lòng. Hơn nữa, giáo dục đổi mới thì đi đầu, theo em, phải là đại học! Bởi đó là những con người biết nhìn nhận hơn, dám thay đổi và có điều kiện thích nghi, và học là lực lượng kế tục. Thật sự, em rất hi vọng Bộ cho 1 năm hoặc hơn nữa để học sinh, sinh viên và những bậc Thầy ghi ra thành thật, cẩn thận ý kiến của mình. thổi một luồng gió mới thì phải tắt cái nguồn phát luồng gió cũ, nếu không, sẽ có những hỗn hợp gió lạ và những bức tường gió.
    Em rất cảm ơn!

  • Tôi thấy Bộ chỉ nên làm một việc là hướng giáo dục đến mục đích cuối cùng là sáng tạo và hữu dụng. Còn mọi thứ khác hãy để cho tư nhân lo, Bộ dính vào chỉ có gây nhiêu khê, rắc rối, ì ạch, lãng phí mà thôi.

    • Đúng rồi. HĐ GĐ QG cho đến các CQNN (như Bộ GĐ-ĐT) cần thực sự vì “dân”, vì “tương lai con em chúng ta” thì mới hoạch định chính sách và đổi mới thành công được. Giới cầm quyền phải quyết tâm thực sự, dinh huong & to chưc đánh giá thực trạng một cách quy mô và đưa ra Bộ khung (framework) thôi. Ko lại lợi ích nhóm, phân biệt đối xử (với Kv trường tư).

  • Có lẽ ai cũng nghĩ chương trình, sách Giáo khoa phải được đặt trong hệ thống Giáo dục( Mục tiêu, cấu trúc Giáo dục Phổ thông với các cấp học: Mầm non, Tiểu học, Trung học Cơ sở, Trung học Phổ thông; Chương trình, sách Giáo khoa của các cấp học, của từng môn học: Phương pháp dạy- học, cơ sở thiết bị, quản lí Giáo dục…Bởi thế, không nên và không thể bàn về chương trình, sách Giáo khoa có chất lượng khi chưa rõ gương mặt tổng thể của Giáo dục Phổ thông.
    Vừa rồi, Bộ Giáo dục & Đào tạo (sau đây xin được gọi tắt là Bộ) có nêu khái toán khoản tiền chi cho chương trình, sách Giáo khoa trước Uy ban thường vụ Quốc hội. Nó làm nóng dư luận. Bởi thế tôi lạm bàn:
    – Nếu không nhầm thì lần biên soạn, chương trình, sách Giáo khoa Phổ thông hiện đang sử dụng, trong thực tế Bộ bắt đầu từ viết sách Giáo khoa đến chương trình. Sau đó là chuẩn kiến thức và kĩ năng.. Đó là quy trình ngược.Bộ triển khai các vấn đề đó từ trên xuống( Tập huấn cốt cán từ Bộ xuống Sở, Phòng, Trường…).Đến lượt người thực hiện là các thầy, cô giáo đứng lớp cũng làm việc với học trò theo cách đó. Nghĩa là cũng theo thói quen, thầy truyền đạt bài dạy cho học sinh chủ yếu một chiều. Sự tham gia của trò chỉ là hình thức.Kiểu tư duy đó (có từ trên xuống) đã đi ngược lại mục tiêu đổi mới Giáo dục: Phat huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh bà Bộ yêu cầu. Bởi vậy kết quả, tuy chưa có sự tổng kết , đánh giá chính danh nào nhưng rõ ràng không như ý muốn.
    – Lần này, qua trình bày khái toán của Bộ trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, tôi thấy vẫn là quy trình cũ. Nghĩa là vẫn cách tư duy đó. Nó cũ kĩ sao ấy. Hoàn toàn không thấy bóng dáng của tư duy kiến tạo., một kiểu tư duy lấy người học làm mục tiêu, tạo mọi cơ hội cho mỗi cá nhân học sinh được tự do suy nghĩ, nói lên những ý kiếncủa mình, đánh thức tiềm năng sáng tạo cá nhân trong họ .Loại sản phẩm con người này, theo tôi nó không thể thoat thai từ tư duy quan phương, một chiều, trên xuống. Nếu người dạy và học không được tắm gội trong một cơ chế giáo dục dân chủ từ cơ sở như hoạt động nhóm trong lớp học, sinh hoạt nhóm và tổ chuyên môn thực chất, phương pháp dạy học đi từ thầy làm việc là chủ yếu và theo kiểu “truyền đạo”, học sinh là ” con chiên” sang thầy là người gợi mở, kích hoạt tối đa cái ” tự nó”, phát huy hết khả năng sáng tạo của học sinh. Các em không còn sợ thầy khi nêu những ý kiến trái ngược. Đổi mới lần này, để thành công phải tạo được cơ chế phát huy được những điều đó trong quá trình dạy- học. Nó phải được hiển thị dưới nhiều dạng trong chương trình, sách Giáo khoa, phương pháp dạy -học…( Nói thật, tôi thực sự buồn khi trong khái toán của Bộ vẫn có mục SÁCH GIÁO VIÊN, một loại sách làm triệt tiêu mọi sáng tạo cá nhân, tạo điều kiện cho người dạy ỷ lại. Tất nhiên với những vùng đặc thù ta có thể có những tài liệu đặc thù tương ứng).
    Tóm lại, đổi mới Giáo dục là cần thiết, cấp bách, trong đó có chương trình, sách Giáo khoa. Tuy nhiên phải thay đổi cách làm, phương pháp tư duy bởi đó là cái cốt lỏi. Theo tôi, đổi mới Giáo dục, phải chọn tư duy là điểm đột phá.

  • Dù đã qua thời gian thảo luận, tôi xin được góp ý kiến theo khung câu hỏi GS.Châu đưa ra như sau:
    1.Tại sao 10 năm phải đổi sách giáo khoa một lần?
    Với hoàn cảnh hiện nay, thì việc đổi sách giáo khoa (tiến tới không chỉ một bộ sách độc quyền duy nhất) là cần thiết, giống như “chữa bệnh luôn” chứ không đơn thuần là “khám định kì”. Tất nhiên “chữa” không có nghĩa là huỷ hoại cả cơ thể, sách giáo khoa hiện hành cũng không vô ích đến nỗi phá bỏ hết không kế thừa gì cả, theo ý tôi.
    2. Lấy gì làm luận cứ cho việc thay đổi sách giáo khoa?
    Trong thời gian ngắn, có thể “đặt hàng” vài nhóm nghiên cứu độc lập tiến hành khảo sát so sánh nhanh sách giáo khoa Việt Nam với một vài nước (chia làm nhóm nước Phát triển, nhóm Đang phát triển tương đồng như VN, và nhóm kém phát triển hơn VN), để đưa ra dẫn chứng.
    (Tôi nghĩ là đã có các công trình/nghiên cứu/báo cáo/bản dịch tương tự đâu đó ở các Viện/Trường/ các Đoàn khảo sát của Bộ… Có thể đề nghị họ đưa ra, cũng là dịp để xem lại chất lượng các khảo sát so sánh này. Nếu không có thì cũng rất bất ngờ vì chẳng lẽ bấy lâu nay không cần so sánh gì?)
    Có thể lấy một số ví dụ bất cập trong SGK hiện tại để làm “phản chứng”, để chứng minh SGK hiện tại “không ổn”.
    3. Ai là người rà soát đánh giá chất lượng sách giáo khoa? Ai là người kiến nghị việc thay đổi sách giáo khoa?
    Rà soát đánh giá chất lượng theo tôi nên có một Uỷ ban hỗn hợp (không nhất thiết độc lập 100% với Bộ Giáo dục và đào tạo), trong đó có đại diện của các bên liên quan, như thế chất lượng việc đánh giá được xem xét nhiều khía cạnh hơn.
    Việc kiến nghị thay đổi có thể là Uỷ ban quốc gia về đổi mới giáo dục.
    4. Nếu làm lại sách giáo khoa, thì làm sách giáo khoa trước, hay làm chương trình trước?
    Một chương trình khung, dù là sơ sài và phác thảo đến mấy, cũng cần làm trước khi làm sách giáo khoa. Tất nhiên trong quá trình làm sách giáo khoa, có thể quay lại căn chỉnh chương trình khung; chưa kể việc mở rộng cho các nhóm đối tượng khác nhau cùng làm sách trên một chương trình khung sẽ có ý kiến đóng góp nhiều chiều hơn.
    5. Tại sao không dịch nguyên sách giáo khoa nước ngoài?
    Không loại trừ khả năng này. Có thể “khoanh vùng” làm luôn một số môn không gây nhiều tranh luận/ đỡ “nhạy cảm” và có tính phổ quát như “ICT (kết hợp lập trình đơn giản)”, các môn “Khoa học”, “Tiếng Anh”, “Nghệ thuật”; “Giáo dục sức khoẻ”, “Âm nhạc”, …
    6. Cần thay đổi gì nhất trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành?
    “Tiếng Anh” (có thể học luôn cách làm Singapore)
    Thay vì môn Tin học hay Kỹ thuật, lập môn “ICT” (bao gồm kĩ năng, cách thức ứng xử khi sử dụng các công cụ trực tuyến cho học tập, giải trí, giao lưu. Kết hợp lập trình đơn giản)
    “Giáo dục sức khoẻ” (bao gồm rèn luyện sức khoẻ, có ý thức và kĩ năng tự chăm sóc chính mình)
    “Công dân toàn cầu” (có thể thay môn “Giáo dục công dân”), học hỏi áp dụng môn “Citizenship” ở nước ngoài
    ; và cả tích hợp “Nhân học” ( Anthropology) hay tương tự (ở từng nấc đơn giản trở lên).
    Kim Ngọc Minh

  • Ý kiến của anh Bùi Việt Hà:
    Mấy hôm nay báo chí bắt đầu viết và phân tích nhiều về dự án viết SGK mới của Bộ GD & ĐT. Tôi xin quay lại viết về một số câu hỏi về giáo dục mà tôi đã đưa ra cách đây khoảng 1 tháng. Bắt đầu từ câu hỏi tiếp theo như sau:
    Giáo viên phải làm gì, dạy như thế nào với các môn học xã hội để học sinh yêu thích các môn học này?
    Trước đó tôi đã từng viết và phân tích ngắn vì sao ngày nay HS không thích học và quay lưng lại với các môn học xã hội như Lịch sử, Ngữ văn. Có nhiều nguyên nhân nhưng tôi chốt lại có 2 nguyên nhân chính:
    1. Bắt HS học thuộc lòng quá nhiều và coi đó là 1 tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự hiểu bài.
    2. Coi chương trình và kiến thức đã viết trong SGK là chân lý cứng, không cho phép GV và HS được phép mở rộng ra bên ngoài SGK.
    Tất nhiên còn nhiều nguyên nhân khác nữa (sẽ nói sau) nhưng 2 điều trên là những tác nhân trực tiếp nhất ảnh hưởng đến HS.
    Bây giờ chúng ta sẽ bàn nhanh về chuyện làm thế nào để phá vỡ bế tắc trên, làm thế nào để HS có thể yêu thích các môn học xã hội, hay ít nhất là không sợ học các môn học này.
    Trước tiên cần khẳng định rằng tất cả các môn học trong nhà trường đều hay, về nguyên tắc GV hoàn toàn có khả năng dạy để các em có thể hiểu bài và thích thú học các môn học này. Như vậy vấn đề chỉ là phá vỡ những rào cản đã làm cho HS của chúng ta chán ghét các môn học này.
    – Trước tiên cần phải phá bỏ ngay nguyên tắc coi học thuộc lòng là 1 chỉ số của hiểu bài. Tất cả các kiến thức (nếu có), các khái niệm, định nghĩa trong các môn ngữ văn, sử, địa lý, các sự kiện cụ thể của lịch sử, các thông tin địa lý, vùng miền, … đều không bắt HS học thuộc lòng. HS được quyền mở sách, tham khảo tài liệu, Internet ngay cả trong những giờ kiểm tra kiến thức. Nếu làm được như vậy lập tức tải nặng học thuộc lòng sẽ giảm ngay tức khắc. Việc của HS là cần hiểu để có thể tra cứu, viết và trình bày lại các kiến thức đó theo yêu cầu của GV, của bài kiểm tra. Làm được việc này tôi nghĩ sự căng thẳng khi học các môn XH sẽ lập tức giảm 90-95%, hiệu ứng này sẽ có tác dụng ngay lập tức.
    – Vấn đề tiếp theo là xác định lại yêu cầu học đối với HS. Nên giảm nhẹ yêu cầu này đối với tất cả các môn học xã hội. Như tôi đã viết quá trình nhận biết kiến thức đối với 1 môn học XH sẽ được chia thành các mức, giai đoạn từ đơn giản như nhân biết, phân biệt, hiểu đơn giản đến các mức sâu hơn như phân tích được, tò mò, thích thú, đào sâu suy nghĩ, … Với các môn học XH chỉ yêu cầu chung cho HS đến mức nhận biết, hiểu đến mức có thể viết lại, trình bày ngắn. Vì dụ với môn Ngữ văn thì chỉ cần hiểu các cấu trúc ngữ pháp, phân loại các dạng văn và cách làm bài (cho phép mở sách) và đọc hiểu. Với môn Sử chỉ cần trình bày, viết lại chính xác các sự kiện, có các phân tích ban đầu về nguyên nhân, bài học, đánh giá (cho phép mở sách). Còn toàn bộ các kỹ năng nâng cao hơn thì sẽ được xếp hạng cho HS khá giỏi. Với sự thay đổi đơn giản này thì chúng ta cần qui định lại hoàn toàn cách cho điểm, đánh giá hiện nay. Ví dụ chúng ta phải thay đổi cách đánh giá để làm sao chỉ cần điểm 5, 6, đạt yêu cầu đã là tốt rồi, không cần có điểm số cao hơn khi HS không thích môn học đó. HS chỉ cần học giỏi 1 môn (ví dụ Văn đạt 9 điểm, các môn khác đạt 5) thì cũng được coi là HS giỏi. Có thể phân biệt HS giỏi và giỏi toàn diện.
    – Cần thay đổi cách hiểu về HS giỏi. Thế nào là học giỏi. Học giỏi tức là HS phải thực sự thích thú môn học đó, say mê với môn học, có thể làm những bài tập, luận văn vượt ra ngoài chương trình và SGK. Muốn như vậy thì không thể đóng kín trong chương trình và SGK. Phải có cơ chế để GV được quyền mở rộng chương trình, được phép dạy thêm kiến thức ngoài SGK. Nhiều người lo sợ các vấn đề “tế nhị” liên quan đến chính trị, nhưng tôi đã tìm hiểu, số lượng các bài học, kiến thức thuộc loại “tế nhị” không nhiều, chỉ chiếm khoảng 1%. Còn lại toàn bộ chương trình là không có chuyện đó. Với các bài học cứ coi là “tế nhị” đi thì Bộ GD hoàn toàn có thể có 1 đề cương để xác định các vấn đề có thể mở rộng và mở rộng tới đâu. Tóm lại cần xác định lại khái niệm HS giỏi không như hiện nay. Nếu mở rộng khái niệm này, việc đánh giá GV sẽ thực chất hơn hiện nay: Gv càng giỏi nếu càng có nhiều HS giỏi và yêu thích môn học của mình. Khi đó điểm số sẽ là thực chất: đa số HS sẽ đạt điểm trung bình: 4, 5, 6, còn lại 1 số rất ít em thực sự yêu thích môn học và học giỏi sẽ đạt điểm 9, 10. Xã hôi không đánh giá HS theo điểm số nữa, các nhà trường sẽ không thể chạy theo thành tích điểm như hiện nay, mà thực chất chạy theo điểm số như hiện nay là giả dối.
    Toàn bộ những thay đổi như trên đây có thể làm ngay mà không cần thay đổi chương trình và SGK. Chỉ cần thay đổi chút ít về cách quản lý học tập, đánh giá học sinh. Trong quá trình cải cách giáo dục thì qui trình cải tiến này sẽ được hoàn thiện theo thởi gian. Điểm mấu chốt nhất là trả lại sự học thật, dạy thật, kiểm tra kiến thức thật cho HS và GV trong nhà trường.

    • Ý kiến này rất có lí. Khi mà áp lực thuộc bài được giải toả thì tự nhiên hs lại thuộc bài một cách dễ dàng.
      Còn về những vấn đề “tế nhị” thì càng lảng tránh thì người ta càng tò mò. Chi bằng cứ để trẻ tiếp cận suy ngẫm và trao đổi thẳng thắn. Nếu thật là “người lớn” sai thì nên nhận. Chẳng phải cụ Hồ bảo biết nhận lỗi là vĩ đại hay sao? Càng lấp liếm thì khi người ta nhìn thấy lại càng khó chịu. mà cái kim trong bọc ắt phải lòi ra.
      Một điều nữa là phải thay đổi quan niệm của người lớn. Sao lại nghĩ rằng ta dạy trẻ mà không nghĩ trẻ đang dạy ta. Rõ ràng là thế hệ sau phải giỏi hơn thế hệ trước chứ? Nếu không thế thì quả là vô phúc!

  • Tôi là một giáo viên đã có thâm niên công tác giảng dạy ở bậc tiểu học. Tôi rất đồng tình với ý kiến của tác giả bàn về ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA: HỎI VÀ ĐÁP. Tôi đã dạy qua 2 lần chỉnh lý sách và 2 lần đổi mới SGK nhưng tôi nhận thấy các thế hệ học sinh ngày nay kiến thức và khả năng tư duy không bằng những thế hệ trước đó.
    Do đó, các cấp quản lý, nhà nghiên cứu cần nghiên cứu kỹ những ý kiến của tác giả đưa ra, tôi thấy thật xác đáng.
    Mặt khác khi thực hiện đổi mới, các nhà làm sách cần phải thực tế nhiều hơn, những người viết sách thử hỏi rằng có bao nhiêu người đã thực sự đứng lớp để dạy trò chưa?
    Khi tham gia tìm hiểu thực tế tại trường học tôi nhận thấy họ đều được xem những giờ diễn của giáo viên chứ làm sao có được thực chất. Do đó việc đổi mới SGK là một việc làm hệ trọng, tương lai của dân tộc, tôi đề nghị cần nghiên cứu kỹ và nên lấy ý kiến từ những thầy, cô trực tiếp đứng lớp ở tất cả các vùng miền miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, …

    • Qua ý kiến này, tôi thấy bàn tròn này rất hữu ich. Có nhiều cách nhìn tich cực mà không bị lý thuyết suông.
      Anh Châu có thể sắp xếp 1 cái bàn tròn về ” chương trình” các cấp SGK như thế nào cho phù hợp vơí tình hình giáo dục Vietnam hiện nay.
      Đặng Minh Tuấn

  • theo cháu đổi mới nền giáo dục hay sách giáo khoa. cần hỏi tại sao ? trong khi nền giáo dục cũng từng được đổi mới, sách giáo khoa từng được biên soan lại nhưng đến hiện nay thì thế nào ? chất lượng giáo dục đi đến đâu ? cơ sở vật chất thế nào?
    – về vấn đề sách giáo khoa ?
    + cho là cần phải đổi mới đi, đổi mới rồi thì sẽ thu được gì và ai chịu trách nhiệm hay cũng như lần đổi mới trước trách nhiệm chung, trách nhiệm đa ngành.
    + sách giáo khoa đã từng được đổi mới rồi nhưng nó như thế nào, những thứ cần học thì không thấy đâu, những thứ không cần thì vẫn có ngay cả giáo trình đại học cũng vậy.
    + đổi mới sách cần lộ trình, lộ trình như thế nào. 10 năm, 20 năm hết ta lại đổi mới tiếp. giả sử sách giáo khoa biên soạn sai nhưng đã xuất bản theo lộ trình nên để đến lộ trình năm sau, kì sau hay 10 năm, 20 năm sau mới đổi mới sao ?
    + thử hỏi tại sao học lỏm, học bạn, học ngoài nhanh hơn trong sách là do đâu. do sách quá nhiều kiến thức hay dư thừa những cái không cần thiết, vòng vo. VD:cũng chỉ một lý do về nguyên nhân đổi mới có thể gạch 5 – 6 ý ngắn gọn trong đó đôi khi sách giảng đến tận 5 – 6 trangv ( dàn trải, kiến thức không trọng tâm)

  • Tôi thấy quan điểm của mọi người đều nhìn nhận và đánh giá theo những góc độ rất thực tế. Tôi đồng tình cao với những quan điểm trên. Tôi có thêm một vài quan điểm nhỏ như sau:
    Về chương trình học trong sách giáo khoa VN nói chung, theo tôi nghĩ không nên thay đổi, có chăng chỉ nên sửa đổi, bổ sung một số điểm chưa phù hợp thôi. Chứ việc “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục…” không có nghĩa là phải đổi mới hết chương trình SGK, làm như vậy quá tốn kém mà cũng chẳng biết đổi mới thế nào cho hiệu quả trong khi chúng ta chưa nhìn ra cái đích phải đến. Việc cứ thay đổi sách giáo khoa làm cho nhiều học sinh nghèo không có tiền để đi học trong khi sách cũ vẫn còn mà không được sử dụng là quá lãng phí. Chương trình học hiện tại tôi nghĩ cũng không phải quá tồi, thử hỏi tại sao về mặt lý thuyết học sinh của chúng ta đi thi quốc tế luôn giành giải cao, nếu không muốn nói chương trình học của ta còn nặng hơn của TG nhiều.
    Vấn đề giáo dục ở đây có chăng chỉ nên tập trung đổi mới ở khâu dạy và học, phương pháp dạy và cách học của học sinh sao cho hiệu quả và học xong là có thể làm được, làm ngay, học xong có nơi để làm việc.
    Nhìn thực trạng giáo dục của ta mà buồn thay: Sinh viên thất nghiệp nhiều, đào tạo nhiều nhưng chẳng tìm được người làm việc. Nhiều tiến sĩ chẳng biết đang làm gì trong khi đất nước đang cần nhân tài, khoa học đang thiếu người nghiên cứu
    Một bộ phận học sinh, sinh viên phẩm chất, đạo đức ngày một xuống cấp nghiêm trọng, không chịu học hành mà sa vào các tệ nạn xã hội .v.v.
    Chúng ta, những nhà làm giáo dục nên có con mắt nhìn nhận và dám nhìn nhận thực tế để đổi mới những tồn tại, hạn chế của chúng ta. SKG không phải là tâm điểm của công cuộc đổi mới, thế nên đừng quá mất thời gian, lãng phí tiền bạc cho những việc làm vô ích.

  • Hệ thống giáo dục VN nát bét ở chỗ không có mục tiêu, phương châm giáo dục hiệu quả, hợp thời. Kiến thức thu được chỉ là 1 phần khoảng 20 – 30% giá trị của việc học, ngoài đó là các kỹ năng cơ bản được rèn luyện. Kỹ năng được chia thành các kỹ năng lớn: đọc – hiểu, tư duy phản biện, tính sáng tạo, tính năng động, sự thích nghi môi trường. Kỹ năng nhỏ bao gồm quan sát, lắng nghe, ghi nhớ, giao tiếp, khéo léo, tập trung cao độ, …. Ngoài chuyện học thuộc lòng thuộc kỹ năng ghi nhớ ra, nền giáo dục VN gần như không giúp ích gì cho việc khai phá và rèn luyện các kỹ năng khác.
    VN cần không phải là thay đổi bộ SGK để thêm hoặc bớt mảng kiến thức nào, mà phải xóa bỏ hoàn toàn nền giáo dục cũ kỹ, lạc hậu này để thay bằng 1 hệ thống giáo dục hiện đại. Việc này đã từng xảy ra, đó là khi Pháp vào VN, họ dẹp bỏ nền giáo dục Nho giáo lạc hậu, thay bằng nền giáo dục Pháp tiên tiến, đào tạo ra một tầng lớp trí thức mới, qua đó tác động hình thành nền văn hóa mới, mà đến ngày nay nhiều người vẫn đi khoe khoang: Hà Nội thanh lịch. Người Pháp khi đi xâm lược, thực dân VN trong bối cảnh phong kiến lạc hậu, bài ngoại còn làm được, chẳng lẽ 90 triệu dân VN ngày nay được tiếp cần Internet, với văn minh nhân loại lại bó tay ư !
    Chương trình học mới không thể quá tham vọng sánh ngang với các quốc gia Tây Âu, Bắc Âu, hay Mỹ ngay được mà phải đặt cơ sở vững chắc để tiến lên từng bước. Nền giáo dục hiện đại của thế giới là việc cân bằng các kỹ năng với lượng kiến thức ngày càng gia tăng, khó. Chúng ta phải đặt nền móng cho tân giáo dục bằng việc giảm tải các kiến thức khoa học tự nhiên và tăng sự phù hợp hiện thực ở khoa học xã hội. Mỗi môn học đều có tiêu chí, mục tiêu về các kỹ năng nhỏ đạt được riêng, chấm điểm dựa trên điều này chứ không phải sự ghi nhớ kiến thức. Kỹ năng lớn sẽ đạt được thông qua quá trình rèn luyện các kỹ năng nhỏ.
    Nên nhớ phải gắn kết giáo dục với tình hình kinh tế thực tại của nước nhà, quan trọng nhất là giải quyết việc làm, giải quyết sự thất nghiệp, thiểu nghiệp (làm không đúng chuyên môn) lên đến 80%. VN không cần quá nhiều nhân lực cao đòi hỏi trình độ đại học, ít nhất 90% việc làm chỉ cần dưới đại học, nếu nền giáo dục đầu tư tốt cho việc dạy nghề. Chính phủ phải PR cho bằng cấp các trường nghề đào đạo học viên sau khi tốt nghiệp THCS. Việc đào tạo này phải thay đổi, phải kéo dài thời gian ít nhất 6 năm (tổng thời gian nếu học đến cùng, nhưng chỉ cần đạt được số lượng chứng chỉ theo yêu cầu là có thể tốt nghiệp), phân chia thành từng chứng chỉ, lấy cái đó để phân biệt. THPT trở thành chương trình hướng nghiệp, và qua đó nó chỉ giành cho 10% đủ khả năng vào đại học. Dẹp bỏ hệ Cao đẳng nửa vời, dẹp bỏ ít nhất 50%
    các đại học chưa đạt chất lượng cao để trở thành trường dạy nghề. Trường Đại học phải liên kết với nhau trở thành Viện Đại học thực thụ – University chứ không “gọi hỗn” như hiện nay.

  • quá trình tích tụ tư bản đã xong, bây giờ đã đến lúc giáo dục đạo đức cho người dân, phát triển kinh tế tri thức. khi đã cần lam thì phải làm đến nơi đến chốn. chỗ để kiếm tiền thì kiếm tiền, cho không phải để kiếm tiền thì xử phet cho gọn. cu cho nguoi ta vao casino danh bai va dung kiem tien tu y te giao duc nua. chừng 10 năm nữa mà người việt vẫn còn tinh thần bá đạo thì các ông không giữ nổi tiền đâu

  • Theo Mình thì yếu tố cốt lõi là con người, Nếu không thay đổi chế độ tuyển sinh giáo viên hiện này ở các sở giáo dục đào tạo, nếu vẫn còn giáo viên 200tr thì sách giáo khoa hay chương trình có tốt đến mấy cũng thất bại mà thôi.
    Về căn bản hay xem sách giáo khoa như là một cái dàn ý, cái tài liệu tham khảo, nếu đọc trong đó không hiểu có thể tham khảo cái khác, miễn là chúng ta xác định chúng ta học cái gì. mỗi người có một cách tư duy riêng, học có thể tìm cuốn sách được viết phù hợp với họ để học.

  • Tôi cho rằng cần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo để đổi mới giáo dục, trong đó chương trình, SGK chỉ là một bộ phận quan trọng.
    Chúng ta tháy có nhiều quốc gia thành công và muốn chọn lọc tất cả ưu việt của mọi hệ thống GD, chương truinfh và SGK các nước tiên tiến vận dụng cho VN sẽ là sai lầm nghiêm trọng, bởi lẽ bất kỳ một hê thống GD chũng như chương trình/SGK nào cũng có ưu việt nhất định và kèm theo đó là những hạn chế tương ứng.
    Chưa làm hệ thống GD chuẩn mà đã đi ngay vào chương trình SGK, e rằng đang nhìn vào từng gốc cây trong một khu rừng đối mới GD

  • Tôi đồng ý với ý kiến của chị Đặng Thị Thanh Huyền và có ý kiến như sau:
    Việc đầu tiên là các Giáo Sư, Học giả… cần tổ chức một “Hội Nghị Diên Hồng” để chấn hưng giáo dục nước nhà với mục đích:
    1. Đề ra Triết lý giáo dục
    2. Định nghĩa được Mục tiêu giáo dục
    Rồi sau đó mới bàn đến sách giáo khoa? vì trước khi viết sách ta cần trả lời cụ thể
    1. Mục đích của giáo dục là đào tạo ra những con người có phẩm chất đạo đức gì?
    2. Mục đích của giáo dục là đào tạo ra những con người có kiến thức và kỹ năng gì?
    Nếu xem kết quả của nền giáo dục là sản phẩm trí tuệ của nước nhà thì cần phải biết rõ sản phẩm đó là gì? như thế nào? trước khi soạn sách giáo khoa.

  • Là một nhà quản lý giáo dục phổ thông tôi rát ủng hộ Giáo sư Ngô Bảo Chau về hình thức bàn luận này. Để mọi người góp được những ý kiến tốt, tôi muốn chỉ ra một số vấn đề mà hiện tại và tương lai gần sẽ là lục cản cho sự thành công của đổi mới giáo dục lần này.
    1. Đặc trưng vùng miền.
    Mỗi vùng miền có những yếu tố thuận lợi và khó khăn riêng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Ví dụ, nếu ở thành thi nghe nói 1 HS lớp 4,5 đọc không thạo là chuyện rất lạ, nhưng ở nông thôn, miền núi điều đó không hiếm. Nói vậy có người cho rằng thế không đọc tại sao được lên lớp. Bạn hãy lên các vùng bản mường heo hút mà học, đi đến nhưng nơi mà muốn đến trường phải chui vào túi ni lông bạn sẽ có câu trả lời.
    Vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng chương trình mà yếu vùng miền phải đặt lên hàng đầu. Không thể đòi hỏi HS vùng núi, biên giới hải đảo học theo chương trình của học sinh thành thị, hoặc ngược lại hạn chế chương trình của học sinh thành thị học chương trình học sinh miền núi.
    2. Phát huy năng lực cá nhân.
    Trong cùng một môi trường giáo dục nhất định, năng lực tiếp thu của từng học sinh cũng khác nhau. Phải phát huy hết khả năng của các em. Trong cùng một lớp học có những học sinh có thể hoàn thành phần việc của mình chỉ bằng 1/10 thời gian của nhiều học sinh khác và thậm chí các em còn hiểu sâu hơn những gì giáo viên yêu cầu.
    Vấn đề đặt ra phải xây dựng chương trình để dáp ứng được các đối tượng học sinh khác nhau trong cùng một môi trường giáo dục.
    3. Phải bồi dưỡng giáo viên trước khí thực hiện chương trình.
    Giáo viên là người thi công, nếu giáo viên không được bồi dưỡng để đáp ứng với chương trình thì chương trình dù có tốt đến mấy cũng hỏng. Vấn đề bồi dưỡng giáo viên là khó khăn, phức tạp và cũng là khâu tốn kém nhất. Cần phải được thực hiện theo lộ trình và phải làm thật chắc chắn. Lần thay SGK trước đây bồi dưỡng Gv không hiệu quả, nhiều nơi dạy để lấy kinh phí dự án mà không chú ý đến hiệu quả.
    Vấn đề đặt ra là cách thức tổ chức bồi dưỡng thế nào để kịp thời và có chất lượng.
    4. Tăng cường CSVC song song với thực hiện chương trình.
    Khâu này là khó nhất, quá nhiều tiền để thực hiện việc này. 34 ngàn tỉ ư, chưa thấm vào đâu cả, phải hàng chục cái 34 ngàn tỉ ấy. Thử điều tra xem hiện tại có bao nhiêu trường còn thiếu bao nhiêu phòng học, bao nhiêu trường chưa có sân chơi bãi tập, phòng thí nghiệm thực hành, phòng bộ môn. Chưa nói đến thiết bị có đảm bảo không. CSVC không thể ngày một ngày hai là đáp ứng được, trong khi đó chương trình lại không thể trường nào đủ điều kiện mới áp dụng.
    Vấn đề là xây dựng chương trình để có thể đáp ứng được các điều kiện khác nhau của CSVC
    5. Quản lý giáo dục theo quan điểm địa phương.
    Bản thân mỗi địa phương có điều kiện kinh tế- xã hội khác nhau nên việc đầu tư cho giáo dục cũng khác nhau. Có nhiều nơi kinh phí tương đối dồi dào, có nơi ngoài lương kinh phí chi thường xuyên cho hoạt động giáo dục không đáp ứng được những nhu cầu cơ bản nhât, không nói đến là nâng coa chất lượng giáo dục.
    6. Cán bộ quản lý.
    Ngại thay đổi, ngại đổi mới, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm. Dĩ hòa vi quý, giữ an toàn chờ hạ cánh an toàn.
    Vì vậy song song với đổi mới GD phải đổi công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý. Đổi mới cách đánh giá chất lượng các cơ sở giáo dục.
    …….
    Còn nhiều vấn đề nữa, tạm thời chia sẻ một số ý kiên cá nhân vậy

  • Cơ sở vật chất ít , kém so với thế giới . Đời sống người làm khoa học thấp . Đới sống giáo viên thấp , góp phần vào giáo dục phổ thông chất lượng thấp so với thế giới.

  • Trước hết phải mô tả bức tranh toàn cảnh của GDVN là gì, đổi mới căn bản và toàn diện GDVN là gì, định hình đào tạo con người như thế nào? tư duy độc lập, sáng tạo, năng động, phản biện, lắng nghe, quan sát, ghi nhớ, giao tiếp, khéo léo, tập trung, hội nhập quốc tế… sau đó định hình các kỹ năng này ở từng cấp học là gì, ở từng môn học là gì…
    Tiếp theo là các mảnh ghép khác như “giáo dục phổ thông”, “giáo dục đại học”…trở lại vấn đề
    đổi mới SKG cũng phải nằm trong bức tranh toàn cảnh trên. Tuy nhiên ở cấp Bộ thì chỉ cần xây dựng “chương trình khung” còn SGK có thể có nhiều bộ do xã hội đảm nhiệm (trăm hoa đua nở- như thế tạo được không gian mở để thầy và trò có đất sáng tạo) và được các cơ quan khảo thí độc lập cấp phép về mặt chuyên môn và tính sư phạm và tất nhiên cộng đồng xã hội là bản test cuối cùng.Tức là Bộ chỉ quản lý vĩ mô về chính sách còn chi tiết do các đơn vị chuyên môn đảm nhiệm. Thứ nữa không kém quan trong là vấn đề quản lý, vấn đề tuyển chọn lãnh đạo, đào tạo giáo viên, vấn đề cơ sở vật chất, tiền lương, chống tham nhũng, vân đề dân chủ hóa, minh bạch thông tin để tạo ra môi trương giáo dục lành mạnh, trong sáng để trường học thực sự là nơi ” thánh đường của tri thức” ….,

  • Thông thường người ta soan sách giáo khoa, lên khung chương trình… chỉ khi nào đã có một triết lí giáo dục rõ ràng. Đến nay bản thân tôi vẫn chưa biết đến triết lí giáo dục của nền giáo dục Việt Nam là gì ?
    Việc đổi mới sách tôi đã từng chứng kiến một lần. Lần đổi mới đó tôi thấy không có gì thay đổi đáng kể, chỉ có cuốn sách dày hơn, to hơn nên cũng đắt tiền hơn, sgk vật lí cũ chỉ khoảng 4000 đồng thì bây giờ là 12.500 đồng… Nội dung không có gì thay đổi so với hồi sách cũ, bây giờ sách to hơn đưa một số chương trình lớp các lớp 6,7,8,9 cũng như lớp 10,11,12 giao hoán cho nhau mà thôi. Về nội dung bài tập tôi thấy nhiều bài tập cắt dán lấy ở các đề thi hồi mà các đai học ngày xưa tuyển sinh ra đề thi riêng rồi đưa vào phần bài tập.
    Tôi cũng nhận thấy sự chênh lệch về kiến thức giữa các lớp, các cấp. Điều này làm cho rất nhiều học sinh bị hụt hẫng, và choáng váng trước những kiến thức quá khó đối với họ. Chặng hạn, khi chuyển cấp từ lớp 5 lên lớp 6 kiến thức ở lớp 6 quá xa lạ và khó đối với học sinh, nhiều học sinh không bắt được nhịp.
    Cũng vậy, lớp 9 lên lớp 10 kiến thức cũng là quá chênh lệch. Nếu bạn cầm quyển sách vật lí lớp 10 đang hiện hành, bạn sẽ thấy choáng ngợp vì kiến thức quá nhiều và khó để một học sinh bình thường tiếp cận với vật lí. Theo tôi nghĩ nó còn tương đương với vật lí đại cương học trên đại học. Còn nhiều ví dụ tôi chỉ xin nêu một vài ví dụ thôi.
    Tôi không rõ nền giáo dục nước ngoài như thế nào, nhưng tôi nhận thấy giáo dục Việt Nam ít quan tâm đến việc dạy cho học sinh những kĩ năng sống, những bài học đạo đức cơ bản làm người. Tôi chỉ nhớ có được học đôi bài hồi cấp 1 trong cuốn sách đạo đức, đến bây giờ vẫn nhớ những câu chuyện đạo đức trong cuốn sách đó. Tôi cũng nhớ học về môn giáo dục công dân mà tôi thấy dị ứng, chỉ thấy học nặng về mấy khái niệm rất trừu tượng, giáo viên dạy đạo đức mà như dạy lớp cảm tình đảng ấy.
    Việc đổi mới sách giáo khoa làm sao để cho học sinh và kể cả sinh viên có tinh thần học chủ động, vì học sinh, sinh viên nước ta rất thụ động trong việc học. Mà kể cả giáo viên cũng thế. Tôi đã từng làm bài kiểm tra nhiều, nhưng hầu như giáo viên ở ta chưa biết tự ra đề thi, cũng có người biết tự ra đề nhưng số này rất ít.
    Việc đổi mới giáo dục làm được hay không là phụ thuộc nhiều yếu tố, nhưng điều góp phần quan trong là mỗi người có trách nhiệm cần phải có cái tâm lớn, phải biết hi sinh vì tương lai người trẻ và tương lai đất nước. Còn không đổi mới SGK cũng sẽ là VŨ NHƯ CẨN. Thay vì ngày trước là “gió thổi hưu hưu” thì bây giờ là “hưu hưu gió thổi”.

    • Nhận xét: “… chỉ có cuốn sách dày hơn, to hơn nên cũng đắt tiền hơn, sgk vật lí cũ chỉ khoảng 4000 đồng thì bây giờ là 12.500 đồng…”
      của thầy (cô) rất đúng nhưng là chưa đủ minh chứng, tôi xin bổ sung vài ý:
      1. Khổ sách cũ của mình là 13,5x18cm rất bé; khổ sách hiện hành của Việt Nam ở tất cả các SGK (và đa số sách tham khảo) là 17x24cm tất nhiên là to hơn nhưng khổ sách của Sing là 19x26cm đối với THCS, với sách Tiểu học của Sing thì khổ sách còn to hơn nữa! Sách giáo khoa của Pháp (thường là khổ 19x27cm), Mỹ, Đức, … lại có khổ khác nhau nhưng đều to và dày hơn sách tương đương của Việt Nam.
      Lợi ích của khổ sách to là: Việc trình bày, minh họa, bố trí nội dung sẽ dễ hơn, đẹp hơn, không bị gò bó cày cấy trong một mảnh đất hẹp! Nhà rộng thì thoáng mát hơn mà!
      Vấn đề sách của Việt Nam chọn khổ giấy hiện tại là vì khổ giấy này khi in giá thành sẽ rẻ hơn do các khổ sách khác thì khi cắt xén thành sách sẽ bỏ tốn phí giấy in hơn, do chuẩn kích cỡ của cuộn giấy để in sách thì giống nhau giữa các nước mà! Bây giờ Việt Nam muốn in sách khổ khác thì chắc phải đổi cả công nghệ in mất, rất tốn kém nhưng theo tôi là nên làm! Chất lượng về NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC vẫn phải được đặt lên hàng đầu!
      2. Tất nhiên, sách to-dày thì có khối lượng nặng hơn rồi và còn đắt hơn nữa!
      Ngoài ra, giá bìa 4000 đồng là giá của gần chục năm về trước còn giá hiện tại thì không thể như thế được trong khi tất cả mọi thứ đều tăng giá, có thứ tăng giá cả chục lần ấy chứ! Việc này thì phải hỏi Chính Phủ thôi!

  • TANHTRUNG
    Thực ra phê bình nền giáo dục hiện nay có nói đến 1 năm nữa cũng chưa hết chuyện và cũng chẳng giải quyết được gì ( hoặc có giải quyết thì cũng chỉ giải quyết nửa vời)! Riêng tôi mạo muội tham gia một số ý kiến như sau:
    1/ Một nền giáo dục hiệu quả là một nền giáo dục có những người lãnh đạo & quản trị hiệu quả ( xin mượn thêm ý Bác Hồ là vừa hồng vừa chuyên – “hồng” trong ngữ cảnh này xin hiểu là “tâm huyết”, tận tụy”, và ” liêm khiết”. Lãnh đạo sáng suốt, có tâm và có tầm, và dũng cảm nhìn nhận cái sai và quyết liệt sửa chữa – như việc Thủ Tướng chỉ đạo thôi không đăng cai Asiad – thì mới có cơ may thổi một luồng sinh khí mới vào ” ngôi nhà giáo dục”.
    2/ Chính sách giáo dục phải nhất quán! Đồng ý là phải có quá trình ” trial and error” nhưng e rằng ở nước ta là “repeated trials & repeated errors”. Thiếu sự kế thừa ( nếu có cái tốt để kế thừa!) trong một quãng thời gian chí ít 20 năm thì chúng ta và con cháu chúng ta sẽ mãi nghe người Singapore rỉ rả ( Việt Nam phải mất hơn 180 năm mới đuổi kịp Singapore!).
    3/ Tôi có đọc đâu đó trên báo thấy có cụm từ CMDA ( giải mã là C = M + D + A; trong đó C là corruption (tham nhũng), M là monopoly ( độc quyền; ví dụ chuyện sách giáo khoa; mua sắm trang thiết bị ), D là discretion ( tạm giải thích là tự tung tự tác vì có gì đi nữa thì cũng được che chắn!), và A là accountability (trách nhiệm giải trình – xảy ra việc thì cứ đùn đẩy, đổ lỗi – nhưng thực ra chính lãnh đạo là người chịu trách nhiệm đầu tiên – tai nạn trên đường cao tốc Trung Lương căn nguyên không phải lỗi xe bồn; dịch sởi lan rộng không phải tại BV Nhi trung ương quá tải; một số Trường Đại học tuyển sinh tràn lan, giảng dạy lôm côm chính xác căn nguyên do quản lý không tốt …). Trong nền giáo dục hiện tại của chúng ta, ngoài những người tâm huyết, tôi e rằng có quá nhiều ” con sâu làm rầu nồi canh”! Chừng nào chưa giải quyết vấn nạn CMDA thì kịch bản ngày hôm nay sẽ có những đạo diễn khác dựng những ” remake” cho chúng ta ” tha hồ coi”!
    4/ Triệt để thay đổi chính sách đãi ngộ đối với Thầy Cô! Chừng nào vị thế Thầy Cô chưa được đặt ngang tầm một “kỹ sư tâm hồn” đúng nghĩa thì không bao giờ chúng ta xây được những căn nhà bền vững tốt đẹp được! Đào tạo một đội ngũ xứng đáng, trả lương xứng đáng, trân quý trọng thị những người đang xây dựng ” rường cột quốc gia ” thì mới có cơ may đổi mới được!
    Nếu làm được những điều trên thì tôi thiết nghĩ cũng đã trả lời một phần câu hỏi ” Triết lý giáo dục” rồi ( điều mà các bạn có thể dễ dàng tìm thấy trong các ‘mission statement” của các trường đại học nổi tiếng hoặc tìm đọc quyển kỷ yếu Đại học Humboldt 200 năm …). Từ lâu chúng ta đã nghe quá nhiều những cụm từ ” critical thinking”, ” creativity & innovation”; “Cooperation & communication” đến mức chúng đã trở thành sáo ngữ nhưng chừng nào lãnh đạo chưa biến chúng thành hiện thực thì mãi mãi đó chỉ là những ‘ xác chữ vô hồn” mà thôi!

  • 1. Về hình thức trình bày, SGK hiện hành của Việt Nam thực sự chưa tốt, chưa được đầu tư đúng mức, kênh hình còn chưa nhiều và chưa được phát huy tối đa. Đây là nội dung cần thay đổi!
    Không phải là mình không có đội ngũ có trình độ để làm ra sách đẹp, thậm chí mình còn có thể làm đẹp hơn cả của nước ngoài. Khá nhiều sách tham khảo của NXB GD đã làm tốt điều đó! Tất nhiên để làm sách hay và đẹp thì phải quên việc lấy tiêu chí rẻ làm đầu đi, vì tiêu chí này sẽ ảnh hưởng tới việc đầu tư cho mỹ thuật của sách và ảnh hưởng tới cả chất lượng nội dung nữa do muốn sách rẻ thì lại cần hạn chế số trang, giảm đầu tư mỹ thuật. Như mọi người đều biết sách của Sing, Mỹ hay nhiều nước đều có số trang rất thoải mái, họ chỉ quan tâm tới chất lượng sách (Sách Mỹ là điển hình và vô địch về nhiều trang khi mỗi quyển toàn trên 800, 900 trang (tất nhiên số quyển sách thì ít hơn); hay bộ 5 quyển Toán THCS của Sing thì dày gấp đôi bộ sách Toán THCS gồm 8 cuốn của ta).
    2. Về giá sách thì SGK của Việt Nam đang rất rẻ, tôi chắc chắn chẳng có mảng sách nào rẻ hơn SGK theo tất cả các cách tính! Tôi lấy một ví dụ nhé, quyển Toán 1 dày 184 trang có giá bìa là 10.800VNĐ (đây là con số chính xác đấy!), nếu so sánh hơi thô một chút thì 10.800VNĐ mua được khoảng 2 hoặc 3 cuộn GIẤY VỆ SINH loại bình thường và dùng được trong ..???.. ngày thì tùy người dùng; hay với 10.800VNĐ mua được 2 gói BimBim loại 5000 và một em bé lớp 1 chỉ cần một lát là chén hết, trong khi quyển sách là kiến thức để học cho 1 năm!
    Tất nhiên tiêu chí rẻ cũng quan trọng nhưng theo tôi không nên đặt hàng đầu; tiêu chí đặt lên hàng đầu phải là CHẤT LƯỢNG VỀ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC!
    Tôi cũng thực sự không rõ là học sinh của Mỹ hay Sing có phải tự mua SGK để học hay không vì không có quyển SGK của Mỹ hay Sing nào mà tôi biết có giá bìa rõ ràng, minh bạch như của Việt Nam?

    • Ở Mỹ, giáo dục K12 (từ Mẫu giáo đến lớp 12) là bắt buộc. Liên Bang (Federal) phán như vậy, mặc dù trách nhiệm là ở các Tiểu Bang (State) và Học Khu (District).
      Phải ở lâu lâu bên Mỹ một tí thì mới nhìn ra cái lối tổ chức điều hành của nó. Chính sách đối ngoại, in tiền và bắt lính là quyền Liên Bang. Chính sách đối nội, giáo dục, cảnh sát, cứu hỏa là việc Tiểu Bang. Bang Cali nó to bằng nước VN, nên việc cai trị cũng trở nên phức tạp. Tổ chức dạy học như thế nào là việc của Học Khu.
      Vì GD K12 là bắt buộc nên các em được hưởng miễn phí, bất kể giàu nghèo. Nguyên tắc là như vậy. Vì các em đều ở tuổi dưới vị thành niên, nên quyền hạn của cha mẹ rất lớn. Mình mà không biết là bị thiệt thòi. Thực tế, cha mẹ có quyền hạch hỏi từ ông bà Hiệu trưởng trở xuống.
      Ví dụ, một người mẹ trẻ bước vào văn phòng (cô thư ký phải sẵn sàng hỏi xem bà muốn gì). Bà hỏi rằng tại sao con bà không có sách học, tại sao con bà không có bài làm về nhà, con bà muốn học tiếng Đức tiếng Nga tiếng VN tiếng Lào thì phải làm sao. Cả văn phòng phải xoắn vó lên tìm cách giải quyết, mời bà vào trong nói chuyện. Quyền là như vậy, thường thì cha mẹ VN hoặc Mễ họ rụt rè hơn, vì chưa hiểu rõ quyền lợi của mình.
      Có dịch vụ thì phải cần tiền. Lần sau, có dịp, tôi sẽ nói tiền bạc ở Mỹ, nó đến nó đi nó chạy như thế nào …

      • con chào Thầy , con rất thích nghe những câu chuyện giáo dục của Thầy . Và con hy vọng sẽ được nghe nhiều hơn thế nữa . Nếu lúc nào thuận tiện ( con hy vọng là không làm phiền thầy ) thầy kể cho con nghe thêm phương thức giáo dục của người Mỹ được không ạ ?
        Email của con là toitheomotnguoi@gmail.com .
        À, con tên là Kiều Anh , con đang học sư phạm ạ

        • Tôi là thầy giáo nửa mùa, chưa bao giờ được nhận vào ngạch giáo viên, nên không dám chỉ bảo ai đâu. Cám ơn Kiều Anh vậy, nhưng sẽ đụng đâu nói đó. Có lẽ, tôi kinh qua đã nhiều, chỉ không sâu sắc thôi ! Một trong những khác biệt về việc tổ chức trường lớp ở đây là, mỗi thầy cô ngồi cố định trong một lớp học, học sinh đến lớp của cô thầy đó để học. Còn ở VN, lớp học là của học sinh, thầy cô vào lớp của học sinh để dạy. Mỗi cách có một cái hay, tôi không biết cách nào hay hơn?
          Cảm phiền KA nhé. Tôi đã bị lôi cuốn vào nghề giáo dục một cách tình cờ. Có lúc đã phải nín thở qua sông. Người ta nói “teachers touch lives for ever.” Chúc KA may mắn.

  • Sách lịch sử cần sử ngay cái tư duy dân ta thời xưa “cởi trần đóng khố”. Không biết ông nào nhặt nhạnh cái nội dung ấy ở đâu làm hàng chục năm nay chuyện tranh của ta cứ rập theo vẽ bậy vẽ bạ.

  • Việc rút lui đề án SGK cũng được ạ, thôi đành vậy, để suy nghĩ thêm. Nhưng mà tôi nhận thấy là hễ ta cứ định làm việc gì lớn là mọi người sẽ phản đối. Thực ra, có vị giáo sư cho rằng, để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam, thì ta chỉ việc tăng lương cho giáo viên, thế là xong ! Nhưng mà cứ nghe đến chi tiền thì chắc hẳn là sẽ có ngay một bản đồng ca từ già đến trẻ phản đối dữ dội và hoành tráng ! Cho nên, tôi nghĩ là ta phải đánh kiểu du kích, cứ thỉnh thoảng lại làm một cú đột phá !

  • Giáo điều ý thức hệ.
    Tự ti dân tộc . không dám tin có thể vượt qua lý luận của bất kỳ dân tộc nào.
    Vn giải phóng: dùng lý luận của thế giới ở ngoài vn để giải phóng ách độ hộ hàng ngàn năm . đó là nhân tố mới tất yếu phải giữ trong tương lai. Cho nên thế giới chưa kịp hiểu , chưa thay đổi kịp thì phải tranh thủ canh tranh về lý luận và tiến hành cuộc cải tiến thực tiễn. vượt qua nước mỹ . nước nga hay bất kỳ dân tộc nào khác có thể. đó là câu chuyện của ngày hôm qua.
    Vì giáo dục cứ mãi tục hậu vì ý thức giáo điều. Có người đã nhắc , vn không có nhà văn hóa lớn trong các lĩnh vực. nhưng sự thực là còn tự tin dân tộc và tôn vinh chưa hết. từ nhân dân mà ra. Đâu phải chỉ có tướng lĩnh mà là trong tất cả các lĩnh vực, anh có thể là tuyệt vời trong lĩnh vực này nhưng chỉ hạn hẹp trong lĩnh vực khác là của những con người khác .
    Có người nói giải phóng vn nên choáng ngợp, không biết cái gì nên giữ, cái gì nên sửa. đó chỉ còn câu chuyện của ngày hôm qua. Phải giữ các lý luận của những nhà lý luận trong quá khứ, buồn cười nếu ai đó vào năm 3000 chẳng hạn nói ông tôn tử ông không phải nhà lý luận, ông lão tử ông kém cỏi lắm, hay gia cát lượng ông chẳng biết gì cả, ông lý luận nước nga hay ông lý luận người đức, nhà kinh tế mỹ đó, có gì vn phải học hỏi, đó là những câu nói ngu dốt nhất. , phát triển những lý luận mới. lý luận để biết cách tại sao nước mỹ họ phát triển giáo giục hay các lĩnh vực, phát triển internet trước thế giới. cách các nghiên cứu ảnh hưởng đến toàn bộ thế giới đi ra từ các trường đại học. cách các trường nhận tiền từ các doanh nghiệp và trách nhiệm quan quản lý tiền cho giáo dục. cách họ quản lý bằng thẻ id, thẻ an sinh xã hội, thẻ bằng lái xe kèm theo trong id,,,và các nước khác. hãy xem những câu chuyện buồn cười cách Tần Thủy Hoàng đốt sách vì ông ta muốn thống lĩnh tri thức. đừng nói những nhà lý luận là nhân dân vn, anh không được có lý luận giỏi hơn người khác, dân tộc khác.
    Rõ ràng hãy xem lại. nói đúng vì thái độ tự ti dân tộc trong thực tế. vn đã vượt qua thế giới về lý luận toán học, vượt qua thế giới về lý luận về quân sự, vượt qua thế giới…. . thì giờ cạnh tranh về lý luận, học hỏi thế giới, cách họ giáo dục bằng gì, bằng cái gì và dám đi trước nước mỹ hay nước nga hay bất cứ dân tộc nào khác. Không phải thái độ sợ cuốn theo vòng soáy của thế giới hay chủ nghĩa giaó điều.
    Ta dám phát triển lý luận, cởi mở lý luận. dám cải tiến thực tiễn. Hãy xem cách vn phát triển internet và nước mỹ, đó chỉ là vấn đề phát triển có ý thức.
    Đến giờ phát triển rồi. không phải chỉ thay đổi sách giáo khoa. Đã phát triển cái nền rồi, cái cơ sở mới về lý luận có rồi, cái cơ sở mới làm nền cho một nước vn mới, các lĩnh vực điều đi sau, thoát khỏi mớ lòng tong giáo diều , tự tin và vượt qua sự lo sợ chay theo vòng xoáy của nước khác.

  • Theo tôi ý kiến của giáo sư Ngô Bảo Châu vừa chân tình, hợp lý, khách quan lại rất khoa học trước khi thay đổi sách.

  • họ chưa thấy cái hại của việc đặt ở vị trí đó. cái ông đặng tiểu bình đó cũng tài thiệt, nhưng ông ta nghĩ rằng ông ta hiểu được lý luận của ông tôn tử nó mới ra thế, . Họ đang kích hoạt năm khi vn tác chiến với họ, giai đoạn của chế độ cũ dùng lý luận phong kiến , học tư bản, khi vn phải giành giật giữ vi trí gần cái giàn khoan. càng tiếp tục thì càng tái dựng, đi vào hiện trạng vn đang giành giựt vị trí đó nhưng với con người vn khác, lý luận khác. giờ họ định tương tác lý luận với vn. sự nghiệp giáo dục của vn đang ở giai đoạn vượt ngưỡng , tốt. ảnh hưởng khách quan không mong muốn , mọi người sẽ tập trung, tinh thần quyết tâm cao nhất để viết sách giáo khoa. họ sẽ ra đi thôi.
    họ tiếp thu công nghệ của nước ngoài châu âu, mỹ bằng cách mua các hãng châu âu , mỹ. trong đó có giàn khoan mới đây, hãng xe hơi, hãng apple mua các hãng nhỏ rồi đóng cửa dùng công nghệ đó..vn đợi chuyển giao công nghệ là cách làm bị động cần phải thay đổi cách đổi mới công nghệ, vn ta đã bỏ lỡ cơ hội khi mua viber.
    mấy cái bắp cải hay bị sâu bám. it tháng trước tui trồng rau ở vườn không có gì, sau đó tui đem mấy chậu rau đó ra sau nhà , đặt gần cái thùng rác lớn thì thời gian sau thấy đầy màu trắng sâu, không ăn được nữa.

  • gió sâu thăm thẳm thì chỉ thấy hang động. đem đại nghĩa để thắng hung tàn .
    lấy chí nhân để thay cường bạo.
    giới lãnh đạo tq cực đoan đối với họ phải dùng như vậy.
    về tác động lãnh thổ. Vì vào lãnh thổ vn, họ đặt giàn khoan vào lãnh hải việt nam nên khách quan sẽ mở rộng ra đường tác động rộng lớn qua nước họ. dù ai có thể đồng ý hay không đồng ý về nhân thức thì nó là thực tại khách quan, đường tác động mở rộng qua lãnh thổ rộng lớn của họ. hòa bình luôn giữ nên không dùng, nhưng cái này sẽ xét đến. Ông lão tử cung cấp một lý luận rất hay về sự trao đổi lợi này. Bên xâm lược trao đổi lợi nhỏ thì ta nhận trao đổi về lợi to bên lãnh thổ họ, lãnh thổ họ rộng hơn việt nam. khi quân nguyên mông bị đại bại lần 3 vì không hiểu được nguyên lý này nên ta quên nhận lấy một phần từ nguyên mông. Vì không nhận thức đúng nguyên lý này nên sau khi đánh bại nguyên mông lần 3 ta đã không nhận lấy phần trao đổi của nguyên mông. Đó lý do tại sao thế giới chưa thừa nhận ta là một trong những thực lực quân sự mạnh nhất trên thế giới. ta thắng mỹ, thắng pháp nhưng điều đó không có nghĩa là trong thời gian đó những quốc gia mạnh khác khi đó có thể đánh lại họ, điều này được xác nhận bởi một nhà lý luận quân sự vn khi đó. Quân và dân ta dứt khoát phải nghiêm khắc thực hiên nguyên lý này trong tương lai trong bất kỳ cuộc chiến tranh xâm lược nào vào vn. Ta phải tôn trọng pháp biện chứng vận động quân sự của việt nam. Ta sẵn sàng nhận sự hợp tác cùng phát triển của mọi quốc gia trên thế giới và nhận sự giúp đỡ công khai hay không công khai của bạn bè thế giới.
    Đức thánh trần có dự đoán cách ăn, thủ đoạn hiểm của họ, về hành vi ăn một cú rồi về khoái trá, khong an nua, không tiến xa hơn, xem như không có chuyện gì, họ đã làm mấy lần trong nhiều năm tách biệt,. họ làm vì họ vui chưa bị cho cuốn vào nguyên lý này. Có những điểm nếu hòa bình thì không xem xét, cho ví dụ: là tây tạng , khu trung tâm, vị trí gần giàn khoan, những điểm này với vị trí giàn khoan tạo thành âm dương, vây và giải vây, mâu thuẫn, là nguồn gốc của sự phát triển tác động. có sự uu tiên ngang nhau. Những điểm cơ bản này sẽ tạo ra những điểm không cơ bản khác. có 2 khu vực việt nam giữ hòa hiếu sẽ không xung đột dù bất kỳ hoàn cảnh nào là quảng tây, nó giống như nước đông ngô trong tam quốc của họ, những vùng đất anh em vn đã cùng vào sinh ra tử. lý do là trong những năm hung dữ giữa vn và họ thì tình nồng thắm của một số bộ phận nhân dân hai nước vẫn vững bền.
    Khác:
    dùng mưu lược giúp vài nhà lãnh đạo cực đoan xuống để có những nhà lãnh đạo khác hòa hiếu với việt nam và đưa dàn khoan ra ngoài việt nam. Cạnh tranh quyền lực ở tq là có thực, vn hòa hiếu với họ trước khi đặt giàn khoan là có thực,
    Rồng lớn thì mắc cạn ở sông nhỏ. Vn không phải là nơi để họ kiếm chác , nếu họ muốn mắc cạn.
    Tq muốn phát triển không ai cản, nhưng nên tính đến sự phát triển của vn,
    đã có bài viết rất hay về đức khổng tử phê phán về thái độ không hiểu lòng nhân của đức khổng tử đối với cách họ hành xử, ông khổng tử khi quản lý thì không cần phải đóng cửa, người dân tối ngủ không cần phải đóng cửa mà chẳng có lo sợ trộm
    có vị tướng ở vn là phạm ngũ lão, ông than rằng luống thẹn khi nghe chuyện vũ hầu thế nhưng sau đó lịch sử chứng minh đó là vi tướng anh minh. Vn Pháp luật nghiêm minh, ổn định, Dùng cách đối xử lòng nhân với lân bang, quân dân đồng lòng , kỷ luật nghiêm minh, hiểu đạo nghĩa thời đại, đối với một loạt tướng lĩnh tranh giành chức vụ bằng tiền của họ, muốn dứt cũng không được vì sợ nội bộ lục đục, đối xử với các dân tộc trong nước họ đến nổi xung đột, đối xử với lân bang như lang xói, nói chuyện với dân họ như kẻ bịt mắt dân mà lừa gạt, đối với các tiền bối trong nước họ dọa nạt bằng tham nhũng bất kể ai.
    bởi thế viết sách giáo khoa sử phải cho học sinh tự gợi mở tư duy lý luận về những suy nghĩ chỉ đạo của ông cha ta.

  • trong lịch sử của tq, có 2 nước đấu với nhau, tướng 1 nước chưa xuất trận thì đã biểu thị kỷ luật nghiệm trừng trị một người người đi đến nơi hội quân trể vì tối hôm trước tổ chức uống rượu chia tay trước khi ra quân. Chỉ có bằng một hệ thống tổ chức xã hội ngăn nắp vn mới làm một phức tạp như vây trở nên ổn đinh nhanh chóng như vậy, ta phải cho thế giới thấy mà an tâm đầu tư. không phải nơi nào trên thế giới cũng giống nhau. xem một số nơi trên thế giới không có sự kỹ càng thì gây họa, một vài người hung hãn không có nghề nghiệp, săm trổ, cố tình làm bất ổn nguy hiểm như vậy trên tình hình thế giới thế này, dứt khoát phải cho một vài bản án nghiêm minh nhất có thể.

  • lời giúp đỡ có nghĩa rất rộng có nghĩa có thể là lời nói khách quan, lời nói phân tích hơn thiệt, sự giúp đỡ nào tạo chiều hướng sức mạnh tổng hợp, không nên đảo chiều sức mạnh. có nhà văn hóa vn mới bình luận rất hay về văn hóa sức mạnh mềm. chỉ bằng một câu nói đắn đo, không chắc chắn , ngăn cản của tq với mỹ trong quá khứ có lẽ mỹ không bị tốn kém, vn cũng có thời gian hòa bình sớm hơn.

  • chỉ nói gợi ý. dù gì thì gì, nguyên tắc của cha ông ta là, phương thức tấn công. Gốc của nguyên lý là thực tiễn quyết định lý luận. phương pháp chỉ đạo tác chiến là bằng di chuyển theo hình bát quái trận địa trên biển, hình zic zac, và phải suy nghĩ hình zic zac tương ứng là gì. Gốc nguyên lý cho ta thấy rằng, sau khi thực tế người đi biển chấp pháp an toàn thì bao gồm cả hình zic zac và ta phải lọc ra zic zac là thế nào, người đi biển sẽ kết luận cái nào đúng zic zac. tiến công không có nghĩa là máy móc , mà là linh hoạt đại tướng cho ta một ví dụ sống động , điện biên phủ có lui, mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu, nhưng vẫn trong bát quái trận địa, phương châm là thực hiện việc chấp pháp điều đặn trong an toàn, nói vui ông đặng tiểu binh ta không học được. Ông tôn tử, dạy cho ta câu chuyện về cách chấp pháp trong câu chuyện ông nói với vị vua sau đó, vua chỉ thích xem câu văn trên binh thư thôi ah, hãy xem họ như thuộc hạ và ta đang tiến hành chấp pháp cho vài vị chỉ huy của họ, có tiến, có lui, có sang ngang , có sang phải, có sang trái, có xoay ngoặc trở lại, có xoay ngoặc trở lại bên trái, có xoay ngoặc trở lại sang bên phải, có tiến chéo, như thế nào là sang trái , sang phải… tui chưa biết nhưng tương ứng thế nào thì người đi biển rõ. ta phải tiến hành chấp pháp trên vùng biển của ta trong bất kỳ thời điểm nào. Nói thật tui cũng không biết thế nào nhưng ông tôn tử cho ta ví vụ về sự chấp pháp trên trận địa trên biển. khuynh hướng của sự phát triển tác chiến chấp pháp, đúng phương châm của ông cha ta, cũng hợp với thực địa. ta sẽ chấp pháp an toàn, kêu gọi họ và theo khuynh hướng của sự phát triển. thế của tq và mưu đồ của họ là khiêu khích thì bắt buộc họ cho ta luyện tập việc chấp pháp và hành pháp trên biển, nói chung tui cũng như mọi người, ta cũng không biết chuyện sau thế nào nhưng quy luật vận động dạy rằng, thực tiễn quyết định lý luận, nên cứ thế làm.
    về việc kết nối giữa cao đẳng và đai học. về thực tiễn cho lý luận, thực tế bên mỹ chỉ thế này, trường sinh viên 1 trường cao đẳng đang học sẽ liên kết với vài trường đại học khác. những trường đại học mà sinh viên xin vào trong tương lai , 1 trường đại học sẽ yêu câu một vài môn sinh viên đó phải học trong trường cao đẳng có liên kết đang dạy. vì thế sinh viên học xong cao đẳng có thể chọn học xong tổng số đơn vị tín chỉ unit thì có thể nhân bằng cao đẳng, còn học thêm vài mộn ví dụ kinh tế, công nghệ thông tin… thì sẽ vào đúng trường đang yêu cầu, không có thi cử gì nữa. còn nếu sinh viên không học cao đẳng thì phải thi để vào trường đại học đó. còn ngành đặc thù như điều dưỡng nursing thì thêm yêu cầu khác. có một cái hay là sinh viên đăng ký chọn ngành học xong, nhưng có thể đăng ký bất cứ ngành nào có thể, vì thế học có thể chon những chuyên ngành mà học thấy hợp nhất. như vậy đăng ký ngành trước chỉ có tính định hướng và để quản lý trên máy tính, không phải gàng buộc.
    ông tôn tử( ngày sau nên tôn vinh nhà lý luận này cho lý luận của nhân loại, đó cũng là lý luận văn hóa mới đây của ta nói, một phần văn hóa của nhân loại, ta tôn vinh ông tức là ta đã đi trước tq về văn hóa sức mạnh mềm, ông xứng đáng là một phần của văn hóa sức mạnh mềm của vn, điều này nên xác định, rất quan trọng. có vị tiền bối ta đã nói, ông có suy nghĩ ngày nay vẫn đúng trong quân sự mà trong lĩnh vực khác cũng rất hay).

  • sau này có 2 điều sẽ xuất hiện, một số người đi biển có thể có chức vụ thấp, thậm chí người lính thường sẽ trở thành tướng lĩnh và giữ trận địa này.
    vì theo kết luận cha ông ta đời trần đã quên nhận phần từ nguyên mông nên tq nếu không lấy giàn khoan về cho nhanh thì ta sau này phải tiến hành giữ lấy. Quân và dân ta dứt khoát phải nghiêm khắc thực hiện nguyên lý này, vì thiếu thiếu điều này nên vn chưa được thừa nhận là một trong những lực lượng quân sự mạnh nhất trên thế giới.

  • Tàu di chuyển bình thường trên biển là di chuyển trong không gian
    ‘. Còn khi di chuyển trên bát quái trận địa trên biển trong không gian 4 chiều thì 8 điểm trên bát quái luôn là 8 điểm mở. Di chuyển trên bát quái trong 4 chiều luôn thông suốt, luôn là 8 điểm mở. Lý do là: khi không có vật chất thì không gian bình thường. Khi di chuyển trong không gian 4 chiều, tức xét thêm chiều thời gian, nghĩa là cùng một địa điểm, với thời gian khác nhau thì hình dạng vật chất khác nhau. nó bao gồm trường hợp riêng cùng một địa điểm với thời gian khác nhau thì có vật chất di chuyển và có lúc không có vật chất, tức là cùng một địa điểm với thời gian khác nhau có xuất hiện tàu di chuyển và không có tàu, có thể cùng một địa điểm với thời gian khác nhau có tập hợp và không có tập hợp. Ta tiến, lui, động tĩnh,…. đều không định trước… là phép di thân của cá thể tàu, tập hợp(ví dụ biên đội)..Tàu lướt trên sóng, đi những bước nhanh nhẹn nhỏ bé, Tưởng như hấp tấp, mà hóa ra nhàn nhã.

  • xét Có 3 mốc thời gian, thời gian thay đổi vật chất thay đổi. Mốc 1 ta còn cơ hội chiếm giữ giàn khoan và xua đuổi họ. Qua thời gian này mốc 2 ta buộc phải phá hủy giàn khoan và xua đuổi họ. Qua thời gian này mốc 3 ta buộc phải phá hủy giàn khoan và xử lý sạch sẽ. bởi vì nguyên lý của lão tử bên xâm lược họ tiến hành chiếm trên lãnh hải ta nên nếu phá hủy giàn khoan thì ta bị thiệt hại nguồn lợi là cái giàn khoan vì thế không còn gì nhận được. vì thế nếu mốc phải phá hủy, xua đuổi họ đi với phải tính nguồn lợi trao đổi lớn bổ xung là phần lãnh thổ bên xâm chiếm để cân bằng lại trang thái ban đầu, vừa phù hợp trang thái hoạt động âm dương, mâu thuẫn cho hệ thống chấp pháp và hành pháp. và để ý rằng mốc thời gian có khi mốc sau lại được lên mốc đầu.
    có thể dễ phản bác lý do này nhưng có đều phải xét thấy thế này, bên họ có người triết gia cổ xưa nói rằng cái gọi là xâm lược lâu lâu 1 lần làm nước khác suy yếu. vì thế ta phải chuẩn bị nguyên lý bị xâm lược sau khi xua đuổi họ với một phần lãnh thổ của họ ta nhân được, ta vẫn cân bằng và mạnh lên. lãnh hải thì ta giữ nhưng nhiếu quốc gia lớn mạnh có lẽ cũng hứng thú sở hữu 1 phần cái giàn khoan 1 tỷ của họ.

  • Nếu hòa bình thì không dùng. Ta sẽ tiến hành bát quái trận địa trên lãnh thổ tq. Điều đó giúp cân bằng âm dương, mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển, đảm bảo cho việc chấp pháp và thực thi hành pháp trên biển. Ta vẫn giữ nhân nghĩa với các nước trên thế giới. Một đội quân mạnh thì trông yếu và thậm chí khi vượt sang mạnh hơn lên thì trông càng siêu yếu điều đó là bình thường của lý luận binh pháp của việt nam. Ông cha ta đã dùng phương pháp này để đánh đuổi Nguyên Mông. Ta phải luyện tập nhần nhuyễn việc chấp pháp và hành pháp. Luyện tập nhuần nhuyễn 14 cách di thân, 3 cách di chuyển của tàu, cách di chuyển hình zic zac, . cách di chuyển của cá thể tàu, tập hợp (biên đội) khỏi một vòng vây nhiều tàu, cái này nghiên cứu tý ra sẽ thấy, có thể tác chiến thoát khỏi khỏi vòng vây ngay tại thực địa. hình ảnh gợi ý cách giải vòng vây tại thực địa là một mớ bùi nhùi, muốn gỡ rối thì phải thong thả gỡ từng cái. Càng theo thời gian thì sức mạnh của người đi biển ta càng tăng, đó là nguyên lý của sự phát triển. nếu đánh đuổi xong tq mang cái giàn khoan đi, nếu không phải hòa bình thì chắc chắn theo nguyên tắc cân bằng âm dương, mâu thuẫn như ta đã nói trước theo nguyên lý của lão tử thì ta sẽ lấy được một phần lãnh thổ tq. Vì ta biết nó sẽ còn quay trở lại, chẳng có lý gì ta không giữ lấy phần đất này. Sau khi đánh đuổi, Ta phải đập tan ý chí xâm lược của tq trước khi nó manh nha trong tương lai. Theo chiến lược hoạch định chống xâm lược trong tương lai thì khi tiến hành chống việc xâm lược của tq trong những năm khác biệt nhau trong khoảng thời gian dài , tq xâm lược rồi ngưng rồi lại xâm lược thì văn hóa sức mạnh mềm của vn ta có thể bị bắt buộc nhận thêm 1/18 lãnh thổ tq, từng phần sẽ được nhận trong những năm tq tiến hành xâm lược khác biệt. đó là thực tế ta phải tiến hành, nó hợp với thực địa khi không có hòa bình và ta có cách để làm. Có những điểm nếu hòa bình thì không xem xét, cho ví dụ: là giải phóng tây tạng , khu trung tâm, vị trí gần giàn khoan.. những điểm này với vị trí giàn khoan tạo thành âm dương, vây và giải vây, mâu thuẫn, là nguồn gốc của sự phát triển.
    Việc tác chiến thực địa này sẽ giúp lực lượng của vn ta sức mạnh văn hóa mềm và sức mạnh thực địa tăng lên gấp bội phần. tác chiến thực địa so với việc diễn tập tác chiến có giá trị 1/1000.
    ta vẫn phải tiến hành việc nhân nghĩa lên một số tướng lĩnh, học giả, chính trị gia, người dân tq, một số lãnh đạo trong doanh nghiệp có dàn khoan.

    • Tôi cũng đồng ý là ta phải về lấy lại Lưỡng Quảng, cùng với Tây Tạng phía tây, Mông Cổ phía bắc, và Mãn Thanh phía đông. Nhà Hán ngày xưa chỉ ở quanh vùng châu thổ Hoàng hà. Cứ nhìn vị trí cái vạn lý trường thành thì biết, đang khi Hai Bà Trưng từng chiếm lại hơn 40 thành ở phía Nam. Nếu ta có chiến lược tinh vi, chiến thuật giỏi, thì đây không phải là chuyện viển vông !

      • Tôi không cho là lấy lại mấy vùng đất con con ấy có giá trị gì. Cái ta cần lấy lại là sự thật về nền văn minh Việt. Thế thôi. Khi điều đó xảy ra rồi thì nước Tầu sẽ tan rã bởi nó chả có lí do gì tồn tại nữa. Khi ấy người dân các vùng tự xây dựng các quốc gia nhỏ (phải là 8 đến 10 quốc gia) theo bản sắc riêng.
        Nếu ta thật muốn chiếm lại Lưỡng Quảng thì văn hoá Việt sẽ biến mất. Vì sao vậy? Vì nước Tầu sinh ra và to ra từ chiến tranh, từ tư tưởng Đại Hán. Ví dụ Mông Cổ chiếm Tầu nhưng văn hoá của kẻ xâm chiếm không giữ được và nước Tầu to ra. Mãn Thanh cũng chiếm nhưng văn hoá vẫn không giữ được (dù bắt dân ăn mặc để tóc như người Mãn), nước Tầu cũng to ra. Tầu chiếm Tây Tạng và văn hoá Tây Tạng sắp mất, Tầu cũng to ra. Mỗi lần chiếm và bị chiếm nó đều mạnh lên. Kẻ đi chiếm luôn mang tâm lí cướp đoạt cho nên dù chiếm được cũng vẫn là bồi đắp thêm cho tư tưởng Đại Hán của chúng rồi. Phải dùng một tư tưởng khác, cao cả, nhân nghĩa để dập tắt tư tưởng Đại Hán thì mới hết cảnh chiếm và bị chiếm.
        Tất nhiên chiến tranh quân sự có lúc vẫn cần, nhưng không phải để chiếm mà để mang lại sự đổi thay về đời sống. Dù nước Tầu mạnh lên thật nhưng đời sống dân ở đó thì ngày càng cực khổ và mất tự do. Sao không nghĩ rằng đánh là để giải phóng người dân ở đó, mang lại đời sống tốt hơn? Để người Tây Tạng không mất văn hoá, để người Duy Ngô Nhĩ không bị phân biệt đối xử, để có nước riêng của người Mãn phía đông bắc, để có vùng văn hoá riêng của người Việt ở Hồ Động Đình? Và hơn hết là để dân ở đó (nước Tầu bây giờ) biết rõ tổ tiên họ là ai, họ thừa hưởng văn hoá từ đâu và họ cần xây dựng nên cái gì cho con cháu?

  • Hai trong số những nguyên nhân giúp tq có ngày nay là Tq có sự hộ trợ của nước lớn phát triển các cơ sở công nghiệp dù sau này tq trở nên ăn cháo đá bát đối với nước đó và có thời gian giải phóng trước trước vn nên sự phát triển của tq không có gì lạ. Vn ta với tinh thần nhân nghĩa, thân thiện không xâm hại nước khác như tq, . Ta có thể tiếp tục kêu gọi mở rộng hợp tác(liên doanh, ) phát triển các cơ sở công nghiệp mới từ nước lớn trên thế giới, mua thiết kế, chuyển giao công nghệ(hợp tác, mua). ví dụ như thực hiện đóng tàu chiến.. các cơ sở công nghiệp mới với bên đối tác nước lớn ta mua thiết kế, chuyển giao công nghệ(hợp tác, mua) và ta cung cấp nhân lực có chất xám văn hóa mềm. Ta phải có những lý luận về cách để có sự phát triển các cơ sở công nghiệp mới từ các nước phát triển. Nói nôm na là ta cần những cơ sở công nghiệp mới tức là những bộ máy sản xuất mới. những bộ máy sản xuất mới có 2 loại là cái cải tiến công nghệ để phát triển cái sản phẩm cũ và những bộ máy sản xuất mới là cái sản xuất những cái mới hoàn toàn chưa có. Sản xuất từ hộ gia đình (sản xuất đóng thuyền), dân doanh, doanh nghiệp đều ngang nhau về tư cách sản xuất, không được để bên nào xâm phạm lợi ích và sự tồn tại của bên nào được hộ trợ phát triển và phát triển vững mạnh. Với một ý định rõ ràng là vn muốn làm một cường quốc trên thế giới và sẵn sàng cùng các nước hợp tác thực chất dám chuyển giao công nghệ chứ không phải nói miệng để giữ vị trí cạnh tranh toàn cầu của chính họ. Rõ ràng tq khen một ít về một lực lượng quân sự quả cảm của vn cũng chẳng giúp vn thấy vui và mọi người khen ngợi, ta cần sự nể phục của các nước châu âu, mỹ, nhật, mỹ la tinh , phi, các thực thể lớn trên thế giới.
    nông nghiệp theo lợi thế cạnh tranh theo kinh tế nghĩa là ta sản xuất được giá rẻ ta có thể trao đổi những sản phẩm các quốc gia khác sản xuất ở chi phí rẻ hơn. phát triển nông nghiệp độc lập bảo đảm môi trường sống tốt và có sẵn lợi thế cạnh tranh
    Đối với tq và dàn khoan hay cải tạo đảo của nó có một câu tướng nhà trần đã nói thế này: “đánh trận năm nay nhàn”, ta nói trước nó sẽ nhảm nhí, không lẽ ta phải giải thích là nếu hòa bình không dùng, một số ít ta phải làm việc với những kẻ thích nhìn biển thế nào. tác chiến thực địa giá trị bằng 1/ 1000 diễn tập. Ta tiếp tục luyện tập nhuần nhuyễn chấp pháp và tiến tới thực thi quyền hành pháp trên biển.

  • làm gì thì làm, chắc chắn tq phải rút dàn khoan khỏi lãnh thổ vn. hộ gia đình, dân doanh, doanh nghiệp đều ngang nhau về tư cách sản xuất, không được để bên nào xâm phạm lợi ích và sự tồn tại của bên nào được hộ trợ phát triển và phát triển vững mạnh. Nghĩa là chỉ nói đến trong lĩnh vực kinh doanh, không phải chính trị, Sản xuất từ hộ gia đình , dân doanh, doanh nghiệp công…không được để bên nào xâm phạm lợi ích và sự tồn tại của bên nào được hộ trợ phát triển và phát triển vững mạnh .Doanh nghiệp nhà nước cũng phải giúp đỡ họ về mọi phương diện. như thế vì có khi doanh nghiệp xâm phạm lợi ích của người dân. Vn ta cần có những doanh nghiệp mạnh từ cả quốc doanh và dân doanh cho nền kinh tế. Bởi vậy ta biết trước là tq không thể phân biệt kinh doanh với chính trị là khác nhau, phải giải thích cho họ rõ điểm này.
    ta chỉ có 7 cái âm dương cho việc di thân né tránh,di chuyen zic zac. ta tiếp tục luyện tập chấp pháp và thực thi hành pháp trong an toàn. Nếu hòa bình không dùng, Ta có thể sẵn sàng với một số khu vực giải phóng ở lãnh địa tq và cung cấp quyền tự trị rộng rãi ở đó nếu có. Nếu đối tác của ta trước đó đã định kỳ có nhu cầu về bảo trì và tạo điều kiện cho các thủy thủ đối tác nghỉ ngơi giải trí trên khu vực giải phóng trên lãnh địa tq thì ta cũng giữ nguyên lợi ích đó cho họ và sẽ cung cấp dịch vụ hộ trợ tốt nhất có thể.

  • trong một thời gian phải đối chọi cái hại tq ngang nhiên vào lãnh hải chủ quyền của vn nhưng ta không nao núng làm những cái lợi như đại tướng nói có những bước tiến thật sự trên mặt trận kinh tế, xây dựng đất nước của ta và dĩ nhiên thêm là cả bảo vệ tổ quốc. những sự hợp tác để cạnh tranh toàn cầu, có doanh nghiệp phần mềm mua doanh nghiệp châu âu chuẩn bị canh tranh toàn cầu, phát triển đóng tàu chiến, đủ nhân lực có tài, tâm xây dựng tàu đường sắt hợp lý với ý nghĩ công nghệ phải hiện đại nhật , mỹ… vn sẽ mở cửa ngõ cho các hợp đồng trên thế giới qua nước thứ 3. còn cần nhiều cơ sở công nghiệp, nhiều doanh nghiệp mạnh dân doanh, quốc doanh. lịch sử vn có phạm tuân là phi công vũ trụ, vn ta còn rất nhiều ý tưởng để phát triển trên vũ trụ, nghĩ nước nào đó sẽ cần chia sẽ sự hợp tác vũ trụ với vn. ta phải nghĩ đến những gì ta nói những bộ máy sản xuất mới kể cả tên lửa, phi thuyền không gian, đến những gì nhỏ nhất những vật liệu nhỏ nano …có thể xem xét cho hệ thống định vị của nga với sự hợp tác phát triển vệ tinh ở vn sản xuất qua nước thứ 3.
    Doanh nghiệp quốc doanh còn phải giúp đỡ về mọi phương diện và hộ trợ một số doanh nghiệp dân doanh nhỏ nhưng năng động và đang trên đà phát triển để thực hiện những công trình và những hợp đồng lớn quy mô. Như thế sẽ mau chóng có được “những quả đấm ” trong nền kinh tế. ví dụ có doanh nghiệp mới thành lập ở vn đã nhận thầu hợp đồng sản xuất ghế cho hãng danh tiếng Boeing. Điều đó tạo những cột trụ vững chắc cho nền kinh tế. Có thể nhân sự kiện này thấy rằng tq dùng một số chiêu trò kỷ thuật, hợp tác tq với yêu cầu thấp cũng kiềm hãm kinh tế vn trong một thời gian trong quá khứ
    đầu tư vào kinh tế của thế giới nhật, châu âu..vào tq giảm xuống mạnh mẽ do tác động mạnh bởi tq đặt dàn khoan xâm phạm chủ quyền vn.
    ta phải khiến cho tq thấy là tq nên sống chân thật với chính mình, đừng có giả dối chính họ nữa và đừng gỉa dối với thế giới, những người phát ngôn của họ chẳng hạn cũng nên sống chân thật đi, đừng sống giả tạo, lãnh hải là quyền của vn mà. ta thừa biết tq bắt tay với nước khác nhưng họ chả ưu gì tq, ví dụ ấn dộ, họ vẫn phải đề phòng tq và diễn tập quân sự.

  • văn hóa vn khác văn hóa tq, văn hóa tq không có vai trò chỉ đạo văn hóa các nước khác, chỉ đạo văn hóa cường quốc số 1 thế giới, văn hóa đài loan hay văn hóa tq coi dân một đảo mà nước anh trả lại năm 1997 là dân văn hóa tq hạng 2, thấp so với văn hóa tq hạng 1 thế giới đại lục tự xưng, mặc dù tq thu nhập kém hơn. nước số 1 thế giới đóng cửa hết các học viện khổng tử vì nó là văn hóa của tq chẳng đai diện cho nước nào. có thứ văn hóa nào là siêu việt khi nó đặt trái phép dàn khoan 981 len vn mà toàn rao giảng đạo đức giả dối. tq đến một dứa trẻ hát bài hát trên sóng truyền hình tq, nó còn cho thằng nhóc khác hát thế để nhép miệng lấy lòng thương hại của người dân tq, họ chỉ lãnh đạo theo kiểu làm ngu dân tq càng tốt , lừa dân tq càng hay, càng cổ súy phát sóng rộng rãi trên sóng truyền hình. thứ văn hóa tq như thế chỉ đạo ai. vn có nền văn hóa riêng và biết những gì để phát triển, không có nhu cầu được rao giảng văn hóa của 1 số người tq không cần thứ văn hóa cực đoan, xâm lược mượn cớ giáo lý khổng tử mà cũng là học giả của họ.

  • văn hóa vn biết tiếp thu cái gì là văn hóa tinh hoa của các nước trên thế giới, nhưng mãi mãi không có nhu cầu văn hóa nước khác do vài học giả tq nước khác chỉ đạo giùm.

  • vấn đề văn hóa này ông tq đã tự nếm trải trong quá khứ như giang thanh và có nhiều hệ thống kể cả cường quốc như mông cổ trong quá khứ trên thế giới có một trong những nguyên nhân này mà ra đi. Lãnh đạo tq đang đi theo con đường cách mạng cực đoan xâm lược thế giới bằng sức mạnh dẫn đến tự hủy diệt, ta nên kiềm chế chính sách hòa bình , đẩy đuổi dàn khoan 981 tq và nên cảnh báo tq, kêu gọi những bậc tiền bối tq và bảo lưu quyền tự vệ.

  • Qua trang HTN, chúng ta nói chuyện về GD, giáo trình, SGK, thầy và trò, thi cử, mong sao cuối cùng, cá nhân có được công ăn việc làm tốt, nhờ đó, xã hội được hòa bình và phồn thịnh. Theo tôi, tất cả những thứ đó được hướng dẫn bởi sự ham muốn. Nghĩ cho kỹ, tình yêu, bạn bè, học hành, tôn giáo, chính trị, ngay cả chiến tranh, đều bắt đầu từ sự ham muốn. Thử tìm điều gì bạn đã làm, mà không phải vì lòng ham muốn? Thế, lòng ham muốn chính là sức lực ta cần phải điều chỉnh.
    Chúng ta lấy mô hình của nước này nước nọ để làm gương cho giới trẻ VN, mà có thật chúng ta sẽ được như vậy không? Có phải chúng ta cứ áp dụng lối Mỹ, lối Tây, lối Đức, lối Nga, lối Tầu, vv. thì ta sẽ có những công dân giống họ không? Có phải cứ “thoát Á” là thanh niên ta giống như thanh niên Nhật không?
    Con cái VN sẽ như thế nào khi lớn lên ở Úc, ở Tây, ở Mỹ, hay ở Thái lan. Chúng ta khen: sao người Nhật họ kỷ luật thế, tiền đánh rơi có người nhặt được đưa lại; còn người mình, thấy xe bia lăn ngoài đường, thì chạy ra lượm đem về. Thế thì, trẻ con VN khi lớn lên ở Đức có biết tự trọng giống như dân Đức không?
    Đó chính là do cái VĂN HÓA, bao gồm niềm tin, tình yêu, và hy vọng, mà chúng ta tạo ra cái xã hội mình đang sống. Vậy có văn hóa nào hơn văn hóa nào không? Có tôn giáo nào hơn tôn giáo nào không? Dĩ nhiên là không.
    Chúng ta tìm cái hay để bắt chước, nhưng điều quan trọng hơn hết là mình phải sống tốt chính cái của mình. Bạn là phật giáo, hãy sống tốt người phật giáo, bạn là tin lành, hãy sống tốt người tin lành, cộng sản, sống tốt người cộng sản, hồi giáo, tư bản, hãy sống tốt cái của mình. Bạn là người VN, hãy sống tốt người VN.
    Đâu ai dạy ta ăn cắp ăn trộm đâu. Vậy thì từ đâu nó ra? Tại vì mình chưa sống tốt cái văn hóa của mình. Nếu ta sống đúng và theo cái văn hóa của mình, thì tq dù có lớn mấy đi nữa, cuối cùng cũng phải thua, không 3 năm thì 10 năm, không thì 100 năm, một ngàn năm đi nữa, cũng đã nhằm nhò gì ! Lão tử bảo sống như nước là tốt nhất, vì nước chuộng chỗ thấp và gần với Đạo.

  • cháu thấy chúng ta phải bắt chước cách dạy học của ngươì mĩ họ giàu nhất thế giới chắc chắn họ có cách dạy tốt nhất!!!chúng ta nên thúc đẩy học trên mạng internet,khuyến khisvh học sinh học tập trên internet,,học kĩ năng sống..

    • Ouais ! Nhiều khi giàu có chỉ là do giết người cướp của cướp công mà ra thôi, chứ cứ học hành lao động lương thiện tử tế thì khó giàu lắm ! Bắt chước người Pháp tốt hơn.

  • Nói về sách giáo khoa Vật Lý:
    hiện nay vật lý học có cơ bản khoảng 12+ chương! trong khi lớp 12 chiếm gần 10 chương! việc cầm cuốn sách lên cảm thấy ngao ngán, làm các e gặp sách giáo khoa là sợ!
    theo tôi, nếu chúng ta chia điều 3 năm 10-11-12, mỗi năm 4 chương
    tức là
    * Năm lớp 10 học kì 1 có 2 chương!
    * Năm lớp 10 học kì 2 có 2 chương!
    ** Năm lớp 11 học kì 1 có 2 chương!
    ** Năm lớp 11 học kì 2 có 2 chương!
    *** Năm lớp 12 học kì 1 có 2 chương!
    *** Năm lớp 12 học kì 2 có 2 chương!
    như thế vừa giúp các e ko còn cảnh ngao ngán, vừa giúp các em không còn cảm giác học nhiều, chẳng được bao nhiêu, vừa học vừa yêu hiểu mới nhiều!
    các thầy giáo có thời gian dạy chuyên sâu và ko còn cảnh chạy theo thời gian!
    vật lý cấp 2, chỉ cho các e nhìn ra thế giới bên ngoài, ít tính toán, vì chương trình lớp 9 thấy mà xanh mặt, và dường như là gánh nặng ko thể học được gì
    mong là sẽ hiệu quả! còn không hiệu quả chắc cháy nhà!

  • >