How We Learn

Nền giáo dục ở miền nam 1954-1975 (trích) – Nguyễn Thanh Liêm

Học Thế Nào xin trích một phần tài liệu của GSTS Nguyễn Thanh Liêm về giáo dục ở miền nam sau 1954. (GSTS Nguyễn Thanh Liêm nguyên là Hiệu trưởng Petrus Ký – Sài Gòn, Chánh Thanh Tra trưởng ban soạn đề thi của Bộ Giáo Dục trong những năm 1965-67, Thứ Trưởng Bô Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên, Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975).

Trước khi bị Pháp đô hộ, nền giáo dục ở Việt Nam là nền giáo dục cũ của Nho gia, gọi nôm na là “cái học của nhà Nho” như nhiều người thường nói. Nền giáo dục cũ này chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Hoa, từ chương trình, sách vở, lối học đến cách thức thi cử. Tổ chức giáo dục xưa được Đào Duy Anh ghi lại như sau trong quyển Việt Nam Văn Hóa Sử Cương:

“Ở mỗi huyện có quan Huấn đạo, mỗi phủ có quan Giáo thụ, dạy Tứ Thư Ngũ Kinh cho học trò khá. Ở mỗi tỉnh có quan Đốc học dạy các sinh đồ cao đẳng. Ở Kinh đô có trường Quốc tử giám. Các vị học quan kể trên đều ở dưới quyền giám đốc của bộ Lễ hoặc bộ Học. Trong dân gian thì xưa nay việc học vẫn hoàn toàn tự do. Thầy học thì có thầy khóa, thầy đồ, thầy tú dạy trẻ con, cho đến bậc đại khoa không xuất chính, hay các quan trí sĩ, có người dạy đến trăm nghìn học trò.”

Trường học thì phần lớn là nhà riêng của ông thầy, hoặc ở chùa hay ở đình, miểu trong làng. Giáo dục có thể xem như là công việc của nhànho hơn là của quốc gia, không thuộc một cơ quan công quyền với sự tài trợ và kiểm soát đôn đốc của chính phủ. Không có một hệ thống tổ chức qui mô của một nền giáo dục quốc gia gồm đủ cơ sở và nhân viên giảng huấn và điều hành từ trung ương đến địa phương, từ cấp thấp (như tiểu học) lên cấp cao (như đại học). Chương trình học thì gồm có mấy quyển Tam Tự Kinh, Sơ Học Vấn Tân, Ấu Học Ngũ Ngôn Thi, Dương Tiết và Minh Tâm Bửu Giám ở cấp vở lòng, xong rồi lên trên thì học Bắc sử (tức sử Tàu) và Tứ Thư Ngũ Kinh. Tất cả những sách này là sách gối đầu giường của Nho gia, chú trọng hầu hết vào triết lý, luân lý, đạo đức chứ không có một ý niệm khoa học kỹ thuật nào chen vào. Phương pháp giảng dạy thì phần lớn như Đào Duy Anh tả: “thầy thì cứ nhắm mắt mà giảng chữ nào nghĩa nấy chỉ sợ sai mất nghĩa của Tống Nho.” Phương pháp học hỏi thì hoàn toàn dựa vào sự học thuộc lòng thu gọn vào trong công thức “sôi kinh nấu sử” tức là học tới học lui mãi cho đến khi nào thuộc nằm lòng Tứ Thư Ngũ Kinh và Bắc sử. Người đi học thực tập nhiều nhất là viết chữ cho thật đẹp như “phụng múa rồng bay”, làm thơ, làm phú, kinh nghĩa, văn sách, chế chiếu, biểu, câu đối, cho thật nhanh, thật khéo và thật chỉnh, dùng được càng nhiều điển tích càng hay để có thể đậu được các kỳ thi do triều đình tổ chức. (Có ba kỳ thi: thi Hương tổ chức ở một số địa phương để lấy Tú Tài; thi Hội và thi Đình tổ chúc ở trung ương để lấy Cử Nhân và Tiến Sĩ). Tất cả các kỳ thi đều là thi tuyển và chỉ nhắm vào một kỷ năng của thí sinh là làm văn làm thơ dưới nhiều dạng như thơ đường luật, kinh nghĩa, văn sách, v v … Thường thì ba năm mới có một khoa thi, và đi thi là cả một vấn đề khổ nhọc cho sĩ tử vì trường thi ở xa, đường giao thông khó khăn, phương tiện giao thông còn rất thiếu kém. Thi đậu được thì có thể ra làm quan, không thì lui về làm thầy đồ thầy khóa, “tiến vi quan, thối vi sư” vậy.

[…]

Giới sĩ phu là giới sát cạnh nhà vua, giúp vua trị nước, thuộc hàng ngũ lãnh đạo quốc gia, là bậc thầy trong xã hội, đóng vai dẫn đầu, điều khiển, hướng dẫn dân chúng trong mọi sinh hoạt bảo vệ và phát triển đất nước. Nước giàu dân mạnh hay suy nhược đói nghèo, trách nhiệm ở giới lãnh đạo, ở Kẻ Sĩ, nhà Nho. Lớp trí thức nho sĩ cũng như cái học cũ của nho gia ngự trị trong xã hội Việt Nam từ thời Lý Trần cho đến khi có sự xăm chiếm và đô hộ của người Pháp hồi cuối thế kỷ XIX trong Nam và đầu thế kỷ XX ở miền Bắc và Miền Trung. Riêng trong Nam thì vì Nam Kỳ Lục Tỉnh chỉ mới được thành hình trọn vẹn từ giữa thế kỷ XVIII cho nên sự giáo dục ở đây chưa được tổ chức rộng rãi, chưa có cội rễ ăn sâu vào lòng đất như ở chốn ngàn năm văn vật của Thăng Long – Hà Nội . Tính ra thì Nho học chỉ có được chừng một thế kỷ ngự trị ở Phương Nam. Mãi đến năm 1826 Miền Nam mới có vị Tiến Sĩ đầu tiên theo lối học xưa là cụ Phan Thanh Giản. Nhưng nền học vấn cổ truyền của nho gia này ở Miền Nam chỉ mới có chừng trăm năm thì bị sụp đỗ hẵn bởi sự thất bại, suy vong của triều Nguyễn trước sức mạnh quân sự và nền văn minh khoa học kỹ thuật Âu Tây. Khi nền cai trị của chính quyền đô hộ Pháp được thiết lập xong thì cái học nhà nho cũng bị xóa bỏ để nhường chỗ cho cái học mới hay Tây Học.

[…]

Cái học mới này (tân học) diễn ra ở Miền Nam trước nhất vào cuối thế kỷ XIX sau khi người Pháp đặt xong nền đô hộ ở đây. Nền giáo dục mới này lấy giáo dục Pháp làm khuôn mẫu, dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Trường học gồm có các trường công do chính phủ xây cất, đài thọ chi phí và kiểm soát, và một số trường tư của Thiên Chúa giáo hoặc của tư nhân. Hệ thống giáo dục mới này được thiết lập nhằm hai mục tiêu: (1) mục tiêu thực tiễn là đào tạo một số người biết tiếng Pháp, chữ Quốc Ngữ, và có chút kiến thức về văn minh Tây phương để làm công chức ở ngạch trật thấp phục vụ cho chính phủ thuộc địa, và (2) mục tiêu lý tưởng là đồng hóa người bản xứ biến họ thành những người Pháp về phương diện văn hóa. Một số nhà trí thức Pháp tự cho họ cái sứ mạng cao cả là đem văn minh khoa học Âu Tây phổ biến khắp nơi. Đó là sứ mạng văn minh hóa (“mission civilisatrice”) tức là đi khai hóa các nước chậm tiến, kém văn minh, kém mở mang. Người đầu tiên thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa (cultural assimilation) đó ở Miền Nam là Thống Đốc Le Myre de Vilers. Ông là người dân sự đầu tiên được cử sang làm Thống Đốc Nam Kỳ từ năm 1879 đến 1892. Các ông thống đốc trước ông đều là những người bên quân đội, nhất là bên hải quân. Để thực hiện sứ mạng văn minh hóa dân bản xứ, ông cho mở rất nhiều trường ở mỗi làng và mỗi tổng cho cấp sơ và tiểu học. Tuy nhiên vì thiếu hụt ngân sách vàkhông đủ giáo chức cho nên nhiều trường chỉ được mở ra rồi liền sau đó lại đóng cửa thôi. Sang đầu thế kỷ XX chế độ giáo dục mới mới được thiết lập ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ sau một vài sửa đổi theo quyết định của Toàn Quyền Paul Beau hồi 1906-07. Theo quyết định này thì một hội đồng cải tổ giáo dục được thành lập để đem chữ Quốc Ngữ, chữ Pháp và nền tân học vào chương trình học và chế độ khoa cử mới. Các thầy đồ, thầy khóa ở xã thôn, các quan giáo huấn, đốc học ở phủ, huyện, tỉnh, phải dạy thêm chữ Quốc Ngữ cho học trò ngoài việc dạy chữ Hán như trước. Các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình đều có có chút đổi mới từ 1909. Bài luận chữ Quốc Ngữ và bài dịch Pháp văn ra Việt văn được thêm vào các kỳ thi nhưng chỉ là môn phụ và có tính cách tự nguyện chớ không bắt buộc. Trong kỳ thi Hội và thi Đình năm 1910 có thêm bài thi cách trí, địa dư nước nhà, sử Thái Tây, nhân vật nước nhà và thời sự. Đặc biệt là bài thi được chấm điểm theo lối mới của Pháp với thang điểm từ 0 đến 20. Triều đình tựa trên thang điểm đó mà định làm 6 hạng trúng tuyển: Trạng Nguyên (20 điểm), Bảng Nhỡn (18-19 điểm), Thám Hoa (16-17 điểm), đệ nhị giáp Tiến Sĩ (từ 12 đến 15 điểm), Đồng Tiến Sĩ (từ 10 đến 12 điểm), và Phó Bảng (từ 7 đến 9 điểm). Song song với việc thành lập hội đồng cải cách giáo dục, một trường sư phạm cũng sẽ được thiết lập để đào tạo giáo viên tiểu học người Việt. Ngoài ra, trong mục đích tuyên truyền, Toàn Quyền Paul Beau cũng cho mở một trường đại học hồi năm 1907 ở Hà Nội để thu phục nhân tâm (sau khi chính quyền cho đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục và bắt giam một số nhà cách mạng). Nhưng đại học chỉ được mở ra mà không hoạt động, phải đến năm 1918, dưới thời Toàn Quyền Albert Sarraut, trường mới thật sự mở cửa. Trước đó một năm, năm 1917, chánh quyền thuộc địa đã cho ban hành một hệ thống giáo dục mới có qui cũ, thống nhất trên toàn quốc, về tất cả các phương diện tổ chức hành chánh, chương trình học, qui chế giáo chưc, và tổ chức thi cử. Đến đây cái học cũ trên toàn quốc hoàn toàn lui vào bóng tối nhường chổ cho giáo dục mới.

Người sốt sắng thực hiện mục tiêu văn minh hóa người Việt Nam là Le Myre de Vilers. Để thực hiện sứ mạng văn minh hóa người Việt ông cho mở rất nhiều trường học, từ trường sơ cấp ở làng đến trường tiểu học ở quận và tỉnh, và đặc biệt nhất là một trường trung học (collège) ở Nam Kỳ. Đây là trường trung học đầu tiên và vào cuối thế kỷ XIX đây là trường trung học duy nhất cho cả Miền Nam. Trường chỉ có hai năm học và mang tên là Collège de MỹTho. Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958) đã từng học ở trường này. Sang thế kỷ XX trường có đủ bốn năm học và được đổi tên là Collège Le Myre de Vilers, do một số giáo sư của trường đề nghị để ghi nhớ ông Thống Đốc dân sự đầu tiên đã mở ra trường này và cũng để ghi nhớ công lao của ông đối với việc phát triển nền giáo dục mới ở Nam Kỳ. Đến giữa thập niên 1950 trường được phát triển thêm, có các lớp đệ nhị cấp đủ để trở thành trường trung học đệ nhị cấp. Trường được đổi thành Lycée và mang tên một danh nhân Miền Nam Việt Nam: cụ Đồ Chiểu. Danh xưng Lycée Nguyễn Đình Chiểu rồi Trung Học Nguyễn Đình Chiểu ra đời từ đó và còn mãi đến bây giờ.

[…]
Giáo dục, hiểu theo nghĩa xã hội, là cách thức xã hội hóa (socializing) con người. Giáo dục có nhiệm vụ dạy cho con người biết cách sống trong xã hội, biết nền văn hóa mà con người được sinh ra trong đó để sống cho thích hợp. Cách ăn uống, lễ phép, cách đối xử, các nghề nghiệp sinh sống, phong tục tập quán, v v … tất cả đều có trong xã hội đương thời và nhiệm vụ của giáo dục (từ giáo dục trong gia đình đến giáo dục ngoài xã hội) là tập luyện cho con người thích nghi vào trong xãhội văn hóa đó. Tuy nhiên trong ba bậc học (tiểu học, trung học, và đại học) ở học đường, mỗi bậc có cách xã hội hóa khác nhau. Ở tiểu học giáo dục nhằm xã hội hóa con người ở mức độ cơ bản, nghĩa là người ta chỉ dạy những cái cần thiết căn bản của xã hội. Ở bậc trung học sự xã hội hóa nhắm vào việc thích nghi con người vào tình trạng văn hóa mà người ta muốn có. Thường khi người ta (các nhà làm chính trị, những nhà lãnh đạo) muốn có xã hội thế nào thì người ta nhắm vào lớp người vào trung học để đào luyện họ trỡ thành những công dân kiểu mẫu cho xã hội người ta muốn có. Những người này sẽ được xã hội hóa để bảo tồn những gì đã có. Ở bậc đại học sự xã hội hóa bớt đi rất nhiều tính cách uốn nắn mà thường có tính cách khơi động nhiều hơn. Người lên đại học phải mở rộng sự hiểu biết của mình để đón nhận những mới lạ để có thể hướng xã hội đến những sửa đổi, tiến triển, hiện đại nhiều hơn là bảo tồn những gì đã có sẵn từ trước. Các trường trung học của chúng ta cũng đóng vai trò xã hội hóa học sinh giống như bao nhiêu trường trung học khác trên thế giới. Việc xã hội hóa ở đây là thích nghi con người vào trong xã hội Miền Nam nước Việt vào giữa thế kỷ XX.

Vào cuối thế kỷ XIX Nam Kỳ có khoảng một triệu rưởi dân số, nhưng chỉ có khoảng 5 ngàn học sinh cho tất cả từ sơ cấp đến tiểu học. Tỷ lệ người đi học tuy thấp so với sĩ số mà ta có sau này dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nhưng so với thời đại các nhà Nho thì đây là con số khá lớn. Số đông này là số được hấp thụ giáo dục mới. Họ sẽ là lớp người dùng chữ Quốc Ngữ thay chữ Nôm và chữ Hán, họ cũng là những người biết chút ít tiếng Pháp và một số kiến thức khoa học phổ thông có thể xem như là giới trí thức tân học ở thời kỳ chuyển tiếp này. Đó là tình trạng giáo dục ở Miền Nam. Và đến năm 1917 chính quyền thuộc địa mới có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc. Hệ thống giáo dục mới này – gọi là Giáo Dục thời Pháp thuộc – gồm có ba bậc: Tiểu học, Trung học, và Đại học. Bậc Tiểu học được chia làm hai cấp: (1) cấp Sơ học gồm các lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin) hay lớp Năm hoặc lớp Chót, lớp Dự Bị (Cours Preparatoire) hay lớp Tư, và lớp Sơ Đẳng (Cours Elementaire) hay lớp Ba, (2) cấp Tiểu học gồm có lớp Nhì Một Năm (Cours Moyen Première Année), lớp Nhì Hai Năm (Cours Moyen Deusième Année) và Lớp Nhất (Cours Supérieur). Mỗi làng có một trường sơ cấp. Ở tổng lớn hay ở quận (đông dân) có thể có trường tiểu học nếu có đông học sinh. Tại mỗi tỉnh lỵ có một trường tiểu học lớn (có nhiều lớp cho mỗi cấp lớp), như trường Nam Tiểu học Mỹ Tho chẳng hạn có được 5 lớp Nhất, 1 lớp Tiếp Liên (Cours des Certifiés) hồi thập niên 1940. Học xong lớp Ba, tức là hết Sơ cấp, học sinh phải thi tuyển vào lớp Nhì Một Năm để học tiếp bậc Tiểu học, và khi xong lớp Nhất (hết bậc Tiểu học) học sinh lại phải thi lấy bằng Sơ Tiểu tiếng Pháp viết tắt là bằng CEPCI (tức là Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinoise). Đậu xong bằng này học sinh mới được dự kỳ thi tuyển vào năm Thứ Nhất trường Trung học.

Bậc Trung học cũng chia làm hai cấp. Cấp thứ nhất gọi là Cao Đẳng Tiểu Học (Enseignement Primaire Superieur, cũng như trung học đệ nhất cấp sau này) gồm có bốn lớp: Năm Thứ Nhất (Première Année), Năm Thứ Nhì (Deuxième Année), Năm Thứ Ba (Troisième Année) và Năm Thứ Tư (Quatrième Année). Học xong Năm Thứ Tư học sinh thi lấy bằng Thành Chung hay DEPSI (Diplôme d’Études Primaire Superieur Indochinois). Những ai muốn thi lấy bằng cắp Pháp thì có thể thi bằng Brevet Premier Cycle hay Brevet Elementaire. Cấp thứ hai là ban Tú Tài gồm các lớp Second (như Đệ Tam hay lớp 10 sau này), Première (như Đệ Nhị hay lớp 11) và lớp Terminale (như Đệ Nhất hay lớp 12). Xong lớp Première (Đệ Nhị hay lớp 11) học sinh phải thi Tú Tài I (Baccalauréat Première Partie), đậu được Tú Tài I mới được vào học lớp Đệ Nhất hay lớp 12. Học hết lớp 12 học sinh phải thi lấy bằng Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie). Khi lên lớp Terminale (lớp 12) học sinh phải chọn một trong ba ban chính sau đây: (1) ban Triết (Philosophie), (2) ban Khoa Học Thực Nghiệm (Sciences Expérimentales), và (3) ban Toán (Mathématiques Élémentaires)… Học hết lớp 12 học sinh phải thi lấy bằng Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie) về một trong các ban nói trên. Bằng Tú Tài II thường được gọi tắt là Bac. Philo. (Tú Tài II ban Triết), Bac. Math. (Tú Tài II ban Toán) v v … Xong Tú Tài học sinh mới được vào Đại học, và dưới thời Pháp thuộc chỉ có một đại học duy nhất ở Hà Nội cho toàn cõi Đông Dương. Một số không nhỏ học sinh Việt Nam, nhất là ở Miền Nam, sau khi xong Tú Tài thường qua Pháp học tiếp bậc đại học thay vì ra Hà Nội học.

Chương trình học trên đây chịu ảnh hưởng nặng nề của chương trình Pháp, dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Tiếng Việt chỉ được xem như một sinh ngữ phụ. Đúng ra đây chỉ là chương trình Pháp thật sự nhưng có chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các trường Việt Nam. Chương trình này kéo dài đến hết Thế Giới Đại Chiến Thứ Hai trên toàn cỏi Việt Nam. Sau năm 1945, sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, chương trình Việt được ban hành. Chương trình này – chương trình Hoàng Xuân Hản – được đem ra áp dụng trước ở Bắc Việt và Trung Việt, nhưng riêng ở Miền Nam thì vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục. Dưới thời Pháp đô hộ giáo dục phát triển rất chậm chạp. Quyền quyết định về giáo dục cũng như chính sách giáo dục hoàn toàn nằm trong tay người Pháp. Phải đến giữa thập niên 1950, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chương trình Việt mới bắt đầu được áp dụng ở trong Nam để thay thế chương trình Pháp. Cũng từ khoảng thời gian đó, thời Đệ Nhất Cộng Hòa, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo quan trọng của họ. Những đóng góp của họ thật lớn lao đưa đến sự bành trướng và phát triển vô cùng mạnh mẽ của nền giáo dục quốc gia dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.

[…]

Triết lý giáo dục VNCH nằm trong những Nguyên Tắc Căn Bản do Bộ Giáo Dục ấn hành năm 1959 và sau đó được ghi lại trong hiến pháp 1967. Những nguyên tắc căn bản này được tóm lược như sau:

Thứ nhất: Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản (humanistic education). Nhân là người hay con người, bản là gốc là căn bản. Trong lãnh vực triết lý, thuyết nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong đời sống trên thế gian này. Thuyết nhân bản lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản chớ không nhắm đến linh hồn hay một cuộc đời nào khác ngoài thế giới mà loài người hiện đang sống trong đó. Theo thuyết này, con người có giá trị đặc biệt của con người, cao cả hơn tất cả các giống sinh vật khác trên đời này. Chỉ có con người mới có văn hóa, có những hoạt động có suy tư, có sáng tạo, làm cho cuộc sống của con người tiến hóa luôn từ xưa đến giờ. Nhân bản cũng chỉ tính cách linh thiêng của con người, khác hơn mọi loài vật, “nhân linh ư vạn vật”, và con người phải được tôn trọng bởi tính linh thiêng đó. Con người tự nó là một cứu cánh chớ không phải là một phương tiện. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giácon người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, con người có giá trị của con người như nhau, và mọi người đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

Thứ hai: Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc (nationalistic education). Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh anh hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc Việt Nam có mặt trên thế giới này từ bao nhiêu ngàn năm trước. Dân tộc đó có tiếng nói riêng, có lịch sử riêng, có một nền văn hóa riêng của nó từ bao đời. Dân tộc tính đó trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị tan biến hay tiêu trầm trong những nền văn hóa khác.

Thứ ba: Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng kín cữa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

[…]

Từ những nguyên tắc căn bản trên đây, quan niệm về giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa bao gồm những tư tưởng nền tảng sau đây liên hệ tới những mục tiêu chính của giáo dục:

Phát triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những định luật phát triển tự nhiên về vật lý và tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của mỗi cá nhân học sinh phải được lưu ý đúng mức. Cung ứng cho học sinh đầy đủ tin tức, dữ kiện, để học sinh phán đoán, lựa chọn, không che dấu tin tức hay chỉ cung cấp những tin tức chọn lọc thiếu trung thực để nhồi sọ học sinh theo một chủ trương, một hường đi định sẵn nào.

Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sinh sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xăm bảo vệ tổ quốc, yêu thương giúp đở nhau trong tình đồng bào; giúp học sinh học tiếng Việt và xử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết cái đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm tự trị với sự phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp phát triển sự phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp đón nhận những giá trị văn hóa rộng rãi.

Tóm lại, mục đích của giáo dục quốc gia là giúp mỗi cá nhân phát triển toàn diện để trở thành những người có kỹ năng thưc tiễn, có khả năng tư duy, để làm việc, sinh sống, có đạo đức, có tình người, để gây dựng hạnh phúc gia đình và hội nhập vào xã hội góp phần vào việc bảo vệ và phát triển quốc gia. Người được đi học sẽ trỡ thành người tốt và có ích cho chính mình, cho gia đình, và cho quốc gia dân tộc. Giáo dục Việt Nam không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt giai cấp xã hội, không phân biệt tôn giáo, địa phương, chủng tộc. Giáo dục Việt Nam cố tạo những cơ hội đồng đều cho mọi người được đi học tuy nhiên không phải ai cũng có thể học được đến hết bậc đại học, hay ai cũng học đến bác sĩ, kỷ sư hoặc các ngành cao đẳng chuyên nghiệp khác. Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo khả năng và sở thích, có người chỉ học được hết Tiểu Học, có người học hết Trung Học Đệ Nhất Cấp, hay Trung Học Đệ Nhị Cấp, có những người khác thì học đến hết bậc đại học. Nhưng dù bất cứ học đến bậc học nào, mục đích của giáo dục vẫn phải là giúp tất cả mọi người trỡ thành người tốt, người đã được phát triển về khả năng cũng như đạo đức, dù khả năng đó ở mức đô nào. Nếu có những người chỉ có cơ hội học hết Tiểu Học thôi, thì giáo dục vẫn có bổn phận giúp họ phát triển đến hết mức đó, và vẫn làm thế nào giúp họ trỡ thành người tốt với mức học Tiểu Học của họ.

[…]

Tựa trên mục đích của giáo dục đã nêu trên, hệ thống giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa trong những năm sau cùng trước biến cố 1975, được thiết lập trong tinh thần tiếp cận hệ thống giáo dục của các quốc gia tiền tiến trên thế giới. Hệ thống này gồm ba cấp bậc: Tiểu học, Trung học, và Đại học. Tiểu học và Trung Học Đệ Nhất Cấp là cái học Phổ Thông (gồm 9 năm học). Trung Học Đệ Nhị Cấp bắt đầu chia ngành chuyên môn. Đây là những năm chuyển tiếp để vào các ngành chuyên môn hơn ở Đại Học, hoặc ra đời làm việc sinh sống. Riêng ở hai bậc Tiểu và Trung học, hệ thống giáo dục Việt Nam là hệ thống 5-4-3, với 12 năm liên tục, từ Lớp 1 đến Lớp 12, phân bố như sau:

Tiểu học (chỉ có Phổ Thông):

Lớp Một (Lớp Năm cũ)
Lớp Hai (Lớp Tư cũ)
Lớp Ba (Lớp Ba cũ)
Lớp Bốn (Lớp Nhì cũ)
Lớp Năm (Lớp Nhứt cũ)

Trung học Đệ Nhất Cấp (chỉ có Phổ Thông):

Lớp Sáu (Đệ Thất cũ)
Lớp Bảy (Đệ Lục cũ)
Lớp Tám (Đệ Ngũ cũ)
Lớp Chín (Đệ Tứ cũ)

Trung học Đệ Nhị Cấp (Phổ Thông và Chuyên Nghiệp):

Lớp Mười (Đệ Tam cũ)
Lớp Mười Một (Đệ Nhị cũ)
Lớp Mười Hai (Đệ Nhất cũ)

Bắt đầu Trung học Đệ Nhị Cấp, từ Lớp Mười, học sinh phải chọn Ban chuyên môn, và ngành chuyên môn như sau (từ 1973):

Ngành Phổ Thông:

Ban A (hay Ban Khoa Học Thực Nghiệm)
Ban B (hay Ban Toán)
Ban C (hay Ban Sinh Ngữ)
Ban D (hay Ban Cổ Ngữ)

Ngành chuyên nghiệp Nông Lâm Súc (Trung học Nông Lâm Súc)

Ngành chuyên nghiệp Kỹ Thuật (Trung Học Kỹ Thuật)

Bậc Đại học bao gồm:
 Đại Học Cộng Đồng (hai năm)·
Đại Học (chương trình Cử Nhân trở lên)·

5. ĐIỀU KIỆN NHẬP HỌC:

Vào Lớp Một, bậc Tiểu Học:

Tất cả trẻ em từ 6 tuổi là nhận vào Lớp Một để bắt đầu bậc Tiểu Học. Tuy không có luật bắt buộc phải đi học, nhưng hầu hết trẻ em đều được đi học hết bậc Tiểu Học miễn phí ở các trường Tiểu Học công lập. Học sinh có thể học trường Tiểu Học tư thục nếu phụ huynh muốn.

Vào Lớp Sáu, bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp

Muốn vào học Lớp Sáu, Trung Học Đệ Nhất Cấp, học sinh phải học xong Tiểu Học và phải qua một kỳ Thi Tuyển Vào Lớp Sáu. Đây là kỳ thi gay go vì số chổ ở Lớp Sáu Trung Học công lập có giới hạn. Chỉ khoảng 62% học sinh xong Tiểu Học được tuyển chọn vào Lớp Sáu trường công. Học trường công thì không phải trả học phí. Học sinh thi rớt vào Lớp Sáu trường công có thể lên học bậc trung học đệ nhất cấp ở các trường tư thục (có học phí).

Vào Lớp Mười Trung Học Đệ Nhị Cấp

Học sinh học xong Lớp Chín, có đủ điểm lên lớp, được vào Lớp Mười, ngành Phổ Thông, không phải qua một kỳ thi nào. Vào trường công thì không phải đóng học phí. Tuy nhiên, khi vào Lớp Mười học sinh phải lựa chọn Ban. Việc chọn Ban có tính cách tự nguyện, do tự học sinh muốn chọn Ban nào cũng được tùy theo sở thích của mình chớ không qua một sự hướng dẫn, hay chỉ bảo nào của nhà trường. Vào lớp Mười các ngành chuyên môn như Nông Lâm Súc hay Kỹ Thuật thì học sinh phải qua một kỳ thi tuyển vì số chổ giới hạn hơn ngành Phổ Thông.

Vào Năm Thứ Nhất Đại Học

Học sinh đậu xong Tú Tài, kể như tốt nghiệp bậc Trung Học, có đủ điều kiện để vào học Năm Thứ Nhất bậc Đại Học. Tuy nhiên vì có một số đại học có số chổ rất giới hạn nên đòi hỏi học sinh phải dự một kỳ thi tuyển như các đại học Y, Dược, Nha, Kỷ Thuật, Sư Phạm. Sự tuyển chọn hoàn toàn tựa trên khả năng của thí sinh , không có vấn đề lý lịch gia đình chen vào. Các đại học khác như Luật, Khoa Học, Văn Khoa không có thi tuyển, chỉ nhận thẳng những học sinh đã có bằng Tú Tài, không có một sự phân biệt, kỳ thị nào. Trường công thì không phải đóng học phí dù là bậc đại học. Chỉ có đóng tiền đi thi cuối năm ở một số trường hay phân khoa. Có những chương trình có học bổng cho sinh viên như trường sư phạm chẳng hạn.

6. CHƯƠNG TRÌNH HỌC

Chương trình học ở các bậc Tiểu và Trung học do Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên ban hành. Chương trình học này tựa trên triết lý giáo dục, mục đích và hệ thống giáo dục đã nêu trên. Chương trình do Ủy Ban Soạn Thảo Chương Trình, gồm một số thanh tra và giáo sư các môn liên hệ soạn thảo và đề nghị. Chương trình này được áp dụng đồng nhất cho cả trường công lẫn trường tư trên toàn quốc.

· Bậc Tiểu Học:

Chương trình Tiểu Học cung ứng cho học sinh những kiến thức cần thiết để ra đời hay lên học ở bậc Trung Học, cùng với những kỷ năng cơ bản (basic skills), những kỹ năng thực tiển (practical skills) và những cách thế phát triển cá nhân hầu có thể thích ứng dễ dàng với môi trường sinh sống.

Chương trình học chú trọng nhiều vào ba môn chính là Quốc Văn (tiếng Việt), Toán, Khoa Học Thường Thức. Bên cạnh ba môn chính trên đây phần Luân Lý với Công Dân Giáo Dục cũng được đặc biệt lưu ý. Số giờ và môn học được phân bố như sau:

1) Quốc Văn từ 7 tiếng 1/2 đến 9 tiếng 1/2 mỗi tuần tùy theo lớp, và bao gồm tập đọc, ngữ vựng, tập viết, chính tả, văn phạm, tập làm luận văn (tả vật, tả cảnh, tả người, thuật sự, viết thơ).

2) Công Dân Giáo Dục dạy về quyền và bổn phận của một công dân: từ 2 tiếng12 phút đến 2 tiếng ½ mỗi tuần tùy theo lớp.

3) Toán: từ 2 tiếng ½ đến 4 tiếng mỗi tuần tuỳ theo lớp, gồm có bốn phép toán, phân số, số học và hình học

4) Khoa Học Thường Thức: 2 tiếng ½ mỗi tuần bao gồm vạn vật, vệ sinh, các chứng bệnh, phép đo lường,

5) Sử Địa: SửViệt Nam và thế giới: 1 tiếng mỗi tuần, chỉ có từ lớp Ba trở lên; Địa Lý Việt Nam và thế giới: 1 tiếng mỗi tuần từ lớp Ba trỡ lên.

6) Nhiệm Ý: Thể Dục: 1 tiếng ½ đến 2 tiếng mỗi tuần tùy theo lớp; Hội Họa: 1 tiếng mỗi tuần; Nữ Công Gia Chánh: 2 tiếng mỗi tuần riêng cho nữ sinh từ lớp Ba trở lên.

Sinh Ngữ không có trong chương trình Tiểu Học. Các trường Tiểu học công lập không có sinh ngữ trừ trường hợp đặc biệt của các Trung Tâm Giáo Dục do người Pháp chuyển giao cho Bộ GD năm 1969. Có 5 trung tâm tất cả( Trung Tâm Lê Quí Đôn ở Sài Gòn, Trung Tâm Hồng Bàng ở Chợ Lớn, Trung Tâm Yersin ở Đà Lạt, Trung Tâm Pascal ở Nha Trang, và Trung Tâm Nguyễn Hiền ở Đà Nẳng). Ở các trung tâm này có thêm giờ Pháp Văn ở bậc Tiểu Học do giáo sư Pháp đảm trách và do cơ quan Văn Hóa Pháp đài thọ. Một số trường Tiểu học tư thục có thêm giờ sinh ngữ, ngoài số giờ ấn định của chương trình Tiểu học công lập.

· Bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp:

Chương trình Trung Học Đệ Nhất Cấp cung ứng cho học sinh những kiến thức tổng quát, có phần sâu rộng hơn bậc tiểu học nhưng chưa đi vào chuyên môn như ở Trung Học Đệ Nhị Cấp. Chương trình này một mặt bổ túc cho những kiến thức đã gặt hái được ở bậc Tiểu Học, và mặt khác chuẩn bị cho học sinh đón nhận những kiến thức sâu rộng hơn ở bậc Trung Học Đệ Nhị Cấp.

Chương trình bao gồm:

1) Quốc văn: văn phạm, chính tả, giảng văn (văn xuôi và văn vần), luận văn (luận đề luân lý), 6 giờ mỗi tuần.

2) Sinh ngữ: học sinh chọn một trong hai sinh ngữ Anh hoặc Pháp. (sinh ngữ Anh, dùng English for Today, từ Book I đến Book III ; sinh ngữ Pháp dùng Civilisation Francaise, tome I: Le Francais Elementaire). 6 giờ mỗi tuần ở các lớp 6 và 7; 5 giờ mỗi tuần ở các lớp 8 và 9.

3) Lý Hóa: 2 giờ mỗi tuần ở các lớp 6 và 7; 2 giờ ½ ở các lớp 8 và 9. Gồm các bài học về (1) Vật Lý: cân, nguyên lý Archimèdes, nhiệt độ, điện, quang; (2) Hóa Học: H2O, Oxy và oxy hóa, Hyt ro và không khí, acid và bases, kim khí, hóa học hữu cơ.

4) Vạn Vật: 1 giờ ½ mỗi tuần cho các lớp 6, 7, 8, 9. Gồm sinh vật, cây cỏ, thú vật, đất đá, con người.

5) Toán: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 6 và 7; 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 8 và 9. Gồm các bài học về: số học, phân số, đại số, phương trình bậc nhất, hàm số (y = ax và y = ax + b); phương trình bậc hai, hàm số (y = x2 ; y = ax2 ; y = 1/x ; y = a/x). Về hình học: đường thẳng, đoạn thẳng, gốc vuông, tam giác đồng dạng, đa giác ; hình học không gian: mặt phẳng song song, hình nón, hình cầu.

6) Sử Địa: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 6, 7, 8, và 9. Gồm: (1) Sử Ký: Việt Nam từ khởi thủy đến 1945; sử thế giới (sự phát triển kỹ nghệ Âu Châu và sự bành trướng của chủ nghĩa thự dân; các nước Á Châu trước chủ nghĩa thực dân – Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản; Đại Chiến Thế Giới Thứ Nhất; thế giới giữa hai thế chiến); (2) Địa lý: trái đất, Âu Châu, Phi Châu, Mỹ Châu, Á Châu (trừ Việt Nam), Úc Châu, và Việt Nam.

7) Công Dân: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 6 và 7, 2 giờ mỗi tuần cho các lớp 8 và 9. Gồm những bài học về: cá nhân và gia đình, tổ chức ở học đường, bổn phận của học sinh, đời sống xã hội và tôn giáo, quyền và bổn phận một công dân.

8) Nhiệm Ý: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 6, 7, 8, 9. Gồm: hội họa, âm nhạc, thể thao cho nam sinh; nữ công gia chánh, âm nhạc, thể thao cho nữ sinh.

· Bậc Trung học Đệ Nhị Cấp:

Chương trình học ở bậc trung học đệ nhị cấp một mặt giúp học sinh hoàn tất nền học vấn bậc trung học và mặt khác sửa soạn cho học sinh bước vào ngưỡng cữa đại học. Ở những năm học này học sinh được lựa chọn những môn học thích hợp với khả năng và sở thích của mình. Chương trình học do đó, không đồng nhất, màđược thay đổi tùy theo ngành và tùy theo ban. Về ngành thì có ngành Phổ Thông, ngành Nông Lâm Súc và ngành Kỹ Thuật. Mỗi ngành lại chia làm nhiều ban. Ngành Kỹ Thuật có các ban Cơ Khí (mechnics), Điện (electricity), Điện Tử (electronics), Rèn (forging), Hàn (welding) v v …Ngành Nông Lâm Súc có ban Canh Nông (agriculture) , Lâm (forestry), và Súc (animal husbandry). Ngành Phổ Thông có các Ban A, Ban B, Ban C và Ban D. Riêng ngành phổ thông, ngành có nhiều học sinh nhất, số giờ học theo từng môn và theo từng ban được ghi rõ trong bản phân phối đính kèm. Nhìn chung ta thấy Ban A (tức ban Khoa Học Thực Nghiệm) chú trọng vào Vạn Vật, và Vật Lý – Hóa Học, Ban B (hay ban Toán) chú trọng vào Toán học và Vật Lý – Hóa Học, Ban C chú trọng vào Triết học (Tâm Lý, Luận Lý, Đạo Đức và Siêu Hình học) và Sinh Ngữ, và Ban D chuyên về Triết học và Cổ Ngữ. Về Sinh Ngữ, có sinh ngữ chính và sinh ngữ phụ. Sinh ngữ chính có thể là Anh Ngữ hay Pháp Ngữ; sinh ngữ phụ có thể là Anh, Pháp, Đức, Nhật, Y Pha Nho, Ý. Cổ Ngữ có thể là Hán hay La Tinh. Thường thì hai Ban C và D được gọi chung là Ban Văn Chương. Các môn học trong chương trình Phổ Thông được tóm ghi như sau:

1) Quốc Văn: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 10 và 11 A và B; 5 giờ mỗi tuần cho các lớp 10 và 11 ban C và D. Gồm văn học sử từ khởi thủy đến 1945 (văn học bình dân truyền khẩu, văn chương chữ Nôm và văn học chữ Quốc Ngữ), giảng văn (15 tác giả và tác phẩm cho ban A và B, và 20 tác giả và tác phẩm cho ban C và D), luận văn (luận đề văn chương và luân lý).

2) Triết học: 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 12 Ban A, 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 12 Ban B, và 9 giờ mỗi tuần cho các lớp 12 Ban C và D. Gồm Luận Lýhọc và Đạo Đức học cho cả 4 Ban; Tâm Lý Học và Siêu Hình Học cho các Ban C và D, một phần Tâm Lý Học cho Ban A.

3) Công Dân: 2 giờ mỗi tuần cho các lớp 10 và 11 A, B, C, D; và 1 giờ mỗi tuần cho lớp 12 tất cả các Ban. Gồm: Quốc Gia (dân tộc, lãnh thổ, chánh phủ, hiến pháp, lập pháp, hành pháp, tư pháp), Liên Hiệp Quốc (tổ chức, UNESCO, các tổ chức khác), Phong Tục, Kinh Tế (các lý thuyết, sản xuất, thương mại, tiền tệ, ngân hàng), Chính Trị (dân chủ, chính đảng, chính thể, độc tài, phát xít, cộng sản).

4) Sử Địa: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, và 12 các Ban A, B, C, D. Gồm: Sử Việt Nam từ 1407 đến 1945, Sử Thế Giới từ cuối thế kỷ XVIII đến 1945 (Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật, Trung Hoa, Ấn Độ, Đại Chiến Thế Giới I, Đại Chiến Thế Giới II), Địa Lý Địa Cầu, Địa Lý Việt Nam, Địa Lý Thế Giới (Hoa Kỳ, Tây Đức, Anh, Nhật, Nga Sô, Trung Hoa Lục Địa, Ấn Độ).

5) Sinh Ngữ I: 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, và 11 A, B; 3 giờ mỗi tuần cho lớp 12 A, B, 6 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 C và D. Anh Văn (English for Today, books III và IV cho Ban A và B, books IV và V cho Ban C và D), hay Pháp Văn (Cours de Langue et de Civilisation Francaise, Tome II cho Ban A và B, Tome II thêm các tác giả La Fontaine, A. Daudet, A. France, St. Exupéry, G. Duhamel cho Ban C và D).

6) Sinh Ngữ II: 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, và 11 A và B, 6 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 C. Anh Văn (English for Today, Books I và II cho Ban A và B, Books I, II, và III cho Ban C), hay Pháp Văn (Cours de Langue et de Civilisation Francaise, Tome I cho Ban A và B, Tome I và II cho Ban C). Ban D thì học Cổ Ngữ (chữ Hán hay tiếng La Tinh).

7) Toán: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 C, D, 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 A, 5 giờ mỗi tuần cho lớp 12 A, 6 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 B, và 9 giờ mỗi tuần cho lớp 12B. Nhiều chi tiết và nhiều phần khó cho Ban B, tổng quát hơn cho Ban A và rất hạn chế cho Ban C và D. Gồm Đại Số (phương trình bậc hai và bất bình đẳng, lô ga rít, đạo hàm và hàm số), Hình Học (hình học giải tích), Chuyển Động(véc to, vận tốc, chuyển động thẳng), Lượng Giác, Thống Kê và sác xuất.

8) Vạn Vật: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12, Ban B, C, và D, 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 Ban A, và 4 giờ mỗi tuần cho lớp 12 Ban A. Nhiều chi tiết và thí nghiệm cho Ban A, nhưng nhiều giới hạn cho các Ban B, C, và D. Gồm địa chất (geology), thực vật (botany), và động vật (animals).

9) Lý Hóa: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 Ban C và D, 4 giờ ½ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 Ban A và B, 7 giờ mỗi tuần cho lớp 12 Ban A và B. Nhiều chi tiết và nhiều phần khó cho các Ban A và B. Rất giới hạn cho các Ban C và D. Gồm Vật Lý (lực, tĩnh, nhiệt,…), Hóa Học (nguyên tử, …).

· Chương Trình Trung Học Tổng Hợp (comprehensive secondary school curriculum)

 

7. TÀI LIỆU, DỤNG CỤ GIÁO KHOA

Phần lớn các sách giáo khoa, và một số các dụng cụ khoa học đều do Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục sản xuất và cung cấp với sự giúp dỡ và viện trợ của các cơ quan ngoại quốc như USAID. Ban tu thư dịch thuật với các giáo chức và các họa sĩ với chuyên môn và kỹ thuật cao đã soạn thảo trọn bộ sách bậc tiểu học tốt về nội dung cũng như hình thức. Nhiều sách dịch và tham khảo đã được duyệt và ấn loát để các học sinh và sinh viên cótài liệu tham khảo.

Ngoài ra trung tâm còn hợp tác với cơ quan quốc tế UNESCO để viết và dịch các sách nhi đồng để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa quanh ta và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo Dục cũng dành riêng ngân sách để ấn loát sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc khác nhau.

Để thống nhất các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo Dục đã thiết lập Ủy Ban Quốc Gia soạn thảo danh từ chuyên môn. Nhiều giáo sư đại học đã tham gia vào việc soạn thảo và Trung Tâm Học Liệu đã bắt đầu ấn hành những tập đầu tiên danh từ văn học và khoa học.

Trường Sư Phạm: trường đào tạo giáo chức

Sư phạm là khuôn mẫu dạy dỗ (sư là thầy dạy, phạm là cái khuôn), hay nói nôm na ra là phương pháp, cách thức dạy học. Trường sư phạm là trường đào tạo giáo chức, là nơi người ta dạy cách thức hay phương pháp dạy học cho những người muốn làm nghề dạy học. Có kiến thức chuyên môn sâu rộng là một việc còn biết cách dạy cho có hiệu quả là một chuyện khác. Kiến thức chuyên môn chỉ mới là điều kiện cần, phải có kiến thức sư phạm nữa mới là điều kiện đủ để trỡ nên nhà giáo đúng nghĩa. Người có cử nhân toán học là người có đủ kiến thức về toán để dạy học sinh ban Tú Tài, kể cả Tú Tài Toán (Ban B) chẳng hạn, nhưng nếu người đó có thêm kiến thức hay kinh nghiệm sư phạm nữa thì sự truyền đạt những kiến thức toán của mình cho học sinh càng có nhiều hy vọng có kết quả hữu hiệu hơn. Vai trò của trường sư phạm là giúp những người muốn làm thầy thu thập được những kiến thức và kinh nghiệm dạy học đó.

Trường sư phạm (école normale, hay école de pédagogy) do người Pháp du nhập vào Việt Nam hồi tiền bán thế kỷ XX, như trường sư phạm Nam Việt, trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội chẳng hạn. Thời Việt Nam Cộng Hòa, có nhiều trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học và giáo học bổ túc như Quốc Gia Sư Phạm (Sài Gòn), Sư Phạm Long An, Sư Phạm Vĩnh Long, Sư Phạm Qui Nhơn, Sư Phạm Bam Mê Thuộc, v v …, hoặc các trường sư phạm đào tạo giáo sư trung học đệ nhất cấp hoặc đệ nhị cấp như Cao Đẳng Sư Phạm sau đổi thành Đại Học Sư Phạm (Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Sư Phạm Huế, Đại Học Sư Phạm Đà Lạt). Đại Học Sư Phạm một năm đào tạo giáo sư Trung Học Đệ Nhất Cấp. Đại Học Sư Phạm ba năm đào tạo giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp. Đại Học Sư Phạm gồm nhiều ban như Việt Văn, Triết, Pháp Văn, Anh Văn, Toán, Lý Hóa, Vạn Vật, Sử Địa. Trường Sư Phạm một mặt giúp các giáo sinh mở rộng kiến thức chuyên môn (học về nội dung các môn mình sẽ dạy), mặt khác giúp các giáo
chức tương lai trau dồi về sư phạm (cả lý thuyết lẫn thực hành).

· Tu Nghiệp Giáo Chức

Tu nghiệp là cách tốt nhất để các giáo chức có cơ hội hiện đại hóa những kiến thức chuyên môn cũng như những kiến thức/kinh nghiệm sư phạm của mình. Thật ra với đà tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật ngày nay, những hiểu biết của con người ở bất cứ lãnh vực nào cũng có thể rất dễ bị lỗi thời chỉ trong một thời gian ngắn, nếu không có dịp học hỏi, cập nhật hóa những hiểu biết chuyên môn của mình. Ở địa hạt giáo dục cũng vậy, nhà giáo cần phải để thì giờ và cơ hội học hỏi thêm, cập nhất hóa những kiến thức chuyên môn của mình để không bị rơi vào tình trạng hủ hóa. Trong chiều hướng đó, Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên thường xuyên tổ chức các chương trình và lớp tu nghiệp cho các giáo chức. Với sự viện trợ của các quốc gia tiền tiến trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Đức, Bộ VHGDTN thường gởi giáo chức đi tu nghiệp ở ngoại quốc. Trong nước thỉnh thoảng vẫn có những lớp tu nghiệp hay những buổi hội thảo về giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi, thăng tiến trong nghề nghiệp. Nha Sư Phạm và các trường sư phạm đảm trách công việc tu nghiệp ở trong nước cho các giáo chức.

· Đời sống và tinh thần giáo chức

Chỉ số lương của nhà giáo tuy có khá hơn một số các ngành khác, nhưng so với mực sống của những công tư chức nói chung thì đồng lương và đời sống của nhà giáo có tính cách rất khiêm nhường. Chỉ số lương mới ra trường sư phạm của giáo viên tiểu học là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470. So với các sĩ quan trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, lương giáo sư vẫn khá hơn, vì khi bị động viên vào quân ngũ, các sĩ quan giáo sư tuy đã mất phần phụ cấp sư phạm , vẫn còn được lãnh tiền sai biệt giữa lương căn bản giáo chức và lương sĩ quan. Với số lương căn bản ấn định, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở tỉnh thời Đệ Nhất Cộng Hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người làm. Sang Đệ Nhị Cộng Hòa, đời sống bắt đầu mắt mỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng. Tuy vậy lúc nào nhà giáo cũng vẫn giữ vững tinh thần, và tư cách nhà mô phạm, từ cách ăn mặc thật đứng đắn, đến cách ăn nói giao tiếp với phụ huynh học sinh, và cả với giới chức chính quyền địa phương. Dù gặp hoàn cảnh khó khăn đến đâu, nhà giáo cũng hết lòng với sứ mạng, vẫn làm đúng lương tâm chức nghiệp của mình.

[…]

9. LƯỢNG GIÁ VÀ THI CỬ

Có hai lối thi để lượng giá học sinh ở bậc trung học ngoài kỳ thi tuyển vào lớp Sáu. Một là thi lục cá nguyệt ở trong lớp học và hai là dự thi lấy văn bằng ở cấp quốc gia. Thi lục cá nguyệt là kỳ thi do giáo sư dạy lớp ra đề thi, cho thi trong lớp, và chấm điểm, sắp hạng học sinh về môn của mình. Mỗi niên học có hai lần thi lục cá nguyệt. Cả bài thi và số điểm sẽ được đệ nạp trên văn phòng giám học. Trường sẽ cọng điểm các môn, dùng điểm trung bình để định việc lên lớp cho học sinh.

Thi lục cá nguyệt từ xưa đến giờ không được chú ý đúng mức. Ở trong trường cũng như ở ngoài xã hội, kể cả phụ huynh học sinh, ít người đặt nặng tầm quan trọng vào các kỳ thi lục cá nguyệt. Đây là một quan niệm sai lầm đáng tiếc. Người ta chỉ chú trọng vào các kỳ thi lấy văn bằng ở cấp quốc gia (national examinations). Và càng về xưa càng nhiều kỳ thi, càng nhiều kỳ thi càng nhiều gạn lọc, loại bỏ dọc đường, không cho phép học sinh có cơ hội được học lên cao. Thi theo xưa là một cách chọn lọc quá khắt khe, chỉ chọn lấy toàn là người thật giỏi, thật ưu tú (elites).

Trước 1960 số thí sinh còn ít và Bộ Giáo Dục còn tổ chức được rất nhiều kỳ thi như thời Pháp thuộc: thi Tiểu Học, thi vào Đệ Thất, thi Trung Học Đệ Nhất Cấp với cả hai phần thi viết vấn đáp, thi Tú Tài I (viết và vấn đáp), thi Tú Tài II (viết và vấn đáp). Tú Tài I và II lại có hai kỳ, kỳ I và II cho mỗi năm. Sang thập niên 1950 kỳ thi Tiểu Học được bãi bỏ, Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ có thi viết thôi, không còn vấn đáp, và sau đó, trong thập niên 1960, cũng bỏ luôn Trung Học Đệ Nhất Cấp nhưng lại tổ chức kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp Tráng Niên cho một ít người lớn tuổi. Đến năm 1973 kỳ thi Tú Tài I cũng được bãi bỏ chỉ còn giữ kỳ thi Tú Tài II xem như kỳ thi tốt nghiệp bậc Trung Học. Cách thức làm đề thi khi xưa là đánh máy một ít đề thi rồi giao cho giám thị phòng chép tay trên bảng. Sang đầu thập niên 1960 đề thi mới được in ronéo ra nhiều bản để phát cho mỗi thí sinh một bản đề thi. Đề thi làm theo lối luận đề (essay type), đặt câu hỏi để thí sinh phải viết câu trả lời dài dòng. Lối ra đề thi này rất chủ quan, giới hạn các câu hỏi trong một số rất ít chủ điểm, đòi hỏi học sinh phải học thuộc lòng rất nhiều để có thể viết lại kịp thời những gì đã học trong sách vở. Với lối ra đề thi như vậy người ta không thể nào khảo sát được một cách khách quan và tổng thể sự thu nhận và hiểu biết của học sinh về những môn quan trọng trong chương trình học. Đề thi và cách chấm thi theo lối này dễ đưa tới việc học sinh học tủ, đánh bùa, chép bài, và giám khảo chấm bừa (thủ vĩ ngâm), tìm bài và nâng điểm. Hồ sơ thi cử như ghi danh, làm phiếu báo danh, sổ  điểm, ghi điểm, cọng điểm, v v… tất cả đều làm bằng tay và khi thí sinh quá đông thì không tránh được những sơ sót, và đúng ra cũng không còn cách nào làm nỗi nếu theo cách làm cổ điển này. Các kỳ thi kéo dài hết cả mùa hè và các giáo sư dạy lớp thi phải đi gác thi, chấm thi luôn, không còn thì giờ nghỉ ngơi hay làm việc gì khác. Cái hại nhất của các kỳ thi là giới hạn rất nhiều số người thi đậu, gạn lọc quá nhiều học sinh không để cho có nhiều học sinh tiến lên các cấp cao ở trên. Một trăm học sinh khi xong Tiểu học chỉ còn không đầy 50 em được vào Trung học công lập, một số khác phải vào tư thục nếu gia đình có tiền. Trong số 50 em này sau khi xong Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ còn khoảng 20 em vào Đệ Tam rồi Đệ Nhị và dự thi Tú Tài I. Xong Tú Tài I còn không đầy 10 người lên học thi Tú Tài II. Thường thì hầu hết những người đậu xong Tú Tài I đều sẽ đậu Tú Tài II sau đó. Thành ra tính trung bình không hơn 10% học sinh vào trung học được tốt nghiệp trung học. Thật là phi lý khi rất nhiều học sinh phải mất thì giờ học bao nhiêu năm, chính phủ phải tốn bao nhiêu tiền bạc để lo cho họ đi học rồi rốt lại chỉ một hai ngày thi cử họ đã phải vứt bỏ hết bao nhiêu công lao, tiền bạc của công cũng như của tư. Cần phải có sự cải tổ về thi cử để cải tiến hệ thống lượng giá và đo lường trình độ học vấn của học sinh và để đương đầu với áp lực của sĩ số mỗi ngày một gia tăng nhanh chóng. Thi lấy văn bằng ở cấp quốc gia quan trọng nhất là thi Tú Tài I và Tú Tài II. Nam sinh thi rớt Tú Tài I là phải nhập ngũ, đi lính. Nếu có Tú Tài I mà nhập ngũ thì được đi khóa sĩ quan. Từ đầu thập niên con số thí sinh dự thi Tú Tài gia tăng rất nhiều, việc tổ chức thi cử theo lối cũ (theo lối của Pháp) không giải quyết nổi vấn đề làm hồ sơ khảo thí, đánh mật mã, cắt phách, chấm thi, cọng điểm, sắp hạng, làm chứng chỉ trúng tuyển, vv . .tất cả những công việc đó không còn làm bằng tay theo lối cổ điển được nữa. Nhất là khi bãi bỏ kỳ thi Tú Tài I thì số thí sinh dự thi Tú Tài II sẽ gia tăng gần gắp đôi trong năm 1974. Vả lại thi theo lối cũ, lối luận đề (essay type) có tính cách chủ quan và một số những khuyết điểm của nó trong vấn đề lượng giá. Thi trắc nghiệm khách quan theo lối Mỹ tuy không phải là toàn mỹ nhưng vẫn có nhiều ưu điểm hơn trong vấn đề lượng giá một cách khách quan, khoa học, và có thể tránh được những gian lận thi cử. Để kịp thời đối phó với tình trạng gia tăng quá nhanh, và để cải tiến vấn đề lượng giá cho đúng mức, một hội đồng cải tổ thi cử được thành hình từ tháng 11 năm 1972, và ráo riết làm việc để hoàn tất công cuộc đổi mới áp dụng trong kỳ thi Tú Tài năm 1974 (khóa I thi ngày 26 và 27 tháng 6, và khóa II ngày 28 và 29 tháng 8). Đây là kỳ thi Tú Tài theo lối trắc nghiệm khách quan lần đầu tiên và cũng là lần sau cùng ở Nam Việt Nam.

Về giấy tờ thủ tục, đầu thập niên 1970 Nha Khảo thí đã ký khế ước với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vu, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển, đến các con số thống kê cấn thiết. Đề thi trắc nghiệm khách quan thì cũng đã được đem vào các kỳ thi Tú Tài I và II cho môn Công Dân – Sử Địa từ niên khóa 1965-66. Nhưng phải đến năm 1974 thì toàn bộ các môn thi trong kỳ thi Tú Tài mới gồm toàn những câu trắc nghiệm khách quan có nhiều lựa chọn (multiple choice). Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều có đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1,800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời (làm item analysis) của học sinh để định độ khó (difficulty index; độ khó ở đây là .60) của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu trắc nghiệm cho thích hợp. Tín độ (reliability; hệ số tín độ của các bài trắc nghiệm ở đây là từ .91 đến .94) và hiệu độ (validity; hệ số hiệu độ của các bài trắc nghiệm ở đây là từ .60 đến .73 ) của bài trắc nghiệm được tính theo đúng phương pháp thống kê khoa học. Bảng trả lời được đặt từ Mỹ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230; điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy 534 (punching machine) để đục lổ. Những phiếu đục lổ này (punched cards) được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cọng điểm, tính điểm trung bình (mean), độ lệch tiêu chuẩn (standard deviation), chuyển điểm thô (raw score) ra điểm tiêu chuẩn (standard score), tính percentile và thứ hạng trúng tuyển. Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (Norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp khoa học của thống kê học, để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

Tổng số thí sinh ghi tên trong khóa I, 1974 là 142, 356, nhưng thật sự dự thi chỉ có 129, 406. Trong số này có 53, 868 thi đậu (41.6%) và 75, 538 thí sinh không đâu (58.4%). Tổng số thí sinh ghi tên dự thi khóa II là 94,606, nhưng thật sự dự thi chỉ có 76,494. Trong số này có 8,607 thi đậu (11.3%) và 67,887 không đâu (88.7%). Số người thi đậu Tú Tài (tốt nghiệp Trung học) nhiều hơn xưa nhiều lắm (hơn 45% cho cả hai khóa, so với khoảng 10% trong những thập niên trước). Kỳ thi quốc gia không còn có mục đích gạn lọc, loại bỏ như xưa nữa. Từ đó sẽ có nhiều người có cơ hội được học đại học, và nước nhà sẽ có nhiều người ở trong thành phần trí thức, trình đô dân trí sẽ được nâng cao hơn.

Trích tài liệu Nam Sơn Trần Văn Chi

Những năm đầu sau khi Pháp rút về nước, giáo dục Việt Nam tiếp tục cái gì có trước. Cho đến Ðại Hội Giáo Dục Toàn quốc năm 1958, VNCH mới xây dựng nền giáo dục độc lập dựa trên 3 nguyên tắc: Nhân Bản-Dân Tộc và Khai Phóng.

[…]

Thời Tây 1930, toàn Ðông Dương có 406,669 học trò gồm sơ và tiểu học trong đó có 20% là học trò Lào và Miên.

Thời Ðệ I Cộng Hòa, năm học 1960 miền Nam có 1 triệu 214,621 học sinh tiểu học, 112, 129 học sinh trung học. Tăng 200% so với niên học 54-55, lúc mới thâu hồi độc lập từ tay Pháp.

[…]

Giáo viên tiểu học trước năm 1975 có chỉ số 250, giáo học bổ túc là 320, giáo sư Ðệ I cấp chỉ số 400, Ðệ II cấp lên 470. Lương giáo viên, giáo sư như thế so với ngạch công chức và quân đội, tương đối cao, nên đời sống bảo đảm, thư thả; đặc biệt vị trí người thầy luôn được xã hội tôn trọng, cha mẹ học sinh kính nể.

[…]

Bậc đại học đào tạo cử nhân, cao học và tiến sĩ.

Sau Thế Chiến Thứ II, Pháp trở lại Việt Nam, Ðại Học Ðông Dương ở Hà Nội được đổi tên là Ðại Học Hà Nội, viện trưởng vẫn là người Pháp. Sau đó có một số khoa được mở ở Sài Gòn như Luật, Y khoa và Khoa Học, do phó viện trưởng là người Việt điều hành.

Sau năm 1954, chi nhánh đại học Hà Nội tại Sài Gòn cải tên là Viện Ðại Học Quốc Gia Việt Nam, đến năm 1957 đổi tên là Viện Ðại Học Sài Gòn, tên nầy giữ cho tới năm 1975.

Khi bắt đầu diễn ra Hội Nghị Paris (trong kế hoạch chuẩn bị hậu chiến) năm 1972 VNCH thành lập Hệ Thống Ðại Học Cộng Ðồng, năm sau 1973 Viện Ðại Học Bách Khoa Thủ Ðức thành lập.

Hệ thống đại học ở VNCH không thuộc Bộ Giáo Dục, và cũng không có cơ quan chủ quản (trư trường Y Dược thuộc Bộ Y Tế chủ quản). Ðại học Việt Nam tự trị về học vụ chuyên môn. Ngân sách của đại học là bộ phận trong ngân sách Bộ Giáo Dục do Quốc Hội chuẩn duyệt hàng năm; nhân viên và giáo sư đại học thuộc Tổng Ủy Công Vụ.

Ðại học VNCH bấy giờ có hai hệ thống: Ðại Học Quốc Gia và Ðại Học Cộng Ðồng Ðịa Phương.

Ðại Học cấp Quốc Gia: gồm có

1. Viện Ðại Học Sài Gòn:

Sau năm 1954, Viện Ðại học Hà Nội chuyển vào Nam nhập vào Viện Ðại Học Sài Gòn. Viện có 8 phân khoa là Y, Dược, Nha, Sư Phạm, Khoa Học, Văn Khoa, Luật và Kiến Trúc. Có đại học xá Minh Mạng dành cho nam, Trần Quý Cáp dành cho nữ, có trung tâm Y tế chăm sóc sức khỏe cho sinh viên.

2. Viện Ðại Học Huế:

Thành lập theo sắc lịnh VNCH-1 do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ký vào Tháng Ba năm 1957 gồm có 4 khoa như Sư Phạm, Y khoa, Văn khoa và Luật.

3. Viện Ðại Học Cần Thơ:

Ðược thành lập ngày 31 Tháng Ba 1966 do nghị định của chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương ký. Có 4 khoa là: Khoa Học, Văn Khoa, Sư Phạm, Luật & Khoa Học Xã Hội.

4. Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thuộc Phủ Thủ Tướng:

Học viện được thành lập từ 29 Tháng Năm 1950 theo Quyết Ðịnh của Chánh Phủ Quốc Gia Việt Nam (tên gọi lúc đó), lúc đầu đặt ở Ðà Lạt, năm 1958 dời về đường Trần Quốc Toản, Sài Gòn.

5. Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, thuộc Bộ Quốc Phòng:

Sinh viên học 4 năm, môn chánh là võ khoa; môn phụ là Toán, Khoa học tự nhiên, Khoa học Xã Hội. Tốt nghiệp bằng Cử Nhơn Võ Khoa, một ngành mới mẻ đối với Việt Nam.

6. Viện Ðại Học Bách Khoa Thủ Ðức:

Thành lập do sắc lệnh của tổng thống VNCH, và hoạt động chánh thức năm 1974.

Viện bao gồm một số trường có trước như Trung Tâm Phú Thọ, Ðại Học Nông Nghiệp, Ðại Học Kỹ Thuật. Viện có lập một số trường mới như là Ðại Học Kinh Thương, Ðại Hoc Khoa Học Căn Bản, Ðại Học Thiệt Kế Ðô Thị và Nông Thôn…

Ðại học Cộng Ðồng Ðịa Phương

Trường Ðại Học Cộng Ðồng Ðịa Phương chỉ huấn luyện về chuyên môn và thực dụng, học trình 2 năm.

Cho tới năm 1975, VNCH có 5 trường:

– Ðại Học Cộng Ðồng Quãng Ðà
– Ðại Học Cộng Ðồng Nha Trang
– Ðại Học Cộng Ðồng Tiền Giang Mỹ Tho
– Ðại Học Cộng Ðồng Long Hồ Vĩnh Long
– Ðại Học Cộng Ðồng Ban Mê Thuột, mới có quyết định.

Giáo Dục Việt Nam trước 1975 ngoài hệ thống công lập còn có hệ thống trường tư.

Ðại học tư trước năm 1975 có:

– Viện Ðại Học Ðà Lạt
– Viện Ðại Hoc Minh Ðức
– Viện Ðại Học Vạn Hạnh
– Viện Ðại Học Cao Ðài/Tây Ninh
– Viện Ðại Học Hòa Hảo/An Giang

Xem thêm: Các trường và viện ngoài công lập ở miền nam trước 1975.

Advertisements

Tagged as: ,

53 phản hồi »

  1. Còn nhớ năm 1974 lần đầu tiên GD miền Nam (VNCH) áp dụng chấm thì trên máy tính. Trên đài phát thanh Giải Phóng đã phát những bài kịch liệt phản đối cách chấm thi này. Nền GD của VNCH đi ngược lại nền giáo dục XHCN và CCTT định hướng XHCN.

    Số lượt thích

    • xin đọc là KTTT định hướng

      Số lượt thích

    • Kỳ thi chấm trên máy tính duy nhất năm 1974 gọi là kỳ thi trắc nghiệm, thí sinh lần đầu tiên trả lời theo lối chọn 1 trong 4 câu trả lời A,B, C, D. Đài GP thì đả kích lối thi này, nhưng gần như toàn thế giới ngày nay đang dùng cách thi đó. Thế mới biết miền Nam đi trước miền Bắc bao xa.

      Số lượt thích

  2. Bài viết quá hay.

    Số lượt thích

  3. Theo tôi, một mô hình cụ thể, đã và đang được tổng hợp tương đối đầy đủ về lịch sử, quá trình và kinh nghiệm xây dựng – phát triển, là Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức. Có thể tham khảo thông tin và dữ liệu về mô hình này tại trang: http://www.kieumauthuduc.org/

    Số lượt thích

  4. Rầt thú vị khi đọc lại những tài liệu giáo dục ở miền Nam xưa. Chẳng hiểu sao, tôi có cái may, học từ lớp Năm đến lớp Nhất, rồi thi tiểu học – nhiều bạn không được vậy. Lên trung học, vào trường công rất khó. Hết đệ Tứ, đáng lẽ phải thi trung học, nhưng học sinh từ lớp tôi không phải thi nữa. Rồi sang trung học đệ nhị cấp, tức đệ Tam, đệ Nhị, thi tú tài một, rồi đệ Nhất, thi tú tài hai. Phải có tú tài hai mới được học Đại học, hoặc nếu phải lính thì được học sĩ quan.

    Khi sang Mỹ, tôi thấy, lối học bên Mỹ dễ hơn nhiều: học đến đâu, thi đến đó; học môn nào, thi môn đó, chứ không dồn đến cuối năm, thi một lần hết mọi môn.

    Phải nói thêm điều này, để các bạn hậu sinh khả úy biết, là ngày xưa, không đi học thì phải đi lính. Cho nên, đó cũng là lý do bắt mình phải học. Học sinh nào cũng thuộc nằm lòng những câu thơ như: Rớt tú tài, anh đi trung sĩ. Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con. Đến khi hết việc nước non. Về nhà anh có Mỹ con anh bồng.

    Điều nữa, là sau tết Mậu thân (1968), phong trào phản chiến lên cao, ảnh hưởng đến tinh thần thanh thiếu niên và học đường miền Nam. Đang khi đó, những bài hát, và thơ văn lãng mạn được sáng tác nhiều. Phong trào hướng đạo, du ca cũng là hình thức đấu tranh hòa bình. Từ những bài “em hiền như ma soeur”, “thà như giọt mưa”, “em hỏi anh: bao giờ trở lại?”, đến những bài “ta như nước dâng, dâng chẳng có bao giờ tràn”, “đừng làm mất quê hương, hỡi anh miền Nam tôi là miền Bắc, đừng làm tan quê hương, hỡi anh miền Bắc, tôi là miền Nam”.

    Cho thấy rằng, từ ruộng đồng miền Bắc, đến đất đồi cằn cỗi miền Trung, đến đồng nước bao la miền Nam, dân tộc ta là giống dân yêu chuộng hòa bình. Nếu ngoài Bắc có lối hát quan họ, ả đào tình tứ, thì trong Nam có lối vọng cổ, sáu câu rất hay và ý nghĩa. Vậy mà, tôi vẫn không hiểu, tôi còn thắc mắc, hòa bình thực sự … ở đâu? Tôi biết rằng, nếu “tâm bình thế giới bình”, thì chiến tranh và loạn lạc phải bắt nguồn từ trong tâm con người mà ra.

    Số lượt thích

    • bác Như Huyên cho thí dụ sinh động quá, hihihi. Đúng là anh nào nhớ tới mấy câu thơ này “Rớt tú tài, anh đi trung sĩ. Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con. Đến khi hết việc nước non. Về nhà anh có Mỹ con anh bồng.” thì không cần thầy cô giáo huấn hay bố mẹ khuyên răn cũng lao vào học 😀 Theo cá nhân em thì đấy là một cách giáo dục hữu hiệu nhất 😀

      Vào vấn đề chính: em xin lỗi là bài dài quá, nên chưa kịp đọc vì dạo này ít t/g. Em chỉ xin nhắc đến một tin thời sự mới được đưa cách đây hơn một tuần rằng theo KQ của một cuộc điều tra ở 1300 trường, gồm trên 44 000 học sinh lớp 9 ở Đức thì bên Đông học sinh giỏi toán hơn Tây. Báo chí cho rằng lý do là các bang ở bên Đông vẫn còn giáo viên dạy Toán nói riêng và dạy KH tự nhiên nói chung, được đào tạo rất quy củ trong chế độ XHCN. (Viết đến đây, chắc các bác và các bạn có thể nhớ tới ý kiến của em về việc tại sao ở VN ta (định hướng XHCN) việc học Toán hay KHTN được coi trọng, trong khi các môn KHXH chịu thiệt thòi vô cùng.) Ở bang Sachsen, Thüringen, Brandenburg, bên phía Đông nơi được đánh giá là học sinh lớp 9 khá Toán nhất so với các bang khác, cũng là nơi có nhiều học sinh Việt (xuất thân từ miền bắc VN) nhiều nhất đấy ạ 🙂 (Y như các em học sinh VN giỏi ở bên US có nguồn gốc cả Nam lẫn Bắc). Martin Gillo ủy viên hội đồng cho người nước ngoài tại bang Sachsen đã tuyên dương gương học tập xuất sắc của con em VN ta ! http://www.mdr.de/mdr-info/Vietnamnesen100.html
      Còn ở bang Bayern, bên phía Tây, thì trước kia đứng thứ hai nay tụt xuống vị trí thứ 4 ở môn Toán. Cũng phải nói thêm là ở đây học sinh VN học cũng rất tốt.
      Bang Berlin và các bang phía Tây vì có nhiều học sinh người Thổ, không coi nặng việc học tiếng Đức cũng như giáo dục nói chung nên bị kéo xuống vị trí 15/16.
      Đây chỉ là một ví dụ về sự khác nhau giữa hai miền, hai vùng mà một thời đã từng là hai nước, hai chế độ giống như miền Bắc và miền Nam VN trước khi thống nhất. So với VN thì nước Đức bây giờ còn tồn tại chút ít bức tường tàng hình, vẫn có cách gọi mỉa mai hay chuyện vui châm biếm Ossi dành cho người dân phía Đông (gốc XHCN) và Wessi cho dân bên Tây. Thế nên trước cuộc bầu cử vừa qua, vẫn còn có câu chuyện vui: Hỏi rằng một tốp gồm một bà Ossi, một anh Việt Nam, một ông già ngồi xe lăn, một anh …pê đê, cùng nhau đi vào quán bia, họ là ai? ………….Trả lời: Đó là nội các chính phủ Đức! 😀
      Sau gần 25 năm nước Đức thống nhất Đông với Tây, nhưng những thành kiến giữa họ và về họ vẫn tồn tại. Những ai ở bên Đông sau khi thống nhất bị mất việc sẽ coi họ bị phân biệt đối xử, bị coi là công dân hạng hai. Còn ai sau đó được đổi đời thì coi đó là thiên đàng tự do. Những ai ở bên Tây phải trích từ tiền lương hàng tháng của mình tiền đóng góp kiến thiết cho các bang bên Đông suốt 25 năm, thì bất bình, coi bị …lợi dụng. Tuy có một số ý kiến trái ngược, nhưng dù sao cả Đông và Tây đều rút kinh nghiệm và nhìn thấy những điểm tốt của nhau để học tập. Ví dụ như việc học Toán giỏi của học sinh bên Đông là một tấm gương cho các trường bên Tây noi theo.

      Vậy thì những gì hay trong nền GD của miền nam VN trước 75 có lẽ các bác trong bộ GD hiện nay cũng nên tìm hiểu để tham khảo và chọn lọc ạ!

      Số lượt thích

      • ôi em xin lỗi, khi nói không đúng là “học sinh VN ở bang Sachsen xuất thân từ miền Bắc VN”. Nói chính xác thì đó là các em có bố mẹ người Việt được nhà nước XHCN VN gửi đi học tập hoặc lao động, rồi theo luật định cư được ở lại sống và làm việc tại Đức ạ. Dĩ nhiên là có cả gốc Bắc, Trung và Nam!

        Số lượt thích

  5. Hãy tự do hoá, giúp cho con người “tự đào tạo”. Bầu không khí tự do, giúp tìm ra “luật” vừa chặt chẽ vừa văn minh tiến bộ với những người điều hành đất nước tài giỏi, có chí thiện. Con người là vốn quý, VNDCCH hay VNCH đều từng có một điểm chung đáng quý, cũng hướng đến tinh hoa, dân, dân tộc, khai phóng, quốc tế…

    Số lượt thích

  6. TS Nguyễn Thanh Liêm, vốn là Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục & Thanh Niên VNCH nên đủ uy tín để viết về lịch sử giáo dục miền nam từ 1954-1975. Nội dung bài viết này thiên về các diễn tiến về giáo dục ở những năm cuối (1970-1975) hơn. Một vài chi tiết cần chính xác hơn, chẳng hạn:

    – Giáo dục chuyên nghiệp có mặt ở bậc TH đệ nhất cấp (cấp 2) như trường Kỹ thuật, trường Nông Lâm Súc nhận học sinh học từ lớp 8.

    – Môn Chính tả chỉ học ở Tiểu học, ở TH đệ I cấp không còn học nữa.

    – Từ năm 1965 trở đi thì thời gian đào tạo sư phạm dạy Trung học đệ II cấp là 4 năm, TH đệ I cấp là 2 năm, có chương trình cấp tốc đào tạo giáo viên TH đệ I cấp là 1 năm + 3 học kỳ hè.

    – Viện Ðại Học Huế: 5 phân khoa: Sư phạm, Khoa học, Văn Khoa mở trước sau đó mới đến Y khoa và Luật khoa.
    – …

    Số lượt thích

    • Thêm một điều chỉnh nhỏ:
      – Thi Hương đậu thì có Cử Nhân (“Hương Cống”), còn nếu chỉ đậu 3 phần (rớt phần chót, tức phần 4) thì được gọi là Tú Tài. Tú Tài thì không được bổ ra làm quan (huyện) mà chỉ có thể dạy học, chơ khoa thi Hương sau. Nếu lần sau thi vẫn chỉ đậu Tú Tài thì đưọc gọi là Tú kép (như cụ Tú Xương)

      Số lượt thích

    • Năm 1968-1969, tôi đang học lớp 6 (Đệ Thất) trường Thánh Thomas (nhà thờ 3 chuông, Phú Nhuận) thuộc TH đệ nhất cấp. Tôi còn nhớ chúng tôi học Môn Việt Văn và vẫn phải viết chính tả. Đó là thầy giáo Nguyễn Văn Vinh (gốc người Bắc di cư). Chúng tôi rất sợ Thầy Vinh qua câu thầy dạy “Khi bị đòn, cấm nhăn, cấm khóc, phải cười duyên”. Vì khi bị đòn, cúng tôi nhăn, khóc, hay cười đều bị thầy đánh.Chắc các bạn có học qua Thầy Vinh, chắc vẫn nhớ kỷ niệm này.

      Số lượt thích

      • Đây chính là lối GD kỷ luật sắt khá phổ biến thời trước. Tôi học một thầy dạy tiểu học (lớp Một) từ thời Pháp. Thầy được trường phát thước kẻ dài hơn mét khá to cùng một thước chỉ tròn nhưng cả hai chiếc này đều gãy vì có một trò rất lì lợm. Chúng tôi không bị đòn những thấy đứa nào cũng xanh mặt ngồi im rất trật tự. Một chiêu khác của thầy là cầm tay trò đập xuống bàn. Lên lớp Hai cô giáo rất hiền, đứa nào quên không mang mực (bút sắt) cô cũng không mắng. Những đứa không mang mực tự lo việc xin mực nếu không được không viết bài lúc đó cũng không sao. Không hiểu sao cô không dạy cách cho trò san sẻ mực cho bạn. Nhiều đứa bài vở lem nhem viết bài có, bài không, và chúng chỉ thấy khổ khi hết học kỳ. Con của cô luôn được đứng đầu lớp nhưng chỉ giỏi có năm được mẹ dạy.

        Liked by 1 person

      • Xin viết bổ xung cho rõ hơn. Thầy dạy từ thời Pháp nhưng vẫn được dạy ở mái trường XHCN sau ngày tiếp quản Thủ Đô cho tới khi về hưu.

        Số lượt thích

    • Tôi học lớp 6 NK 1973-1974 tại Phan châu Trinh Đà nẵng vẫn còn viết chính tả anh à. Bởi vậy người được đào tạo trước rất hiếm viết sai chính tả

      Số lượt thích

  7. Chăm Học
    Xin cho em được ngày ngày đi học,
    Bước chân chim trong ánh nắng ban mai,
    Mắt long lanh với tuổi đời ngà ngọc,
    Nụ em cười là cả một thơ ngây.

    Xin cho em biết học tập yêu người,
    Yêu bạn bè, yêu tuổi trẻ chơi vơi,
    Yêu cô thầy như mẹ cha quý mến,
    Yêu mọi người như cùng mẹ Việt ơi!

    Xin cho em biết học tập đánh vần,
    Biết ca hát, biết hội họa, làm văn,
    Toán, lý hóa, chuyên khoa, cùng sử địa,
    Học làm người, em đứng dậy thành nhân.

    Xin cho em biết tự học suốt đời,
    Nuôi trong lòng một ý chí không ngơi,
    Kiến thức mới, tập tành cùng bè bạn,
    Nay chăm học, ngày mai sẽ giúp đời.
    phan như huyên
    18-10-2013

    Số lượt thích

  8. có cơ hội gặp những người tốt nghiệp đại học miền nam thời đó mới thấy họ thật sự giỏi, còn bây giờ mang tiếng học đh mà chuyên môn thì cứ ú a ú ơ

    Số lượt thích

  9. Tôi phải thừa nhận là các thày cô được đào tạo từ trước 1975 của miền Nam mà tôi được biết hầu như đều là những vị kiến thức uyên thâm, dạy giỏi. Song có những điều làm tôi thực sự là cảm thấy không thỏa mãn, mà sau này khi được học với thày cô của Pháp, thì tôi nghĩ là tôi hiểu hơn. Nhưng điều đó thực là rất khó diễn tả.

    Thứ nhất là có một sự phân biệt đối với tri thức và người học. Dường như là tri thức là cao quý và vì vậy mà chỉ có người học “tinh hoa” mới nắm bắt được nó, những người không được như vậy thì bị coi thường.
    Thứ hai là tôi cảm thấy thiếu một sự hào hiệp (générosité) trong việc họ truyền bá tri thức, dường như trong thâm tâm, họ muốn giữ riêng tri thức cho mình hoặc cho những người họ nghĩ là xứng đáng.
    Thứ ba là thiếu sự trao đổi (communication) về tri thức, về học thuật. Do vậy học sinh không được khuyến khích về việc “trao đổi” này, mỗi người khư khư ôm lấy bồ tri thức của mình.
    Thứ tư là, vai trò của ngoại ngữ hay văn học nước ngoài không được coi trọng như nó xứng đáng, thường người ta cố gắng Việt hóa nó.

    Những nhận xét trên đây, tôi nghĩ có liên quan chặt chẽ đến triết lý giáo dục của miền Nam trước 1975, mà tôi thật sự không đồng tình về nhiều điểm. Tôi xin suy nghĩ thêm rồi sẽ trình bày sau.

    Số lượt thích

    • Thưa GS Ngô Bảo Châu, GS ký cái “Tuyên bố Về Thực thi Quyền Dân sự và Chính trị” thật đấy ạ? Dạ theo em thì GS làm gì cũng đúng, nhưng mà đọc comments của các vị mừng rỡ ủng hộ GS, giọng điệu thật là tham lam sân si, lỗ mãng hằn học, chửi bới tung tí mẹt cả lên, mà vị nào cũng tự xưng là trí thức, thì em hãi quá, lại muốn chắp tay vái GS vài cái, “dục tốc bất đạt”, xin GS đóng góp phát triển giáo dục!

      Số lượt thích

    • Về triết lý giáo dục của VNCH, tôi thấy cái thiếu sót lớn lao nhất của nó là thiếu tính nhân hậu, còn thiếu như thế nào thì tôi lại phải từ từ nghĩ tiếp. Tôi cũng khá băn khoăn vì điều ấy , vì trong lòng tôi, những người miền Nam như tôi biết, đặc biệt là phụ nữ, có nhiều phẩm chất này. Tôi có một giả thuyết rằng đó là do vai trò của phụ nữ không được coi trọng.

      Điều này dẫn tôi đến một suy nghĩ lớn : thậm chí ngay cả thời nay, ngay cả những vị được hưởng nền giáo dục của VNCH, ngay cả khi các vị ấy đã được sống và học tập làm việc ở những xứ văn minh bậc nhất, thì thực ra các vị ấy trong thâm căn cố đế của mình vẫn không hề thay đổi. Các vị ấy đã, đang và có vẻ như là sẽ không bao giờ dành cho phụ nữ một chỗ đứng ngang bằng họ. Và đó là điều đáng tiếc, bởi vì muốn dành tự do, độc lập thì phải đánh nhau, nên cần đàn ông, còn muốn ấm no, hạnh phúc, thì phải cần phụ nữ.
      Tôi gởi comment này rồi viết tiếp.

      Số lượt thích

      • Em cũng đồng ý một phần với chị, nhưng nghĩ lại thời ấy nước ta mới thoát khỏi chế độ phong kiến. không chỉ riêng các vị ấy mà hầu hết xã hội đều còn mang nặng tư tưởng trọng nam kinh nữ.

        Số lượt thích

    • Cho nên tôi thấy mọi người lại đang cuống lên đòi dân chủ, như thể không có dân chủ thì họ chết ngay ! Thế mà xưa nay họ vẫn sống tốt ở nước ngoài, và nếu xảy ra ngay lúc này một cuộc chiến tranh với Trung Hoa, thì cũng chẳng phải là họ sẽ ra chiến trận.

      Dân với lại chả chủ. Chính là các vị ấy muốn làm chủ và ngồi lên đầu lên cổ chúng tôi thì có !Tôi thì thấy rằng nếu muốn có một cải cách lớn lao và ngay lập tức, thì đó là phải chia cho phụ nữ một nửa, hoặc chí ít là 2/3, số ghế trong mọi tầng lớp lãnh đạo, mọi cơ quan giáo dục, mọi trường học và trường đại học, vv. đó sẽ là thay đổi sâu sắc nhất và hiệu quả dễ thấy nhất. Tôi cũng xin lưu ý là, do phải sống và làm việc trong một môi trường rất kém thuận lợi cho sự phát triển của mình, những người phụ nữ với trình độ ngang đàn ông, thực ra phải có một nội lực vượt xa họ để đạt được những điều ấy.

      Cho nên là chừng nào mà các vị còn chèn ép phụ nữ -đã gần 90 năm rồi kể từ khi ông Nguyễn An Ninh nhận xét rằng ai ai thì cũng do phụ nữ sinh ra, lấy đâu mà chê đó quý đây hèn! -, thì tôi thấy rằng các vị còn phụ lòng ông ấy, còn phụ lòng tướng Giáp và nhiều trí sĩ thực sự khác. Và tôi thấy rằng Cộng sản cũng chưa phải là tồi, vì họ đại diện cho số đông dân chúng (dân chúng ngu thì họ cũng ngu thôi), và họ ca ngợi phụ nữ chúng tôi là “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

      Số lượt thích

      • Ôi, dững là “ngu”. Mạnh mẽ quá. Có vẻ bạn đang cuống lên để họ khỏi đòi mất cái dân chủ gì gì đó.
        Họ comment thế là bởi họ sống trong nước còn bạn ở nước ngoài không hiểu được nỗi khổ của họ. Ngoài ra cũng có vài kẻ nước ngoài muốn nhân nước đục thả câu nên cũng vào mấy cái diễn đàn đó hăng lên.
        Nhưng đại khái nếu bạn sống trong nước nhìn thấy mình và mọi người nghèo đi dần dần; tài nguyên và môi trường cạn đi dần dần mà không phát triển những công nghệ gốc thì bạn phải nóng lên. mà 10 năm bức bối thì bạn có lẽ còn comment dữ dội hơn nhiều.
        về cái vnch và pháp bàn sau. (nghĩ từ từ đã 😉 )

        Số lượt thích

      • Xin lỗi, 1/3 ạ.

        Số lượt thích

      • Không phải vì các bác nóng và bức bối mà các bác bắt tất cả mọi người nháo nhào lên, làm những việc không phải của họ! Việc của trí thức, theo tôi là chăm chỉ học hành nghiên cứu, phổ biết kiến thức của mình cho người khác và cho dân chúng với. Dân chúng đã “ngu”, khổ sở, ít học, mà các vị trí thức “khôn” hơn người các vị ấy chỉ muốn làm cha thiên hạ thì thôi tôi cứ xin “ngu si hưởng thái bình”.

        Số lượt thích

      • Tôi đồng ý với bạn. Tôi nhìn thấy trong LH một nỗi băn khoăn, không, một sự giận dữ, về lối sử sự của người mình, của những người gọi là lãnh đạo. Nhưng nghĩ lại, cũng là oan cho họ. Ở nước ta, đại loại, có hai luồng văn hóa: Ảnh hưởng của Tây (chưa ra Tây!) và ảnh hưởng của Tầu (khá sâu đậm).

        Khi tôi còn bé, đã được học: Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh là câu trau mình. Chữ Hiếu và Trung, ảnh hưởng lên chúng tôi rất mạnh mẽ. Về con trai, cha bảo chết, mà con không chết là bất hiếu. Vua chém đầu, mà cưỡng lại là bất trung. Còn con gái, thì tam tòng tứ đức, công dung ngôn hạnh, bé theo cha, lớn theo chồng, già theo con. Quả là chúng ta không được tự do và dân chủ.

        Luồng tư tưởng thứ hai: Dân chủ và cộng hòa, bắt đầu từ văn hóa Hy lạp và La mã, kết hợp với ảnh hưởng Kitô giáo, đè đầu đè cổ người dân ở Âu châu suốt ngàn năm, đến thời Phục hưng và Cải cách thế kỷ thứ 15 và 16 trở đi, nhiều nhà cách mạng đã nổi lên như Luther, rồi John Locke, J J Rousseau, Voltair, Montesquieu. Phong trào mới, loan truyền khắp thế giới, trước là sang Mỹ châu, khiến nước Mỹ đòi độc lập, rồi dần dần sang các nưóc Á châu. Từ đó tư tưởng tự do và bình đẳng nổi lên.

        Tuy thế, ngay ở Tây phương, tự do và bình đẳng cũng chưa hoàn toàn. LH thử xem lại việc bầu cử đi. Ở bên Anh, Pháp, Mỹ, và Việt Nam: Khi nào thì phụ nữ được phép đi bỏ phiếu? Cho đến bây giờ, nước Mỹ vẫn còn la lối phải bình đẳng về phái tính, mầu da, tuổi tác, tôn giáo, đảng phái. Nhưng đã thực sự bình đẳng chưa?

        Thế rồi, điều gì cũng có mặt trái của nó. Tôi biết, cái gì … đến tận cùng, thì nó sẽ bung. Tuy nhiên, tôn trọng phụ nữ vẫn là điều tốt trong xã hội. Tôi học theo Lão Tử, chứ không theo Khổng Tử hết đâu, LH ạ! Theo Lão Đam, Đạo là Mẹ của vạn vật. Mẹ chứ không phải cha. Theo mẹ thì ăn cơm với cá, theo cha thì chỉ có liếm lá gặm xương. (Trước khi gởi đi, tôi còn thêm ý nghĩ này nữa. Bản tính của phụ nữ là tình thương, thương con thương chồng. Đôi khi, thương quá đến nỗi hơi bất công với người khác đấy, LH ạ.)

        Số lượt thích

      • Bạn không không bình thường chút nào!

        Số lượt thích

  10. Bạn LH xin “ngu si hưởng thái bình” nhưng bạn lại nói năng mạnh bạo quá. Liệu có thái bình chăng?
    Nếu bạn bảo bởi đã cố “ngu si” rồi mà vẫn không “thái bình” nên mới phải lên tiếng thì cũng vậy, mấy người mà bạn kêu ca ấy cũng có lí do hoàn toàn giống bạn. Họ đã cố ngu si không phải vài ngày như bạn mà là 10 năm rồi.
    Họ ký cái “Tuyên bố Về Thực thi Quyền Dân sự và Chính trị” là cố tỏ ra nhẫn nại đấy.

    HTN: Các bạn có thể dừng thảo luận này lại được rồi, vì chả liên quan trực tiếp gì đến HTN.

    Số lượt thích

    • vâng.

      Số lượt thích

    • Lại cái ông HTN khôn ngoan tài giỏi! Thế liên quan gián tiếp thì ông không cho chúng tôi thảo luận à? Chúng tôi đang nói đến dân chủ, tức là đến giáo dục. Phải có giáo dục mở mang văn minh thì mới có dân chủ. Chỉ khi nào văn học nghệ thuật khởi sắc thì mới mơ đến những tư tưởng lớn. Tôi thấy ngay ở cái site này, có cái comment mà tôi chỉ muốn xóa đi ngay (mặc dù tôi không bao giờ làm thế !!) Bạn ấy nói đại khái là chỉ sợ nước ta nhiều nhà văn quá ! Thật là lắm cái nỗi sợ kỳ dị! Tôi cho rằng chừng nào nhà văn nhà thơ, họa sĩ nhạc sĩ … đầy đường, thì lúc ấy chúng ta mới nên ký vào cái Tuyên bố làm cho bao kẻ thô lậu vui mừng ấy!

      HTN: Bạn có thể tự mở một trang web (việc này không quá khó) để thảo luận bất cứ những gì bạn thích, và xóa bất cứ những gì bạn không thích.

      Số lượt thích

  11. Bạn LH này. Theo hiểu biết của tôi, ở châu Âu trước đây sự phân biệt giai cấp rất sâu sắc. Tầng lớp quy tộc hầu như rất coi thường những đối tượng ở địa vị thấp hơn mình. Đặc biệt là các nhà khoa học thời ấy cũng được xếp vào hàng quý tộc.
    Khi họ sang xâm lấn VN, trước hết là ở Nam Bộ, họ mang theo những tư tưởng ấy (bởi kẻ có địa vị cao mới đủ sức đi xâm lược, dân quèn chưa thấy ai xâm lược bao giờ). Đến nơi, trước những người yếu hơn họ về quyền lực, về sức mạnh quân sự, về cái gọi là khoa học, những tư tưởng ấy được mảnh đất màu mỡ để phát triển. Rồi nó lan sang tầng lớp quý tộc Việt (những kẻ thần phục). Tư tưởng ấy cộng hưởng với sự phân biệt giai cấp của chế độ phong kiến (thứ biến thái từ đạo Nho) mà trở nên cực đoan và dấu ấn là cái VNCH bạn đã nói.
    Còn khi bạn học ở Pháp, là thời sau này qua nhiều máu và nước mắt của chính dân Pháp (dân pháp rất tích cực), thì hiển nhiên là sự phân biệt là rất nhạt.

    Số lượt thích

    • Tôi nói thêm điều này rồi sẽ đi nghỉ ngơi cho bình tĩnh lại theo lời khuyên của bạn Thanh Hải, để ngày mai nói tiếp. Khi mà trong thế kỷ thứ XVIII ở Pháp, các nhà tư tưởng lớn như Rousseau, Voltaire, Diderot… làm mọi cách để truyền bá tư tưởng của họ, trong một đất nước nghèo và không giáo dục là nước Pháp, thì cuối cùng đã dẫn đến cuộc CM 1789, và sau đó còn thêm vài cuộc CM đẫm máu khác. Napoléon 1er đã mở ra các trường Trung học hồi đầu thế kỷ 19, chỉ dành cho nam sinh, đến khoảng 1880, mới có trường cho nữ sinh, cũng như là mở thi tuyển giáo viên (tức là khoảng 100 năm sau CM Pháp), thì kể từ lúc đó nước Pháp mới ổn định phát triển và văn minh cho tới ngày nay (mặc dù phụ nữ Pháp chỉ mới được đi bầu cử từ năm 1944, tức là gần như đồng thời với Việt Nam ta, hoan hô Cộng sản và bác Hồ, bác Giáp!)

      Số lượt thích

  12. bình tĩnh lan hương ơi! Người Đức có câu “In der Ruhe liegt die Kraft!” ( True strength comes from calmness).
    Bởi vì khi có nhiều bức xúc thì con người có xu hướng đi theo 2 lối tiêu cực đối lập nhau. Một là khép kín mình lại, tự gặm nhấm nỗi đau, rồi sau tự cô lập mình và dẫn đền hủy hoại bản thân. Hai là tức nước vỡ bờ, nhịn không được thì nói cho bõ … tức, chứ chẳng thuyết phục được ai. Cả hai lối phản ứng và hành động này đều tiêu cực vì thiếu sự suy nghĩ thấu đáo (được gì, mất gì, lợi cho ai, hại cho ai vv…) và không hiệu quả.
    Peaceful revolution ở Đông Đức là một ví dụ tiêu biểu cho một sự thay đổi chế độ một cách hiệu quả mà không phải đổ máu (cả hai phe Đông và Tây). Điều này đòi hỏi sự nhân nhượng, sự hiểu biết và …”lòng nhân hậu” của giới lãnh đạo của cả hai phe. Nghĩa là họ nghĩ đến người dân đầu tiên trước khi cân đong đo đếm cái lợi ích kinh tế, chính trị của mình. Nếu số đông dân chúng mong mỏi một sự tự do và dân chủ thì đến một lúc giới lãnh đạo cũng phải nhượng bộ và vào bàn thương lượng vì họ nhận ra rằng sức mạnh quần chúng là vô biên, không một thế lực nào cản được. Tuy nhiên, để có được một peaceful revolution như thế này, và tránh không bị một bloody revolution như ở thế giới Ả Rập, thì quần chúng phải biết phân biệt được thế nào là “tự do” (freedom) và thế nào là “làm loạn” (rebel) kiểu vô tổ chức. Do vậy, các trí thức yêu nước và tiến bộ nên tiếp cận vấn đề một cách peacefully bình tĩnh, thấu đáo, biết nhún mình (lùi một bước để có thể tiến hai bước), thì lời nói mới có sức thuyết phục và hành động mới có kết quả. Căn bản vẫn là cái tâm! Tự hỏi xem mình làm vì lợi ích cá nhân là nhiều hay vì lợi ích của số đông nhân dân là chính!

    Để bớt không khí căng thẳng, tặng các bác và các bạn một câu triết lý rất hay và vui lấy từ trên internet xuống ạ:

    If women ruled the world, there would be no wars
    Just a bunch of jealous countries not talking to each others!

    Số lượt thích

  13. Nếu được phép sửa lại phần triết lý giáo dục của VNCH, tôi xin sửa như sau :

    Thứ nhất: Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản (humanistic education)–) Tôi sửa thành “Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản (humanistic education) trong tình thương giữa người với người”, và tôi bỏ đi cái phần so sánh con người với con vật, nó vừa xấu vừa vô dụng, chỉ làm tăng thêm sự vô cảm thậm chí tàn ác với loài vật, và sẽ dẫn đến sự vô cảm với con người.

    Thứ hai: Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc (nationalistic education)–) Tôi sửa thành : “Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc (nationalistic education) trong tình thân với các dân tộc khác trên thế giới”.

    Thứ ba: Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng -) Tôi sửa thành : “Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng trong ý thức về sự bình đẳng giữa con người”.

    Số lượt thích

    • Bạn thương cả loài vật vậy mà bạn ca tụng kẻ giết những con người nào không theo họ, không phục tùng họ. vậy con người bạn mâu thuẫn quá, nên kiểm tra lại thần kinh của mình.

      Số lượt thích

  14. Thấy các bác viết nhiều phản hồi hay quá, nhớ lại nền giáo dục xưa, tôi ghi lại bài học thuộc lòng này để các bác đọc lại cho vui:

    Sách quốc ngữ
    Chữ nước ta,
    Con cái nhà,
    Đều phải học.
    Miệng thì đọc,
    Tai thì nghe,
    Đừng ngủ nhè,
    Chớ láu táu,
    Em lên sáu,
    Đang vỡ lòng,
    Học cho thông,
    Thầy khỏi mắng.

    Nói về cái sự học thời trước, so với nay chưa biết hay dở thế nào, nhưng chí ít tôi thấy nó nền nếp, quy củ, không thay đổi liền tù tì như bây giờ. Mà theo thiển ý tôi, giáo dục thì trước hết phải có tính nền nếp, mất cái tính ấy đi, thấy nó loạn đả cả lên, cứ như ở chợ.

    Số lượt thích

  15. Tôi có được may mắn khi được học bậc tiểu học và trung học đệ nhất cấp trước năm 75. và chí ít tôi cũng được học, được rèn từ nền tảng GD ngày đó qua Thầy cô của chúng tôi. thuở bé tôi nghĩ chắc tại mình học trong Trường Dòng mới vậy, nhưng về sau thì tôi hiểu thời bấy giờ bất cứ trường nào cũng đều có chung một nền tảng Gd như nhau cả. Cũng đều dựa trên 3 nguyên tắc mà các anh, chị nêu trên.Là thế hệ đi trước,tôi và các anh chị thử nghĩ xem, lớp trẻ ngày nay đối với sự học ra sao ? có tốt hơn chúng ta không? nền giáo dục có ảnh hưởng và chất lượng hơn chúng ta không? trình độ hiểu biết, đạo, đức của lợp trẻ ngày nay có thua kém với chúng ta không? là người đi trước chúng ta ít nhiều gì cũng sẽ buồn nếu họ (lớp trẻ ngày nay) không may mắn được thụ hưởng một nền gd tốt, và ngược lại chúng ta sẽ cảm thấy vui biết bao nếu họ ( lớp trẻ ngày nay) đạt được nhiều thành tựu hơn chúng ta.

    Với tôi có một điều khiến cho tôi luôn buồn và thất vọng đó là : Đạo đức của các em ngày nay tệ quá! Tôi không hiểu các em học thế nào, GV dạy thế nào ? mà hs bây giờ có khả năng ứng xử, nhận thức quá kém để rồi dẫn đến những hành động thật tệ hại : Đánh nhau , quay video phát tán trên mạng, nữ đánh nữ, nam đánh nam… ; trò đánh thầy, cô phụ huynh cũng đãnh thầy cô, thậm chí HT, GV lạm dụng, quấy rối nữ sinh, Hs nam nữ đua nhau vào nhà nghỉ……

    Điều tôi nói là nhìn trên mặt bằng chung, chứ không phải là không có hs tốt, giỏi, nhưng chỉ là đếm trên đầu ngón tay thôi. Khi còn đi dạy tôi có may mắn một điều là các em hs của tôi nói giỏi hết thì không đúng, nhưng sau 20 năm gặp lại, có em thì thành đạt, có em không may mắn dường học vấn dở dang, nhưng bù lại em nào cũng có một đời sống tốt đẹp. đấy chính là hạnh phúc nhỏ nhoi mà tôi có được.

    Chưa hết….
    Những năm gần đây chắc quý anh chị cũng biết nạn học thêm, học phu đạo, học ngoài giờ…. khiến hs không còn thời gian rỗi, đó là chưa kể việc phụ huynh vì sợ con em mình thua kém con người ta nên bắt con học ngoại ngữ vào buổi tối…
    Học đã nhiều vậy đấy, thế nhưng khi để làm một bài văn thi,hs phải học thuộc lòng bài văn mẫu của gv cho. nếu không thì sẽ có điểm yếu. đây là vấn đề mà chúng ta cần suy nghĩ.

    Nếu chương trình GD hiện nay không thay đổi liệu 10 năm, 20 năm sau sẽ thế nào? Nhân tài sẽ làm được gì hay chỉ là nhưng tấm bằng do mua bán mà có?
    sau 37 năm chúng ta có được niềm vui thống nhất đất nước, nhưng lại kèm theo một nỗi buồn gd đã đi chệch hướng nhiều quá…. Thé thì đừng hỏi tại sao GC ngày nay không có phẩm chất tốt Tất nhiên tôi không vơ đũa cả nắm. nhưng nhiều ít gì cũng đã có xảy ra.

    Quý anh chị nghĩ thế nào ? có một em nữ sinh lớp 8 đến chia sẻ với tôi
    Cô dạy Hóa của em đã phát biểu với cả lớp đặc biệt với nhưng em yếu kém môn Hóa :
    đại khái là ” ….Bà nào ngán học thì cố mà ngồi cho hết năm nay, sang năm ra đứng đường cũng có SH mà đi không cần học…”

    Mới đây lại một em nũ sinh lớp 7 cũng chia sẻ với tôi : ở trường em hiện có một Thầy Giám thi bạo hành với học sinh của trường……
    nghe được nhưng điều này, tôi thấy mình thật sự hạnh phúc và may mắn đồng thời cũng lấy làm buồn và thương cho các em. Thế mới nói : Trẻ con khong có lỗi. mà chính người lớn chúng ta mới là nguyên nhân làm khổ cho trẻ con và đừng đỗ lỗi cho trẻ….
    Xin cảm ơn đã cho saobien_dem được chia sẻ.

    Số lượt thích

  16. Có bạn nào biết mình có thể mua quyển sách của GS Nguyễn Thanh Liêm ở đâu không ạ? Xin cảm ơn! Cường

    Số lượt thích

  17. Năm nào chúng ta cũng nghe đổi mới giáo dục thay đổi sách giáo khoa….vậy mà 40 năm nay từ sau 1975 nền giáo dục đào tạo toàn những người dối trá, làm ăn chụp dựt, móc ngoặc tham nhũng!!!!!! tạo sao vậy vì ko có triết lý giáo dục để định hướng đào tạo. Ngay cái tên Bộ giáo dục cũng thay đổi xoành xoạch! Chúng ta hãy nhìn lại quý vị lãnh đạo học hành ra sao nhé: trước 1975 lo đi chiến đấu có học được chữ nào bao nhiêu đâu, sau 1975 vừa làm vừa học, ngày đi làm chiều đi nhậu tối đi học, một năm 2,3 lớp cái này trong miền Nam hồi trước 75 gọi là “Bình dân học vụ” chĩ sau mấy năm quý vị tốt nghiệp trung học với cái tến là Bổ túc văn hóa”. Sau đó học đại học tại chức, quý bạn biết câu: “dốt như chuyên tu, ngu như tại chức” ko? Chuyên tu là tầng lớp miễn đi làm nhưng vẫn hưởng lương để đi học. sau mấy năm chiều nào cũng dẫn thầy đi nhậu cũng lấy được bằng cử nhân và cứ thế tiến thẳng tiến mạnh lên Thạc sỉ, Tiến sỉ!!!!!!!! cái này hồi xưa người ta gọi là “hữu danh vô thực” đấy các bạn ạh! Về thầy giáo thì các bạn chắc chưa quên câu:”Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” điều ấy nói lên rằng học sinh kém ko biết vào đâu nên phải vào sư phạm như vậy trình độ thầy giáo như thế nào rồi! thầy như vây thì làm sao trò giỏi được. Trong miên Nam học sư phạm là những sinh viên ưu tú, học giỏi mới thi vào vì có nhiều ưu đải, học miển phí, ra trường được bổ nhiệm đi dạy khỏi phải đi lính v/v…đôi điều để thấy rằng thành quả của nên giáo dục “định hướng xã hội chủ nghĩa” nó ưu việt ra sao.

    Số lượt thích

    • xin lỗi bạn nhưg mình thấy những tiêu cực đó không thể đổ cho nền giáo dục “định hướng xã hội chủ nghĩa” được vì vốn dĩ nó không có gì sai trái chỉ có những người đã và đang làm những việc sai trái mà thôi..!

      Số lượt thích

  18. Tôi ít đọc comment, nhưng đọc cmt của ông/ bà Lan Huong thấy người này thật tội nghiệp. Có lẽ sống trong ảo tưởng lâu ngày sinh mặc cảm, viết thì không kiểm soát, ý tưởng nhập nhằng. Đầu óc ấy muốn hiều cái gì khác hơn giáo dục hiện tại cũng khó. Còn những người như LH thì đừng mong giáo dục phát triển. Thương hại thay.
    Valenkira thì cho là nền giáo dục “định hướng xã hội chủ nghĩa”, đúng là ếch ngồi đáy giếng. Đúng là “đỉnh cao trí tuệ” loài (vượn) người.
    Nguyen: bạn thật thông minh.

    Số lượt thích

    • Bạn sean tran này mới chính là người sẽ làm cho giáo dục phát triển đây, hí hí. Nguyen được khen sướng nhé hehehehe

      Số lượt thích

    • mình xạo đấy, sean tran đừng sướng lên mây xanh mà vỡ mộng ;-d cãi nhau vặt ở đây như sean tran với mình thì chỉ là hạng tép riu thôi . muốn làm phát triển giáo dục thì phải là các ông nghiêm trọng, oai vệ, láng o láng bóng như trong buổi đối thoại giáo dục ở trên vtv ấy

      Số lượt thích

  19. Việt Nam có câu “nói có sách, mách có chứng” nhưng bài này nói trích từ tài liệu của GSTS Nguyễn Thanh Liêm mà lại chẳng cho biết tài liệu tên gì, nguồn từ đâu, xuất bản năm nào v.v… Viết như vậy là phản tiêu chuẩn nghiên cứu dẫn chứng của giáo dục văn minh hiện đại. Tác giả viết mà không có trách nhiệm với độc giả, nhất là đối với giới nghiên cứu.
    Nếu có thể, xin tác giả vui lòng cung cấp thông tin tài liệu của giùm cho. Cảm ơn nhiều.

    Số lượt thích

    • Đồng ý, HTN trích dẫn mà không nói nguồn là 1 sự thiếu sót. Tôi cũng hơi tò mò vì các thông tin trong bài khá chính xác, như tôi đã từng trải qua. Nên tôi vào website của ban Liên Lạc cựu học sinh trường Petrus Ký là nơi ông từng là Hiệu trưởng, tìm ra được bài của Nguyễn Vĩnh Thượng, xin chia sẻ: http://www.petruskylhp.org/ngthanhliem.htm

      Lời nói đầu :
      Vào lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật 21 tháng 11 , năm 2010, tại trụ sở Đài truyền hình VHN, ở California, Hoa Kỳ, Văn Đàn Đồng Tâm, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và Đài truyền Hình VHN đã tổ chức lể vinh danh G.S Nguyễn thanh Liêm , vừa tròn 78 tuổi , đồng thời cũng là lể ra mắt quyển sách : ” Kỷ Niệm về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm , Nhà Văn Hoá Giáo Dục Nhân Bản Việt Nam ” do Văn Đàn Đồng Tâm xuất bản. Cuốn sách này , dày 422 trang , là một tuyển tập có trên 40 bài viết của 38 tác giả như : T.S Nguyễn xuân Vinh, Doãn quốc Sỹ, Lâm văn Bé, Trần thành Minh, Trần việt Hải , Nguyễn viết Sơn, Nguyễn trung Quân, Mguyễn văn Sâm, T.S Phạm cao Dương , T.S Trần văn Đạt, T.S Nguyễn hữu Phước , T.S Nguyễn văn Bon, Lê văn Khoa v..v.. và tôi.

      Trong buổi lể ra mắt sách nêu trên, T.S Thy Dung đã giới thiệu : …” Giá trị của quyển sách này không bởi các bài viết do những người nổi tiếng trong lãnh vực văn học , nghệ thuật , nhưng điều đáng trân quý ở đây là nội dung các bài viết đều thấm đượm tinh thần kính trọng , ngưởng mộ, yêu mến và biết ơn G.S T.S Nguyễn thanh Liêm …”

      Báo điện tử “Viển Đông Daily News” đã tường thuật buổi lể nói trên và nhận định về quyển sách nêu trên có đoạn viết :
      ” … Tác giả Nguyễn vĩnh Thượng có bài viết khá dài , trong đó tác giả xác định G.S T.S Nguyễn thanh Liêm là ” Nhà văn hoá giáo dục nhân bản Việt Nam ” qua các tiểu mục : Người có chí tiến thủ – Nhập thế hành động- Nhà hành chánh thanh Liêm, khoan dung và giàu tình thương – Một người con có hiếu, một chánh khách trung thành với chế độ Việt Nam Cộng Hoà – Triết lý giáo dục của VNCH – Một vì sao sáng trên vòm trời văn hoá dân tôc. ”
      …….

      Số lượt thích

  20. sao không có minh chứng và ví dụ hả ad . . . về tài liệu giảng dạy, chương trình chính thức các bậc học, các ngành nghề học . . .

    Số lượt thích

  21. Tôi rất tâm đắc với nhận xét này “Sang Đệ Nhị Cộng Hòa, đời sống bắt đầu mắt mỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng. Tuy vậy lúc nào nhà giáo cũng vẫn giữ vững tinh thần, và tư cách nhà mô phạm, từ cách ăn mặc thật đứng đắn, đến cách ăn nói giao tiếp với phụ huynh học sinh, và cả với giới chức chính quyền địa phương. Dù gặp hoàn cảnh khó khăn đến đâu, nhà giáo cũng hết lòng với sứ mạng, vẫn làm đúng lương tâm chức nghiệp của mình.”

    Số lượt thích

  22. Thông tin viết về các Trung tâm giáo dục chưa chính xác (năm thành lập lẫn tên của Trung tâm ở Đà Lạt và Nha Trang không đúng).

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: