How We Learn

Giáo dục đại học có phải là một thị trường? Phạm Hiệp

Đó cũng là một trong những chủ để mà ba vị khách mời (GS. Ngô Bảo Châu, Đại học Chicago; PGS. Trần Ngọc Anh, Đại học Indiana tại Bloomington và PGS. Đỗ Quốc Anh, Học viện Khoa học Chính trị Paris) thảo luận rất sôi nổi trong chương trình Đối thoại Chính sách phát sóng trên VTV1 ngày 13/8 vừa qua. Trong khi PGS. Ngọc Anh cho rằng giáo dục đại học (GDĐH) đúng là một thị trường thì GS. Châu lại có quan điểm ở chiều ngược lại; còn PGS. Quốc Anh dường như có quan điểm trung dung ở giữa 2 người đồng nghiệp.

Trong thực tế, đây cũng là một trong những chủ đề nóng được giới nghiên cứu và quản lý GDĐH trên toàn thế giới thảo luận sôi nổi trong suốt hơn 20 năm qua. Và cũng như kết quả tại buổi đối thoại giữa GS. Châu, PGS. Ngọc Anh và PGS. Quốc Anh kể trên, câu trả lời cho vấn đề này, ở phạm vi quốc tế, cho đến nay vẫn chưa thực sự ngã ngũ.

Một cách ngắn gọn, có thể chia các ý kiến đánh giá về chủ đề này theo “2 trường phái”: ủng hộ và chống với hai đại diện tương ứng tiêu biểu nhất là các nhà nghiên cứu cho World Bank và UNESCO.

Từ góc độ kinh tế, World Bank định nghĩa một loại hàng hoá là tư nhân (tương ứng với thị  trường) nếu thuộc tính hàng hoá đó thoả mãn hai điều kiện (i)  tính “loại trừ” – excludable (chỉ những người trả tiền mới được sử dụng hàng hoá) và tính “cạnh tranh” – rival (việc người này sử dụng hàng hoá kéo theo việc người khác không sử dụng được hàng hoá đó). Ví dụ: bánh mỳ là một loại hàng hoá tư nhân bởi ai có tiền thì mới mua được nó và khi người này mua một chiếc bành mỳ rồi thì người khác sẽ không thể mua lại được nó nữa. Ngược lại, sự bảo vệ của quân đội, tài liệu, sách báo online miễn phí truy cập qua các máy tính tại các thư viện lại là hàng hoá công cộng vì người không có tiền cũng có thể được thụ hưởng những loại hàng hoá đó; đồng thời việc sử dụng hàng hoá đó của người này không ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của người khác. Từ cách phân loại này, GDĐH, theo World Bank là hàng hoá tư nhân bởi sinh viên vẫn phải đóng học phí và số ghế trong giảng đường đại học thì hữu hạn.

Từ góc độ xã hội, UNESCO có quan điểm ngược lại. Theo UNESCO, GDĐH là hàng hoá công vì nó có “tác động ngoại biên” – externalities lớn; tức là, một người được học không chỉ đem lại lợi ích cho bản thân người đó (thu nhập cao hơn, hiểu biết hơn) mà còn đem lại tác động “dương tính” (tốt) cho cả xã hội thông qua việc người đó hành động có trách nhiệm hơn, năng suất lao động tốt hơn, ít phụ thuộc vào trợ cấp xã hội hơn…. Một khía cạnh khác khiến những người theo “trường phái UNESCO” tin rằng GDĐH không phải thị trường là ở chỗ GDĐH có tính phi đối xứng thông tin cao – asymmetric information; tức là, GDĐH khác các hàng hoá tư nhân ở chỗ người tiêu dùng (sinh viên) không có khả năng và điều kiện đánh giá về chất lượng thực của hàng hoá (GDĐH) trước, trong và thậm chí là trong một khoảng thời gian nhất định sau khi đã kết thúc việc tiêu dùng (học xong, lấy bằng). Chính vì vậy, GDĐH cần phải có sự can thiệp của nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng (sinh viên).

Thực tiễn GDĐH thế giới 20 năm qua dường như đang “ủng hộ” quan điểm của World Bank, thể hiện rõ nhất qua việc chỉ còn rất ít nước (chủ yếu là tại Tây Âu) vẫn duy trì hình thức bao cấp học phí cho sinh viên. Các nhà khoa học theo trường phái World Bank phản bác lại hai luận cứ của UNESCO. Theo họ, GDĐH đúng là có tác động ngoại biên nhưng rõ ràng lợi ích cá nhân của một người tốt nghiệp đại học vẫn lớn hơn nhiều so với lợi ích cộng đồng mà tấm bằng của anh/chị đó đem lại[1]. Về tính thông tin phi đối xứng, những người theo trường phái World Bank thừa nhận tính chất này nhưng cũng cho rằng nó đang mờ nhạt dần đi trong GDĐH so với các bậc học khác bởi người tiêu dùng (sinh viên) ngày nay, cùng với hỗ trợ của internet đã trở nên hiểu biết và có khả năng đánh giá tốt hơn rất nhiều so với ngày xưa (PGS. Ngọc Anh cũng nói quan điểm này trong chương trình Đối thoại chính sách vừa qua).

Tuy vậy, xu hướng GDĐH chuyển dịch từ hàng hoá công sang hàng hoá tư trên phạm vi toàn cầu hơn 20 năm qua không phản ánh sự thay đổi quan điểm của các nhà quản lý và làm chính sách GDĐH (những người là vốn được thụ hưởng nền GDĐH công khi còn đi học và do đó, một cách rất tự nhiên bị thấm nhuần bởi trường phái UNESCO)[2]. Ngược lại, dường như sự chuyển dịch này lại bắt nguồn từ một nguyên nhân khác: đó là do sự gia tăng rất nhanh của “bên cầu”. Nói cách khác, sự bùng nổ dân số, cộng với yêu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế tri thức đã tạo ra nhu cầu ngày càng tăng từ phía người dân đối với GDĐH, đến mức, không còn nhiều chính phủ còn đủ sức bao cấp toàn bộ chi phí cho sinh viên ở bậc học này. Chính sách học phí buộc phải được ban hành, mặc dù, trong phần lớn các trường hợp đó không phải là ý muốn của các nhà làm chính sách.

Các tiếp cận bị động này, thoạt nhiên không gây nên quá nhiều hậu quả sau khi chính sách bao cấp học phí mới được xoá bỏ. Bởi trong thời gian đầu, nhu cầu đi học từ phía người dân vẫn chưa thật nhiều, học phí ban hành vẫn ở mức thấp và quan trọng hơn cả, chất lượng đào tạo vẫn chưa bị xói mòn trầm trọng. Tuy vậy, sau một vài chục năm, tất cả những vấn đề kể trên ngày càng lộ ra nhiều hơn, đa dạng hơn và phức tạp hơn. Nhưng các nhà làm chính sách, như phân tích ở trên, vốn bị ảnh hưởng sâu sắc bởi quan niệm GDĐH là hàng hoá công nên trong nhiều trường hợp, không đưa ra được các chính sách, biện pháp hoặc cách lý giải hiệu qủa theo cách làm, công cụ của thị trường cho những diễn biến mới của thị trường GDĐH đã được hình thành và phát triển ngày càng nhanh và đa dạng.

Thực tế trên, dường như, cũng xảy ra với chính GDĐH ở nước ta trong gần 30 năm qua.

Điều này được phản ánh qua việc chúng ta chần chừ gỡ trần học phí mặc dù biết Nhà nước không thể đầu tư hơn nữa; hay việc chúng ta vội vàng cho dừng 207 chương trình đào tạo bằng một quyết định hành chính thay vì sử dụng kết quả của một chương trình đánh giá chất lượng theo các tiêu chuẩn kiểm định đã được ban hành. Hoặc việc ban hàn quá nhiều quy định ngặt nghèo hơn mức cần thiết đối với khu vực GDĐH ngoài công lập, qua đó, tạo nên sân cơi bất bình đẳng giữa các đại học tư và công như phản ánh tại Hội nghị Đánh giá 20 Năm Phát triển Mô hình GDĐH ngoài công lập vừa qua cũng là minh chứng cho nhận định trên.

Quay trở lại với câu hỏi ban đầu: GDĐH có phải là một thị trường? Theo quan điểm của người viết bài này, với thực tế ở nước ta hiện nay, nếu muốn phát triển, chúng ta buộc phải thừa nhận GDĐH là một thị trường. Thực vậy, với khả nguồn lực có hạn của Nhà nước và với nhu cầu ngày càng tăng từ phía người dân, chúng ta không còn một lựa chọn nào khác. Bản thân các nhà khoa học của UNESCO cũng có những thay đổi nhất định trong quan điểm của họ về vấn đề này trong những năm gần đây[3]. GS. Châu, người có vẻ như ủng hộ quan điểm GDĐH là hàng hoá công nhất trong số 3 diễn giả tại buổi đối thoại trên VTV1 vừa qua, lúc cuối chương trình cũng thừa nhận, về lâu dài, ông tin vào sự tất yếu của một nền GDĐH đa dạng (chứ không phải đồng phục) – một đặc điểm thường thấy của thị trường GDĐH.

Tuy vậy, xin lưu ý, với tính chất tác động ngoại biên và bất đối xứng thông tin vốn có của GDĐH, Nhà nước cũng không thể buông lỏng cho thị trường tự điều tiết hoàn toàn và để cho thị trường này trôi nổi đến đâu thì đến. Nhưng những điều tiết đó, nếu có cũng phải dựa trên những công cụ của thị trường, nhằm hướng đến mục tiêu vừa tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần cung cấp dịch vụ GDĐH khác nhau, đồng thời lại đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng (sinh viên) chứ không thể bằng các quyết định hành chính một chiều hay từ tư duy của việc vẫn coi GDĐH vẫn là hàng hoá công.

 

 

[1] Nhiều nghiên cứu thậm chí còn chỉ ra tỷ lệ tương ứng giữa 2 lợi ích này.

[2] Australia là một trong số ít các nước sớm thay đổi quan điểm và nhìn ra GDĐH là một thị trường để có những điều chỉnh phù hợp với thị trường này. Đối với sinh viên trong nước, một mặt Chính phủ nước này bắt đầu thu học phí từ cuối những năm 1980; nhưng song song lại ban hành chương trình tín dụng hiệu quả nhằm hỗ trợ sinh viên không có khả năng tài chính. Đối với sinh viên nước ngoài, Chính phủ nước này thực sự coi đây là những khách hàng 100% và đã áp dụng rất nhiều chương trình quảng cáo, tuyển sinh ngay từ đầu những năm 1990 (cho đến nay, GDĐH là ngành xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao thứ 4 của nước này và thứ nhất nếu chỉ xét trong các ngành dịch vụ).

[3] Xem A new dinamic: private higher education tại http://www.apsc.org.sg/download/pdf/57.pdf

Advertisements

Tagged as:

12 phản hồi »

  1. Có thể trả lời ngay lập tức. “Giáo dục đại học có phải là một thị trường”? Nếu là thị trường sẽ là thị trường có định hướng…..
    http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/200212/dai-hoc-viet-nam-se-duoc-phan-thanh-3-tang–5-hang.html

    Số lượt thích

  2. Dĩ nhiên, ngân sách giáo dục Đại học nặng đến nổi không một nước nào có thể bảo đảm toàn bộ để có thể cung cấp giáo dục miễn phí cho tất cả mọi người.

    Đồng ý, giáo dục Đại học mang đến cho cá nhân nhiều lợi ích trực tiếp – hơn là những lợi ích mà cộng đồng thừa hưởng được.

    Cũng có thể rằng một cạnh tranh lành mạnh của thị trường giáo dục sẽ là động cơ cho sự hoàn thiện của lĩnh vực này hay ít nhất cũng «điều hòa hóa» sinh hoạt giáo dục.

    Thế nhưng về kinh tế mà nói, nhiều người không chấp nhận xem giáo dục như một dịch vụ giao được cho thị trường vì giáo dục có những tác dụng ngoại biên, chữ của chính World Bank, mà cả cộng đồng thừa hưởng. Nếu một số công dân không được đi học đến nơi đến chốn thì có thể ta giết chết những nhân tài như Mozart vì các nhân tài ấy không có dịp để phát triển và phục vụ cộng đồng. Nhất là sự phát triển của quốc gia cần càng nhiều nhân tài càng tốt.

    Về đạo đức, quyền được đi học cũng là một quyền nhân bản. Các văn kiện quốc tế, Tuyên ngôn nhân quyền hay giao ước về quyền của trẻ em …, đều đồng ý trên điểm này.

    Ở Pháp, Bỉ, Đức, Hà Lan và ở một số nước Bắc Âu, giáo dục vẫn là giáo dục cưỡng bách và miễn phí tới 16 hay 18 tuổi. Sau đó thì có học phí nhưng học phí rất thấp, một cách để «trách nhiệm hóa» người đi học (trên dưới 1000 euro mỗi năm) chứ không phải là chi phí của thị trường.

    Một số nhà đạo đức còn nói rằng gia đình và trường học (và trong một chừng mực nào đó, lĩnh vực y tế nữa) là hai (hay ba) thành lũy cuối cùng không thể kinh tế hóa hay thị trường hóa. Ta thử nghĩ xem, thí dụ mình phải làm hóa đơn cho các dịch vụ về nuôi dạy con hay, thô hơn nữa, dịch vụ về giới tính, thì cuộc sống/nhân nghĩa sẽ đi về đâu?

    Giáo dục có thể thị trường hóa nhưng bên cạnh phải dự trù những phương thức đủ để bảo đảm giáo dục công hầu không lãng phí nguồn «sinh khí» của quốc gia và đồng thời bảo đảm bình đẳng xã hội.

    Số lượt thích

  3. Nếu có trả tiền là Thị trường, đồng mua thuận bán.

    Thử nhìn vào GD Công lập ở Cali…

    K12: không trả tiền, cưỡng bức. Ở Orange County có hơn 70 trường TH (lớp 9-12). Trung bình mỗi trường 700 học sinh.

    Community College, 2 năm, học phí rẻ, hầu như ai cũng có khả năng trả tiền để đi học. Cali có 112 trường, hai triệu tư sinh viên.

    California State University (CSU), cử nhân và cao học, học phí cao hơn. Cali có 23 trường. Số học sinh là 440 ngàn.

    University of California (UC), cấp bằng cử nhân, cao học và tiến sĩ, học phí cao nhất, giáo dục có chất lượng. Cali có 10 trường, ví dụ, UCI là trường trong địa hạt Orange này, số sinh viên là khoảng 30 ngàn.

    Học phí cho dân ở Cali là như vậy. Sinh viên ĐH từ các tiểu bang khác hoặc QG khác đến học, phải trả giá cao hơn, thường là gấp đôi. Đang khi đó, học sinh tiểu học và trung học hoàn toàn miễn phí, không cần biết cư trú hợp pháp hay bất hợp pháp.

    Như vậy, nếu ta coi HS TH là tài sản QG mà ta không phải trả tiền để mua, hoặc trả ít thôi, thì đó là Thị trường. Nếu sinh viên ĐH coi GD là quà tặng, số tiền trả không thấm vào đâu, chỉ là pourboire hay tiền thưởng cho nhà trường, thì ý nghĩa Thị trường sẽ mất đi.

    (Tài liệu, những con số từ Wikipedia)

    Số lượt thích

  4. Có vẻ như GDĐH là một “thị trường” xét trường hợp điển hình nhất là ở thị trường Mỹ. Người ta thường gọi Mỹ, nền kinh tế Mỹ, thị trường Mỹ là một thị trường thực thụ, tự do, tự do cạnh tranh, cạnh tranh “hoàn hảo”. Mọi thứ trong đó vận hành theo “cơ chế thị trường” cũng giống như tế bào, máu, hệ tuần hoàn thuộc “cơ thể Mỹ” thì nó phải vận hành theo cơ chế “sống” như con người vậy thôi.
    Nhưng GD nào cũng không phải là thị trường, kể cả GDĐH, vì ở thiên chức của giáo dục, mà một xã hội luôn hướng đến văn minh như Mỹ thì thành công nhất của thị trường kiểu Mỹ là ở chỗ đó, GDĐH không phải là thị trường. Chớ có hiểu Mỹ bằng sự ấu trĩ và nông nổi!
    Với nhìn nhận như trên, nếu đại học tư phi lợi nhuận có phải phi thị trường hay không? Hoàn toàn không, vì có cung – cầu khá là tự do thoải mái, vốn đầu tư và chi phí không là donation (quyên tặng ) toàn bộ mà có thể từ thị trường vốn nếu cần và thu học phí, tức phải theo cơ chế thị trường, có vay có trả (với lãi suất thị trường vốn). Chỉ khác là nhà đầu tư, sáng lập (nhiều khi chẳng biết là ai, thậm chí có trường đã được giao cho chủ sở hữu đặc biệt-xã hội) không lấy khoản lãi để “ăn chia” và các nguồn “thặng dư” trở nên ngân khoản ngày càng lớn.
    Vì vậy, tôi vẫn tin trường (ĐH) vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận đều không phải là thị trường nhưng tốt hơn cả hoạt động theo cơ chế thị trường,chẳng hạn là mô hình Bắc Âu, NewZealand, Mỹ… Mong các nhà GD tiếp tục chỉ giáo cho nếu quan điểm của XD là không thoả đáng!

    Số lượt thích

  5. Xin các bác cho em góp vài nhời về chủ đề quá nhớn này! Mắc dù đa 15 năm làm cho các dự án wb Về GD phụ trách mảng Procurement, đã từng đến trụ sở IAU của unesco ở Paris xem sào huyệt nó ra sao! Em thấy rằng cả wb và unesco chưa hiểu hết Việt nam, nền kinh tế thị trường chợ cóc của nước ta! Bác Phạm Hiếp có biết để xuất khảu GDĐH sang VN mà các đại diện của Úc có thời đã xếp hàng dai chờ ở MOET để đuọc lãnh đạo bộ tiếp chưa? Không noi nào có thị trường chọ cóc như ở VN, chõ nào cũng mua và bán, ngay trên bàn các quan lon. Nhưng xe công an thường xuyên đi bất nguòi buôn thúng bán mẹt để trị an, còn các ông lớn mua bán bằng tay đeo găng trong KS 5 sao thì không ai hỏi đến! Tại sao trong vòng có 15 năm con số ĐH, CĐ tăng từ 108 lên hơn 400 ? Thị trường chợ cóc đó! Tại sao một Hoa kiều mới đây bỏ 350 triệu Mỹ kim cho một trường Y ở Havard? Mà không cho ĐH Bắc kinh? Vì ở Mỹ có luật rõ ràng từ khi dân này di đào vàng đấy ạ! Tại sao ở VN có nhiều đại gia bơ tiền xây chùa, như chùa bái đính mà không mở trường tư thục như ở Mỹ? Vì luật ở ta là luật rừng, luật của thị trường chọ cóc, mua bán bẩn thỉu! Năn 1992 một chuyên gia lớn của wb Devis Claw đã hỏi tôi vì sao Hàn quốc phát triển hơn Vn? Tôi nhờ ông ta giải thích , như sau: Nền kinh tế Hàn quốc dựa trên 12 tập đoàn cạnh tranh, còn Việt nam chỉ có một tập đoàn duy nhất lãnh đạo nên không có cạnh tranh! Thế cho nên mãi không định nghĩa đuóc cái xếp hàng cả ngày là gì! Ôi, đất nước tôi, thon thả tiếng đàn bầu, .. Con mãi thấy hiểu nỗi đau của mẹ, khi phải chạy công an để bán rau….!

    Số lượt thích

  6. Càng ngày chúng ta càng thấy giáo dục thuộc về XH/XHDS mà không thuộc về thị trường và không thuộc về nhà nước mặc dù phải bị chi phối bởi luật pháp và “quy luật”/luật chơi của thị trường. Do thiên chức đặc biệt của giáo dục, nên nhà nước phải chi tiền càng nhiều càng tốt chứ không can thiệp, vì mọi quan hệ xã hội đã có hệ thống luật. Tôi tin là vĩnh viễn người ta không đưa GD ra sàn kiểu LME, NY EXCHANGE… Còn một số trường trong “tập đoàn” kiều ở ta thì nhằm quảng bá cho doanh nghiệp hoặc kiếm lợi thì đó là ” chợ cóc” theo “luật dởm” như bác MT nói ở trên.
    Một lý do nữa GD không là thị trường ở chỗ tính “chia sẻ” về knowhow, kiến thức, trong khi doanh nghiệp và thị trường thì muốn biến kiến thức làm của riêng dưới dạng bản quyền. Thị trường khuyến khích bản quyền tạo động lực để phát triển còn nhà trường thì không.

    Số lượt thích

    • Cần phân biệt cá biệt với thông thường khi một số dịch vụ công, dịch vụ đặc biệt, quan hệ có “cầu-cung” được chi trả như tham gia NATO thì phải “đóng góp”, NASA thuê tư nhân phóng tàu, nhà nước “mua/tài trợ” những dịch vụ nhằm thúc đẩy quan hệ ngoại giao, văn hoá, khoa học, giáo dục… Kể cả GDĐH, dịch vụ y tế mà Úc hoặc các nước phát triển khuyến khích “bán ra” nhằm thu lợi, tạo thêm việc làm, quảng bá , xây dựng thương hiệu quốc gia…thì dù có được gọi là “hàng hoá đặc biệt” những trao đổi các dịch vụ đó cũng chưa làm nên một “sàn” quan hệ thị trường đúng nghĩa. Tính đa dạng, sâu, rộng, năng động và tự điều tiết của những nền kinh tế thị trường “chuyên nghiệp” luôn tích cực, buộc nhà nước tham gia như một “bạn hàng” chứ không ” ra lệnh” được!
      Cái hay của tính “phi thị trường” của GD còn ở chỗ các “tài sản/hàng hoá” dù có rào cản bản quyền, luật về bí mật, bí quyết, công nghệ cao, cấm vận…không cản trở người ta tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy. Thầy-trò cũng như cha-con có tiếc gì! Như vậy quyền sáng tạo, tự do chia sẽ kiến thức của con người là tự nhiên, vô hạn, “không biên giới” còn thị trường và các rào cản (nhà nước) là hữu hạn và luôn mang màu sắc ” chủ quan”.

      Số lượt thích

  7. Em nghĩ Việc xem GDĐH là một dịch vụ cũng được. Nhưng điều quan trọng nhất là xây dựng được một cách thức kiểm soát chất lượng giáo dục tốt. Cụ thể, theo như em tìm hiểu về một số trường của Pháp và Mỹ thì chất lượng giáo đục được kiểm soát bằng cách:
    – Chính phủ, hay bộ y tế, bộ giáo dục chỉ đưa ra chính sách chung, về quản lý. Nhưng vấn đề chuyên môn, nội dung, phương pháp dạy thì họ không can thiệp nhiều.
    – Thay vào đó Hội chuyên môn hay Hôi các trường đại học của từng chuyên ngành tự soạn thảo Hướng dẫn hay Tiêu chuẩn đào tạo của chuyên ngành đó. Nhưng họ cũng chỉ soạn các yêu cầu đầu ra thôi, còn các trường tự thiết kế chương trình, nội dung, phương pháp dạy.
    – Và có Một tổ chức độc lập khác đứng ra thẩm định chương trình
    – Hội nghề nghiệp lại kiểm tra đầu ra cuối cùng bằng cách tổ chức một kỳ thi cho phép hành nghề, kỳ thì này hoàn toàn độc lập với kì thi của trường tổ chức (cái này em thây áp dụng cho Y và dược nhưng không biết có áp dụng cho các nghề khác không)

    Số lượt thích

    • Giấy phép hành nghề là quyền cấp phát của các Tiểu bang ở Mỹ.

      California bắt buộc mọi nghề phải thi lấy bằng Tiểu bang mới được hành nghề. Ít nhất tôi biết được, chắc chắn, các nghề sau đây: nghề làm móng, nail, nghề cắt tóc, nghề làm địa ốc, nghề bán bảo hiểm xe, nhân thọ, nghề thị thực chữ ký, bác sĩ, nha sĩ, luật sư, nghề sửa ống nước, vv. nghề dạy học K12 (chỉ public schools thôi, trường tư không bắt buộc).

      Khi đã có bằng hành nghề, cứ 2 năm hoặc 4 năm phải xin gia hạn. Muốn được gia hạn, đa số bắt buộc phải qua một khóa học nào đó, cho nên bác sĩ, địa ốc, bảo hiểm, dược, phải đi học thêm, trước khi xin gia hạn, nghề nail không thấy học thêm.

      Các trường học từ Tiểu học đến ĐH, dù tư hay công, muốn được xem là có giá trị, thì phải qua cuộc thẩm định của một Tổ chức độc lập (ở vùng phía Tây) gọi là Western Association of Schools and Colleges, WASC. Nếu trường không đủ tiêu chuẩn về phòng ốc, chương trình, thi cử, an toàn, vv. họ sẽ không pass, mà nếu không pass, thì văn bằng trường phát ra sẽ không có giá trị. Kết quả là không ai ngu gì đi học những trường như thế.

      Số lượt thích

  8. Gíao dục ĐH ở Việt nam giờ có điểm nào không phải là thị trường? Nếu có thì sự khác nhau cũng rất ít. Nếu nói có sự can thiệp của Bộ GD, ban tư tưởng vào nội dung chương trình thì đó không phải nằm ở thị trường hay không mà nằm ở tự chủ hay không. Giáo dục Việt nam cũng như các ngành khác đang rơi vào hoàn cảnh thiếu cung chất lượng tốt. Trường hàng đầu của nhà nước vẫn có những vấn đề về đào tạo. Trường mới thành lập thì chỉ có thể đào tạo các ngành kinh tế vì muốn đầu tư cho các ngành khoa học kỹ thuật đều có những khó khăn. Nhìn ra các cấp thấp hơn hay các ngành khác cũng thế, bao nhiêu cha mẹ gắng sức đưa con vào các trường điểm dù có chịu bỏ nhiều tiền. Mua thực phẩm thì không có cơ sở cung cấp đảm bảo sạch đề người ta có sự tin tưởng. Các công ty và cả nhà nước làm cầu đường thì nơi nào cũng làm hỏng với giá cao…Vấn đề ở đây là chúng ta thiếu cung cho rất nhiều ngành cốt yếu. Thay vì phân tích như thế này hãy kêu gọi tài trợ/endowment và thành lập các trường có uy tín với sự tham gia của các giáo sư người Việt ở nước ngoài về mặt chương trình và sự tham gia của các doanh nghiệp để nghiên cứu đặt hàng. Tất cả những cái đó sẽ dần dần thay đổi môi trường giáo dục. Người ta sẽ nhìn vào những ngọn cờ đi đầu đó để mà cảm thấy mình thấp kém cần phải vươn lên.

    Số lượt thích

    • Sáng nay VTV1 phát tin các ĐBQH thảo luận việc ….tăng thuế thuốc lá.
      Mục đích yêu cầu CP đặt ra là tăng thuế vì sức khỏe nhân dân (giúp người hút thuốc bớt hút thuốc). Đồng thời vẫn đảm bảo nguồn thu ngân sách qua thuế và lãi do ngành sản xuất thuốc lá mang lại. Làm sao việc tăng thuế không gây ra buôn lậu thuốc lá? Bài toán tưởng nan giải nhưng đã có ngay cách giải. Nếu người hút thuốc lá không hút thuốc lá nữa? và họ sẽ dùng toàn bộ tiền mua thuốc lá nộp vào ngân sách? Thật là vẹn toàn.
      Một bài toán tưởng nan giải như vậy, chỉ cần một phút là có thể giải được. Bài toán làm sao GD ĐH là thị trường, nhưng vẫn thuộc sự quản lý toàn diện của BGD&ĐT. mới thật sự khó giải. Và tôi tin ngành GD sẽ làm được. GDĐH có thể là chất lượng nội, chi phí như du học hay không?
      😀

      Số lượt thích

  9. Một bài phân tích hay, phong cách viết làm mình học hỏi được nhiều thông tin và tính gợi mở của kết luận để chúng ta cùng suy ngẫm.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: