How We Learn

Các nhà tâm lý học đã xác định được phương pháp học tập tốt nhất – Scientific American, An Khương dịch

Bài viết này (Psychologists Identify the Best Ways to Study) là bản do các tác giả tóm tắt công trình của mình (Improving Students’ Learning With Effective Learning Techniques Promising Directions From Cognitive and Educational Psychology) và đăng trên Scientific American số 29 tháng 8, 2013

Tác giả: John Dunlosky , Katherine A. Rawson , Elizabeth J. Marsh , Mitchell J. Nathan và Daniel T. Willingham.

 An Khương chọn dịch.

***

Làm thế nào để phân biệt được phương pháp học tập nào thật sự hữu ích hay chỉ tổ làm bạn lãng phí thời gian? Một nghiên cứu mới đây lần đầu tiên chỉ ra phương cách tốt nhất để thu nạp kiến thức.

Giáo dục thường tập trung vào nội dung bạn cần học, chẳng hạn như môn đại số, hay các nguyên tố trong bảng tuần hoàn hóa học, hoặc làm thế nào để chia động từ. Tuy nhiên nếu học được cách học hiệu quả có thể cũng sẽ quan trọng không kém vì nó sẽ đem lại ích lợi cả đời cho người học. Học đúng phương pháp có thể  giúp bạn tiếp thu kiến thức nhanh hơn, hiệu quả hơn, khiến bạn có thể ghi nhớ thông tin trong nhiều năm thay vì chỉ nhiều ngày.

Trong hơn 100 năm qua, các nhà tâm lý học giáo dục và tâm lý học nhận thức đã nghiên cứu và đánh giá rất nhiều phương pháp học tập khác nhau, từ cách đọc đi đọc lại đến cách tóm tắt kiến thức cho đến phương pháp tự kiểm tra. Một số chiến lược học tập phổ biến đã giúp cải thiện rõ rệt thành tích của người học, trong khi những chiến lược khác chỉ làm tốn thời gian và không hiệu quả. Tuy nhiên, thông tin này chưa được phổ biến đến người học và người dạy. Ngày nay, giáo viên không được nói cho biết các phương pháp học tập nào là hiệu quả dựa trên chứng cứ thực nghiệm, và học sinh cũng không được dạy cho cách sử dụng những phương pháp học tập tốt. Trong thực tế, hai phương pháp hỗ trợ học tập mà người học sử dụng nhiều nhất hóa ra lại không hiệu quả. Một trong số chúng thậm chí có thể làm giảm đi kết quả học tập.

Một lý do chủ yếu cho hiện tượng nói trên là có một lượng rất lớn các nghiên cứu về vấn đề này, đến nỗi gây khó khăn cho các nhà giáo dục và cho người học trong việc xác định được phương cách học tập thiết thực và thuận lợi nhất. Để vượt qua thách thức này, chúng tôi đã xem xét hơn 700 bài báo khoa học về 10 phương pháp học tập phổ biến. Chúng tôi tập trung vào các chiến lược học tập dường như dễ sử dụng và có hiệu quả rộng rãi. Trong đó, chúng tôi xem xét kỹ hơn đến một vài phương pháp rất phổ biến với người học.

Chúng tôi chỉ khuyến nghị các phương pháp sao cho chúng phải có ích trong nhiều điều kiện học tập khác nhau, chẳng hạn như khi sinh viên làm việc một mình hoặc trong một nhóm. Ngoài ra, chúng phải hỗ trợ được cho học viên ở nhiều độ tuổi, khả năng và trình độ khác nhau. Và nhất là chúng phải được kiểm nghiệm thực tế. Học viên có thể sử dụng những phương pháp này để làm chủ kiến thức trong nhiều môn học, và thành tích học tập của họ sẽ được cải thiện theo mọi tiêu chuẩn đánh giá. Các phương pháp học tập tốt nhất cũng sẽ có tác dụng lâu dài trong việc nâng cao kiến thức và hiểu biết cho người học.

Sử dụng các tiêu chí này, chúng tôi xác định hai phương pháp có hiệu quả nổi trội. Chúng có hiệu quả ổn định và lâu dài cho nhiều điều kiện học tập khác nhau. Hơn ba phương pháp khác cũng được khuyến nghị trong một số điều kiện học tập nhất định, và năm phương pháp khác – bao gồm hai phương pháp học tập phổ biến – là không được khuyến nghị sử dụng. Hoặc là bởi vì chúng chỉ có ích trong một số trường hợp rất hạn chế, hoặc là vì chúng tôi không đủ chứng cứ để đánh giá chúng cao hơn. Chúng tôi cũng khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu một số phương pháp khác chưa được chúng tôi kiểm tra, nhưng học viên và giáo viên nên thận trọng khi áp dụng chúng.

Hai phương pháp vàng

1. Phương pháp tự kiểm tra (Self-Testing): Tự kiểm tra đem lại điểm cao.

Mô tả phương pháp: Không giống như một bài kiểm tra chính thức để đánh giá kiến thức, tự kiểm tra là việc người học tự thực hành để kiểm tra chính mình, ở bên ngoài lớp học. Phương pháp này có thể bao gồm việc sử dụng các tấm bìa (bằng giấy hoặc điện tử) để kiểm tra việc nhớ lại hoặc trả lời các bài tập ở cuối một chương sách. Mặc dù hầu hết học sinh đều muốn làm kiểm tra ít chừng nào tốt chừng ấy, hàng trăm thí nghiệm cho thấy rằng tự kiểm tra giúp cải thiện việc học và giúp ghi nhớ được lâu.

Trong một nghiên cứu, các sinh viên đại học được yêu cầu ghi nhớ các cặp từ, một nửa trong số đó sau đó được tham gia một bài kiểm tra khả năng nhớ lại. Một tuần sau, các sinh viên này nhớ được 35% các cặp từ trong bài kiểm tra, so với chỉ có 4% đối với những sinh viên không tham gia kiểm tra. Trong một thí nghiệm khác, các sinh viên đại học được tiếp xúc với một bản dịch từ tiếng Swahili sang tiếng Anh. Tiếp theo, họ dùng phương pháp tự kiểm tra để học một phần văn bản, phần văn bản còn lại chỉ được họ đọc lại. Sinh viên nhớ lại được 80% trong phần mà họ đã học bằng cách tự kiểm tra nhiều lần, so với chỉ có 36% cho phần mà họ chỉ đọc lại. Giả thuyết của chúng tôi là việc tự kiểm tra thực hành sẽ giúp tạo nên quá trình tìm kiếm trong não bộ liên quan đến khả năng ghi nhớ dài hạn để kích hoạt các thông tin liên quan, qua đó hình thành nhiều lối mòn ghi nhớ, giúp truy cập thông tin dễ dàng hơn.

Lứa tuổi nào có thể sử dụng phương pháp này? Bất cứ ai từ trẻ mẫu giáo đến sinh viên y khoa năm thứ tư cho đến người có tuổi trung niên đều được lợi khi sử dụng phương pháp tự kiểm tra này. Nó có thể áp dụng được cho tất cả các loại thông tin không trừu tượng, bao gồm việc học ngữ vựng, lập danh sách chính tả, và ghi nhớ các bộ phận của hoa. Thậm chí nó còn cải thiện được khả năng nhớ lâu cho những người bị bệnh Alzheimer. Tóm lại, phương pháp tự kiểm tra một cách thường xuyên có hiệu quả nhất trong việc học, đặc biệt là khi người học nhận được thông tin phản hồi cho các câu trả lời đúng của họ.

Phương pháp tự kiểm tra cũng hoạt động tốt ngay cả khi thể thức của các bài kiểm tra khi thực hành khác với các bài kiểm tra chính thức. Tác dụng có lợi của phương pháp này có thể kéo dài từ nhiều tháng cho đến nhiều năm.

Phương pháp này có dễ thực hiện không? Câu trả lời là “Có”. Nó chỉ cần một lượng thời gian khiêm tốn và người học cần được huấn luyện một ít hoặc thậm chí không không cần.

Sử dụng phương pháp này như thế nào? Người học có thể dùng các tấm bìa để tự kiểm tra hoặc sử dụng hệ thống Cornell như sau: Trong quá trình ghi bài trên lớp, hãy tạo ra một cột bên một lề của trang để ghi ra các từ khóa hoặc câu hỏi. Sau đó bạn có thể tự kiểm tra bằng cách duyệt lại các ghi chép này và trả lời các câu hỏi (hoặc giải thích các từ khóa) được ghi bên lề.

Đánh giá: Phương pháp này có hiệu quả cao. Việc tự kiểm tra có thể thực hiện được một cách rộng rãi trên nhiều thể thức, nội dung, lứa tuổi, và khoảng thời gian cần ghi nhớ.

2 . Phương pháp phân bổ thời gian ôn tập (Distributed Practice): Để đạt kết quả tốt nhất, hãy giãn rộng thời gian học của bạn ra.

Mô tả phương pháp: Học sinh thường tập trung học nhồi ngay trước khi có bài thi hoặc kiểm tra. Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy việc phân phối thời gian học tập hợp lý sẽ hiệu quả hơn nhiều. Trong một thí nghiệm kinh điển, học sinh được học các từ tiếng Anh được dịch ra từ các từ trong tiếng Tây Ban Nha, sau đó ôn lại trong sáu phiên. Một nhóm đã ôn trong các phiên liên tiếp nhau, một nhóm ôn các phiên cách ngày và một phần ba số học sinh còn lại đã ôn các phiên cách nhau 30 ngày. Các học sinh trong nhóm cuối nhớ bản dịch tốt nhất. Trong một phân tích 254 nghiên cứu được thực hiện liên quan đến hơn 14.000 người tham gia, sinh viên nhớ lại được nhiều hơn khi phân bổ thời gian học cách quãng (nhớ được 47% của toàn bộ) so với việc học dồn (nhớ được 37%).

Lứa tuổi nào có thể thực hiện được phương pháp này? Phương pháp này giúp ích được cho cả trẻ ba tuổi, lẫn sinh viên đại học và cả người lớn tuổi hơn. Việc phân phối thời gian học hợp lý có hiệu quả cao cho việc học ngữ vựng, học định nghĩa của từ, và thậm chí cả việc học các kỹ năng như toán học, âm nhạc và phẫu thuật.

Phương pháp này có dễ thực hiện không? Câu trả lời là “Có.” Mặc dù sách giáo khoa thường gộp các bài tập lại với nhau theo chủ đề, bạn có thể ngắt chúng ra theo cách của mình. Bạn sẽ phải lên kế hoạch trước, và phải vượt qua được trở ngại chung của người học là xu hướng hay trì hoãn việc ôn bài.

Sử dụng phương pháp như thế nào? Khoảng cách lâu hơn giữa các lần ôn bài thường có hiệu quả cao hơn. Trong một nghiên cứu, khoảng cách 30 ngày cải thiện kết quả nhiều hơn so với việc ôn bài vất vả cách ngày. Trong một nghiên cứu dựa trên Internet về việc học ngữ pháp, tu từ và logic, kết quả cao nhất đạt được khi các phiên ôn bài cách nhau khoảng từ 10 đến 20% của khoảng thời gian mà người học cần phải nhớ được kiến thức. Để nhớ một điều gì đó trong một tuần, các phiên học ôn nên cách nhau từ 12 đến 24 giờ đồng hồ. Để nhớ một điều gì đó trong năm năm, các phiên học nên cách nhau từ 6 đến 12 tháng. Mặc dù không có vẻ gì là như thế, nhưng thực sự là bạn có thể ghi nhớ được thông tin ngay cả trong những khoảng thời gian dài, và bạn có thể học lại một cách nhanh chóng những gì bạn đã quên. Khoảng cách dài giữa các lần ôn bài là lý tưởng để nhớ được các khái niệm cơ bản làm cơ sở cho kiến thức nâng cao.

Đánh giá: Phương pháp này có hiệu quả cao. Việc phân phối thời gian học ôn hợp lý sẽ có hiệu quả cho người học ở nhiều độ tuổi khác nhau trong việc học tập ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Nó rất dễ thực hiện và đã được sử dụng thành công trong thực tiễn.

 

Các phương pháp hạng nhì

Không như những gì được nói, các phương pháp học tập sau đây có hiệu quả thấp, trong nhiều trường hợp bởi vì không đủ bằng chứng tích lũy hỗ trợ cho chúng. Một số phương pháp, chẳng hạn như phương pháp hỏi đáp chi tiết (elaborative interrogation), hay phương pháp tự giải thích (self-explanation), chưa được đánh giá trong các tình huống giáo dục thực tế. Một phương pháp khác đang nổi lên, được gọi là phương pháp thực hành xen kẽ (interleaved practice), chỉ vừa mới bắt đầu được nghiên cứu một cách có hệ thống. Tuy nhiên, những phương pháp này cho thấy chúng cũng có hiệu quả đủ tốt để chúng tôi khuyến khích sử dụng trong những tình huống được mô tả ngắn gọn ở đây.

3 . Phương pháp hỏi đáp chi tiết (elaborative interrogation): Khởi nguồn từ bản tính tò mò của trẻ 4-5 tuổi.

Mô tả phương pháp: Tò mò là bản năng tự nhiên của con người, chúng ta luôn tìm kiếm những kiến giải về thế giới xung quanh mình. Một số lượng lớn các bằng chứng cho rằng thấy rằng gợi ý người học trả lời các câu hỏi “Tại sao?” cũng làm cho việc học tập dễ dàng hơn.

Trong phương pháp này, thường được gọi là phương pháp “hỏi đáp chi tiết” (elaborative interrogation), người học đưa ra câu trả lời cho các sự kiện, chẳng hạn như “Tại sao điều này có nghĩa là …?” hoặc ” Tại sao điều này lại đúng?” Chẳng hạn, trong một thí nghiệm, học sinh đọc được câu “người đàn ông đói bụng đã ngồi vào xe.” Các thành viên của nhóm hỏi đáp chi tiết được yêu cầu giải thích lý do tại sao, trong khi nhóm khác đã được cung cấp sẵn một lời giải thích, chẳng hạn như “người đàn ông đói bụng đã lên xe để đi đến nhà hàng.” Nhóm thứ ba chỉ đơn giản là đọc từng câu trên. Khi được yêu cầu nhớ lại ai đã làm gì (“Ai đã lên xe?”), trong nhóm hỏi đáp chi tiết có khoảng 72% học sinh trả lời đúng so với khoảng 37% trong các nhóm khác.

Nên sử dụng khi nào? Khi mà bạn đang học về những thông tin không trừu tượng, đặc biệt là khi bạn đã có hiểu biết về chủ đề này. Sức mạnh của phương pháp này tăng lên cùng với lượng kiến thức mà bạn biết về chủ đề. Chẳng hạn, học sinh ở CHLB Đức sử dụng phương pháp này hiệu quả hơn khi học về các tiểu bang của Đức so với khi học về các tiểu bang của Canada. Có thể là vì kiến thức có trước về chủ đề cho phép người học đưa ra lời giải thích phù hợp hơn cho lý do tại sao một điều gì đó đã xảy ra.

Tác dụng của phương pháp này có vẻ ổn định theo tuổi tác, từ học sinh lớp bốn cho đến sinh viên đại học. Phương pháp hỏi đáp chi tiết cải thiện rõ ràng việc ghi nhớ các sự kiện, nhưng vẫn chưa chắc chắn rằng liệu nó có làm tăng mức độ hiểu sâu hay không, và không có thông tin kết luận về việc hiến thức được ghi nhớ kéo sẽ dài bao lâu.

Phương pháp này có dễ sử dụng không? Câu trả lời là “Có.” Nó chỉ cần việc huấn luyện ở mức tối thiểu và thời gian tiêu tốn là ở mức hợp lý. Trong một nghiên cứu, một nhóm hỏi đáp chi tiết cần 32 phút để làm một nhiệm vụ mà một nhóm chỉ đọc cần 28 phút.

Đánh giá: Phương pháp này có hiệu quả vừa phải. Nó áp dụng được cho khá nhiều chủ đề khác nhau, nhưng có thể không hữu ích lắm đối với các chủ đề trừu tượng. Đối với người học chưa có kiến thức trước về chủ đề đang học thì lợi ích của phương pháp có thể bị hạn chế. Nghiên cứu thêm về phương pháp này là cần thiết để xác định xem liệu nó có thể áp dụng rộng rãi hơn vào các tình huống khác nhau, và các loại thông tin khác nhau nữa hay không.

4 . Phương pháp Tự Giải thích (Self-Explanation): Làm sao tôi biết?

Mô tả phương pháp: Người học phải đưa ra lời giải thích cho những gì họ học, xem xét quá trình tư duy đối với những câu hỏi kiểu như “Câu văn này cung cấp thông tin mới gì cho bạn?” “Nó có liên quan như thế nào đến những gì bạn đã biết?” Tương tự như phương pháp nêu câu hỏi và trả lời, phương pháp tự giải thích có thể giúp tích hợp hiệu quả thông tin mới học được với kiến thức đã có sẵn.

Lứa tuổi nào sử dụng được? Phương pháp này mang lại lợi ích cho người học từ bậc mẫu giáo cho đến sinh viên đại học, và giúp ích cho việc giải toán cũng như giải các câu đố cần suy luận logic. Nó có thể được dùng để học các chuyện kể cũng như học để thông thạo các chiến lược tàn cục trong cờ vua. Ở trẻ em, phương pháp tự giải thích có thể giúp ích trong việc học những khái niệm căn bản như việc học các con số hoặc hình mẫu. Phương pháp này cũng giúp cải thiện trí nhớ, giúp hiểu sâu và giúp giải quyết vấn đề – tác dụng của nó rất đa dạng. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu chỉ đo các tác dụng chỉ trong vòng vài phút, và ta không biết liệu hiệu quả của nó có kéo dài được lâu hơn đối với những người kiến thức hơn cao hoặc thấp hơn hay không.

Phương pháp này có dễ sử dụng không? Câu trả lời là không rõ ràng. Một mặt, hầu hết người học chỉ cần được hướng dẫn ở mức tối thiểu và thực hành ít hoặc không cần. Một bài kiểm tra của học sinh lớp chín cho thấy rằng những học sinh không được huấn luyện có xu hướng chỉ diễn giải lại điều được học chứ không phải là đưa ra lời giải thích thật sự. Mặt khác, một vài nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp này tiêu tốn nhiều thời gian, tăng nhu cầu thời gian từ 30 đến 100% so với các phương pháp khác.

Đánh giá: Phương pháp tự giải thích có lợi ích vừa phải. Nó áp dụng được cho các môn học khác nhau và cho nhiều độ tuổi khác nhau đáng kể. Các nghiên cứu tiếp theo phải xác định được xem liệu những tác dụng của phương pháp này có lâu bền, và thời gian tiêu tốn nhiều cho nó là có đáng giá hay không.

5 . Thực hành xen kẽ (Interleaved Practice): Trộn táo với cam

Mô tả phương pháp: Một cách trực quan, người học thướng có xu hướng chia việc học ra thành các khối kiến thức, hoàn thành xong việc học một chủ đề hoặc một dạng bài tập trước khi chuyển sang phần tiếp theo. Nhưng nghiên cứu gần đây đã chỉ ra lợi ích của phương pháp thực hành xen kẽ. Trong đó, học viên sẽ học luân phiên các chủ đề hay các dạng bài toán khác nhau. Chẳng hạn trong một nghiên cứu, các sinh viên đại học đã học cách tính thể tích của bốn dạng vật thể khác nhau. Đối với phương pháp chia việc học thành khối kiến thức, họ phải hoàn thành tất cả các bài tập đối với một dạng vật thể trước khi chuyển sang dạng vật thể tiếp theo. Trong phương pháp thực hành xen kẽ, các bài toán về 4 dạng đã được trộn xen kẽ với nhau. Trong bài kiểm tra thực hiện một tuần sau đó, nhóm sử dụng phương pháp thực hành xen kẽ làm chính xác hơn 43% so với nhóm học theo phương pháp chia khối kiến thức. Việc học xen kẽ các kiến thức giúp người học có được kĩ năng lựa chọn phương pháp phù hợp và khuyến khích họ so sánh các dạng bài tập khác nhau.

Khi nào nên sử dụng phương pháp này? Khi các dạng bài tập tương tự nhau, có lẽ là vì bằng cách để chúng ở gần nhau thì dễ thấy sự khác biệt giữa chúng hơn. Phương pháp thực hành theo khối kiến thức – làm việc trên tất cả các bài toán cùng vào một chủ đề – có thể hiệu quả hơn khi mà các bài toán có sự khác nhau nhiều, bởi vì khi đó nó làm nổi bật những điểm chung giữa chúng.

Phương pháp thực hành xen kẽ có thể chỉ mang lại lợi ích những người đã đạt đến một trình độ nhất định. Tác dụng của phương pháp này cũng lẫn lộn cho nhiều loại nội dung học tập khác nhau. Nó giúp cải thiện kết quả học tập đối với các bài toán đại số, và có hiệu quả đối với một nghiên cứu trong việc đào tạo sinh viên y khoa khả năng diễn giải kết quả chẩn đoán chứng rối loạn tim mạch. Có hai nghiên cứu về việc học ngữ vựng cho thấy phương pháp này không có hiệu lực mấy. Tuy nhiên, với những khó khăn mà nhiều học sinh gặp phải ở môn toán, phương pháp này vẫn có thể là một chiến lược học tập rất có giá trị cho riêng môn này.

Nó có dễ thực hiện không? Câu trả lời có vẻ là “Có.” Một sinh viên có động cơ học tập có thể dễ dàng sử dụng phương pháp thực hành xen kẽ mà không cần bất kỳ hướng dẫn nào. Giáo viên cũng có thể sử dụng phương pháp này trong lớp học: Sau khi đưa ra một dạng bài tập (hoặc chủ đề), bước thực hành đầu tiên của phương pháp tập trung vào dạng bài đó. Ngay khi đưa ra dạng tiếp theo, cần trộn lẫn bài tập dạng này với bài tập của dạng trước. Phương pháp này có thể tốn nhiều thời gian hơn một chút so với phương pháp chia khối kiến thức, nhưng như thế vẫn đáng giá, vì nó giúp nâng cao thành tích học tập.

Đánh giá: Phương pháp thực hành xen kẽ có tác dụng vừa phải. Nó giúp cải thiện việc học tập và ghi nhớ các kiến thức toán học, và tăng cường các kỹ năng nhận thức khác. Mặc dù lượng tài liệu về phương pháp này là ít, nhưng trong đó cũng đã có đủ kết quả tiêu cực để ta cần phải bận tâm khi sử dụng nó. Có thể là phương pháp này không hoàn toàn tốt, hoặc có lẽ không phải lúc nào nó cũng được sử dụng một cách thích hợp – đây là những đề tài cho nghiên cứu tiếp theo.

Bài học rút ra

Tại sao người học không sử dụng các phương pháp học tập hiệu quả hơn? Có vẻ như họ đã không được dạy những chiến lược tốt nhất, và cũng có lẽ vì bản thân người dạy cũng không được đào tạo về các phương pháp đó. Chúng tôi đã khảo sát sáu cuốn sách giáo khoa tâm lý giáo dục học, và thấy rằng chỉ có một phương pháp – “học thuộc các từ khóa” – được xét đến trong mỗi cuốn. Không ai được hướng dẫn nhiều về cách sử dụng, tính hiệu quả hoặc sự hạn chế của các phương pháp học tập khác nhau.

Vấn đề thứ hai có thể là vì hệ thống giáo dục nhấn mạnh vào việc dạy cho người học các kỹ năng tư duy phê phán, và nội dung kiến thức, dành ít thời gian cho việc dạy phương pháp học tập. Điều này dẫn đến kết quả có thể là những học sinh có thành tích tốt trong những năm đầu đời, khi việc học tập được giám sát chặt chẽ, có thể gặp khó khăn một khi họ sẽ phải tự quản lý việc học của mình ở trường trung học hoặc đại học.

Một số vấn đề, chẳng hạn như độ tuổi tốt nhất để học sinh bắt đầu sử dụng một phương pháp nào đó, và khoảng bao lâu họ sẽ cần phải được huấn luyện lại hoặc nhắc nhở về phương pháp, vẫn cần được nghiên cứu thêm. Nhưng ngay từ bây giờ, người dạy đã có thể tích hợp các phương pháp học tập thành công nhất vào trong giáo án để người học có thể theo đó mà sử dụng. Ví dụ, khi chuyển đến phần kiến thức mới, người dạy có thể bắt đầu bằng cách yêu cầu người học làm một bài kiểm tra thực hành bao gồm những điểm quan trọng ở phần trước và phản hồi bài kiểm tra của người học ngay. Người học có thể chèn thêm vào giũa những bài toán mới các bài toán có liên quan ở trong các phần trước đó. Người dạy có thể khai thác phương pháp phân phối thời gian ôn tập hợp lý (distributed practice) bằng cách đưa ra lại các khái niệm chính trong quá trình dạy. Họ có thể giúp người học sử dụng phương pháp đặt câu hỏi và trả lời (explanatory questioning) bằng cách gợi cho người học xem xét trả lời cho những câu hỏi “Tại sao?”

Những phương pháp học tập này không phải phương thuốc chữa bá bệnh. Chúng chỉ đem lại lợi ích cho những người học có mục tiêu, và có khả năng sử dụng chúng. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng rằng người học sẽ thu được nhiều ích lợi trong hoạt động trên lớp, trong các bài kiểm tra, và trong suốt cuộc đời họ.

Nguồn: http://psi.sagepub.com/content/14/1/4.full?ijkey=Z10jaVH/60XQM&keytype=ref&siteid=sppsi

Bản đầy đủ: http://www.psychologicalscience.org/index.php/publications/journals/pspi/learning-techniques.html

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Công nghệ, Nghĩ về việc học và dạy

31 phản hồi »

  1. Rất hay và rất đúng. Lại dễ áp dụng. Để nhấn mạnh tính ưu việt của các phương pháp trình bày ở đây, xin phép nói thêm là các bác sĩ thần kinh học cũng cho những kết luận tương tự. Và đây là vài lời khuyên của họ, viết cho một cộng đồng rộng:

    “Để giúp trẻ sẵn sàng cho niên học mới, làm sao gợi sự tò mò cho trẻ đi tìm thêm hiểu biết, nói với chúng về những ích lợi của tri thức, dạy chúng  tính hoài nghi để không ngừng kiểm tra các ý tưởng của mình và như thế mở mang thêm kiến thức, cho chúng quyền được sai lầm và tự sửa sai lầm, khuyến khích chúng áp dụng những kiến thức mới tiếp thu và cũng đừng quên kính trọng những ý tưởng của chúng… Vì một não bộ mà bị đè nén hay đàn áp thì có nhiều khả năng kém phát triển, trong đó có sự phát triển của trí nhớ”.

    http://dantri.com.vn/khoa-hoc/de-vun-trong-nao-va-tri-nho-cua-tre-771478.htm

    Nhưng phương pháp dạy và học còn tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng, nhất là tùy tâm lý của từng trò… nên đưa ra tựa bài là «đã xác định được phương pháp học tập tốt nhất», cứ như là đã khám phá ra nguyên lý Achimède, hay khuôn vàng thước ngọc, tôi e là kết luận hơi vội…

    Liked by 1 person

  2. Cả hai bác trên đều “hơi vội” khi chưa đọc kĩ bài tóm tắt của người ta mà đã nói họ “hơi vội”. 😀

    Liked by 1 person

    • Bác có thể chỉ giúp em đọc “hơi vội” như thế nào? 😀

      Số lượt thích

      • Tôi trả lời thắc mắc của (hai) bác theo thứ tự từ dưới lên:

        3. Bài trên là bài tóm tắt nên người ta chỉ nêu lên một thí nghiệm minh họa để nói lên nội dung của phương pháp. Trong bài nghiên cứu đầy đủ đã dẫn, người ta có tham chiếu đến các nghiên cứu khác. Trong các nghiên cứu (đã được đăng trên các tạp chí chuyên ngành) này tất nhiên người ta đã làm thí nghiệm đúng mức theo tiêu chuẩn nghiên cứu tâm lí học để có kết luận.

        Cho nên ta không thể nói thí nghiệm chưa đủ lớn để kết luận được. Theo các bác thì bao nhiêu mới là đủ lớn?

        2. Trong bài tóm tắt trên các tác giả cũng đã nói rõ hai “phương pháp vàng” có thể dùng cho mọi đối tượng. Các tác giả cũng đã nêu rõ tiêu chí đánh giá, xếp hang các pp.

        1. Hai ý trên cho thấy rằng tên bảo bài báo là đúng đắn, không có gì là “không trung thực” cả.

        Tóm lại, 3 ý trả lời trên của tôi cho thấy rằng hoặc là các bác chưa đọc bài báo, hoặc đọc mà chưa kĩ mà kết luận. Vì vậy tôi có thể nói rằng các bác “hơi vội”! ĐPCM. 😀

        Số lượt thích

      • Vì sao tôi nó số lần, số lượng thực nghiệm chưa đủ lớn là:

        1) Ngay ở phần đầu của bài viết ghi

        “… chúng tôi đã xem xét hơn 700 bài báo khoa học về 10 phương pháp học tập phổ biến. Chúng tôi tập trung vào các chiến lược học tập dường như dễ sử dụng và có hiệu quả rộng rãi. Trong đó, chúng tôi xem xét kỹ hơn đến một vài phương pháp rất phổ biến với người học.”

        Rốt cuộc là nhóm đã tập trung vào bao nhiêu trong số 10 phương pháp? Vì thế tôi nói ít

        2) Ở phương pháp thứ nhất không ghi số lượng người tham gia thực nghiệm?

        Còn chứng minh của bác sẽ hoàn toàn đúng, nếu có giả thiết mà bác đặt ra. 😀

        Cảm ơn sự nhiệt tình của bác! 😀

        Ps: Bác phản hồi rất nhanh.

        Số lượt thích

    • Tôi nghĩ có lẽ hai người kia muốn nói tiêu đề dịch có vấn đề, bản thân tôi thấy cũng hơi “gợn”. Xem tiêu đề của bài báo gốc thì không có vấn đề gì lắm, có lẽ vấn đề là ở cách dịch. Có thể dịch là “Các nhà tâm lý học nhận diện các phương pháp học tập tốt nhất” được không?

      Số lượt thích

      • Hai bác trên rõ ràng là không chỉ nói về tiêu đề, họ liệt kê ra các chỗ khác mà họ cho là có vấn đề mà bác.

        Gợi ý của bác là một phương án khả dĩ. Tuy nhiên tôi nghĩ cách dịch như trong bài cũng không có gì là quá lên cả. Rõ ràng các tác giả đã làm nghiên cứu kĩ để chỉ ra hai phương pháp học tập hiệu quả nhất theo các tiêu chí rất thích hợp, nên nếu dịch là “xác định” tôi nghĩ là vẫn thích hợp.

        Ta nên lưu ý rằng trước khi có nghiên cứu này, người ta chưa biết là cái nào thực sự tốt hơn cái nào, và tốt hơn ở mức độ nào, ở khía cạnh nào dựa trên cơ sở khoa học. Phát hiện của họ có thể nói là gây ngạc nhiên.

        Số lượt thích

  3. Tôi thấy các bác chưa đọc kĩ bài báo mà cứ nhận xét lung tung cả lên. Người ta đưa ra tiêu chí rất rõ ràng trước khi đánh giá thế này mà sao các bác cứ nói khơi khơi vậy được nhỉ:

    “Chúng tôi chỉ khuyến nghị các phương pháp sao cho chúng phải có ích trong nhiều điều kiện học tập khác nhau, chẳng hạn như khi sinh viên làm việc một mình hoặc trong một nhóm. Ngoài ra, chúng phải hỗ trợ được cho học viên ở nhiều độ tuổi, khả năng và trình độ khác nhau. Và nhất là chúng phải được kiểm nghiệm thực tế. Học viên có thể sử dụng những phương pháp này để làm chủ kiến thức trong nhiều môn học, và thành tích học tập của họ sẽ được cải thiện theo mọi tiêu chuẩn đánh giá. Các phương pháp học tập tốt nhất cũng sẽ có tác dụng lâu dài trong việc nâng cao kiến thức và hiểu biết cho người học.

    Sử dụng các tiêu chí này, chúng tôi xác định hai phương pháp có hiệu quả nổi trội. Chúng có hiệu quả ổn định và lâu dài cho nhiều điều kiện học tập khác nhau. Hơn ba phương pháp khác cũng được khuyến nghị trong một số điều kiện học tập nhất định, và năm phương pháp khác – bao gồm hai phương pháp học tập phổ biến – là không được khuyến nghị sử dụng. Hoặc là bởi vì chúng chỉ có ích trong một số trường hợp rất hạn chế, hoặc là vì chúng tôi không đủ chứng cứ để đánh giá chúng cao hơn. Chúng tôi cũng khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu một số phương pháp khác chưa được chúng tôi kiểm tra, nhưng học viên và giáo viên nên thận trọng khi áp dụng chúng.”

    HTN: Comment này là để trả lời một comment khác của Lê Báo Phục mà tôi vừa xóa đi. Các bạn thân mến, bài báo này là tóm tắt một nghiên cứu khoa học nghiêm túc, nằm trong chuỗi phát triển của hàng loạt nghiên cứu nghiêm túc được thực hiện trước đó. Các nhà khoa học tham gia nghiên cứu này, và bản thân cái nghiên cứu này không phải tự nhiên từ trên trời rơi xuống. Các bạn có thể phản biện nó, không ai có quyền cấm các bạn phản biện. Nhưng phản biện các công trình khoa học như thế này thì các bạn cũng cần có tinh thần khoa học và phương pháp luận khoa học như các tác giả của công trình mà các bạn muốn phản biện. Phản biện khoa học không phải là để phán những câu như búa bổ kiểu như: mẫu này bé quá, chưa đủ lớn.”

    Số lượt thích

    • Comment này (06/09/2013 • 09:52) của tôi là nhằm để trả lời comment đầu tiên của độc giả “lê báo phục” mà tôi chép lại dưới đây, nhưng HTN cũng đã xóa comment đó mất, nên tôi đề nghị hoặc là HTN khôi phục lại comment đó của “lê báo phục “, hoặc là xóa luôn comment trên của tôi.
      ———————————

      “Các bác bị bài báo dẫn đi nên mất tỉnh táo. Tôi xin hỏi:
      – Thế nào là tốt?
      – Thế nào là tốt nhất?
      Trong bài chưa nêu được hai khái niệm này thì nói thế nào chả được.
      Ví như tôi mà định nghĩa “học tốt nhất là học nhanh quên nhất” thì phương pháp tốt nhất sẽ là “học quấy quá cho xong”. Hihi. Đừng coi đây là trò đùa, Tí nữa tôi phân tích rõ sau.
      Tuy vậy trong bài mờ mờ có nói về tốt và tốt nhất. Trong phương pháp thứ nhất (của cái phương pháp vàng ấy) có :
      “…tự kiểm tra giúp cải thiện việc học và giúp ghi nhớ được lâu.”
      Vậy có vẻ như họ quan niệm “nhớ lâu là tốt”. Tuy vậy không ai nhớ lâu, nhớ nhiều hơn một cái máy tính. Thế thì anh học với mục đích ấy luôn thua một cái máy tính. Mà rõ ràng anh là người, phải hơn cái máy chứ. Vậy tôi cho là quan niệm ấy chưa ổn đâu.
      Theo tôi, tốt là do mục đích quy định. Ví như:
      – anh đặt mục đích học để làm được việc thì anh coi trọng thực hành.
      – Anh đặt mục đích học để hiểu sâu vấn đề thì anh coi phân tích, so sánh, giải thích là quan trọng.
      – Anh coi học chỉ để thuộc, vượt qua kì thi và sau đó quên nhanh là mục đích thì cần một phương pháp rất phức tạp hơn nhiều.”

      Số lượt thích

  4. Thật khó mà bảo rằng đâu là phương pháp học hỏi tốt nhất. Cha ông chúng ta đã từng nói: Văn ôn võ luyện, vẫn đúng cho mọi người, mọi thời. Còn bảo, làm sao là tốt nhất thì thực là giới hạn và chủ quan.

    Các em có thể học để thưởng thức một đoạn văn hay, một câu thơ tuyệt tác. Các em có thể học để lý luận, để giải quyết một vấn đề, sao cho người khác phải phục cái lý của mình. Các em có thể học để sáng tạo, làm ra một cái gì mới, để mọi người cùng tham dự và thưởng thức. Có lẽ, cái học thấp nhất là học để nhớ, đọc lại như con vẹt; tuy nhiên, ứng dụng vào đúng hoàn cảnh, nó lại là một thành công lớn.

    Tóm lại, một luận đề, đưa ra thảo luận, mà nếu tôi có thể trưng được một bằng chứng sai (counter-example), thì luận đề đó không còn vững, không có sức thuyết phục. Thế nhưng, đó chưa phải là hết, chưa phải là chấm dứt. Bạn có thể tìm ra một phương pháp nào hay hơn hay không? Cách tốt để học toán đối với bạn là gì? Thời gian ngắn nhất để học một ngoại ngữ là bao lâu? Thứ Bảy tới này, tôi bắt đầu dạy Việt ngữ cho các em 10, 12 tuổi, theo bạn, đâu là cách tốt nhất (trong môi trường đa số chỉ nói tiếng Mỹ)?

    Số lượt thích

    • Tốt nhất theo bộ tiêu chí mà các tác giả đã đưa ra, thưa Bác! Bác hoàn toàn có thể dùng một bộ tiêu chí khác. Phản ví dụ mà Bác chỉ ra Bác phải dùng bộ tiêu chí của họ mới có giá trị, còn nếu dùng bộ tiêu chí khác thì không có tác dụng phản biện.

      Bộ tiêu chí đó tất nhiên là chủ quan của nhóm nghiên cứu. Tuy nhiên như tôi thấy các tiêu chí mà các tác giả đưa ra là khá phổ dụng chứ không đến nỗi hạn hẹp lắm, và chắc đa số chấp nhận được.

      Một điểm nữa cháu muốn nhấn mạnh là các tác giả không có khuyên người ta chỉ “học vẹt” trong nghiên cứu này.

      Số lượt thích

      • Tốt, tốt! Phải nắm chắc cái lý luận của mình.

        Không như khoa học chính xác, khoa học nhân văn không chú trọng về đúng sai, mà nói về cái tốt nhất cho đối tượng nào và trong hoàn cảnh nào. Người đọc phải rút tỉa kinh nghiệm của người mà áp dụng cho trường hợp của mình. Có thể phương pháp hạng nhì lại thích hợp cho tôi. Người Nhật có câu: Muốn học thì đi dạy.

        Số lượt thích

      • có vẻ bạn là người nhiệt tình. Tôi khá là muốn nói chuyện với bạn nhưng không thể nói khi bị bịt mồm. comment trên chỉ là khởi đầu. đằng sau nó còn nữa.
        Khi nói về phương pháp thì phải phát biểu đầy đủ là:
        chủ thể, trong điều kiện nào đó, thực hiện một hoạt động bằng một phương pháp nhằm đưa kết quả hoạt động về gần mục đích đã đề ra trước.
        Thế thì phương pháp chỉ được đánh giá khi chủ thể, điều kiện, hoạt động, mục đích đã rõ ràng. Nhưng trong tóm tắt này không đủ những điều ấy.

        Số lượt thích

  5. Bạn đang nói về bạn đấy! Tôi thấy có sự đốp chát giữa một vài người. Với tôi, không sao, tôi chẳng cảm thấy khó chịu là bao, nhưng với người trong cuộc, họ có thể bị hurt.

    Cảm ơn lời phát biểu tốt. Người ta nói: Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Tôi đang đọc cái bài mới, Thế chân vạc của tiếng Việt, và thấy cái rất đáng yêu của ngôn ngữ mình. Chúc bạn may mắn.

    Số lượt thích

  6. Em có đọc được cùng bài viết này, nhưng do người khác dịch nên xin chia sẻ ở đây với mọi người ạ.
    http://chiecnon.wordpress.com/2013/09/08/scientific-american-mind-danh-gia-cac-phuong-phap-hoc-tap/

    Số lượt thích

  7. Dịch kém quá. Bài này mình đã đọc ở nhiều nơi, cả bản tiếng Anh và tiếng Việt. Nhưng quả thực đặt title thế này không có thiện cảm!

    Số lượt thích

  8. dung la nhung phuong phap hoc tap hay

    Số lượt thích

  9. làm sao gây chú ý cho người đọc khi đó là một bài văn xuôi? không kích thích đc trí tò mò của học sinh

    Số lượt thích

  10. Đây là một bài dịch mà mình rất tâm đắc về dạy lấy sinh viên làm trọng tâm. Mình tìm chủ đề này trong “Học thế nào” mà không thấy nên comment ở bài này vậy. Bài dịch này hơi dài nên mình xin phép đưa đường link: “Phương pháp dạy lấy sinh viên làm trọng tâm có những vấn đề gì ? “http://nhipcauduoclamsang.blogspot.fr/2015/06/gdphuong-phap-day-lay-sinh-vien-lam.html

    Số lượt thích

  11. Mình đang dùng phương pháp thứ hai để học từ vựng, và thấy rất hiệu quả, không mất nhiều thời gian ngồi học vẹt như trước kia.

    Số lượt thích

  12. Đây là một nghiên cứu rất hay. Kết quả đưa ra đã được kiểm chứng qua nhiều nghiên cứu chứ không phải chỉ bằng phép cảm nhận, phán đoán. Độ tin cậy của phương pháp meta-analysis (tính toán dựa trên dữ liệu của rất nhiều các nghiên cứu đi trước – Nó rất khác với tổng quan tài liệu) được đánh giá là đầu bảng. Hơn nữa, khi đã có kết quả tổng hợp, nó, còn được kiểm chứng lại bằng thực nghiệm. Như vậy, kiểm chứng kết quả được làm nhiều lần mới đưa ra kết luận. Khoa học đòi hỏi công phu và chặt chẽ như vậy.

    Một điểm nữa, đặc trưng của nghiên cứu định lượng là tính khái quát (Dựa trên qui luật của phân bố chuẩn của thống kê, có thể tóm lược chung rằng kết luận này khái quát cho khoảng 65-70% số trường hợp tương ứng), vì thế nó bỏ qua chi tiết. Kết quả sẽ ứng đúng với số đông, chứ không phải tất cả. Tính trên tổng thể, vẫn còn có khoảng 2,5% thậm chí chả làm như thế mà kết quả học tập vẫn tốt và cũng có khoảng 2,5% làm như thế mà kết quả vẫn chưa tốt. ( Dù có những dữ liệu như vậy, nhưng khoa học thống kê vẫn dựa trên số đông mà kết luận. Và điều đó được khoa học công nhận trên toàn thế giới chứ không phải cứ là tuyệt đối 100% mới được công nhận.)

    Đó là bởi vì mọi hiện tượng trong xã hội (kết quả học tập là 1 trong số đó) đều chịu tác động đa biến, tức là ngoài phương pháp học, kết quả học còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nữa.

    Chúng ta quan tâm đến kết quả nghiên cứu có tính phát hiện như thế nào. Mình có thể ứng dụng đến đâu, có thể nghiên cứu thêm các điều kiện để phương pháp học đó cho ra kết quả tốt nhất. Điều đó tốt cho con cháu mình thì mình theo đuổi. Tôi thích các kết luận đều dựa trên chứng cứ khoa học, chứ không phải chỉ là suy đoán. Ai phản bác, hãy làm nghiên cứu công bố điều đó với những chứng cứ khoa học rõ ràng. Đó sẽ góp phần làm cho chất lượng tranh luận, phản biện có chất lượng hơn.

    Mặt khác, đây là nghiên cứu ở nước ngoài, trong một nền văn hóa khác, con người có những điểm khác, chịu tác động của các tố văn hóa, xã hội , giáo dục rất khác ta. Vậy nó có ứng đúng với trẻ của ta hay không lại là câu hỏi khác, cũng rất cần được trả lời bằng nghiên cứu khoa học.

    Cám ơn dịch giả đã dịch và giới thiệu những nội dung có ý nghĩa. Mong dịch giả hãy tiếp tục công việc này.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: