How We Learn

Hai kỹ năng: tìm ra vấn đề hay và giải quyết được vấn đề – Đàm Thanh Sơn

Học Thế Nào chúc các độc giả một năm mới sức khỏe, may mắn và nhiều niềm vui! Chúng tôi xin mở đầu năm mới bằng bài nói “phỏng vấn” Giáo sư vật lý Đàm Thanh Sơn. Bài do Giáo sư toán Ngô Bảo Châu thực hiện.

NBC: Ở trường trung học, anh Sơn học chuyên toán, nhưng khi sang Nga học đại học, anh chuyển sang học Vật lý. Từ lúc còn học trung học, anh đã có định hướng Vật lý chưa? Theo anh, tư duy toán và lý có khác nhau nhiều không?

ĐTS:  Thời học phổ thông có một số cuốn sách có ảnh hưởng lớn đến tôi và đến việc chọn đi học vật lý khi lên đại học. Một cuốn sách là “Vật lý vui”, dịch từ tiếng Nga, tác giả là Yakov Perelman. Cuốn thứ hai là “Câu chuyện về  hằng số vật lý cơ bản” của tác giả Đặng Mộng Lân. Ngoài ra, hồi đó tôi còn đặt tạp chí Kvant tiếng Nga, trong đó có rất nhiều bài báo lôi cuốn về vật lý, viết bởi các nhà khoa học nổi tiếng cho học sinh phổ thông.

Bố tôi cũng thích vật lý, và thỉnh thoảng cũng nói chuyện với tôi về vật lý.

Vật lý sử dụng rất nhiều công cụ toán. Tôi không nghiên cứu toán học thật sâu nên không biết chắc chắn có sự khác nhau giữa tư duy toán và tư duy vật lý hay không. Tôi ngờ là có khác nhau, nhưng ít thôi, không nhiều như người ta tưởng. Sự khác nhau lớn nhất có lẽ ở kỳ vọng về kết quả cuối cùng.

Chân lý toán học phải được chứng minh chặt chẽ, chân lý vật lý là phải giải thích được thế giới bên ngoài. Nhiều lúc nó dẫn đến những mối quan tâm khác nhau giữa hai cộng đồng.

Thí dụ, một trong những bài toán thiên niên kỷ của viện Clay là bài toán chứng minh sự tồn tại của lý thuyết Yang-Mills (và một tính chất gọi là mass gap của lý thuyết đó).

Nhưng các nhà vật lý từ mấy chục năm nay sử dụng lý thuyết Yang-Mills để mô tả thế giới các hạt cơ bản một cách rất thành công. Họ mặc nhiên công nhận là lý thuyết Yang-Mills tồn tại.

Điều đó không có nghĩa là không có nhà vật lý nào quan tâm đến việc chứng minh sự tồn tại của lý thuyết này, nhưng đối với đa số thì vấn đề này không nằm trong danh sách ưu tiên.

NBC: Theo anh, thế nào là trực quan vật lý? Liệu có thể các nhà vật lý khác nhau có trực quan vật lý khác nhau hay không? Vai trò của trực quan vật lý trong nghiên cứu khoa học của cá nhân anh Sơn là như thế nào, nó có đối nghịch với tư duy toán học không?

ĐTS:  Trực quan vật lý là gì thì rất khó mô tả, nhưng có hai đặc điểm như sau của những người có trực quan vật lý tốt:

– Khả năng ước lượng cỡ độ lớn của các đại lượng.
– Khả năng đơn giản hoá các bài toán bằng cách dùng các phép gần đúng.

Việc trực quan khác nhau giữa những người khác nhau là chuyện rất bình thường. Đó là lý do mà vấn đề cộng tác với các đồng nghiệp là rất quan trọng đối với các nhà vật lý.

Trực quan là cái quan trọng nhất đối với người làm vật lý. Đôi khi trực quan có thể đánh lừa ta.
Điều này rất dễ xảy ra khi ta nghiên cứu thế giới lượng tử, hay thế giới tương đối tính, vì trong cuộc sống hàng ngày ta chỉ tiếp xúc với những vật cổ điển, chuyển động chậm. Để phát triển trực giác lượng tử, trực giác tương đối tính ta phải làm việc trong thế giới đó một thời gian.

Trực quan thường không đối nghịch với tư duy toán học, mà bổ sung cho tư duy toán học. Khi trực quan và toán học mâu thuẫn với nhau thì chắc chắn có vấn đề với một trong hai cách tư duy. Những lúc đó có thể có những vấn đề hay và mới nảy sinh ra.

NBC:  Đối tượng nghiên cứu của vật lý lý thuyết hình như là những gì mình không nhìn thấy bằng mắt, không nghe thấy bằng tai. Liệu nhà vật lý, hay cụ thể là cá nhân anh Sơn, có cần quan sát thế giới xung quanh nữa không?

ĐTS:  Đúng là vật lý lý thuyết hiện nay là một môn học khá trừu tượng. Nhưng về bản chất, vật lý là một  khoa học thực nghiệm.  Tôi không tin rằng vật lý lý thuyết có thể phát triển không có thực nghiệm. Tất cả sự giàu có của vật lý đều từ thế giới bên ngoài mang lại. Nếu tự nhiên vật lý lý thuyết bị tách rời khỏi thế giới xung quanh thì tôi chắc rất nhiều người sẽ bỏ ngành đó đi làm việc khác.

Cá nhân tôi không làm thực nghiệm, nên việc quan sát thế giới bên ngoài phải làm qua các nhà vật lý thực nghiệm.

NBC:  Trong những công trình khoa học của mình, anh Sơn thấy cái gì là tâm đắc hơn cả? Liệu anh có thể giải thích để những người dốt Vật lý như tôi hiểu được không?

ĐTS:  Hiện nay tôi đang tâm đắc về một bài báo tôi viết hơn một năm trước đây với một sinh viên người Ba Lan (Piotr Surówka) về vấn đề phân chia phải trái trong thủy động lực học tương đối tính. Tôi tâm đắc một phần là vì vấn đề này có thể giải thích bằng một ngôn ngữ tương đối dễ hiểu. Đại khái là, nếu ta có một chất lỏng làm từ các hạt quark, và cho nó quay xung quanh một trục, thì các  quark xoáy trái và các quark xoáy phải sẽ hơi bị lạng sang hai chiều khác nhau trên trục quay.

Để dễ hình dung hơn, ta có thể lấy một thí dụ khá gần gũi với cuộc sống. Ta nhớ lại, Louis   Pasteur phát hiện ra là phân tử của nhiều chất không có đối xứng gương. Phân tử đường ta uống là như vậy. Đường nguồn gốc sinh học theo quy định gọi là đường tay phải. Nếu tổng hợp, ta sẽ có đường cả hai loại, tay trái và tay phải. Các hạt quark, nếu chuyển động với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng, cũng có thể phân thành hai loại như vậy.

Giả sử ta hòa tan một thìa đường tay trái và một thìa đường tay phải vào một cốc nước. Bây giờ ta quay cái cốc nước với một vận tốc góc nhất định. Nếu các phân tử đường cũng sử xự giống như các hạt quark, thì các phân tử đường tay trái sẽ hơi nổi lên trên, các phân tử đường tay phải sẽ hơi chìm xuống dưới, hoặc ngược lại.

Trên thực tế, hiện tượng này không xảy ra với các phân tử đường, nhưng nó lại xảy ra với các hạt quark. Sự khác biệt giữa hai trường hợp liên quan đến những vấn đề trừu tượng như dị thường lượng tử (quantum anomaly), lý thuyết Chern-Simons, và tôpô. Tôi cũng hy vọng hiện tượng này có thể quan sát được trong thực nghiệm.

NBC:  Tô-pô là bộ phận toán học chỉ quan tâm đến dạng của hình thể mà không quan tâm đến kích thước. Đối với tô pô, phần của mặt phẳng giới hạn bởi một đường cong không tự cắt bất kỳ, không khác gì hình tròn. Tôi rất tò mò làm sao các thuộc tính tô pô lại có thể có ích trong việc tìm hiểu thế giới vật lý mà như anh Sơn nói, cái trực quan cơ bản là ước lượng độ lớn của các đại lượng?

ĐTS:  Đúng là các đại lượng vật lý bao giờ cũng được đo bằng số. Thế nhưng, có những đại lượng chỉ nhận được những giá trị gián đoạn; trong nhiều trường hợp lý do liên quan đến tô-pô. Ví dụ, nhiều hợp kim ở trạng thái siêu dẫn (tức là ở nhiệt độ rất thấp) có một tính chất rất lạ. Khi ta cho nó vào từ trường đủ mạnh thì từ trường thâm nhập vào chất siêu dẫn, nhưng số đường sức từ trường thâm nhập vào không phải là tùy ý, mà phải là một số nguyên lần một đại lượng gọi là lượng tử của từ thông. Tại sao lại như vậy? Giải thích ra thì dài dòng, nhưng cuối cùng đó là do pi_1(S^1)=Z. Có nhiều ví dụ khác tương tự như vậy. Trong một mô hình (gọi là mô hình Skyrme) sự bền vững của hạt proton là do pi_3(S^3)=Z. Rất lạ là việc vật chất xung quanh ta không phân rã đi thành các dạng năng lượng khác liên quan đến pi_3(S^3)=Z !

NBC:  Được biết anh Sơn có quan tâm đến âm nhạc, xin hỏi anh một câu về đề tài này. Vật lý có giải thích được tại sao có những hòa âm ta thấy rất chói tai, mà có những hòa âm lại thật dịu dàng, có hòa âm nghe lần đầu thì êm tai, nghe vài lần thì khó chịu như ăn quá  nhiều thịt mỡ, còn có những hòa âm thì mỗi lần nghe lại, lòng ta vẫn không khỏi bồi hồi?

ĐTS:  Câu hỏi của bạn đi xa khỏi ranh giới của vật lý rất nhiều, và chắc là đi ra ngoài cả ranh giới của khoa học tự nhiên nữa. Pythagoras thường được coi là người đầu tiên khám phá ra mối liên hệ giữa âm nhạc và toán học: các hòa âm nghe êm tai có tỷ lệ giữa các tần số của các nốt gần với các phân số đơn giản.

Nhưng tại sao có những hợp âm gây buồn, gây vui, tôi không giải thích được.

NBC:  Theo anh Sơn thì phải làm gì để những nhà Vật lý trẻ ở Việt Nam có thể bám sát vào dòng chảy chính của Vật lý thế giới?

ĐTS:  Vấn đề này không đơn giản, tôi phải suy nghĩ thêm. Trên thế giới nhiều nước (như Hàn quốc, Brazil) đã giải quyết vấn đề này khá thành công. Trước mắt ta có thể học hỏi kinh nghiệm của họ.

NBC:  Anh đã từng học và làm Vật lý ở Moscow, Boston, New York, Seattle và có thể nhiều nơi khác nữa. Anh Sơn có thấy cái cách người ta học và làm Vật lý ở những địa điểm khác nhau, có gì khác nhau không?

ĐTS:  Cũng khó nói. Ở mỗi chỗ khác nhau tôi làm những vấn đề khác nhau, có những kỷ niệm khác nhau. Những cá nhân tôi làm việc chung cũng có những tính cách rất đa dạng. Nhưng nếu nhìn tổng thể thì sự nghiên cứu vật lý ở các nơi tôi đã ở không khác nhau nhiều lắm.

Còn về cách học thì có lẽ cách học ở Nga có hơi khác ở Mỹ. Lúc tôi học ở Nga thì tôi được tương đối tự do, không bị kiểm tra nhiều và nhiều môn lên lớp cũng không bắt buộc, miễn là qua được kì thi cuối học kỳ là được. Tôi có rất nhiều thời gian để đọc sách.

Ở Nga có một sự tách biệt giữa giảng dạy và nghiên cứu. Giảng dạy tập trung ở trường đại học, và nghiên cứu tập trung ở các viện. Điểm này là một điểm yếu của hệ thống Nga.

NBC: Theo anh Sơn để trở thành một nhà Vật lý thực thụ có những phẩm chất gì? Những phẩm chất đó phải được rèn luyện trong những hoàn cảnh như thế nào?

ĐTS:  Có lẽ trong ngành khoa học nào cũng vậy, muốn thành công ít nhất phải có hai kỹ năng: tìm ra vấn đề hay, và giải quyết được vấn đề.

Liệt kê được hết những điều kiện để rèn luyện ra những kỹ năng đó thì chắc là dài, sợ viết hết ra thì thành cliché.

Ngô Bảo Châu

Tháng 11 năm 2010.

Advertisements

Tagged as: ,

Categorised in: Giáo dục đại học, Tiếng nói giáo viên

23 phản hồi »

  1. Xin cám ơn GS NB Châu và GS ĐT Sơn! Bài phỏng vấn hay quá, trước hết là rất bổ ích cho những người làm toán như chúng tôi, mặc dù tôi chưa hiểu được hết những điều hai GS trao đổi ở trong bài này, nhất là những hiện tượng và bản chất vật lý được đề cập đến. Mong có thêm trên Học Thế Nào những bài hay tương tự như bài phỏng vấn này của hai GS, hai nhà khoa học Việt Nam có uy tín cao trên thế giới.

    Có điều thú vị là cả hai GS đều nguyên là học sinh chuyên toán (Ao) trường Đại học Tổng hợp HN (nay là ĐHQGHN), GS ĐT Sơn khóa 18, GS NB Châu khóa 22, cả hai đều đã giành Huy chương vàng tại Olympic Toán quốc tế (IMO) với số điểm tuyệt đối 42 trên 42 (GS ĐT Sơn năm 1984 tại CH Séc khi anh mới 15 tuổi và GS NB Châu năm 1988 tại Úc khi anh mới 16 tuổi. Năm 1989 GS NB Châu còn giành tiếp Huy chương vàng thứ hai tại IMO được tổ chức tại CHDC Đức). Những thành tích học tập, nghiên cứu khoa học xuất sắc từ đó đến nay của hai GS đã được tổng hợp đầy đủ và chúng ta cũng đã biết, xin không nhắc lại. Hiện nay cả hai anh đều là GS danh tiếng của Đại học danh tiếng Chicago, Hoa Kỳ.

    Tuy mới được khai trương nhưng Học Thế Nào đã trở thành diễn đàn thu hút nhiều nhà giáo dục có uy tín, các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh, các bạn học sinh, sinh viên và những người quan tâm ở trong và ngoài nước. Nhân dịp năm mới Giáp Ngọ 2014, xin chúc Học Thế Nào tiếp tục phát triển và đóng góp tích cực, hiệu quả cho giáo dục nước nhà.

    Số lượt thích

  2. Gọi toán là khung, vật lý là cây tre. Khung + Cây tre = Cái rổ. Khi học về cái rổ, thì ta học toán hay vật lý? Ngày xưa, Kaluza chỉ là nhà toán học, mà lại nghĩ ra được thuyết vật lý “không gian năm chiều” (xem Brian Greene: Make sense of string theory/ video on Ted.com).

    Câu đố đầu năm. Trong lớp toán, ông thày viết lên bảng series sau đây: O, T, T, F, F, S, S, E, ?, … Hỏi, số vắng mặt trong series là gì?

    Số lượt thích

    • Vì không được học nhưng lại muốn trả lời …cho vui. Thưa thầy những số vắng mặt là những số thày chưa viết lên bảng ạ. 🙂 . Vì là câu mở hàng đầu năm, có gì mong thầy tha thứ ạ

      Số lượt thích

      • Không sai, nhưng mà chưa đúng ! Cho trả lời lại, xin chi tiết hơn, “?” là số mấy? Tiết lộ: đây là dạng đố mẹo, bậc tiểu học! 24 tiếng nữa sẽ trả lời.

        Số lượt thích

      • Bác Huyên ơi, bài này là trình độ preschool, mẫu giáo 5 tuổi ạ. Trả lời là E!
        Các em nhỏ thường được Làm bài kiểu này bằng hình, vì chưa biết mặt chữ, nhưng rất hiệu quả để luyện tư duy logic cho trẻ nhỏ!
        Chúc các Bác và các bạn yêu quý năm 2014 vạn sự như ý ạ!

        Số lượt thích

      • Nếu không có chữ O đầu tiên thì TH 99+% là đúng. Nhưng TH chờ bác PNH nhé 🙂

        Số lượt thích

      • Trình độ preschool không giải được bài toán này, vì chưa biết đánh vần. Có Terence Tao hay Ngô Bảo Châu thì may ra. Tuy nhiên, không có câu trả lời nào là sai, chỉ có câu trả lời hợp lý hay ít hợp lý mà thôi.

        Đây là một chuỗi các số đếm (counting numbers): One, Two, Three,… Sau Eight là Nine. Do đó, số vắng mặt là N(ine) hay 9.

        Số lượt thích

      • 😀 Viết trả lời hôm qua xong em cũng biết là chưa đúng vì thấy “số mấy” trong câu hỏi, nhưng biết thế nào Bác Huyên cũng chỉ nhắc là chưa hợp lý, nên đợi Bác và các bạn trả lời lại cho đúng!
        Thế bạn LDK có được Bác Huyên thưởng bonus thêm vài bài không ạ?

        Số lượt thích

    • one two three … Dấu hỏi chấm là N 🙂

      Số lượt thích

      • Cám ơn các bạn tham dự. Bài này tôi gặp 8 năm trước, trong một lớp sư phạm toán. Ông thày, Dr. Sigalo, viết lên bảng mà chẳng ai trả lời được. Cũng có người trả lời là E như TH. Cả lớp bí đến khoảng mươi, mười lăm phút…

        Chúc mừng bạn LDK. Nếu bạn chưa bao giờ gặp, mà bây giờ mới tự nghĩ ra, thì IQ của bạn phải cao hơn chúng tôi rồi ! hihi

        Số lượt thích

      • Không biết ở VN bây giờ còn các bộ sách Ôn Đề thi và đáp án thi ĐH như năm 9x không ạ, chứ bài toán tiểu học này mà vào VN thì các tác giả sẽ soạn đáp án để 100 % học sinh đều trả lời TRÚNG mà không cần biết viết tiếng Anh như thế này ạ:
        “Oản tù tì ra cái gì? Ra cái (N)ày”
        Năm cấp 3 em học chuyên Nga, trong khi trường ĐH mình thích thì lại chỉ tuyển sinh bằng tiếng Anh. Thế là trong 2 tháng em lật đi lật lại bộ đề ôn luyện thì ĐH môn tiếng Anh (mặc dù về kiến thức bản thân em chỉ biết mấy bài hát của Beatles, Beegees…) nên trúng tủ, được 9,5 điểm, hơn cả các bạn học chuyên Anh suốt thời PT. Thế mới thấy việc tổ chức ra đề thi của các trường ĐH ở VN thời đó KHÔNG hiệu quả, người biết ít lại điểm cao hơn người biết nhiều!

        Số lượt thích

    • Đố bác pnh và các bạn biết, làm thế nào để ngậm được một miếng nước biển khi đang bơi mà không bị sóng đánh vào mũi ? (hihi, trả lời luôn : bắt chước kiểu mèo uống sữa, thè lưỡi ra nhúng vào nước biển rồi rút lưỡi thật nhanh để kéo lên theo một cột nước, rồi tợp lấy một phần của cột nước ấy, đấy là GS ĐTS chỉ, rất là hiệu quả ạ!)

      Số lượt thích

      • Bạn LH đã thực hành tại biển theo chỉ dẫn đó chưa? Mà sao “biển” ở đó lặng sóng thế nhỉ, vùng nào nhỉ? Nếu sóng biển ở vùng Địa Trung Hải cũng nhẹ đến mức người bơi không bị sóng đánh vào mũi thì những người bạn Phi của chúng ta sẽ không bị nạn và mất mạng khi vượt biển để vào Châu Âu!
        Trừ khi Họ có lưỡi thật ….dàiiiiiiiiii. Mà các nhà vật lý chắc lưỡi cũng không dài hơn các vận động viên bơi lội là mấy nhỉ! 😀

        Số lượt thích

      • Có một đề “toán vật lý”, có lẽ người liên quan không mong có câu trả lời. Nếu GS Ngô Bảo Châu và GS Đàm Thanh Sơn liên thủ lại chắc cũng chịu không giải được. 🙂
        http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Nam-2012-Tap-trung-kiem-toan-nganh-dien-xang-dau/20122/127902.vgp

        Số lượt thích

  3. Hỏi những người kiệt xuất như GS Đàm Thanh Sơn, Ngô Bảo Châu học như thế nào thì rất khó rút kinh nghiệm để phổ biến rộng, vì đó là những người đặc biệt, cách tư duy, cách học ắt cũng đặc biệt mà người thường không thể lặp lại được. Tôi không tin là có một quy trình sản xuất ra người kiệt xuất.

    Câu chuyện của GS Đàm Thanh Sơn cho ta thấy một số điểm lý thú. Tôi có thể bổ sung một ví dụ khác về vật lý lý thuyết có thể tạo động lực sinh ra các lý thuyết toán học mới thế nào. Ví dụ như hàm Dirac, kỳ dị Landau, phép chỉnh Feynmann đều xuất hiện mà bản chất toán học không chặt chẽ, nhưng rất hiệu quả trong tính toán. Sau đó thì các nhà toán học xây dựng lý thuyết hàm suy rộng và thấy những cái mà các nhà vật lý lý thuyết dùng thực chất có một bản chất toán học chặt chẽ mà toán học chưa đề cập tới.

    Về “trực quan vật lý”, tôi cho rằng “ước lượng độ lớn” hoặc “đơn giản hóa bài toán bằng phép gần đúng” thì các nhà toán học (nhất là toán học ứng dụng) cũng có, không đặc trưng cho tư duy vật lý lắm, mặc dù là chuyện thường ngày ở huyện trong vật lý. Có một trường hợp mà trực quan vật lý quả thật đặc biệt là sự liên tưởng. Chẳng hạn liên tưởng của Newton từ quả táo rơi ra lý thuyết vạn vật hấp dẫn. Bản thân GS Đàm Thanh Sơn cũng đã liên tưởng để đưa rất nhiều khái niệm của chất lỏng như độ nhớt vào lý thuyết quark ở nhiệt độ cao và nhiều ví dụ khác nữa.

    Về sự liên quan của vật lý đến topo là một hướng tương đối mới mô tả một loại bất biến (đại lượng bảo toàn) mới trong vật lý. Có lẽ người thành công đầu tiên là Skyrme khi dùng bất biến topo để mô tả sự bền vững của proton như GS Sơn nói. Cũng như GS Ngô Bảo Châu đã có “trực quan vật lý” rất chính xác là tính chất topo chỉ quan tâm tới hình dạng, không quan tâm đến kích thước, chính vì thế mà có bất biến topo, không thay đổi khi thay đổi kích thước mà không thay đổi hình dạng. Bất biến topo khác các bất biến khác ở chỗ nó không liên quan đến biến đổi đối xứng.

    Số lượt thích

  4. Tôi xin cung cấp thêm một thí dụ về mối quan hệ toán học và vật lý học, mà tôi nghe được từ một người khác. Việc bình luận xin dành cho độc giả và các bạn đồng nghiệp.

    Tháng 8 năm 1981, tôi được tham dự một hội nghị quốc tế về hệ động lực và tối ưu được tổ chức tại Bratislava. Báo cáo mời 1h đầu tiên là của GS TSKH H W Knobloch (Tây Đức). Trước khi bắt đầu báo cáo (dùng đèn chiếu/overhead projector, vì thời đó chưa có powerpoint), GS Knobloch “hiến” hội nghị hai bức tranh, do GS tự vẽ. Ở bức thứ nhất, GS vẽ hai nhà toán học đang cặm cụi đổ xăng vào một chiếc xe mui trần và hai nhà vật lý đứng nhàn hạ gần đó ngắm nhìn bầu trời xanh có cánh chim bay. Ở bức thứ hai, GS vẽ hai nhà vật lý ấy ngồi cầm vô lăng phì phèo điếu thuốc khoan khoái lái xe đi, buông lời “thank you” đến hai nhà toán học, trong khi hai nhà toán học đang thu dọn và cất đi các thùng xăng rỗng, mồ hôi nhễ nhại.

    Số lượt thích

  5. Nói về trực quan vật lý thì em nghĩ cũng liên quan khá nhiều đến óc quan sát thực nghiệm, nhà Vật lý biết trước kết quả mình cần đi tìm nhờ vào thực nghiệm rồi xây dựng những mô hình phù hợp để giải thích chúng, sử dụng phép ước lượng để giản lược là một năng lực, sử dụng các giản đồ, hiểu được không chỉ độ lớn mà tính chất hình học, giản lược nhờ vào các tính chất hình học như đối xứng, bất biến, cũng là một năng lực, thành thạo các công cụ tôpô và hình học vi phân đối với em cũng là một năng lực về phía trực quan, quan sát rất nhiều. Xác suất thống kê và đánh giá vấn đề qua các thang độ lớn cũng là trực quan luôn.

    Còn cá nhân em thì thấy toán quá đẹp để có thể là một môn khoa học như vật lý, sinh học, hóa học! Nó là cái gì rất tự nhiên ở trong tiềm thức…

    Số lượt thích

  6. Liệu các nhà khoa học (cả KHTN và KHXH) khi đã có kỹ năng tìm ra vấn đề và nói thẳng và thật có được đánh giá cao hay bị xem là “kỳ quặc”?
    http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/156315/noi-thang–noi-that-co-bi-xem-la–ky-quac–.html
    nhân đầu năm mọi ngành mọi sở thi đua báo cáo thành tích của năm cũ!

    Số lượt thích

  7. * Đầu năm chúc bà con khoẻ mạnh.
    * Khoẻ mạnh là gì? Đối tượng thích nghi tốt với hoàn cảnh là khoẻ mạnh. Lấy ví dụ để kiểm chứng:
    Trong cuộc chạy thi, kẻ mạnh hơn là kẻ chạy nhanh hơn, tức là thích nghi tốt với hoàn cảnh “chạy thi” hơn.
    Trong cuộc chiến sống còn, kẻ mạnh là kẻ tồn tại, tức là kẻ thích nghi tốt trong hoàn cảnh “chiến đấu để tồn tại”.
    Trong học hành, kẻ mạnh là kẻ học tốt, tức là thích nghi tốt với hoàn cảnh “học hành”.
    Trong kì thi tuyển chọn, kẻ mạnh là kẻ vượt qua kì thi (bằng mọi cách), tức là kẻ thích nghi tốt với hoàn cảnh “thi”.
    Trong chống chọi bệnh dịch để sinh tồn, kẻ mạnh là kẻ tồn tại được sau cơn dịch, tức là thích nghi với hoàn cảnh “dịch bệnh”.
    Có thể lấy vô số ví dụ để biện minh mà không cần chứng minh, và dùng nó để giải thích những điều khác ấy là (tư duy vật lý, cũng là) tư duy đời thường nhất.
    * Cái gì giúp đối tượng mạnh lên, thích nghi được? May mắn và nỗ lực của đối tượng là hai yếu tố không thể tách rời giúp đối tượng thích nghi. Ta chứng minh (tư duy toán học):
    – Nỗ lực của đối tượng là sự vùng vẫy của đối tượng trong hoàn cảnh đó với hy vọng tồn tại, thích nghi. Chỉ là hy vọng thôi bởi có thể nỗ lực mà không mang lại kết quả. Nó giúp cho đối tượng vận động khỏi không gian, thời gian hiện tại, tức là hoàn cảnh có cơ thay đổi và đối tượng có cơ tồn tại và thích nghi trong khoảng thời gian, không gian. Ngoài ra nỗ lực, hay vùng vẫy chính là sự vận động, một biểu hiện rằng đối tượng ấy đang tồn tại, thích nghi trong thời điểm ấy. (Các nhà khoa học, người nghiên cứu có điểm chung là họ có sức nỗ lực phi thường trong hoàn cảnh học hành, tìm tòi.)
    – Còn may mắn, có vẻ như là một điều có thể xảy ra cũng có thể không xảy ra, hầu như không phụ thuộc vào đối tượng nhưng giúp cho đối tượng thích nghi. Có thể coi đó là thuận cảnh hay điều kiện thuận lợi chơt đến riêng với đối tượng trong hoàn cảnh chung làm cho đối tượng thích nghi. Nghe có vẻ tiêu cực, thực ra chờ để gặp được may mắn cũng là một dạng vận động, vùng vẫy nên cũng đã thể hiện sự tồn tại, thích nghi của đối tượng trong giây phút hiện tại, còn may mắn chỉ là điều kiện giúp đối tượng có thể (chỉ có thể thôi) thích nghi với hoàn cảnh kế tiếp
    – Như vậy may mắn hay nỗ lực của đối tượng là biểu hiện sự thích nghi hiện tại và thể hiện hy vọng thích nghi tương lai (Nghĩa là tính chất của chúng rất giống nhau!). Khi vùng vẫy đối tượng chỉ có hy vọng thích nghi và chỉ thích nghi khi gặp hoàn cảnh kế tiếp thuận lợi, tức là gặp may mắn. Còn khi gặp may mắn hoàn cảnh thuận lợi thì đối tượng cũng chỉ thích nghi bằng một sự vùng vẫy mà tiêu cực nhất là chờ tiếp.
    Ví dụ minh hoạ:
    – nguồn gen hơn người là một may mắn, quá trình luyện tập, học hành là nỗ lực cá nhân nhằm mang lại sự thích nghi là thành công trong đời sống. Nhưng nếu không tiếp tục may mắn thì có thể không thành công.
    – Hay sắp chết đuối vớ được cọc là một may mắn thì cũng chỉ tiếp tục thích nghi khi đưa tay với cọc hoặc có thể chờ may mắn khác là ai đó vớt lên.
    * Trong xã hội VN, vốn không thiếu người “khoẻ mạnh”. Họ thích nghi tốt với xã hội, với mọi hoàn cảnh mà họ gặp. Ví dụ:
    – Đi thi, chịu khó “hỏi bài”, “quay cóp” để điểm cao. Đi xin việc, chịu khó “chạy” để có chỗ “thơm”. Đi làm, chịu khó “giao lưu”, “thăm hỏi” để nhanh thăng quan tiến chức. Tham nhũng, hối lộ cũng là một cách để “thích nghi” với cuộc sống, để trở nên “kẻ mạnh”.
    – Những kẻ không mạnh “cách ấy” được (số rất đông) thì “chấp nhận” và “chịu đựng” cũng là những cách thích nghi và cũng trở nên “mạnh” không kém.
    – Và “kêu ca” hay “bỏ trốn” cũng là một cách thích nghi và mạnh lên của số còn lại.
    Nhưng xã cái khoẻ mạnh của cá nhân ấy không mang lại hy vọng về cái mạnh của dân tộc, đất nước. Nó làm đất nước suy yếu đi. Dù đất nước vẫn đang thích nghi nhưng hy vọng thích nghi trong tương lai sẽ kém đi với một hoàn cảnh được dự đoán khắc nghiệt hơn khi anh hàng xóm Tàu béo lên. Ngoài ra cách thích nghi chạy theo hoàn cảnh tức thời ấy cũng làm cá nhân bất ổn hơn khi hoàn cảnh thường thay đổi.
    Có một cách khác thích nghi tốt cho cả cá nhân và dân tộc.

    Số lượt thích

    • Khiếp! có mỗi câu khỏe mạnh mà viết dài thế? 🙂
      Túm lại, kẻ mạnh là kẻ chi phối được người khác ở mức độ tương đối. Nếu ta so với chính ta thì, ta khỏe hơn lúc yếu và yếu hơn lúc khỏe :).
      Dạo này bạn có khẻ không? Bạn viết dài thế là tôi yên tâm rồi. Nên câu hỏi giờ chỉ là ví dụ và xã giao.

      Số lượt thích

  8. rat dang suy ngam

    Số lượt thích

  9. Toán học và vật lý đều là tư duy của con người về Tự nhiên, nên phải hoàn toàn giống nhau, vấn đề là ở chổ: Ngôn ngữ của toán học rất chặc chẽ, lô gic, định nghĩa đối tượng nghiên cứu rỏ ràng, còn ngôn ngữ của vật lý hiện đại tuy rất chặc chẽ, lô gic như toán học, nhưng không định nghĩa đối tượng nghiên cứu một cách rỏ ràng như toán học, mọi quan niệm trong vật lý đều rất trừu tượng. Nếu vật lý và toán học hoàn thiện ngôn ngữ giữa tư duy với Tự nhiên, khi đó toán học và vật lý sẽ đóng vai trò là dấu bằng trong phương trình, nhà nghiên cứu chỉ cần điền các thông số cần tìm vào vế trái của phương trình, thì vế phải sẽ có đáp số ngay.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: